Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “ truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ [r]
Trang 1RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG THÍ NGHIỆM VẬT LÝ 7 NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO
CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC.
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều
đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “ truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra ,đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ quan trọng ở các cấp học nhằm đào tạo những con người tích cực, tự giác, sáng tạo, tự rèn luyện kỹ năng, đem lại niềm vui và hứng thú học tập cho học sinh
Ta đã biết môn Vật lý là bộ môn thực nghiệm, việc sử dụng thí nghiệm trong giảng dạy là rất cần thiết, nội dung kiến thức mới được hình thành phần lớn thông qua các thí nghiệm thực hành
Để đạt được điều đó thì việc giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng đối với thí nghiệm và thực hiện các thí nghiệm trong mỗi bài học là rất quan trọng, nó có thể quyết định đến việc thành công tiết dạy hay không
Trong các năm gần đây, điều kiện giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh ngày càng được cải thiện về cơ sở vật chất, nhà trường trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, cũng như trình độ của giáo viên ngày càng được nâng cao
Nhà trường chủ trương tăng cường hoạt động tự làm thiết bị dạy học của giáo viên và học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự chủ động, sáng tạo của GV và
HS trong hoạt động dạy và học ở tại trường Với những tác động tích cực từ các
Trang 2lãnh đạo nhà trường, chúng ta đã nhận thức và đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá để có những chuyển biến tích cực, góp phần làm cho chất lượng giáo dục dạy và học ở trường ngày càng được nâng cao
Qua đó, tôi nhận thấy rằng tầm quan trọng của việc dạy học các tiết dạy có thí nghiệm , phải hướng học sinh hình thành năng lực đưa ra phương án thí nghiệm, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tính toán, rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hóa, khái quát hóa, giúp học sinh tăng cường phối hợp học tập theo nhóm với phương châm tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn
Nhưng qua thực tế tôi nhận thấy rằng một số học sinh chưa định hướng và rất lúng túng trong việc đề xuất đưa ra phương án thí nghiệm và làm thí nghiệm,
Có thông qua thí nghiệm, ta xây dựng được những biểu tượng cụ thể về sự vật và hiện tượng mà không một lời lẽ nào có thể mô tả đầy đủ được Những biểu tượng này sẽ là nền tảng để học sinh tiếp thu được những lí thuyết trừu tượng Trong thực hành, không những các kĩ năng thực hành như quan sát, sử dụng dụng cụ vật lí, lắp ráp thí nghiệm, vẽ đồ thị, xác định sai số được rèn luyện, mà cả óc suy đoán, tư duy lí luận và nhất là tư duy vật lí cũng được phát triển mạnh Đó chính là lí do tôi chọn đề tài này.Với mong muốn giúp các em tìm ra cách sử dụng dụng cụ thí nghiệm hiệu quả, khai thác triệt để công dụng và chức năng của dụng cụ thí nghiệm trong việc lĩnh hội, tiếp thu kiến thức mới góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng môn vật lý nói riêng.Trong khuôn khổ đề tài, tôi chỉ đề cập đến mảng thí nghiệm thực hành nhằm rèn cho các em kĩ năng làm thí nghiệm Đề tài được áp dụng cho tất cả các tiết dạy có sử dụng thí nghiệm thực hành môn vật lý ở khối lớp 7 tại trường THCS Hoàng Sa
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Đầu năm giáo viên tổ chức tập huấn cho cán sự lớp và các sự bộ môn vật lý một số nội dung sau:
Trang 3- Đưa ra nội quy, quy định và nhiệm vụ cần thực hiện trong mỗi tiết học.
( NỘI QUY, QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI HỌC SINH TRONG TIẾT HỌC )
1.Chuẩn bị bài cũ và xem trước bài mới
2 Chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm trước khi vào tiết
3 Nghiêm túc, hợp tác , đoàn kết giúp đỡ nhau khi làm thí nghiệm
4 Tiến hành thí nghiệm theo đúng quy trình
5 Bảo vệ dụng cụ thí nghiệm
6 Thu dọn dụng cụ thí nghiệm, sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp vào vị trí
7 Giữ gìn vệ sinh phòng học
- Quán triệt các em tinh thần trách nhiệm và tính kỷ luật cao trong khi làm thí nghiệm
- Phân chia nhóm và lịch thực hiện của các nhóm
+ Mỗi lớp chia làm 4 nhóm, trong mỗi nhóm chọn ra 1 nhóm trưởng và một nhóm phó Nhóm trưởng có nhiệm vụ chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm cho tiết học sau trước 2 ngày Nhóm phó thu dọn, sắp xếp dụng cụ thí nghiệm về vị trí
cũ sau khi xong tiết học
- Hướng dẫn các em nhận biết và phân biệt được dụng cụ thí nghiệm Phần này rất quan trọng nên giáo viên hướng dẫn một cách cụ thể cho các em biết
QUY TRÌNH THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM VẬT LÝ:
- Bước 1: Đặt ra kế họach thí nghiệm - Giáo viên chia nhóm, giao
nhiệm vụ cho các thành viên
Giáo viên cần xác định chính xác mục đích của thí nghiệm cần tiến hành , xác định nhiệm vụ mà học sinh hoàn thành trong việc chuẩn bị thí nghiệm, trong việc tiến hành thí nghiệm và xử lí kết quả thí nghiệm , từ mục đích thí nghiệm
và vị trí của nó trong quá trình nhận thức của học sinh, lựa chọn phương án cần biểu diễn
* Làm việc theo nhóm:
Trang 4- Giao nhiệm vụ cho nhóm trưởng, nhóm phó: Nhóm trưởng nhận, trả dụng
cụ thí nghiệm điều khiển các bạn trong nhóm cùng làm thí nghiệm Nhóm phó ghi chép lại các kết quả thí nghiệm, hiện tượng thí nghiệm cần quan tâm
- Trong nhóm có đầy đủ đối tượng giỏi, khá, trung bình, yếu để các em giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình thí nghiệm
- Các thành viên trong nhóm được nhóm trưởng phân công chịu trách nhiệm một công việc nào đó
- Mọi thành viên trong nhóm đều phải có trách nhiệm để hoàn thành thí nghiệm và đảm bảo an toàn khi làm thí nghiệm
- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm
- Bước 2 : Chuẩn bị thí nghiệm- Xác định mục tiêu của thí nghiệm
Trong bước này giáo viên cần nghiên cứu kỹ lưỡng tính năng của các dụng
cụ thí nghiệm đã được lựa chọn và sử dụng thành thạo chúng Trước giờ học, phải kiểm tra sự họat động của dụng cụ sẽ sử dụng và thử lại các thí nghiệm sẽ tiến hành, dù là thí nghiệm đơn giản nhất, kịp thời thay thế những bộ phận hỏng hóc
- Với các thí nghiệm đơn giản giáo viên có thể cho học sinh đọc sách giáo khoa , sau đó các em thảo luận và nêu ra mục tiêu của thí nghiệm đó, song giáo viên nhấn mạnh lại
- Nếu các thí nghiệm khó và phức tạp thì giáo viên nên hướng dẫn các em
cụ thể hơn
- Bước 3: Giới thiệu dụng cụ thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm:
+Phần giới thiệu dụng cụ thí nghiệm :
Yêu cầu giáo viên cần giới thiệu đầy đủ thông tin về các dụng cụ có trong thí nghiệm Cụ thể là tên gọi, đặc điểm mềm, dẻo, đàn hồi, chịu nhiệt, chịu lực nhằm giúp các em hiểu được tác dụng của mỗi đồ dùng và sử dụng các thiết
bị trên được hiệu quả và an toàn
- Bước 4 : Thống nhất các bước thực hành - Tiến hành thí nghiệm
Trang 5Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, giáo viên cần định hướng học sinh vào những trọng điểm cần quan sát của thí nghiệm, để qua đó học sinh dể dàng tiếp thu kiến thức mà giáo viên muốn truyền đạt kiến thức của học sinh, học sinh nhận thức mục đích của thí nghiệm, đối với các thí nghiệm mang tính định lượng, phải lập bảng ghi các giá trị đo hợp lí trước khi tiến hành thí nghiệm Trong suốt quá trình thí nghiệm, giáo viên cần phải theo dõi để kịp thời hướng dẫn các em, khi tiến hành các thí nghiệm chưa rõ ràng học sinh chưa nhận thấy hiện tượng cần quan sát, giáo viên cần cho thực hiện thí nghiệm nhiều lần
VI PHẦN MINH HỌA:
Bài 1: Nhận biết ánh sáng- Nguồn sáng và vật sáng.
Học sinh tự bố trí thí nghiệm như hình 1.2 a,b Quan sát mảnh giấy trắng trong hai trường hợp đèn sáng, đèn tắt Các nhóm cho biết kết quả thí nghiệm
Bài 2: Sự truyền ánh sáng:
Khi nghiên cứu về đường truyền của ánh sáng , đầu tiên giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc sgk thu thập thông tin để tìm hiểu mục đích của thí nghiệm, dụng
cụ thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm Giáo viên yêu cầu học sinh bố trí thí nghiệm như hình 2.1 trong sgk và quan sát ánh sáng phát ra từ dây tóc đèn pin bằng ống thẳng và ống cong, sau đó
Trang 6nêu nhận xét.
Bài 5: Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng: Các nhóm bố trí thí nghiệm như hình 5.2 để tìm ra tính chất của ảnh tạo bởi gương phẳng:
- Ảnh của vật tạo bởi gương phẳng có hứng được trên màn chắn không?
- Độ lớn của ảnh có bằng độ lớn của vật không?
- So sánh khoảng cách từ một điểm của vật đến gương và khoảng cách từ ảnh của điểm đó đến gương?
Bài 7:Gương cầu lồi:
Trang 7Giáo viên đặt vấn đề: Nhìn vào gương phẳng ta thấy ảnh của mình ở trong gương Nếu gương có mặt phản xạ là mặt ngoài của một phần mặt cầu thì ta có thể nhìn thấy ảnh của mình ở trong gương nữa không? Nếu có thì ảnh đó khác ảnh trong gương phẳng như thế nào?
Học sinh tìm hiểu nội dung phần thí nghiệm trong sgk và nêu được:
- Mục đích của thí nghiệm Dụng cụ thí nghiệm Cách tiến hành thí nghiệm Các thành viên trong nhóm tự bố trí thí nghiệm, quan sát và đưa ra kết quả
Bài 12: Độ to của âm.
Giáo viên: Một vật dao động thường phát ra âm có độ cao nhất định Nhưng khi nào vật phát ra âm to, khi nào vật phát ra âm nhỏ?
Học sinh: Các em nghiên cứu thí nghiệm 1 và nêu được: Mục đích thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm, cách tiến hành
Giáo viên: Các nhóm tự tiến hành thí nghiệm dưới sự giám sát của giáo viên, các em quan sát dao động của đầu thước và lắng nghe âm phát ra rồi điền vào bảng 1
Trang 10Bài 13: Môi trường truyền âm:
Sự truyền âm trong chất lỏng:
Học sinh tự bố trí thí nghiệm như hình 13.3 và rút ra nhận xét
Bài 17: Sự nhiễm điện do cọ xát.
Trang 11Học sinh đọc thí nghiệm 1 nêu phương án thí nghiệm Các nhóm tiến hành thí nghiệm và nêu hiện tượng quan sát được Từ đó rút ra kết luận 1
Trang 14Bài 19: Dòng điện – Nguồn điện.
Khi thực hành mắc mạch điện như hình 19.3 , giáo viên cho các em nhận biết được : nguồn điện, bóng đèn, dây dẫn, công tắc
Các nhóm thảo luận và mắc mạch điện như hình 19.3
Trang 16g thời gian đầu thực hiện, các em thường gặp khó khăn, giáo viên luôn theo dõi, bám sát, giúp đỡ các em vượt qua khó khăn Các em dần dần có
kỹ năng và sử dụng dụng cụ thí nghiệm hiệu quả hơn Những giải pháp trên tôi đã thực hiện có hiệu quả trong những năm gần đây Các em được học đi đôi với hành, điều đó giúp các em tiếp thu kiến thức tốt hơn Do đó chất lượng học tập được nâng lên rõ rệt
C KẾT LUẬN CHUNG
Để nâng cao chất lượng của việc dạy và học môn vật lí ở trường THCS, thì việc tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm là rất cần thiết và có vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng dạy và học của môn vật lí Làm những thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp giúp học sinh nắm vững hơn , mở rộng kiến thức, từ đó nâng cao chất lượng học tập môn vật lí của học sinh
Thực tế cho thấy, việc dạy học bộ môn Vật lý mà không sử dụng dụng cụ thí nghiệm là chỉ dừng lại ở việc học lí thuyết suông xa rời thực tiễn Bởi lẽ, khi dạy môn Vật lý, ta đưa ra một dự đoán về một hiện tượng vật lý, một định luật vật lý hay một công thức thì cần phải chứng minh bằng thí nghiệm Qua kết quả thu được từ thí nghiệm các em khắc sâu được kiến thức, vận dụng kiến thức vào
Trang 17thực tiễn hiệu quả hơn Từ đó các em yêu thích môn học, có niềm đam mê nghiên cứu, yêu cuộc sống và biết vươn lên trong học tập Chính vì thế ứng dụng đề tài vào thực dạy là góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục bộ môn và góp phần rèn cho các em kĩ năng thực hành, kĩ năng sống Bới lí thuyết chỉ là màu xám còn cây đời mới mãi xanh tươi
Qua tìm hiểu tình hình thực tế ở các tiết có làm thí nghiệm cho thấy học sinh rất ham thích làm thí nghiệm, cũng chính vì sự ham thích đó mà có một số
em hay tò mò sử dụng các dụng cụ thí nghiệm để làm những công việc khác ngoài mục đích yêu cầu của bài thí nghiệm Do đó cần phải quan tâm đến việc làm thí nghiệm của học sinh ở các nhóm nhất là cho học sinh biết rõ được mục đích thí nghiệm
Giáo viên tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm theo nhóm, qua đó học sinh
có thể trao đổi học tập lẫn nhau, giúp học sinh tự khẳng định mình, kiến thức các
em ghi nhớ lâu hơn, học sinh hứng thú học tập, bài học trở nên nhẹ nhàng hơn ,tiết học hiệu quả hơn
Trên đây là sáng kiến mà tôi đã áp dụng vào giảng dạy môn vật lý trong nhiều năm qua Trong quá trình thực hiện không tránh khỏi sai sót, mong các thầy cô, đồng nghiệp góp ý để sáng kiến này hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn
Người viết
Trang 18Đinh Thị Mỹ Dung