Từ đặc điểm đó, cho ta thấy muốn đánh giá đúng về tình hình tàichính của công ty khi phân tích tình hình tài chính của công chúng ta chủ yếutập trung phân tích tình hình công nợ và khả n
Trang 1THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ TẠO MÁY
BIẾN THẾ HÀ NỘI2.1 Đặc điểm và hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng tới phân tích
Công ty Cổ phần Chế tạo máy biến thế và Vật liệu điện Hà Nội làmột doanh nghiệp chuyên sản xuất thiết bị máy công nghiệp, do vậy chu trìnhsản xuất sản phẩm thường dài, giá trị sản phẩm lớn Điều này sẽ làm cho tốc độlưu thông vốn sẽ chậm so với các doanh nghiệp sản xuất trong các lĩnh vựckhác
Bên cạnh đó, do sản phẩm có giá trị lớn và nhu cầu tiêu thụ của sảnphẩm này không mang tính chất phổ biến, do vậy công ty hoạt động sản xuấtkinh doanh dựa vào đơn đặt hàng
Công ty xác định kết quả hoạt động kinh doanh theo từng quý, cuối kỳ
kế toán, tổng hợp và đánh giá hoạt động kinh doanh trong năm Do Công tyniêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, nên thông tin về công ty khôngchỉ có Ban quản trị, Ban giám đốc quan tâm mà còn được rất đông các nhà đầu
tư quan tâm Kết quả kinh doanh trong từng quý là mục tiêu quan tâm của Bangiám đốc nhắm đưa ra những giải pháp tích cực, nâng cao hiệu quả kinh doanhtrong quý tiếp theo Đồng thời, là chỉ tiêu để các nhà đầu tư đưa ra quyết định
sử dụng vốn của mình
Từ đặc điểm đó, cho ta thấy muốn đánh giá đúng về tình hình tàichính của công ty khi phân tích tình hình tài chính của công chúng ta chủ yếutập trung phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán, phân tích hiệuquả kinh doanh và rủi ro tài chính của công ty Khi phân tích các chỉ tiêu tài
Trang 2chính này, Công ty cần so sánh giữa các năm, đồng thời cần đánh giá chênhlệch giữa các quý để dánh giá tốc độ phát triển của Công ty trong vi mô.
Hệ thống báo cáo tài chính ở Công ty Cổ phần Chế tạo máy biến thế vàVật liệu điện Hà Nội do kế toán trưởng lập, kế toán trưởng có trách nhiệm kiểmtra và báo cáo cấp trên, chịu trách nhiệm trực tiếp với cấp trên về nội dung củaBáo cáo Các báo cáo được lập định kì vào cuối mỗi quý và cuối năm Báo cáotài chính của công ty bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinhdoanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính theo quyếtđịnh số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tàichính
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ảnh tổng quáttoàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện cócủa doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn hìnhthành các tài sản đó
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tìnhhình tài chính của doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh tình hình và kết quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm kết quả kinh doanh và kếtquả khác
2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh
2.2.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để đánh giákết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích Đối vớiphân tích tài chính, phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng so sánh
Trang 3So sánh ngang là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối
và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, còn so sánh dọc làviệc sử dụng các tỷ suất, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêutrong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo để rút ra kết luận
Không phải tất cả các trường hợp đều có thể áp dụng được phương phápnày, mà phải tùy từng hoàn cảnh điều kiện mà người phân tích chọn phươngpháp phân tích phù hợp
- Điều kiện so sánh của chỉ tiêu
Để so sánh được với nhau các chỉ tiêu phải đảm bảo các điều kiện có thể
so sánh Các chỉ tiêu sử dụng để so sánh phải thống nhất về nội dung phản ánh,
về phương pháp tính toán, về thời gian và đơn vị đo lường
Gốc so sánh
Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng, vì ta không thể so sánh được khi
không có số liệu của năm gốc Việc xác định gốc phân tích tùy thuộc vào mục đích của nhà phân tích Gốc so sánh thường được xác dịnh theo thời gian và
không gian
+ Về mặt thời gian: Có thể lựa chọn kỳ kế hoạch, kỳ trước, cùng kỳ này nămtrước hay lựa chọn các điểm thời gian (năm, tháng,tuần, ngày cụ thể ) để làmgốc so sánh
+ Về không gian: Có thể lựa chọn tổng thể hay lựa chọn các bộ phận của tổngthể, lựa chọn các đơn vị khác có cùng điều kiện tương đương, để làm gốc sosánh
2.2.2 Phương pháp loại trừ
Phương pháp loại trừ được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng củatừng nhân tố độc lập tới chỉ tiêu nghiên cứu Theo phương pháp này, để nghiên
Trang 4nhân tố còn lại Phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích dưới haidạng là phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch.
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định ảnh hưởng củatừng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu bằng cách thay thế lầnlượt các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉtiêu nghiên cứu khi trị số của nhân tố thay đổi
Phương pháp số chênh lệch là trường hợp đặc biệt của phương pháp thaythế liên hoàn Phương pháp này được sử dụng khi các nhân tố có quan hệ vớichỉ tiêu dưới dạng tích, được sắp xếp theo thứ tự nhân tố số lượng rồi đến nhân
tố chất lượng Khi phân tích ảnh hưởng của một nhân tố ta sử dụng phần chênhlệch của nhân tố đó nhân với trị số của những nhân tố khác, nhân tố chưa thayđổi trị số giữ nguyên ở kỳ gốc, nhân tố đã thay đổi trị số chuyển sang kỳ phântích Cuối cùng tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố để đưa ra đánh giá phùhợp
2.3 Nội dung phân tích tình hình tài chính Công ty Cổ phần Chế tạo máy biến thế và Vật liệu điện Hà Nội
2.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính Công ty
Việc đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty sẽ cung cấp chongười sử dụng một cái nhìn tổng quát nhất về bức tranh tài chính của công ty.Kết quả đánh giá sẽ cho phép người sử dụng báo cáo tài chính thấy được thựcchất của quá trình sản xuất kinh doanh và dự toán được khả năng phát triển củacông ty trong những năm tới, đồng thời có thể đưa ra quyết định đúng đắn chomục đích của mình
Đánh giá cơ cấu và tình hình biến động của tài sản
Trang 5của doanh nghiệp mình đã hợp lý hay chưa Vì sao giá trị của loại tài sản nàylại lớn, của tài sản khác lại nhỏ, cơ cấu của các loại tài sản đã phù hợp vớidoang nghiệp mình hay chưa? Nếu chưa thì doanh nghiệp sẽ có cách giải quyếtnhư thế nào cho hợp lý?
Dựa vào BCĐKT phần tài sản ngày 31/12/2008 của công ty(xem phụlục), ta lập được bảng phân tích cơ cấu và tình hình biến động tài sản (Bảng 1)
Từ các chỉ tiêu trong bảng 1, ta thấy rằng :
Tổng tài sản cuối năm tăng so với đầu năm là 5.254.094.476 đồng,tương ứng với 9,2% Trong đó tài sản dài hạn tăng nhiều khoảng gần 4 tỷ đồng,tương ứng với 28,1% so với đầu năm làm cho tỷ trọng của tài sản dài hạn lạicàng tăng so với cơ cấu tài sản đầu năm là 24,7%, cuối năm 2008 con số này là29% Mặt khác, tỷ trọng tài sản ngắn hạn lại giảm, và tỷ lệ giảm đúng bằng tỷ
lệ tăng của tài sản dài hạn,khoảng 4,3% Vậy lý do mà tài sản ngắn hạn giảm,tài sản dài hạn tăng là gì? Và cơ cấu tài sản như hiện nay đã hợp lý hay chưa?Chúng ta sẽ đi vào phân tích các chỉ tiêu cụ thể để tìm nguyên nhân cho lý dotrên
Khoản mục tiền và tương đương tiền tăng không đáng kế,tăng347.092.139 đồng so với đầu năm, tương ứng là 5,6% Như vậy, tiền vốn củadoanh nghiệp hiện đang được sử dụng rất tốt, không có tình trạng nguồn vốnnhàn rỗi
Bên cạnh đó, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn cuối năm giảm nhiều
so với đầu năm Đầu năm 2008, giá trị các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn làhơn 3 tỷ đồng, đến cuối năm 2008, giá trị này là 0 đồng
Các khoản phải thu ngắn hạn cũng giảm, điều này chứng tỏ khả năng thuhồi nợ trong năm của doanh nghiệp tương đối tốt hoặc cũng có thể do mức tiêu
Trang 6giảm hơn 2 tỷ đồng, nhưng khoản mục tiền và tương đương tiền của doanhnghiệp chỉ tăng không đáng kể, câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp đã sử dụngkhoản tiền đó vào mục đích gì? Và liệu trong nền kinh tế như hiện nay thìquyết định đó có phù hợp hay không?
Nguyên nhân chính của việc tài sản ngắn hạn giảm tỷ trọng so với đầunăm là do các khoản phải thu ngắn hạn và đầu tư tài chính ngắn hạn giảm
Mặt khác, tỷ trọng hàng tồn kho cuối năm của doanh nghiệp lại tăng sovới đầu năm, cụ thể tăng hơn 4 tỷ đồng, tương ứng với 24,1% Điều này chothấy trong năm tài chính, khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp bị giảm xuống,
và nguồn vốn của công ty có dấu hiệu bị ứ đọng ở hàng tồn kho Tốc độ quayvòng của đồng vốn có dấu hiệu giảm Công ty nên phát huy tích cực và cảithiện các khâu như bán hàng, mẫu mã, chất lượng sản phẩm để tạo mối quan
hệ tốt với khách hàng và đẩy nhanh sức tiêu thụ
Tài sản ngắn hạn có tỷ lệ tăng và giảm gần xấp xỉ nhau, do vậy nguyênnhân chính khiến tài sản biến động là nằm ở tài sản dài hạn
Với một doanh nghiệp sản xuất thì tài sản cố định là yếu tố không thểthiếu trong doanh nghiệp Trong năm 2008, tài sản cố định của công ty tăng3.805.997.409 đồng, tương ứng 27,4% Điều này chứng tỏ trong năm 2008,công ty đã đầu tư mua sắm tài sản cố định Là một doanh nghiệp sản xuất trongngành công nghiệp mà tỷ trọng tài sản cố định so với tổng tài sản là 29%,chứng tỏ trang thiết bị sử dụng cho việc sản xuất của công ty chưa được đầu tưđúng mức, cơ cấu tài sản trong công ty chưa thực sự phù hợp với ngành Dovậy, công ty nên có những giải pháp đầu tư tài sản phù hợp, cân đối hợp lý cơcấu tài sản để nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất và đẩynhanh quá trình tiêu thụ nhẵm đưa lại mức lợi nhuận cao nhất
Trang 7Chỉ tiêu
Mã số
-II.Tài sản cố định 220 17.706.202.179 0,9794 13.900.204.770 0,9853 3.805.997.409 27,4
-IV.Các khoản đầu tư tài chính dài
hạn
-V.Tài sản dài hạn khác 250 372.117.879 0,0206 206.974.438 0,0147 165.143.441 79,8 Tổ
ng tài sản
27 0
Trang 8Đánh giá cơ cấu và tình hình biến động của nguồn vốn
Một doanh nghiệp muốn hoạt động được thì phải có tài sản, tài sản làphương tiện, là công cụ để doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của mình.Tài sản được đầu tư, tài trợ bằng nguồn vốn, một cơ cấu vốn hợp lý sẽ giúp doanhnghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn Việc phân bổ cơ cấu giữa vốn chủ sở hữu và
nợ phải trả như thế nào là phù hợp phụ thuộc vào nhà quản lý, vào năng lực củanhà quản lý và hoàn cảnh kinh doanh của công ty Nhưng vấn đề đặt ra là tỷ trọng
nợ phải trả so với tổng nguồn vốn tối thiểu là bao nhiêu thì được đánh giá là hợp
lý, và có đủ điều kiện để đánh giá doanh nghiệp có một tình hình tài chính vữngmạnh?
Với một doanh nghiệp sản xuất thì nguồn VCSH và nợ dài hạn của doanhnghiệp phải đủ để tài trợ cho TSDH TSDH là tài sản có thời gian sử dụng lâu dài,vốn thu hồi chậm, do đó nó phải được tài trợ bằng nguồn vốn thường xuyên, lâudài
Với Công ty Cổ phần Chế tạo máy biến thế và Vật liệu điện Hà Nội, quaphân tích Bảng 2, ta thấy tổng nguồn vốn của công ty cuối năm đã tăng so với đầunăm là 5.254.094.476 đồng, tương ứng là 9,2% Nguyên nhân tăng chủ yếu là donhân tố cơ bản là Nợ phải trả biến động
Cụ thể là Nợ phải trả của công ty tăng từ 18.682.217.197 đồng lên26.191.432.424 đồng, tức là tăng 7.509.215.227 đồng tương ứng 40,2% Tỷ trọng
nợ của công ty cũng tăng lên từ 32,7% lên 42% Điều này chứng tỏ trong năm hiệntại công ty chưa tích cực trả nợ Mặt khác, tỷ trọng nợ phải trả so với tổng nguồnvốn trong cả hai thời điểm đầu năm và cuối năm đều nhỏ hơn 45%, điều này chứng
tỏ VCSH của công ty có khả năng tài trợ hơn một nữa tổng tài sản Yếu tố này làmcho bức tranh tài chính của Công ty trở nên lành mạnh hơn
Trang 9Nợ phải trả tăng lên là do Nợ ngắn hạn Con số này cho biết, Công ty phảinhanh chóng có kế hoạch và biện pháp kịp thời để trả số nợ ngắn hạn trong nămtới Nếu Công ty không trả kịp thời, sẽ dẫn đến nợ quá hạn, khi nợ quá hạn nhiều,
sẽ phát sinh thêm chi phí làm cho chi phí của khoản nợ này là rất lớn Điều này ảnhhưởng không tốt đến tình hình tài chính và uy tín của Công ty
Vốn chủ sở hữu của Công ty đầu năm giảm so với cuối năm là2.265.220.751 đồng, tương ứng là 5,9%, nguyên nhân chính là do giảm lợi nhuậnchưa phân phối
Như vậy qua phân tích khái quát cơ cấu nguồn vốn ta thấy nguồn vốn chủ sởhữu chiếm tỷ trọng lớn, đáp ứng được nhu cầu về tài chính của doanh nghiệp Làmột công ty sản xuất thiết bị, cơ cấu vốn như thế là hợp lý Tuy nhiên, hiện tại nợngắn hạn của doanh nghiệp đang có xu hướng tăng và công ty đang phải đối mặtvới những khoản nợ trước mắt Công ty rất cần đến sự quyết định nhạy bén củanhà quản lý để giải quyết tức thời những khoản Nợ ngắn hạn cần phải thanh toántrong năm, đưa ra những giải pháp ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp
Trang 11Để đánh giá mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp Các nhà phân tích còn
2.Hệ số tự tài trợ =
Tổng TSDH 2,72 1,99
Bảng 3: Chỉ tiêu đánh giá mức độ độc lập về tài chính
Nhìn vào kết quả phân tích ta thấy cả hai chỉ tiêu trên đều rất cao: chỉ tiêu(1) đều lớn hơn 0,5 trong cả hai thời điểm đầu và cuối năm Chỉ tiêu (2) cho biếtnăm 2007, một đồng TSDH của công ty được tài trợ bằng 2,72 đồng VCSH, năm
2008 con số này là 1,99 đồng, giảm 0,73 đồng
Điều này cho thấy VCSH của doang nghiệp không những đủ để tài trợ choTSDH mà còn tài trợ được một phần TSNH
Qua những chỉ tiêu phân tích trên ta thấy nhìn chung tình hình tài chính củacông ty là tương đối ổn định và lành mạnh, mức độ tự chủ về tài chính là tương đốicao
2.3.2 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán
Phân tích tình hình công nợ của công ty
Trong mọi trường hợp, dù có lý do nào đi chăng nữa thì việc đi chiếm dụng vốn của người khác hay bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn đều không tốt Theo lý thuyết, một doanh nghiệp được coi là có nền tài chính lành mạnh khi
Trang 12doanh nghiệp đó không bị chiếm dụng vốn và không đi chiếm dụng vốn của ngườikhác Nhưng đó chỉ là trên mặt lý thuyết, còn trong thực tế hoạt động sản xuất kinhdoanh là vô cùng phức tạp và khác xa rất nhiều Một doanh nghiệp không thểkhông đi chiếm dụng vốn của người khác vì nhu cầu về vốn của mình Ví dụ khicông ty cần mua yếu tố đầu vào cho sản xuất như là NVL nhưng hiện tại công tykhông có đủ tiền để chi trả cho khoản mua đó, công ty có thể nợ và trả tiền sau.Trong mối quan hệ làm ăn, việc quan hệ với các đối tác sẽ tạo uy tín cho công ty,niềm tin của đối tác đối với công ty nên công ty có thể mua các yếu tố đầu vào chosản xuất mà không cần thanh toán ngay Đây cũng là một điều kiện giúp công ty cóthể nắm bắt được các cơ hội sản xuất, đảm bảo công ăn việc làm cho công nhântrong điều kiện nguồn vốn nhàn rỗi của mình không lớn.
Mặt khác, để thu hút được nhiều khách hàng, công ty áp dụng phương phápcho khách hàng chịu Sẽ có rất nhiều khách hàng muốn mua hàng nhưng tại thờiđiểm cần mua hàng thì không đủ tiền để chi trả Do vậy, bằng uy tín mà kháchhàng tạo với công ty, công ty sẽ cân nhắc và cho phép khách hàng chiếm dụng mộtphần vốn của mình
Hơn nữa, sản phẩm mà công ty sản xuất có giá trị lớn, thế nên việc bị chiếmdụng vốn có thể được coi là điều hiển nhiên trong sản xuất
Vấn đề đặt ra là tỷ lệ giữa vốn bị chiếm dụng và vốn đi chiếm dụng baonhiêu là hợp lý Các nhà phân tích cho rằng tỷ lệ này bằng 1 là hợp lý, và nó có thể
xê dịch lên xuống nhưng với tỷ lệ vừa phải Trong thực tế có rất ít doanh nghiệpđạt được tỷ lệ bằng 1, nhưng giới phân tích đều cho rằng đây sẽ là tỷ lệ chuẩn màcác doanh nghiệp đều phải lấy đó làm mục tiêu để hướng tới
Trước khi phân tích tỷ lệ này, chúng ta sẽ xem xét qua tình hình tăng giảmcác khoản phải thu của công ty trong hai thời điểm đầu năm và cuối năm 2008
Trang 133 Các khoản phải thu
khác
Tổng 11.496.645.677 14.954.581.422 -3.457.935.749 23,12
Bảng 4: Phân tích tình hình tăng giảm các khoản phải thu
Theo tài liệu trong bảng phân tích trên, ta thấy:
Các khoản phải thu của doanh nghiệp cuối năm giảm so với đầu năm23,12% về số tương đối và 3.457.935.749 đồng về số tuyệt đối Nguyên nhânchính làm cho nợ phải thu giảm là do phải thu khách hàng của doanh nghiệp giảmnhanh 2.414.322.026 đồng tương ứng 17,78% chiếm khoảng 84,38% khoản giảmxuống tương ứng của các khoản phải thu
Dựa vào số liệu trong sổ chi tiết TK 131 và hệ thống báo cáo tài chính, tatính được:
Tổng số tiền hàng
Số vòng luân bán chịu 89,321.627.610
chuyển các = = = 7,35khoản phải thu Số dư bình quân 12.146.134.670
các khoản phải thu
Trang 14Thời gian quay Thời gian kỳ phân tích 365
vòng của các = = = 49,66khoản phải thu Số vòng luân chuyển 7,35
các khoản phải thu
Trong khi thời gian mà công ty cho khách hàng nợ ghi trong hợp đồng là 30ngày thì thời gian quay vòng của các khoản phải thu là hơn 49 ngày, gấp 1,6 lần.Công ty cần xem xét lại công tác thu hồi nợ của mình Bởi điều này ảnh hưởng trựctiếp đến tình hình sản xuất của công ty Thu hồi nợ chậm sẽ làm vốn lưu chuyểnchậm và không đáp ứng được nhu cầu sản xuất của công ty
Để xem xét tỷ lệ của việc bị chiếm dụng vốn và đi chiếm dụng vốn củangười khác có hợp lý hay không, chúng ta sẽ đi phân tích tình hình tăng giảm cáckhoản nợ phải trả để biết được tình trạng chiếm dụng vốn này có hợp lý haykhông? Có điểm nào cần phải lưu ý hay không?
1.Vay và nợ ngắn hạn 311 10.184.112.110 5.836.903.607 4.347.208.503 74,5 2.Phải trả người bán 312 6.079.179.116 8.539.342.660 -2.460.163.544 28,8 3.Người mua trả tiền
Trang 15Nếu như các khoản phải thu giảm xuống thì các khoản phải trả của công tytăng lên đáng kể Cuối năm 2008 tăng 7.509.215.227 so với đầu năm, tương ứng là40,2% Câu hỏi đặt ra là công ty vay nợ để làm gì? Một giả thuyết đặt ra là công ty
có thể vay tiền mua chứng khoán ngắn hạn hoặc có thể trong năm công ty muanhiều NVL để đầu tư cho sản xuất trong kỳ
Tình hình nợ phải trả của công ty còn được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Tổng số tiền hàng
Số vòng luân mua chịu 61.644.213.520
chuyển các = = = 7,7khoản phải trả Số dư bình quân 8.010.507.859
phải trả người bán
Thời gian quay Thời gian kỳ phân tích 365
vòng của các = = = 47,4 ngàykhoản phải trả Số vòng luân chuyển 7,7
các khoản phải trả
Thời gian các khoản phải trả và các khoản phải thu không chênh lệch nhau
là mấy, điều này chứng tỏ bản thân công ty cũng để tình trạng dây dưa nợ, chiếmdụng vốn của người khác
Ngoài ra các khoản phải trả khác và phải trả người lao động cũng tăng rấtnhiều Cụ thể, phải trả người lao động tăng 98,8% tương ứng 1.620.112.680 đồng.Còn phải trả khác tăng 1819%, tương ứng 4.037.679.044 đồng
Phân tích khả năng thanh toán
Trang 16Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của một công ty, nếu chỉ dựa vàomột cơ cấu tốt về tài sản và phân bổ nguồn vốn tốt thì chưa đủ Các nhà phân tíchcần tìm hiểu thêm khả năng thanh toán của doanh nghiệp Nếu khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp được đánh giá tốt thì điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
có đủ và thừa khả năng thanh toán các khoản nợ của mình Và chứng tỏ tình hìnhtài chính của công ty là ổn định và không có vấn đề gì Trong trường hợp ngượclại, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bị hạn chế thì chắc chắn ảnh hưởngkhông tốt tới tình hình tài chính, bức tranh tài chính của doanh nghiệp sẽ đượcđánh giá là không tốt Do vậy, việc phân tích các tỷ số về thanh toán là vô cùngquan trọng và các nhà đầu tư nên phân tích tỷ mỉ các tỷ số về khả năng thanh toán
để đưa ra những quyết định đúng đắn nhất
Qua phân tích hệ số khả năng thanh toán tổng quát, ta thấy: Tổng rài sản củacông ty hiện có thừa khả năng để trả nợ Hệ số này đầu năm là 3,05 và cuối năm là2,38 giảm 0,67 tương ứng với giảm 21,9%.Tỷ lệ giảm của công ty tuy là lớn nhưngtrong cả đầu và cuối năm 2008 đều lớn hơn 2 Điều này chứng tỏ với tiềm lực hiện
có của công ty thì số nợ của công ty là không đáng ngại
Vấn đề đặt ra là có phải chăng toàn bộ VCSH và nợ của công ty đã tập trungđầu tư hết vào tài sản dài hạn không? Nếu như vậy thì rõ ràng tính lỏng của tài sản
và hệ số khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản là kém Nên khi chủ nợ đòicông ty thanh toán tiền nợ ngắn hạn thì ngay lúc đó, công ty sẽ không đủ khả năng
để thanh toán khoản nợ này Đây cũng là nguyên nhân khiến công ty sẽ rơi vàotình trạng tài chính điêu đứng, mất uy tín với nhà cung cấp và có thể dẫn tới phásản Để có được cái nhìn đúng đắn hơn, ta tiếp tục phân tích các hệ số
Nhìn vào Bảng 6, ta thấy đầu năm, một đồng nợ ngắn hạn của công ty đượcđảm bảo bằng 2,3 đồng TSNH và đến cuối năm 2008 là 1,69 đồng, giảm tương