Cơ cấu chi thường xuyên cho hai chức năng này trongnhững năm qua đã có nhiều thay đổi: Tỷ lệ chi cho công tác y tế phòng bệnh tính trên tổng chi từ ngân sách trungương tăng từ năm 1993 l
Trang 1THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM.
2.1 Thực trạng sử dụng NSNN trong lĩnh vực y tế
2.1.1 Chí NSNN dành cho lĩnh vực y tế
Công cuộc giảm nghèo và tăng trưởng của Việt Nam đã đạt được những kếtquả đáng khích lệ và đi kèm với nó là các thành tựu đáng kể cả trong lĩnh vực y tế.Đạt được kết quả như vậy là nhờ Nhà nước ta càng ngày càng quan tâm đầu tư hơncho sự nghiệp y tế, được thể hiện trong tổng chi NSNN cho sự nghiệp y tế mỗinăm một tăng thêm
Năm 2004
Năm 2005
Ước TH năm 2006 Tổng chi cân đối
Nguồn: Vụ Ngân sách Nhà nước - Bộ Tài chính
(*) Tổng chi NSNN cho y tế đã bao gồm cả chi y tế bố trí trong ngân sách anninh quốc phòng và chi y tế trong lĩnh vực dân số – KHH gia đình
Nhìn vào bảng trên ta nhận thấy:
Trang 2- Tổng chi NSNN cho lĩnh vực y tế hàng năm đều tăng cả về số tuyệt đối lẫn
số tương đối: Năm 2001 chi NSNN cho y tế là 6.081 tỷ đồng đến năm 2005 tănglên là 15.880 tỷ đồng Như vậy là chỉ trong vòng 4 năm mà NSNN đầu tư cho y tếtăng lên hơn 2 lần Điều này cho thấy trong những năm gần đây Nhà nước rất quantâm đến sự nghiệp y tế, tích cực phát triển hệ thống y tế Việt Nam ngày một hiệnđại, hiệu quả và công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
- Ta cũng nhận thấy tốc độ tăng của NSNN cho y tế hàng năm đều tăng caohơn so với tốc độ chi NSNN cho tòan bộ các khối ngành, trong đó sự chênh lệchlớn nhất là vào năm 2005: trong khi tốc độ tăng của chi NSNN chỉ tăng 125,4% thìtốc độ tăng của chi NSNN cho lĩnh vực y tế tăng tới 147,4% Đây cũng là năm cótốc độ tăng chi NSNN và cho y tế tăng mạnh nhất trong vòng 5 năm, chứng tỏdrằng nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển mạnh và ngành y tế đã được Nhànước quan tâm đầu tư hơn so với tổng thể chung các ngành Điều này là hợp lýnhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, trong
đó đặc biệt chú trọng đến công tác chăm sóc sức khỏe toàn dân công bằng và hiệuquả, nâng cao chất lượng dịch vụ y té phục vụ nhân dân
2.1.2 Chi đầu tư phát triển
Căn cứ vào mục đích sử dụng, chi NSNN cho y tế được phân thành hai nộidung là chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Chi đầu tư phát triển là cáckhỏan chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bịchuyên dụng của ngành y tế Theo quy định của luật NSNN hiện hành thì nguồnchi đầu tư phát triển được lập dự toán, cấp phát và quản lý theo dự án đầu tư vàquy trình quản lý riêng so với chi thường xuyên của NSNN hiện hành thì nguồnchi đầu tư phát triển được lập dự toán, cấp phát và quản lý theo dự án và quy trìnhquản lý riêng so với chi thường xuyên của NSNN đầu tư cho y tế
Bảng 2 : Cơ cấu chi phí NSNN trong y tế
Trang 3Đơn vị : Tỷ đồng
2001
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005 Chi NSNN trực tiếp cho
ngành y tế
5,473 6,336 8,369 10,03815,100
% so với tổng chi NSNN 4,2% 4,3% 4,9% 4,9% 5,8%
Trong đó
Chi đầu tư 1,262 1,680 2,212 2,611 3,850
% chi đầu tư/NSNN cho y tế 23,1% 26,5% 26,4% 26% 25,5%
Chi thường xuyên 4,211 4,656 6,257 7,427 11,250
% Chi phát triển/NSNN cho
y tế
76,9% 73,5% 73,6% 74% 74,5%
Nguồn : Vụ Ngân sách nhà nước -Bộ tài chính
Nghiên cứu cơ cấu chi NSNN cho y tế giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy tỷtrọng NSNN đầu tư cho lĩnh vực y tế nằm trong khoảng từ 4,2 đền 5,8% tổng chiNSNN, tốc độ tăng hàng năm khá cao Trong tổng chi ngân sách cho lĩnh vực y tế,
tỷ trọng chi đầu tư phát triển thường thấp hơn tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong
cơ cấu chung của ngân sách, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi y tế xuốngtới mức thấp nhất là 23,1% năm 2001 và tăng lên cao nhất là 26,5% năm 2002, còn
tỷ lệ chi thường xuyên phân bổ nguồn tài chính giữa chi thường xuyên và chi pháttriển trong lĩnh vực y tế Việc tỷ trọng chi đầu tư phát triển y tế thấp hơn mặt bằngchung sẽ ảnh hưởng đến tăng cơ sở vật chất cho ngành, qua đó ảnh hưởng đếnviệc nâng cao chất lượng dịch vụ ngành, hạn chế việc người dân tiếp cận đượcphương thức chữa bệnh hiện đại trên thế giới Do vậy trong quá trình phân bổNSNN cho y tế cần có sự quan tâm đúng mức nhu cầu chi đầu tư so với chi thườngxuyên trong tổng chi ngân sách y tế cho phù hợp với định hướng phát triển từngthời kỳ
Trang 4Giữa chi đầu tư phát triển và chi hoạt động thường xuyên của y tế có mốiquan hệ mật thiết với nhau, yêu cầu phân phối vốn NSNN giữa hai nội dung nàyphải lưu ý tới qun hệ này để thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả trong pháttriển y tế Công trình xây dựng cơ bản hoàn thành đưa vào sử dụng sẽ kéo theo mộtnguồn chi thường xuyên đáng kể cho vận hành, khai thác và bảo dưỡng công trình.Nhưng những nội dung chi thường xuyên này chưa được quan tâm đúng mức khi
bố trí vốn chi đầu tư phát triển, dẫn đến công trình không đủ vốn thường xuyên khi
đi vào hoạt động nên không phát huy được hết công suất thiết kế Vì vậy yêu cầukhi bố trí cơ cấu chi đầu tư phát triển phải tính tới tác đọng của các nguồn đầu tưxây dựng cơ bản làm tăng chi hoạt động thường xuyên đối với việc vận hành, bảodưỡng ở giai đoạn sử dụng công trình
2.1.3 Chi thường xuyên
Do sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, được sự quan tâm của Nhà nướctổng nguồn chi từ NSNN cho y tế đã tăng lên nhanh chóng Nguồn vốn NSNN đầu
tư cho sự nghiệp y tế năm 2001 là 6081 tỷ đồng thì đến năm 2005 đã tăng lên là
15880, tăng lên về số tuyệt đối mà còn thay đổi cả về cơ cấu vốn đầu tư theohướng giảm dần nguồn vốn vay, vốn viện trợ nước ngoài cho Nhà nước Như vậy
từ chỗ có vai trò đáng kể đóng góp khoảng 15% trong tổng chi NSNN cho y tế, vaitrò của nguồn vốn viện trợ, vốn nợ ngày càng giảm Về cơ chế sử dụng vốn việntrợ, vốn nợ cũng có nhiều hạn chế, vẫn còn nhiều ràng buộc từ phía nhà tài trợ,thường là gắng với những dự án, có địa chỉ cụ thể và do nhà tài trợ, thường là gắnvới những dự án, có địa chỉ cụ thể và do nhà tài trợ quyết định, những dự án đókhông phải lúc nào cũng phù hợp với mục tiêu của NSNN Trong khi đó nhiều dự
án viện trợ, vốn vay lại yêu cầu bố trí vốn đối ứng từ NSNN và NSNN nhiều khichưa đáp ứng được nhu cầu này Trong khi đó vốn NSNN giành cho y tế ngày càngtăng cao cả về số tuyệt đối và số tương đối cho thấy ngành y tế đang ngày càng
Trang 5được quan tâm hơn Bởi chăm sóc sức khỏe mạng nhiều tính chất hóa công cộng.Nhà nước phải giúp vai trò chủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ này nhằm đảm bảocho mọi người dân đều được thụ hưởng công bằng các dịch vụ y tế Thực tế đã chothấy nguồn vốn viện trợ, vay có giảm dần về số tuyệt đối và tỷ trọng như là một sốnguồn bổ sung đáng kể cho ngân sách y tế Tuy vậy do nguồn này không ổn định
và thưởng bị lệ thuộc vào bên ngoài nên bố trí vốn NSNN cho y tế phải giảm lệthuộc vào bên ngoài nên trong bố trí vốn NSNN cho y tế phải giảm tỷ lệ thuộc vàonguồn này mà cần phát huy tính chủ động và khẳng định vai trò chủ đạo NSNNtrong đầu tư phát triển y tế
Đồng thời, trong những năm gần đây tỷ trọng của ngân sách đại phươngdành cho y tế cũng tăng nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn ngân sáchtrung ương trong tổng ngân sách dành cho y tế Điều này chứng tỏ cơ chế quản lýngân sách hiện nay đã giúp cho địa phương có quyền chủ động hơn trong phân bổchỉ tiêu ngân sách địa phương, tăng đầu tư phát triển các cơ sở y tế địa phương
Theo chức năng thì chi NSNN cho y tế được phân thành chi phòng bệnh vàchi chữa bệnh, điều trị bệnh Cơ cấu chi thường xuyên cho hai chức năng này trongnhững năm qua đã có nhiều thay đổi:
Tỷ lệ chi cho công tác y tế phòng bệnh tính trên tổng chi từ ngân sách trungương tăng từ năm 1993 là năm bắt đầu thựuc hiện cá chương trình mục tiêu quốcgia để thực hiện các vấn đề quan trọng và cấp bách nhất trong phòng tránh bệnh tật
và đạt tỷ lệ cao vào năm 1997 (chiếm 35% tổng chi ngân sách nhà nước cho y tếtheo chức năng) Nhưng từ sau năm 1997 tủ lệ này giảm đi và tương đối ổn địnhtrong những năm gần đây ở mức 25% - 28%, còn tỷ lệ chi NSNN cho chữa, ,.điềutrị bệnh dao động trong khoảng 70 -72% Với cơ cấu chi ngân sách cho chữa bệnhlớn hơn hẳn so vưói phòng bệnh ở nước ta hiện nay thì Nhà nước ta vẫn chưa thực
sự đảm bỏa được sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhan dân Như đã phân
Trang 6tích ở trên, chi phòng bệnh ở nước ta hiện nay thì Nhà nước ta vẫn chưa thực sựđảm bảo được sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân Như đã phân tích
ở trên, chi phòng bệnh mang tính chất hàng hóa công cộng, kết quả của nội dungchi này mang lại kết quả lớn hơn các chi phí đầu tư trực tiếp cho nó, có anh rhưởngrộng lớn đối với tòan xã hội nên yêu cầu nội dung chi này phải được đảm bảo bằngnguồn NSNN cấp Vì vậy trong phân phối NSNN, nội dung chi phòng bệnh cầnphải được ưu tiên đạt tốc độ tăng trưởng nhanh hơn về cả số tuyệt đối và tỷ trọng.Còn chi điều trị mang tính chất hàng hóa tư nhân nên cần có sự huy động đóng gópcủa người sử dụng nên tốc độ và tỷ trọng trong tổng chi NSNN có thể giảm dần.Giữa chi phòng bệnh và chi điều trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác độnglẫn nhau Trong năm kế hoạch nếu tăng chi điều trị sẽ làm giảm chi chữa bệnh vàngược lại Nhưng xét trong giai đoạn trung hạn việc tăng chi phòng bệnh ở giaiđoạn trước sẽ làm giảm đi các chi phí điều trị ở giai đoạn sau, do nhân dân đượcchăm sóc y tế và thực hiện phòng bệnh, Không để phát sinh những dịch bệnh lớnnên sẽ giảm chi phí điều trị Mặt khác việc phân phối NSNN giữa chi điều trị vàphòng bệnh cũng có ảnh hưởng đến mục tiêu công bằng và hiệu quả trong y tế.Thực tế cho thấy hầu hết những người có thu nhập thấp thường ít có điều kiện để
đi khám, chữa bênh Họ hầu như chỉ phụ thụ hưởng những dịch vụ phòng bệnh đểtriển khai Như vậy với cơ cấu chi NSNN cho y tế như trên thì vô tình khiến chonhững người giàu lại được nhà nước trợ cấp nhiều còn những người nghèo, ưu tiêncho phòng bệnh và chăm sóc sức khóe toàn dân nhưng với việc phân phối nguồnNSNN hiện nay vẫn chưa đảm bảo được sự bình đẳng trong sử dụng những dich vụ
y tế
Tỷ trọng ngân sách y tế chi cho dự phòng ở trung ương lớn hơn nhiều so vớiđịa phương Điều này cho thấy sự lo ngại rằng các địa phương có xu hướng tậptrung chỉ tiêu cho chữa bệnh nhiều hơn phòng bệnh Tuy nhiên có một điều cần
Trang 7chú ý là một phần chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia nằm trong ngân sáchtrung ương nhưng phần lớn ngân sách này sau đó lại được chuyển về địa phương
để hỗ trợ việc thực hiện chương trình tại địa phương Do đó, nguồn lực thực tế chophòng bệnh ở địa phương sẽ tăng lên Điều quan trọng là phải có cơ chế quản lýnguồn này có hiệu quả, nhằm thực hiện được các mục tiêu Nhà nước đã đặt ra,tránh sử dụng lãng phí, kém tiết kiệm, sai mục đích
2.1.4 Chi chương trình mục tiêu quốc gia cho y tế:
Bắt đầu từ kế hoạch phát triển 5 năm 1991 - 1995, Chính phủ đã sử dụng cácchương trình mục tiêu quốc gia Số lượng này sau đó tăng lên thành 10 và được kếthợp, lồng ghép trong một số chương trình mục tiêu y tế chung của ngành y tế, đó làchương trình chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AISD, baogòm: phòng chống sốt rét, lao, sốt xuất huyết, bướu cổ, suy dinh dưỡng trẻ em, tiênchủng mở rộng, phòng chống các bệnh tâm thần trong cộng đồng, an toàn thựcphẩm và chống HIV/AIDS Các chương trình này đóng vai trò là phương tiện cấpthêm ngân sách theo mục tiêu phòng chống bệnh tật cụ thể của từng tỉnh, mục đích
là để giải quyết những vấn đề cấp bách với y tế như nang cấp các cơ sở y tế, pháttriển kỹ thuật, khống chế các dịch bệnh và nâng cao sức khỏe cho các vùng khókhăn, trọng điểm về y tế Và Bộ y tế giữ vai trò là cơ quan chủ quản chương trình,chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá về kết quả thực hiện chương trình
Trước năm 1997, Bộ y tế là cơ quan chịu trách nhiệm cấp ngân sách để thựchiện chương trình mục tiêu quốc gia tại các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương
Từ năm 1997 -2000 thực hiện theo phương thức kinh phí ủy quyền (cấp kinh phí
ủy quyền từ ngân sách trung ương cho các địa phương để thực hiện theo mục tiêucủa trung ương) Theo quy định ở thời kỳ đó thì kinh phí các chương trình phải sửdụng đúng mục đích, không được bổ sung kinh phí từ chương trình mục tiêu, trungương phân bổ chương trình mục tiêu nhiều khi không sát với tình hình thực tế của
Trang 8từng địa phương không điều chỉnh được kinh phí từ chương trình thừa sangchương trình thiếu, dẫn đến việc thực hiện các chương trình kém hiệu quả, có chỗ
bị lãng phí, có chỗ lại không đủ nguồn lựuc đề thực hiện tốt
Bắt đầu từ năm 2001, các khỏan kinh phí thực hiện chương trình mục tiêuquốc gia ở cấp tỉnh được phân cho các tỉnh theo hình thức trợ cấp bỏ sung có mụctiêu Với xu thế phân cấp đang diễn ra trong lĩnh vực y tế, các chương trình mụctiêu quốc gia trở thành một công cụ quan trọng để đảm bảo thực hình các mục tiêungành và vai trò quản lý ngành của Bộ y tế Phân cấp chi có nhiều lợi thế, cho phépcấp chính quyền địa phương linh hoạt hơn và có thể đáp ứng nhu cầu của địaphương tốt hơn, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương Quy định này đãkhắc phục được hạn chế của phương thức cũ nhưng cũng gặp phải hạn chế là đốivới một số địa phương có khó khăn về ngân sách, địa phương có thẻ sẽ giảm bớtkinh phí chương trình mục tiêu trung ương trợ cấp để sử dụng cho một mục tiêukhác, do vậy làm mất ý nghĩa của việc chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia.Một nối lo lắng khác là một số tỉnh không quan tâm, chú ý đầy đủ đến các dịch vụphòng chống bệnh tật và dịch vụ y tế công cộng
Bộ y tế cũng lo ngại rằng sẽ không còn đủ các công cụ để kiểm soát việctriển khai các chương trình mục tiêu quốc gia khác nhau ở cấp tỉnh Việc phân bổngân sách chương trình mục tiêu quốc gia cho các Bộ ngành và địa phương cònthiếu cơ sở thực tế và những tiêu quốc gia cho các Bộ, ngành và địa phương cònthiếu cơ sở thực tế và những tiêu thức phù hợp Về nguyêntắc các chương trìnhquốc gia phải đóng vai trò là phương tiện cấp thêm ngân sách cho vùng khó khăn
và giải quyết các mục tiêu phòng chống bệnh tật cụ thể của từng tỉnh Nhưng thực
tế đánh giá lại các chương trình gần như được phân bổ đồng dều cho các tỉnh màkhông tính đến mô hình bệnh tật đặc trưng của mỗi nơi Điều này cho thấy cần
Trang 9thiết phải xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia sát với thực tế từng địaphương hơn, nhằm phân phối có hiệu quả nguồn tài chính
Bảng 3: Chi chương trình mục tiêu quốc gia Y tế giai đoạn 2001 - 2005
Đơn vị: Triệu đồng
ST
T
Tên chương trình, dự án
Năm 2001
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
380.000 440.000 530.000 585.00
0
4 % so với tổng
chi ngân sách thường xuyên cho y tế
Trang 10Nguồn: Vụ Ngân sách nhà nước – Bộ tài chính
Tình hình chi chương trình mục tiêu quốc gia cho y tế trong những năm gầnđây có một vài đặc điểm
- Tỷ lệ chi ngân sách dành cho chương trình mục tiêu quốc gia trong chithường xuyên của NSNN cho lĩnh vực y tế được giữ ổn định trong gia đoạn 1991 -
1995, tăng mạnh vào năm 1996, 1997 và sau đó giảm dần cuống Nguyên nhân là
do việc chuẩn mục tiêu nâng cấp trang thiết bị y tế sang chi thường xuyên, khiếncho tổng chi thường xuyên cho y tế tăng lên trong khi tổng chi các chương trìnhmục tiêu quốc gia lại khá ổn định nên là cho tỷ lệ chi chương trình quốc gia trongchi thường xuyên cho y tế của NSNN giảm
- Chi NSNN cho chương trìnhmục tiêu quốc gia y tế ngày càng tăng chothấy Nhà nước đang càng ngày càng quan tâm hơn đến công tác phòng bệnh.Thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia Nhà nước thực hiện chức năng cungcấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏ ban đầu, đảm bảo phân phối công bằng cho toàndân Trong đó, nguồn chi bằng nguồn vốn trong nước là chủ yếu còn nguồn chibằng vốn vay, viện trợ chỉ chiếm một phần nhỏ Nguồn vốn vay, viện trợ thườngkèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định, nên ta không nên quá làm dụngnguồn vốn vay
- Trong 10 chương trình mục tiêu quốc gia về y tế thì chương trình Tiêmchủng mở rộng được cấp nhiều kinh phí nhất: 17% năm 2001, 16,1% năm 2005 và
Trang 11chiếm tỷ trọng 17,34% trong thời kỳ 5 năm 2001 -2005, cao nhất trong tổng số 10chương trình Bởi tiêm chủng là bước quan trọng để phòng bệnh Thực hiện tốtcông tác này sẽ hạn chế được nhiều benẹh nguy hiểm, giảm chi phí chữa trị saunày, hạn chế được tử vong do bệnh tật gây nên, nâng cao chất lượng sức khỏe củangười dân.
2.2 Cơ chế quản lý NSNN trong lĩnh vực y tế:
2.2.1 Cơ chế phân bổ NSNN trong lĩnh vực y tế:
Hiệu quả của việc sử dụng ngân sách phụ thuộc rất lớn vào việc phân bổngân sách giữa các cấp ngân sách trung ương, địa phương và giữa cac đơn vị sửdụng ngân sách Phân bổ NSNN hợp lý, đúng đắn sẽ nâng cao tính công bằng trong
sử dụng ngân sách, tạo điều kiện phát triển kinh tế và xã hội đồng đều giữa các khuvực, vùng, miền của đất nước Đối với nước ta, việc phân bổ ngân sách là chỉ tiêukinh tế tổng hợp, được tính toán, sử dụng làm căn cứ để phân bổ NSNN giữa cáccấp ngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách
Trong giai đoạn 2004 -2006, định mức sử dụng để phân bổ ngân sách trongngân sách sự nghiệp y tế thực hiện theo quy định tại Quyết định số 139/2003/QĐ-TTg ban hành ngày 11/07/2003 của Thủ tướng Chính phủ về định mức phân bổ dựtoán chi thường xuyên của NSNN cho các bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương Kừt quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng và thựchiện dự toán NSNN giai đoạn 2004 -2006 đã khẳng định hẹ thống định mức phân
bổ chi NSNN theo quyết định 139 là căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán chithường xuyên đối với Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương; là cơ sở quan trọng
để cấp có thẩm quyền quyết định số bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương chongân sách địa phương, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu igữ ngân sáchTrung ương và ngân sách địa phương của thời kỳ ổn định ngân sách 2004 - 2006theo đúng quy định của luật NSNN
Trang 12Bảng 4: Định mức phân bổ chi sự nghiệp y tế theo Quyết định
Đơn vị tính: Đồng/người dân/năm
sự nghiệp theo Nghị định số 10/2002/NĐ - CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ vềchế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu trong lĩnh vực Y tế và địnhhướng sửa đổi, bổ sung Nghị dịnh này Hàng năm khi phân bổ dự toán chi ngânsách sự nghiệpY tế đã ưu tiên với tỷ lệ mức tăng cao hơn đối với cơ sở y tế thuốcnhóm khám chữa bệnh xã hội (lao, phong )
Theo quyết định số 139 quy định vè định mức phân bổ ngân sách cho sựnghiệp y tế, ngoài định mức phân bổ theo tiêu chí dân số có phân theo vùng, cácđịa phương có các bệnh viện mang tính chất khu vực dược phân bổ thêm kinh phí
để thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh cho người dân trên địa bàn địa phươngcũng như vùng: Đồng thời còn thực hiện tiêu thức bổ sung phân bổ ngân sách đểthực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi
Tiêu chí phân bố chi thường xuyên cho các địa phương cơ bản theo tiêu chídân số, cơ cấu dan, tỷ lệ người nghèo cơ bản đảm bảo tính công bằng hợp lý, côngkhia, minh bạch trong phân bổ ngân sách địa phương do yêu cầu, nhiệm vụ chingân sách đều phù thuộc chỉ tiêu dân số (dân số nhiều thì nhu cầu về kinh phí đểthực hiện nhiệm vụ phát triển y tế càng lờn ), đồng thời có hệ số ưu tiên đối với
Trang 13vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc có nhiều khó khăn so với vùng đồng bằng
và vùng đô thị Cùng với tiêu chí phân bổ cơ bản là dân số, cơ cấu dân số, còn cócác tiêu thức bổ sung để thực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em
Mặc dù định mức phân bổ theo Quyết định 139 đã thể hiện ưu tiên vùngmiền núi, vùng cao khó khăn, tuy nhiên giai đoạn 2006 - 2010 thì một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của NSNN là tăng mức và tỷ trọng ngân sách phát triển cáclĩnh vực xã hội, thực hiện công bằng về chăm sóc sức khỏe đối với mọi người dân
Do vậy cần nâng mức độ ưu tien cao hơn so với định mức theo Quyết định 139 về
hệ số và mức tăng đối với các địa phương miền núi, vùng cao, hải đảo để thực hiệnnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010
Tóm lại, định mức phân bổ NSNN theo Quyết định 139 cơ bản phù hợp vớitình hình thực tế về nguồn lực ngân sách, đáp ứng kinh phí thực hiện các nhiệm vụngành y tế tại trung ương, địa phương; phù hợp với khả năng cân đối NSNN; địnhmức phân bổ ngân sách với hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách cụ thể, rõ ràng,minh bạch, dễ thực hiện, dễ kiểm tra đã ưu tiên các địa phương miền núi, vùngđồng bào dân tộc có nhiều khó khăn
Tuy nhiên trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện địnhmức phân bổngân sách theo Quyết định 139 còn một số tồn tại cần khắc phục và cần sửa đổi bổsung để đảm bảo kinh phí thựchiện những chế độ, chính sách Nhà nước mới banhành; thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn phát triểnmới theo Nghị quyết của Đảng Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đạtđược, khắc phục các tồn tại của Quyết định 139, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhQuyết định 151/2006/NĐ-TTg ngày 29/06/2006 về địnhmức phân bổ dự toán chithường xuyên ngân sách nhà nước năm 2007 Quyết định này đã thực hiện đượcviệc tăng mức ưu tiên đói với vùng miền núi, Tây Nguyên khó khăn và đảm bảođược tính công khai, minh bạch, từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế
Trang 14Bảng 5: Định mức phân bổ chi sự nghiệp y tế theo quyết định
151/2006/AĐ-TTg
Đơn vị tính: Đồng/người dân/năm
- Kinh phí khám chữa bệnh cho người nghèo được xác định trên cơ sở dựkiến số người nghèo năm 2007 và các đối tượng theo quy định tại Quyết định số139/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ; mức chikhám chữa bệnh bình quân một người dân nghèo thực hiện theo chế độ quy định
- Định mức phân bổ thêm kinh phí cho các bệnh viện mang tính chất khuvực:
Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các bệnh viện do địaphương quản lý và bảo đảm ngân sách mang tính chất khu vực theo quy định của
bộ Y tế, được ngân sách trung ương bổ sung cho ngân sách địa phương mức bằng30% dự toán chi năm 2006 do cơ quan có thẩm quyền đã giao cho bệnh viện
Trang 15So với Quyết định 139 thì Quyết định 151 đã thực hiện tăng mức chi để thựchiện các nhiệm vụ:
- Chi lương và có tính chất lương địnhmức năm 2007 và phụ cầp ngành y tếtăng so với định mức năm 2004 là 60 - 65% tùy thuộc vào từng địa bàn
Đối với khu vực đô thị các khoản chi sự nghiệp y tế tăng so với định mứcphân bổ năm 2004 9tăng bình quân 7 - 8%/năm); đồng thời tăng kinh phí 28%(bình quân 9%/năm) so với mức chi theo định mức năm 2004 đảm bảo kinh phíthực hiện chế độ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi
- Định mức chi vùng núi thấp - vùng sâu tăng 72%, núi cao -hải đảo tăng138% so với khu vực đô thị để thực hiện các chế độ đối với cán bộ y tế thôn, bản
2.2.2 Cơ chế chấp hành NSNN trong lĩnh vực y tế.
Theo quy định hiện hành, việc phân bổ, cấp phát và quyết toán ngân sách chi
sự nghiệp giáo dục được thực hiện theo quy định tại Nghị định 60/2003/NĐ - Cpban hành ngày 06/06/2003 hướng dẫn việc thi hành Luật NSNN 2002, cụ thể nhưsau:
Thứ nhất, về phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng:
a Sau khi được Thủ tướng Chính phủ, ủy ban nhân dân giao dự toán ngânsách, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán cấp Itiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sáchtrực thuộc theo các nguyên tắc sau;
- Tổng số giao cho các đơn vị trực thuộc không vượt quá dự toán được cấp
có thẩm quyền giao cả về tổng mức và chi tiét theo từng lĩnh vực Đối với nhiệm
vụ chi đầu tư xây dựng cơ bản phải ưu tiên những dự án quan trọng chuyển tiếp,đối với các dự án mới, chỉ phân bổ, giao dự toán khi có đủ điều kiện theo quy địnhcủa pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng