Mục tiêu của ngành y tế được xác định là tập trung vào bảo vệ sức khoẻ người dân thông qua các hoạt động phòng chống và kiểm soát hữu hiệu các bệnh không truyền nhiễm cũng như các bệnh t
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI LĨNH VỰC Y TẾ
1.1.Vai trò, đặc điểm của y tế
1.1.1 Vai trò của y tế
Khái niệm về y tế: y tế là các hoạt động phòng, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ con người như: các hoạt động khám và điều trị các bệnh; các hoạt động phòng bệnh, điều dưỡng, chăm sóc sức khoẻ và thẩm mỹcủa con người Mục tiêu của ngành y tế được xác định là tập trung vào bảo vệ sức khoẻ người dân thông qua các hoạt động phòng chống và kiểm soát hữu hiệu các bệnh không truyền nhiễm cũng như các bệnh truyền nhiễm đồng thời đảm bảo sự công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng cao ( đặc biệt là đối với các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người nghèo)
Đối tượng chăm sóc của y tế la con người - trung tâm của quá trình phát triển ở mỗi quốc gia Vì vậy y tế có tác động to lớn tới sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
1.1.1.1 Vai trò của y tế với sự phát triển kinh tế
Thứ nhất, con người sử dụng công cụ lao động tác động tới đối tượng lao động nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của mình Để đạt được năng suất lao động cao, bản thân người lao động phải luôn học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm nâng cao tri thức, kỹ năng kỹ ảo ở mọi lĩnh vực Muôn thực hiện được điều
đó, trước tiên con người phải có sức khoẻ cả về mặt thể cấht lẫn tinh thần Hệ thống y tế với hai dịch vụ chủ yếu là phòng và chữa bệnh cho con người giữ vai trò quyết định tới chất lượng sức khoẻ của mọi thành viên và xã hội Một hệ thống y tế tốt sẽ đảm bảo cho người dân có sức khoẻ tốt, trí tuệ minh mẫnvà qua dó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Bởi chính con người tạo ra của cải vật chất làm phát triển nền kinh tế của đất nước Một khi con người có sức khoẻ, có trí tuệ thì sẽ tạo
Trang 2ra nhiều của cải cho xã hội hơn, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển hơn Do
đó y tế với mục tiêu chính là chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của mọi người dân giữ vai trò quan trọn gián tiếp đến sự phát triển kinh tế của quốc gia
Thứ hai, y tế có vai trò rất quan trọng trong việc phòng và chống bệnh dịch, làm giảm sự thiệt hại cho nền kinh tế Phòng bệnh là một trong hai hoạt động chính của sự nhgiệp y tê, Nhờ thực hiện tốt công tác phòng bệnh mà nhiều quốc gia đã tiêt kiệm được một chi phí lơn do ngăn chặn được nhiều dịch bệnh bùng nổ Như ta
đã biết gần đây trên thế giới và cả ở Việt nam liên tục xảy ra những bệnh dịch nguy hiểm, gây thiệt hai lớn cho nền kinh tế như dịch bệnh Sars, bệnh cúm Những căn bệnh này khi đã mắc phải thường đòi hỏi chi phí chữa trị rất tốn kém , thậm chí gây ra tử vong dẫn đến thiệt hịa lớn về người và của Nhưng sau đó ngành y tế của các quốc gia đã tiến hành nghiên cứu, tích cực thực hiên “phòng bệnh hơn chữa bệnh” đã làm giảm đán kể những thiệt hai về kinh tế và con người, để tập trung nguồn lực dành cho phát triển kinh tế Tõ ràng nhờ sử dụng tối đa nguồn nhân lực con người và nguồn lực tài chính đeer thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, gần đây, ở Việt nam tuy phải đương đầu với hai dại dịch lớn là Sars và cúm gà nhưng ngành y tế cũng như toàn dân đã hết ức nỗ lực trong công tác phòng dịch nên thiệt hại về kinh tế và con người mà ta phải gqnáh chịu đã được hạn chế tối đa
1.1.1.2 Vai trò của y tế với xã hội
Phần trên ta đã phân tích vai trò đặc biệt của y tế đối với lĩnh vực kinh tế, sau đây chúng ta sẽ phân tích vai trò đặc biệt của y tế đối với lĩnh vực kinh tế, Sau đây chúng ta sẽ phân tích đối với lĩnh vực xã hội
Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế đời sống con người ngày càng được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần Nhưng trong khi phát triển kinh tế con người đã tác động tới môi trường tự nhiên làm thay đổi môi trường sống của chính chúng ta, kết quả là ngày càng nhiều bệnh dịch mới và nguy hiểm xuất hiện không chỉ ở phạm vi khu vực qýôc gia mà còn trên toàn thế giới Y tê có
Trang 3vai trò toàn cầu trong phồng chống các bệnh dịch này, nên các cơ quan y tế của các quốc gia cần phải có sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong việc chữa bệnh, phòng bệnh Tổ chức y tế thế giới (WTO) giữ vị trí quan trọng trong công tác nay Như vậy, ở một qóc độ nào đó thì y tế cũng góp phần tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia trên thế giới
Với việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em tốt, y tế tạo ra nguồn lực
cơ bản cho phát triển xã hội trong tương lai Trẻ em hôm nay à thế giớ ngày mai Với những chính sách y tế cung cấp nên tuổi thọ con người ngày càng được nâng cao, con người có điều kiẹn để phát triển ngày càng hoàn thiện hơn
Ngày nay khi xem tới sự phát triển nói chung của một quốc gia, người ta không chỉ xem xét tới sự phát triển kinh tế như tổng sản phẩm quốc nội … mà còn quan tâm nhiều tới các chi tiêu phát triển con người như chỉ tiêu HDI, chỉ số Gini Điều này là hoàn toàn đúng đắn bởi vì một quốc gia chỉ phát triển kinh tế mà không chú ý đến con người xã hội thì sự phát triển của quốc gia đó không thể coi là
sự phát triển bền vững Đến một lúc nào đó, quốc gia đó sẽ phải đối mặt với những khủng hoảng xã hội nghiêm trọng Hiện nay tuổi thọ trung binhg của người dân các quốc gia ngày càng được cảit thiện đạt dược kết quả đó công đầu tiên phải kể đến
là ngành y tế thông qua hoạt động phòng bệnh và chữa bệnh
Cùng với một số lĩnh vực lkhác như: giáo dục và văn hoá y tế luôn là sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội nói chung sẽ được đảm bảo Nhờ đó người dẫn sẽ có được cuộc sống lành mạnh, có cảm giác an toàn và tin tưởng vào chế độ xã hội
1.1.2 Đặc điểm của y tế:
1.1.2.1 Tính chất vừa là hàng hoá công cộng vừa là hàng hoá tư nhân
Khác với các ngành sản xuất vvật chất và cung cấp dịch vụ khác, sản phẩm dịch vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hoàng hoá
tư nhân Sản phẩm dịch vụ y tế mang tính chất hàng hoá công cộng vì nó có đầy đủ
Trang 4tính chất của hang hoá công cộng là không thể loại trừ Đặc điểm không muốn laọi trừ thể hiện ở chỗ khi một dịch vụ y tế cong công được hưởng thụ kết quả đó Việc tăng thêm chi phí hoặc tăng lên rấ ít nhưng không làm giảm đi quyền được thụ hưởng đầy đủ lợi ích từ chương trình của những người khác trong công cộng
Đặc điểm không thể loại trừ thể hiện ở chỗ không thể loại trừ bất kỳ ai trong cộng đồng không được thụ hưoiửng các kết quả của chườn trình, hay nói cách khác việc thụ hưởng các dịch vụ y tế công cộng không bị phân chia theo khẩu phần Đứng trên giác độ kinh tế học thì chi phí cận biên của việc cung cấp dịch vụ y tế công cộng là bằng không khi có thêm người sử dụng dịch vụ
Với tính chất hàng hoá công cộng của sản phẩm dịch vụ y tế, nếu như để thị trường tư nhân cung cấp thì có thể có mốt số dịch vụ y tế sẽ không được thị trường cung cấp hoặc thị trường có cung cấp nhưng không đầy đủ, không đáp ứng được nhu cầu của xã hội Vì về nguyên tắc thị trường tư nhân chỉ cung cấp những hàng hoá, dịch vụ có lãi Vì vậy thị trường sẽ chỉ cung cấp những sản phẩm dịch vụ y tế
có thể bán được trên thị trường và chỉ cung cấp cho những đối tượng có khả năng thanh toán chi phí Như vậy đối vứi những sản phẩm dịch vụ y tế là hàng hoá công cộng thuần tuý, tuy có giá trị và có ảnh hưởng lớn đối với xã hội nhưng không có khả năng thu hồi vốn cho nhà đầu tư thì sẽ không được thị trường cung cấp Còn đối với những sản phẩm dịch vụ y tế mà bán được trên thị trường thì sẽ loại trừ khả năng thụ hưởng của những người có thu nhập thấp, gnười nghèo không có khả năng thanh toán thì việc cung cấp của thị trường sẽ dẫn tới việc thiếu những dịch
vụ y tế cơ bản, không đáp ứng được nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ toàn dân, hiệu quả xã hội bị giảm sút Do vậy tính chất hàng hoá công cộng của sản phẩm dịch vụ
y tế đòi hỏi phải có sự tham gia của nhà nước với vai trò là nhà cung cấp những dịch vụ y tế cơ bản, những sản phẩm dịch vụ chênh lệch trong sử dụng các dịch cũng như tình trạng sức khoẻ người dân giữa các khu vực địa lý, trình độ giáo dục, thu nhập, dân tộc, giới tính
Trang 5Bên cạnh đó, sản phẩm dịch vụ y tế còn mang tính chất hàng hoá tư nhân trái ngược với tính chất của hàng hoá công cộng là không thể loại trừ và không muốn loại trừ, tính chất hàng hoá tư nhân thể hiện ở chỗ sản phẩm dịch vụ y tế sẽ
bị mất đi khi có một cá nhân sử dụng và khi một cá nhân sử dụng dịch vụ y tế
đó Tính chất này thể hiện rõ trong các trường hợp cung cấp dịch vụ khám chặn, chữa bệnh cho cá nhân Tính chất này của sản phẩm dịch vụ y tế đòi hỏi người sử dụng phải trả chi phí cho việc đã sử dụng dịch vụ y tế nhằm bù đắp chi phí, tái sản xuất, tái cung cấp sản phẩm dịch vụ y tế Nhưng do sản phẩm dịch vụ y tế là một loại hàng hoá đặc biệt, đối tượng phục vụ là sức khoẻ con người nên nhà nước phảI tham gia vào việc định hướng thị trường và kiểm soát giá cả sản phẩm dịch vụ y tế nhằm đảm bảo được sự công bằng về y tế giữa mọi người dân
1.1.2.2 Tính nhân đạo
Ngành y tế sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật để can thiệp vào việc bảo vệ, cứu chữa con người ở các nước có nền kinh tế phát triển thì sự can thiệp bằng các phương tiện kỹ thuât vào con người ngày càng nhiều hơn nếu ngành y tế không mang tính nhân đạo, không có tinh thần trách nhiệm coa thì dễ gây tử vong cho con người hồ Chủ Tịch dã nhắc nhở cán bộ ngành y tế nước ta là “lương y như từ mẫu” đối với người bệnh Đây không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế đối với người bệnh mà còn là truyền thống, nhân cách của nười thầy thuốc Việt nam
1.1.2.3.Tính công bằng và hiệu quả
Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ không có nghĩa là ngang bằng công bằng có nghĩa là ai cũng có nhu cầu nhiều hớn, còn ngang bằng có nghĩa là mọi người có nhu cầu ít hay nhiều hơn, có nhu cầu chăm sóc sứckhoẻ nhiều hơn nhưng lại ít khả năng chi trả Như vậy, nói đến công bằng trong y tế tức là phải có sự ưu tiên cho vùng ngheo, người nghèo, ngươig có công với cách mạng, cho các đối tượng thiệt thòi Quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nói lên quyền của người nghèo, người có công với nước phải đợơc chăm sóc, không phải là lòng
Trang 6thương hại, không phải là sự ban ơn Công bằn thường đi đôi với đạo đức trong y
tế, đòi hỏi trách nhiệm cao của cán bộ y tế đối với người bệnh, ứng xử với người nghèo cũng như với người giàu
Thực hiện công bằng trong chăn sóc sức khoẻ, người dân được tạo điều iện
để tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản ngay tại cơ sở và coi đó là quyền của người dân về chắn sóc sức khoẻ Ngành y tế và các cơ quan chức năng đa nghiên cứu và xây dựng các chỉ tiêu trong chắm sóc sức khoẻ cần đạt được trên các mặt khám chữa bênh, vệ sinh phòng bệnh, chă sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em… và phấn đấu thực hiện nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ y tế
1.2 NSNN với việc đảm bảo y tế
1.2.1 Khái niệm và bản chất của NSNN
Trong hệ thống tài chính thống nhât, NSNN là khâu tài chính tập trung giữ
vị trí chủ đạo NSNN cũng là khâu tài chính được ình thành sớm nhất, nó ra đòi, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lý nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoad, tiền tệ Cho đến nay, thuật ngữ “Ngân sách nhà nươc” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Xong, quan niệm về NSNN thì lại chưa được thống nhất Trên thực tế, người ta đã đưa nhiều nghĩa thuộc các trường phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau
Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, NSNN là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính hủ được thiết lập hàng năm
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN Các nhà kionh tế Nga cho ràng: NSNN là bảng iệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong mọi giai đoạn nhất định của nhà nước
Trang 7Luật NSNN đã được quốc hội nước CHXHCN Việt nam khoa X, kỳ họp thứ
10 thông qua ngày 16- 12 - 2002 cũng có ghi: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
và được thực hiện trong môt năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước ( điều 1)
Trong một chừng mực nào đó các định nghĩa trên đây có những sự khác biệt nhất định Tuy nhiên cungs đều thể hiện bản chất của NSNN là:
- Xét về phương diện pháp lý: NSN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi băng tiền của nhà nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm đạo luật này được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành
- Xét về bản chất kinh tế: mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia ( phân phối lần đầu và tái phân phối ) Và vì vậy, về nội dung kinh tế, NSNN thể hiện các mối quan hệ kinh tế giữa một bên là nhà nước với một bên là các tổ chức kinh tế, xã hội và các tầng lớp dân cư
- Về tính chất xã hội: NSNN luôn luôn là một công cụ kinh tế của nhà nước, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chắc năng, nhiệm vụ ủa nhà nước Nhờ có NSNN nên nhà nước có nguồn tài chính để thực hiện những công việc của mình trong mọi lĩnh vực nhằm đưa đất nước phát triển đúng định hướng đã lựa chọn
1.2.2 NSNN với sự phát triển y tế
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội Vai trò này được bắt nguồn từ vai trò của hoạt động y tế đối với con người – yếu tố quyết định tới quá trình phát triển đất nước Chất lượng, hiệu quả của hoạt động y tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người Vai trò của NSNN đối với sự nghiệ y tế thể hiện:
- Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một trong những công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước đối với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Thông qua việc
Trang 8xác định cơ cấu ty trọng các khoản chi, Nhà nước tham gia điều chỉnh hướng dẫn các hoạt động y tế theo đúng chủ trương, đường lối của nhà nước đề ra
- Chi NSNN giúp chúng ta có một nền y tế toàn diện với cơ cấu thích hợp giã các ngành ( y tế dự phòng và khám chưa bệnh, y học cổ truyền và y học hiện đại…) y
tế ngoài công lập với mục đích chính chỉ quan tâm đến những dịch vụ mang lại nhiều lợi ích mà không đặt vấn đề phát triển các chuyên ngành theo yêu cầu
- Thông qua chi NSNN cho sự nghiệp y tế có thể tiến hành kiểm tra việc sử dụng các khoản chi đó cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân Từ đó phát huy hiệu quả của đồng vốn ngân sách và tạo điều kiện cho ngành y tế thực hiện các mục tiêu của mình
- Lỹnh vực y tế là lĩnh vực có phạm vi hoạt động, quy mô lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ nhân dân Các khoản chi từ NSNN sẽ giúp cho việc hoạch định phương hơnứg phát triển kỹ thuật y tế Trong khi đó y tế ngoài công lập chạy theo lợi nhuân nên dẫn tới hai khuynh hướng hoặc là chỉ chú trọng đến kỹ thuật cao với giá thành đắt mà người nghèo không thể tiếp cận được hoặc chỉ dừng lại ở kỹ thuật cũ để thu tiền trước mắt mà không phát triển những kỹ thuật hiện đại
- Chi NSNN cho y tế giúp cho việc tập chung nhân lực và tài lực để giải quyết những vấn đề cấp bách, cần thiết của những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra Những vấn đề nói trên chỉ nhà nước mới có thể đầu tư vào lĩnh vực không sinh lợi này nhưng lại có ảnh hưởng sau rộng đến chiến lược và chính sách quốc gia
- Bản chất của hoạt động y tế là nhân đạo, chi cho y tế từ NSNN giúp cho việc quản lý và thúc đẩy tính nhân đạo trong ngành y tế, đặc biệt là việc kiểm soát những vấn đề lên quan đến y đức
Việt Nam đang trên đường chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung sang nền kinh tế thị trường Việc chuyển sang thực hiện cơ chế thị trường về hoat động y tế không được làm giảm vai trò của nhà nước về cung cấp dịch vụy tế cơ bản, chăm sóc y tế cho nhân dân Mà trái lại, thông qua cơ chế này nhà nước có thể
Trang 9động viên được thêm để bổ sung cho unồn NSNN hạn chế dành cho y tế, nawng cao chất lượng phục vụ của ngnàh y tế Thực hiện cơ chế thị trường về y tế không
có nghĩa là nhà nước thả nổi cho thị trường quyết định toàn bộ việc cung cấp dịch
vụ y tế mà nhà nước cần tiếp tục giữ vai trò chủ đạo về y tê, NSNN cần tiếp tục phát huy vai trò là nguồn lực cơ bản trong cung cấp dịch vụ y tế cơ bản, trợ cấp cho người nghèo và định hướng thị trường
1.3 Cơ chế quản lý NSNN với y tế
1.3.1 Sự cần thiết Nhà nước tham gia vào lĩnh vực y tế
Nhà nước cần phải tham gia vào hoạt động y tế trong nền kinh tế thị trường
là do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, Nhà nước cần phải tham gia vào hoạt động y tế xuất phát từ một
đặc điểm quan trọng của sản xuất dịch vụ y tế là mang tính chất hàng hoá công cộng Những sản phẩm y tế mang tính chất hàng hoá công cộng khu được cung cấp
sẽ phát huy tác dụng đối với toàn xã hội, nó không hạn chế số lượng người được hưởng thụ và sự tăng thêm người hưởng thụ cũng không làm thăng thêm chi phí cung cấp các dịch vụ này Nói cách khác, việc tham gia của cá nhân đối với các dịch vụ này không làm ảnh hưởng đến lợi ích thu được của các cá nhân khác Thị trường tư nhân có xu hướng giảm các sản phẩm hàng hoá công cộng Còn nhà nước với vai trò quản lý toàn diện đối với nền kinh tế xã hội cần thiết phải tham gia vào việc cung cấp những dịch vụ y tế cơ bản như dịch vụ phòng bệnh, thực hiện trợ cấp khám chữa bệnh cho người nghèo để đảm bảo quyền được chăm sóc sức khoẻ đối với mọi người dân
Thứ hai, Nhà nước cần tham gia vào thị trường y tế là đảm bảo tính chất
công bằng và hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ y tế Trong nền kinh tế thị trường
có sự phân hoá giàu, nghèo dẫn tới sự phân phối không công bằng giữa các tầng lớp thu nhập trong xã hội Người giàu có khả năng thanh toán cao nên được hưởng
Trang 10nhiều dịch vụ y tế hơn, ngược lại người nghèo không đủ khả năng tài chính chi trả nên nhiều khi không được hưởng chăm sóc y tế cần thiết Điều này khiến người ta phải quan tâm đến vấn đề công bằng Công bằng trong y tế không phải là sự ngang bằng mà là ai có nhu cầu nhiều hơn thì được chăm sóc nhiều hơn Đây là sự quan tâm đặc biệt của ngành y tế về mối tương quan giữa nghèo khổ và bệnh tật (gây nên bởi nghèo nàn, bữa ăn thiếu then, giáo dục thấp, môi trường ô nhiễm và tình trạng có những công việc nguy hiểm) Công bằng là một lý do quan trọng khiến chính phủ phải tài chính cho y tế và quản lý các hoạt động của ngành y tế
Thị trường tư nhân với mục tiêu là lợi nhuận sẽ không triệu thể đảm bảo được quyền công bằng về chăm sóc sức khoẻ cho mọi người dân, không thể cung cấp cho người nghèo những dịch vụ y tế cần thiết Để thực hiện được yêu cầu này thì cần phải có sự tham gia của Nhà nước vào thị trường cung cấp dịch vụ y tế Bằng nguồn lực tài chính công Nhà nước sẽ cung cấp những dịch vụ y tế cần thiết đảm bảo cho tất cả mọi người đều được hưởng quyền chăm sóc y tế, đặc biệt là người nghèo
Vì vậy để đảm bảo quyền bình đẳng và công bằng y tế cho mọi người dân đòi hỏi phảI có sự tham gia của nhà nước với vai trò người bảo trợ Nhà nước sử dụng NSNN để trợ cấp y tế, cung cấp dịch vụ y tế miễn phí đối với các đối tượng nghèo, người tàn tật, người già yếu cô đơn, đảm bảo cho họ được tiếp cận tất cả các dịch vụ y tế cần thiết
Đối với nước ta, Hiến pháp năm 1992, điều 39 về y tế đã quy định rõ: “Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dung và phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế nhà nước với y tế tư nhân; thực hiện bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho mọi người dân