Để biết cụ thể hoạt động sản xuất kinh doanh của cả Tập đoàn CMC trongbối cảnh kinh tế hai năm qua – năm 2007 và năm 2008 ta tiến hành phân tích hệthống các BCTC hợp nhất của công ty, bằ
Trang 1PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT NĂM 2007 - 2008 TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN CÔNG NGHỆ CMC.
Do công ty chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán nên các BCTC củacông ty mẹ và các công ty con được tiến hành hợp nhất vào cuối mỗi năm tàichính Để biết cụ thể hoạt động sản xuất kinh doanh của cả Tập đoàn CMC trongbối cảnh kinh tế hai năm qua – năm 2007 và năm 2008 ta tiến hành phân tích hệthống các BCTC hợp nhất của công ty, bằng việc vận dụng các phương pháp sosánh ngang và so sánh dọc lấy năm 2007 là kỳ gốc, kết hợp với phương pháp loạitrừ đồng thời so sánh các chỉ tiêu tài chính của CMC với công ty hoạt động trongcùng lĩnh vực – Công ty Cổ phần FPT hiện đang có thị phần về CNTT, điện tử,viễn thông lớn nhất Việt Nam, nhằm thấy rõ hơn tình hình kinh doanh cũng như vịthế của CMC
Nội dung phân tích bao gồm: Phân tích cấu trúc tài chính và tình hình bảođảm vốn cho hoạt động kinh doanh, Phân tích tình hình công nợ và khả năngthanh toán, và Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty
2.1 Phân tích cấu trúc tài chính và tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
2.1.1 Phân tích cấu trúc tài chính
Phân tích cấu trúc tài chính sẽ giúp các nhà quản trị công ty nắm được tìnhhình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ tài sản, biết được nguyên nhân cũng nhưcác dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tài chính, nội dung phân tích bao gồm phântích cơ cấu tài sản và phân tích cơ cấu nguồn vốn Để thấy được xu hướng củaviệc đầu tư tài sản và bổ sung nguồn vốn tại Tập đoàn CMC ta xem xét sự biếnđộng của tài sản và nguồn vốn trong hai năm tài chính 2007 và 2008 thông quaBảng cân đối kế toán hợp nhất, cụ thể:
a Phân tích cơ cấu tài sản
Dựa vào bảng phân tích cơ cấu tài sản (Biểu 2.1) ta nhận thấy:
Thứ nhất, tổng tài sản (nguồn vốn) cuối năm 2008 đã tăng 72,07% so với đầunăm, tỷ lệ tăng cao do có sự tăng cả về tài sản ngắn hạn lẫn tài sản dài hạn, cho
Trang 2thấy công ty đã và đang có sự mở rộng về quy mô cũng như thị phần kinh doanhrất mạnh mẽ, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đang trên đà phát triển.Thứ hai, tỷ trọng TSNH luôn lớn hơn rất nhiều so với tỷ trọng TSDH, tuynhiên đang có sự chuyển dịch cơ cấu, cụ thể, cuối năm 2008 tỷ trọng TSNH giảmxuống, tỷ trọng TSDH tăng lên so với đầu năm là 16,44% Có thể thấy đây là xuthế chung của ngành, phù hợp với đặc thù kinh doanh của công ty thông qua việc
so sánh tỷ trọng TSNH và TSDH trong tổng tài sản của công ty với doanh nghiệpFPT qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 02:Cơ cấu tài sản năm 2008 của FPT
Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến sự tăng,giảm của Tài sản ngắn hạn cũng như tài sản dài hạn trong tổng tài sản của công ty:
- Về TSNH, tăng từ 935 tỷ đồng (đầu năm 2008) lên 1335 tỷ đồng (cuối năm2008), tăng 43% Để biết được TSNH tăng chủ yếu do đâu, ta tiến hành xem xéttừng khoản mục trong TSNH:
Khoản mục “Tiền và các khoản tương đương tiền” tăng cả về giá trị lẫn cơcấu Cuối năm 2008 tăng trên 84 tỷ đồng (tương đương 90,47%) so với đầu năm,
về cơ cấu tăng 1,03%, là do lượng tiền mặt tại quỹ và TGNH đều tăng lên, trong
đó tăng chủ yếu là TGNH (nguồn: Thuyết minh BCTC hợp nhất 2008) Điều này
sẽ đảm bảo tốt hơn cho nhu cầu thanh toán tức thời của công ty, tỷ trọng tiền trongtổng tài sản là không đáng kể nên vẫn đảm bảo vốn không bị ứ đọng Bên cạnh đó,tiền của doanh nghiệp trong ngân hàng tăng là điều phù hợp với nhu cầu thanhtoán qua ngân hàng đang phát triển hiện nay
Các khoản đầu tư TCNH giảm mạnh, cuối năm 2008 giảm trên 240 tỷ so vớiđầu năm, tương đương giảm 98,36%, trong khi quy mô tài sản tăng do đó bị giảm
cả về cơ cấu (-24,97%) Đó là do có sự thay đổi trong chính sách đầu tư của doanh
Trang 3nghiệp Năm 2008 thay vì gửi tiền có kỳ hạn để thu lợi nhuận, công ty đã tập trungvào đầu tư cổ phiếu, bên cạnh đó việc cho vay các tổ chức bên ngoài cũng giảm
(đầu năm cho vay gần 140 tỷ đồng thì đến cuối năm chỉ còn 3 tỷ cho vay) (nguồn:
Thuyết minh BCTC hợp nhất 2008) Mặc dù những năm gần đây thị trường chứng
khoán đã xuất hiện và phát triển ở Việt Nam nhưng năm 2008 lại là năm thịtrường chứng khoán giảm mạnh nên chính sách đầu tư vào cổ phiếu của công tychưa hẳn là một giải pháp tốt, tuy nhiên tỷ trọng trong tổng tài sản của các khoảnđầu tư TCNH nhỏ nên không đáng lo ngại
Các khoản phải thu ngắn hạn cuối năm 2008 đã tăng so với đầu năm 36,53%
do quy mô của doanh nghiệp tăng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong TSNH, dù vậynhững xét về cơ cấu thì cuối năm đã giảm 9,63% so với đầu năm Doanh nghiệp bịchiếm dụng vốn nhiều nhưng cũng đã có dấu hiệu khả quan trong việc thu hồivốn, công ty cần thúc đẩy hơn nữa công tác này giúp cho quá trình quay vòng vốnnhanh, tăng hiệu quả kinh doanh
Hàng tồn kho là khoản mục chiếm tỷ trọng thứ 2 trong TSNH Cùng vớiviệc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì hàng tồn kho trong doanh nghiệpcuối năm 2008 cũng tăng lên 356 tỷ đồng so với đầu năm, tốc độ tăng rất nhanh(274,58%), về cơ cấu tăng 15,74% Tại thời điểm 31/12/2008 Hàng tồn kho/ tổngtài sản của công ty là 29,11% trong khi của FPT chỉ là 19,98% Đây là dấu hiệucủa việc ứ đọng hàng hoá, công tác tiêu thụ hàng của công ty chưa tốt, chính vìvậy chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho cũng tăng lên 1,5 lần
TSNH khác cuối năm 2008 cũng có sự tăng lên cả về giá trị lẫn cơ cấunhưng chiếm tỷ trọng không đáng kể, trong đó chủ yếu là do khoản mục VATđược khấu trừ tăng, điều này chứng tỏ giá trị đầu vào của sản xuất trong kỳ tăng,tình hình sản xuất kinh doanh của công ty khả quan
Vậy qua phân tích có thể thấy TSNH tăng chủ yếu do khoản mục hàng tồnkho tăng Công ty cần có chính sách tiêu thụ hàng hóa tốt hơn để đảm bảo vốnkhông bị ứ đọng
- Về TSDH, năm 2008 cuối năm so với đầu năm tăng từ 34 tỷ đồng lên 334
tỷ đồng, tăng 866,91%, công ty đã có sự đầu tư lớn hơn vào TSDH , điều này sẽ
Trang 4tạo ra đòn bẩy kinh tế cao, tạo động lực phát triển sản xuất kinh doanh, trong đótăng chủ yếu là TSCĐ và các khoản đầu tư tài chính dài hạn.
TSCĐ gồm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và chi phí xây dựng cơ bản dởdang Về giá trị cuối năm 2008 tăng 112 tỷ đồng (tăng 557,27%) so với đầu năm,
về cơ cấu tăng 5,85% Trong đó TSCĐ hữu hình tăng chủ yếu do đầu tư xây dựng
cơ bản tăng, TSCĐ vô hình tăng phần lớn do mua sắm mới về nhãn hiệu hàng hoá,phần mềm máy vi tính…, tạo vị thế cho sản phẩm của công ty trên thị trường Chiphí xây dựng cơ bản dở dang là khoản mục tăng nhiều nhất trong tài sản dài hạn,chiếm tỷ trọng lớn nhất là chí phí xây dựng toà nhà tri thức, bên cạnh đó công tyđang có các dự án xây dựng các trung tâm, dịch vụ chăm sóc khách hàng, trung
tâm dữ liệu cũng như nhà máy sản xuất máy tính…(nguồn Thuyết minh BCTC
hợp nhất 2008), các dự án này không những cho thấy được sự mở rộng quy mô
ngày càng lớn của công ty mà còn chứng tỏ công ty đã và đang có sự đầu tư vào
cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, từ đó nâng cao nănglực sản xuất kinh doanh Tuy vậy cũng cần tính đến sự cân đối giữa các loại tàisản
Nếu như đầu năm 2008 các khoản đầu tư tài chính dài hạn chiếm tỷ trọngnhỏ nhất trong TSDH thì đến cuối năm khoản mục này chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong TSDH, chủ yếu do đầu tư dài hạn khác tăng Cũng như sự thay đổi về chínhsách đầu tư tài chính ngắn hạn, năm 2008 công ty đã có sự đầu tư vào công ty liênkết, liên doanh để mở rộng thị trường hoạt động cũng như lĩnh vực kinh doanh củamình Những năm qua có thể thấy thị trường viễn thông trong nước ngày càngphát triển do sự tăng mạnh của thị trường thông tin di động và viễn thông, nắm bắtđược xu hướng đó, tháng 9/2008 CMC đã có sự đầu tư gián tiếp thông qua Công
ty Cổ phần Viễn thông CMC đầu tư vào Công ty Cổ phần Hạ tầng Viễn thôngCMC Bên canh đó, Tập đoàn CMC còn tham gia liên doanh vào Dự án Hợp tác
XD Hạ tầng kỹ thuật (dự án đang được triển khai) và góp vốn đầu tư vào Công tyliên doanh Segmanta CMC nhằm cung ứng nguồn nhân lực tư vấn quản trị doanhnghiệp SAP cho thị trường châu Âu Ngoài ra, trong xu hướng chung của nền kinh
tế năm 2008 về sự phát triển của hệ thống ngân hàng tài chính, CMC cũng có sựthay đổi lớn trong việc góp vốn vào Ngân hàng Bảo Việt, nhằm nâng cao hơn nữa
Trang 5chất lượng dịch vụ của mình trong lĩnh vực ngân hàng Như vậy có thể thấy, năm
2008 CMC đã có sự đầu tư tài chính khá mạnh mẽ, đây chính là cơ hội cần thiết
để giúp doanh nghiệp sử dụng số vốn dôi thừa có hiệu quả, đồng thời, tạo chodoanh nghiệp có nhiều cơ hội để nắm bắt, học hỏi được kinh nghiệm và kiến thứcquản lý kinh tế tiên tiến, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như có điềukiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh
TSDH khác cũng tăng cùng với quy mô tăng tổng tài sản của doanh nghiệp
mà chủ yếu do chi phí trả trước dài hạn tăng, song chiếm tỷ trọng không đáng kể Khi hoạt động kinh doanh của công ty đã ổn định và phát triển bền vững thìviệc tăng quy mô TSDH là một điều tất yếu, đây không chỉ là xu hướng chung củangành CNTT mà của tất cả các ngành kinh doanh khác Cuối năm 2008, tỷ trọngTSDH/ tổng Tài sản của CMC là 20%, của công ty có quy mô lớn hớn- FPT là24%, cho thấy sự phù hợp về tỷ trọng TSDH của công ty CMC
Tuy nhiên để biết rõ hơn cơ cấu tài sản như vậy đã thực sự tốt hay chưa, taphải kết hợp với phân tích cơ cấu nguồn vốn để tìm hiểu những nguồn tài trợ chotài sản đó đã thực sự hợp lý hay chưa
b Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Một cơ cấu tài sản tốt thể hiện sự phân bổ hợp lý giữa tài sản ngắn hạn và tàisản dài hạn, tuy nhiên, nếu tài sản của doanh nghiệp được đầu tư mua sắm bằngnhững nguồn vốn chưa hợp lý thì nó cũng không thể mang lại kết quả kinh doanhtốt được Nếu tài sản được tài trợ bằng nguồn vốn vay và đi chiếm dụng thì hiệuquả và tính bền vững của tài sản đó là không chắc chắn Phân tích cơ cấu nguồnvốn sẽ cho ta biết được khả năng và mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệpnhư thế nào, mức độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh và các khó khăn doanhnghiệp đã và đang gặp phải
Trước hết ta đi tính hệ số tự tài trợ để đánh giá bước đầu về khả năng tự chủtài chính của công ty:
Hệ số tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn
Hệ số tài trợ cho biết mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp, đầunăm 2008 chỉ tiêu này là 0,68, cuối năm giảm còn 0,4 chứng tỏ khả năng tự chủ
Trang 6của công ty có xu hướng giảm nhưng không quá thấp mà vẫn đảm bảo được tính
tự chủ trong tài chính
Qua Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn (Biểu 2.2) có thể thấy cơ cấu Nợ vốn
có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng Nợ / Nguồn vốn So sánh với doanhnghiệp cùng ngành- FPT thì cơ cấu này trái ngược nhau Vậy phải chăng cơ cấu
Nợ vốn của CMC là bất hợp lý? Xét trong cách thức tổ chức hoạt động kinh doanhcủa CMC thì sự chuyển dịch này phù hợp với sự tăng trưởng của vốn lưu động.Như vậy nguồn vốn tăng chủ yếu là do tăng vốn vay tài trợ cho tài sản lưu động.Nhưng liệu việc vay nợ nhiều có còn đảm bảo an toàn cho tình hình tài chính củacông ty hay không, ta cần phải xem xét cụ thể về tỷ trọng của từng khoản mụctrong tổng nguồn vốn
Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn cho thấy tốc độ tăng của Nợ phải trả là rấtnhanh (tăng 255,57%), trong khi đó tốc độ tăng vốn chủ sở hữu chỉ có 1,37%.Điều đó đồng nghĩa với khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệpgiảm mạnh, mức độ phụ thuộc về mặt tài chính đối với chủ nợ tăng lên, rủi ro tàichính cao
Xem xét chỉ tiêu Nợ phải trả, chênh lệch cơ cấu ở thời điểm cuối năm so vớiđầu năm tăng 27,92%, chủ yếu do nợ ngắn hạn tăng Nợ dài hạn mặc dù có tốc độtăng rất cao ở thời điểm cuối năm 2008 (tăng 10345%) nhưng vẫn chiếm tỷ trọngnhỏ trong Nợ phải trả Nguồn vốn vay và nợ ngắn hạn là khoản mục chiếm tỷ
Trang 7trọng lớn nhất trong nợ ngắn hạn và quá cao, tăng chủ yếu do tăng vốn vay từ
ngân hàng và tín dụng từ nhà cung cấp (nguồn: BCĐKT hợp nhất, Thuyết minh
BCTC hợp nhất năm 2008), nhằm bổ sung cho sự tăng trưởng của vốn lưu động
trong năm Điều này sẽ gây ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của công ty.Vốn chủ sở hữu tăng từ 662 tỷ đồng lên 671 tỷ chủ yếu là do lợi nhuận
để lại trong năm Việc tăng vốn điều lệ trong năm chủ yếu là từ việc chia cổphiếu thường từ nguồn thặng dư vốn và chia cổ tức bằng cổ phiếu năm 2007,
có thể thấy quy mô vốn chủ sở hữu thay đổi không đáng kể ( nguồn: Thuyết
minh BCTC hợp nhất) Bên cạnh đó, lợi ích của cổ đông thiểu số cũng tăng,
chứng tỏ ngày càng có nhiều nhà đầu tư vào công ty hơn
2.1.2 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải có tàisản, bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Việc đảm bảo đầy đủ nhu cầu vềtài sản (vốn) là một vấn đề chủ yếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh đượctiến hành liên tục và có hiệu quả Cũng giống như các loại hình doanh nghiệp khácthì nguồn vốn của công ty cũng được hình thành trước hết từ nguồn vốn của chủ
sở hữu, các quỹ có nguồn gốc từ lợi nhuận, lợi nhuận chưa phân phối…sau nữahình thành từ các nguồn vốn vay (vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn ở các ngânhàng, tổ chức tín dụng) Cuối cùng là nguồn vốn được hình thành do chiếm dụngtrong quá trình thanh toán (nợ nhà cung cấp, nợ người lao động, nợ ngân sách nhànước…)
Tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh được phân tích thông quanguồn hình thành tài sản:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nguồn vốn ngắn hạn
= Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn
Biểu 2.3: Phân tích vốn hoạt động thuần
Đvt : 1000 đồng
Trang 8về chính sách tài chính cần được đối chiếu với nhu cầu tài trợ phát sinh hoạt độngkinh doanh (nhu cầu tài trợ của chu kỳ sản xuất kinh doanh), đó là nhu cầu vốnhoạt động thuần.
Nhu cầu vốn
hoạt động thuần = Hàng tồn kho +
Các khoản phảithu ngắn hạn -
Các khoản phải trảngắn hạn
Nhu cầu vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp qua 2 năm tài chính 2007 và
2008 lần lượt là 551.553.158 (nghìn đồng), 187.108.738 (nghìn đồng), đều lớnhơn 0 và nhỏ hơn vốn hoạt động thuần, thể hiện sự cân đối giữa tài sản ngắn hạn
và nguồn vốn ngắn hạn hay cân đối giữa nguồn vốn dài hạn và tài sản dàihạn.Đồng thời phản ánh hoạt động sản xuất của doanh nghiệp diễn ra liên tục, thunhập đủ bù đắp cho những chi phí, tiêu hao tài sản ngắn hạn và dài hạn trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh Đây là một dấu hiệu tài chính lành mạnh và đảm bảocân đối giữa tài sản với nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Trang 9Biểu 2.1: Bảng phân tích cơ cấu tài sản
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán hợp nhất năm 2008)
Trang 10Biểu 2.2: Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn
ĐVT: 1000 đồng
CHỈ TIÊU
cơ cấu(%)Giá trị Tỷ trọng
(%) Giá trị
Tỷ trọng(%) Giá trị
Tỷ lệ(%)
II Nguồn KP và các quỹ khác 294.537 0,02 3.896.761 0,40 -3.602.224 -92,44 -0,38
C Lợi ích của cổ đông thiểu số 8.652.862 0,52 3.413.622 0,35 5.239.240 153,48 0,17
(Nguồn Bảng cân đối kế toán hợp nhất năm 2008)
Trang 122.2 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của công ty
Sức mạnh tài chính của doanh nghiệp thể hiện khả năng chi trả các khoản cần phải thanhtoán, các đối tượng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp luôn đặt ra câu hỏi: Liệu doanhnghiệp có đủ khả năng thanh toán các món nợ tới hạn hay không? Mối quan hệ giữa kếtquả kinh doanh với khả năng chi trả ra sao? Tình hình thanh toán của doanh nghiệp nhưthế nào? Thực tế cho thấy một doanh nghiệp có hoạt động tài chính tốt và lành mạnh sẽkhông phát sinh tình trạng dây dưa, nợ nần, chiếm dụng vốn lẫn nhau Ngược lại, sẽ dẫnđến chất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong đó có quản lý nợ không cao,thực trạng tài chính không mấy sáng sủa Tuy nhiên trong từng thời kỳ, từng chu trìnhcủa quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp lại có những chính sách khác nhautrong vấn đề thanh toán và thu hồi nợ Và cũng tuỳ từng lĩnh vực hoạt động của mình màcác doanh nghiệp có chính sách tài chính thích hợp Đối với một tập đoàn về CNTT, viễnthông và thương mại điện tử thì những chính sách trong vấn đề thanh toán và thu hồi nợ
ra sao, ta sẽ tiến hành phân tích cụ thể như sau:
2.2.1 Phân tích tình hình công nợ
Công nợ của doanh nghiệp bao gồm Nợ phải thu và Nợ phải trả Phân tích tình hìnhcông nợ sẽ giúp cho doanh nghiệp biết được cơ cấu các khoản phải thu, phải trả theo đốitượng, theo thời gian Từ đó xác định được số vốn bị chiếm dụng cũng như đi chiếmdụng và mức độ rủi ro của chúng
Để phân tích tình hình công nợ trước tiên ta xét chỉ tiêu tài chính sau:
Tỷ lệ khoản phải thu so
với các khoản phải trả =
Nợ phải thu
Nợ phải trả x 100Chỉ tiêu này của Tập đoàn qua 2 năm tài chính 2007 và 2008 lần lượt là 149% và62,48%, cho thấy năm 2007 doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn lớn, bị trì hoãn việc trả nợ
từ đối tượng khác, việc thu hồi nợ là chưa tốt Nhưng sang năm 2008 tỷ lệ khoản phải thu
so với khoản phải trả của công ty có sự chuyển dịch hoàn toàn, doanh nghiệp từ chỗ bịchiếm dụng vốn chuyển sang đi chiếm dụng vốn, đây cũng là xu hướng chung của cácdoanh nghiệp hiện nay, nhưng đồng thời nó cũng phản ánh việc trả nợ của doanh nghiệpchưa tốt, có thể ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp Tuy nhiên như đã phân tích ở
Trang 13trên, việc vay vốn của doanh nghiệp chủ yếu là vay từ ngân hàng và tín dụng từ nhà cungcấp, song với uy tín, tiềm lực tài chính và mối quan hệ tốt với các tổ chức tín dụng củacông ty thì điều này không đáng lo ngại, nhưng công ty nên xem xét đến khoản lãi vayphải trả từ các nguồn vốn đó.
Đối với các khoản công nợ của công ty thì khoản phải thu khách hàng và khoảnphải trả người bán luôn chiếm một tỷ trọng lớn, vì vậy để xem xét cụ thể hơn tình hìnhcông nợ của công ty ta sẽ tiến hành phân tích các khoản mục này như sau:
2.2.1.1 Phân tích các tình hình thanh toán với khách hàng
(Nguồn Bảng cân đối kế toán hợp nhất năm 2007, 2008)
Với kết quả tính toán ở bảng trên cho thây số dư nợ khoản phải thu khách hàng bìnhquân năm 2008 tăng trên 288 tỷ đồng, xấp xỉ tăng 148% so với năm 2007, bên cạnh đódoanh thu cũng tăng, nhưng tốc độ tăng của doanh thu nhỏ hơn rất nhiều so với tốc độtăng các khoản phải thu khách hàng, nguyên nhân có thể do công tác quản lý thu hồi nợcủa doanh nghiệp chưa tốt, cũng có khi do chính sách tạm thời của doanh nghiệp tăngthời hạn nợ cho bạn hàng để kích thích tiêu thụ Do đó số vòng quay nợ phải thu kháchhàng năm 2008 đã giảm 1,55 vòng, chỉ còn 4,14 vòng/năm Vì thế số ngày 1 vòng quay
nợ phải thu khách hàng tăng lên (tăng 24 ngày/vòng), điều này rất bất lợi cho khả nănghuy động vốn của công ty để tiếp tục một chu kỳ kinh doanh mới Như vậy qua việc phân
Trang 14tích tình hình thanh toán với khách hàng cho thấy việc thu nợ khách hàng của công tychưa tốt, công ty đang bị khách hàng chiếm dụng vốn, phải tìm nguồn vốn bổ sung bằngcác khoản vay khác khiến bị phụ thuộc về tài chính, việc quản lý các khoản phải thukhách hàng cũng như công tác thu hồi nợ chưa thực sự có hiệu quả để có thể tiếp tục táiđầu tư cho quá trình kinh doanh của mình Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến giảm hiệuquả sản xuất kinh doanh, vì vậy doanh nghiệp cần phải có các chính sách cũng như biệnpháp thu hồi nợ tốt hơn.
2 2.1.2 Phân tích tình hình thanh toán với người bán
Việc phân tích tình hình thanh toán với người bán được thực hiện qua bảng sau:
Biểu 2.5: Phân tích tình hình thanh toán với người bán
có thể là nhân tố làm giảm uy tín của doanh nghiệp Tuy nhiên có thể thấy mức giảm khảnăng thanh toán nợ cho người bán là không đáng kể, tình hình thanh toán với người bánvẫn được đảm bảo