1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định tỉ lệ nhiễm và một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng Clostridium difficile mang gen độc tố phân lập được từ bệnh nhân tiêu chảy sau dùng kháng sinh

199 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 5,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định tỉ lệ nhiễm và một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng Clostridium difficile mang gen độc tố phân lập được từ bệnh nhân tiêu chảy sau dùng kháng sinh Xác định tỉ lệ nhiễm và một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của các chủng Clostridium difficile mang gen độc tố phân lập được từ bệnh nhân tiêu chảy sau dùng kháng sinh luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Lê Xuân Thái

XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG CHO ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH CÂY XANH TRÊN MỘT SỐ TUYẾN QUỐC LỘ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Lê Xuân Thái

XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG CHO ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH CÂY XANH TRÊN MỘT SỐ TUYẾN QUỐC LỘ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình, luận án nào và chƣa sử dụng để bảo vệ học vị nào

Mọi sự giúp đỡ đã đƣợc cảm ơn và các thông tin tham khảo, trích dẫn đã đƣợc nêu rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Lê Xuân Thái

Trang 4

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận án này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy,

cô trong Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã quan tâm giúp

đỡ chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện đề tài Nhờ đó tôi đã tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp và nhận xét quý báu của thầy cô thông qua các buổi bảo vệ

đề cương và hội nghị chuyên đề

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Trần Văn Thụy và GS.TS

Lê Văn Khoa đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình công tác cũng như thực hiện luận án

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành tốt mọi công việc trong quá trình thực hiện luận án Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình tới bạn bè và đồng nghiệp, luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 7 năm 2017

Tác giả luận án

Lê Xuân Thái

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

MỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Những đóng góp mới của đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Khái lược về hệ thống đường quốc lộ vùng nghiên cứu 4

1.1.1 Hệ thống đường quốc lộ 4

1.1.2 Mạng lưới đường bộ của Việt Nam 4

1.1.3 Hệ thống đường quốc lộ của vùng đồng bằng sông Hồng 5

1.1.4 Sự phát triển của đường quốc lộ là nhu cầu tất yếu của xã hội 6

1.2 Tình hình nghiên cứu về quy hoạch cây xanh trên thế giới và ở Việt Nam 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Ở Việt Nam 15

1.3 Hiện trạng và phân loại cây xanh trên các đường giao thông 21

1.3.1 Hiện trạng cây xanh trên đường giao thông ở vùng nghiên cứu 21

1.3.2 Phân loại cây xanh theo công dụng kết hợp với hình dạng 22

1.3.3 Phân loại cây xanh theo nguồn gốc 23

1.3.4 Phân loại cây xanh trên cơ sở bảo vệ môi trường 23

1.3.5 Phân loại cây xanh theo nhu cầu sử dụng 24

1.3.6 Phân loại cây xanh theo đặc điểm thường dùng trên đường và theo thành phần thực vật học 24

1.3.7 Phân loại cây xanh theo chủ thể quản lý 24

Trang 6

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Nội dung nghiên cứu 25

2.3 Phạm vi nghiên cứu 25

2.3.1 Một số tuyến quốc lộ lựa chọn nghiên cứu 25

2.3.2 Cơ sở lựa chọn các tuyến quốc lộ để nghiên cứu 26

2.3.3 Khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Hồng 29

2.4 Phương pháp nghiên cứu 32

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận 32

2.4.2 Phương pháp kế thừa, thu thập các thông tin và các tài liệu liên quan 33 2.4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 33

2.4.4 Phương pháp chuyên gia 33

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu thành phần loài cây xanh và cấu trúc quần xã cây xanh trên các tuyến quốc lộ giao thông vùng nghiên cứu 34

2.4.6 Vị trí quan trắc và lấy mẫu đất - nước – không khí 36

2.4.7 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 40

2.4.8 Phương pháp phân tích tổng hợp 42

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Thực trạng hệ thống cây xanh trên một số tuyến đường quốc lộ vùng đồng bằng sông Hồng 43

3.1.1 Quốc lộ 2 43

3.1.2 Đường Võ Văn Kiệt 44

3.1.3 Quốc lộ 18 45

3.1.4 Quốc lộ 5 46

3.1.5 Quốc lộ 1A 46

3.2 Hiện trạng môi trường đất - nước – không khí 48

3.2.1 Hiện trạng môi trường không khí 48

3.2.2 Hiện trạng môi trường đất 61

Trang 7

3.2.3 Hiện trạng môi trường nước 65

3.3 Cơ sở khoa học môi trường cho định hướng quy hoạch cây xanh 69

3.3.1 Nhu cầu quy hoạch cây xanh trên đường quốc lộ 69

3.3.2 Căn cứ, nguyên tắc và tiêu chuẩn quy hoạch cây xanh trên đường quốc lộ 70

3.3.3 Cơ sở khoa học của việc đánh giá các loài cây xanh trên các tuyến quốc lộ theo phương châm “đất nào-cây ấy” 73

3.3.4 Môi trường nước và khí 80

3.4 Định hướng phát triển và thiết kế cảnh quan cây xanh trên đường quốc lộ phù hợp vùng đồng bằng sông Hồng 81

3.4.1 Cơ sở sinh thái môi trường cho định hướng phát triển cây trồng trên các tuyến quốc lộ 81

3.4.2 Định hướng phát triển bền vững hệ thống cây xanh trên đường quốc lộ 83

3.4.3 Định hướng thiết kế cảnh quan cây xanh 85

3.5 Đề xuất tập đoàn cây xanh trên một số tuyến quốc lộ vùng đồng bằng sông Hồng 92

3.5.1 Cây xanh thân gỗ trồng vỉa hè, lề đường, dải phân cách cố định (cây bóng mát) 92

3.5.2 Cây xanh thân thảo và cây bụi trồng làm dải phân cách 93

3.5.3 Cây thân thảo trồng phủ đất, cỏ phủ taluy 93

3.6 Đề xuất giải pháp trồng cây xanh trên các tuyến quốc lộ 96

3.6.1 Giải pháp tổng thể về quản lý cây xanh trên đường quốc lộ 96

3.6.2 Giải pháp khoa học kỹ thuật 98

3.6.3 Giải pháp về cơ chế quản lý và chính sách 105

3.7 Đề xuất quy hoạch cây xanh cụ thể cho một số đoạn đường quốc lộ 111

3.7.1 Những yếu tố chính ảnh hưởng đến việc quy hoạch cây xanh trên đường quốc lộ 111

3.7.2 Xây dựng các mô hình cây xanh 114

3.7.3 Quy hoạch cho đoạn quốc lộ thuộc đường Võ Văn Kiệt 120

Trang 8

3.7.4 Quy hoạch cho đoạn Nội Bài – Vĩnh Yên (Quốc lộ 2 cũ) 126

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 133

1 Kết luận 133

2 Kiến nghị 135

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

ADB: Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank)

BOD: Nhu cầu ôxy sinh học (Biochemical (hay Biological) Oxygen

GD & ĐT: Giáo dục và đào tạo

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

GTĐB: Giao thông đường bộ

GTVT: Giao thông vận tải

GIS: Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)

Hk.km: Hành khách/km

KT-XH: Kinh tế xã hội

KH & CN: Khoa học và Công nghệ

KHMT: Khoa học môi trường

MTOE: Hệ số chuyển đổi năng lượng áp dụng cho một số loại nhiên liệu phổ

biến (Mega Ton of Oil Equivalent)

Trang 10

UBND: Ủy ban nhân dân

xqđ/ngđ: Xe quy đổi/ngày.đêm

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Danh mục các bảng

Bảng 1.1 Hiện trạng hệ thống đường bộ trên địa bàn vùng ĐBSH 5

Bảng 2.1 Tổng số mẫu quan trắc và phân tích 40

Bảng 3.1 Chất lượng không khí quan trắc vào mùa khô 48

Bảng 3.3 Giá trị chênh lệch (%) giữa các hàng cây 58

Bảng 3.4 Kết quả quan trắc và so sánh chất lượng môi trường đất 62

Bảng 3.5 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu môi trường nước 66

Bảng 3.6 Loại đất trên khu vực ĐBSH 75

Bảng 3.7 Các loài cây phù hợp với đất đất phù sa và đất xám bạc màu trên phù sa cổ 78

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

Hình 2.1 Sơ đồ các tuyến QL lựa chọn nghiên cứu 26

Hình 2.2 Xác định vị trí lấy mẫu, quy hoạch trên phần mềm Mapinfo 15.0 36

Hình 2.3 Phối cảnh mô hình cây xanh trên đường trên phần mềm AutoCAD 36 Hình 2.4 Sơ đồ lấy mẫu 37

Hình 3.1 Hiệu quả ngăn cản chất ô nhiễm không khí tại QL2 - điểm 1 53

Hình 3.2 Hiệu quả ngăn cản chất ô nhiễm không khí tại QL2 - điểm 2 53

Hình 3.3 Hiệu quả ngăn cản chất ô nhiễm không khí tại Đường Võ Văn Kiệt54 Hình 3.4 Hiệu quả ngăn cản chất ô nhiễm không khí tại tuyến QL18 55

Hình 3.5 Hiệu quả ngăn cản chất ô nhiễm không khí tại tuyến QL5 56

Hình 3.6 Hiệu quả ngăn cản chất ô nhiễm không khí tại tuyến QL1A 57

Hình 3.7 Lát cỏ 94

Hình 3.8 Lát cỏ thành các ô vuông 95

Hình 3.9 Lát chồng các vầng cỏ 96

Hình 3.10 Các loài đại diện cho mô hình 3 115

Hình 3.11 Phối cảnh cây xanh trên đường của mô hình 3 115

Hình 3.12 Các loài đại diện cho mô hình 4 116

Hình 3.13 Phối cảnh cây xanh trên đường của mô hình 4 117

Hình 3.14 Mô hình 5 118

Hình 3.15 Phối cảnh cây sấu trên đường của mô hình 5 118

Hình 3.16 Mô hình 6 119

Hình 3.17 Phối cảnh cây xà cừ trên đường của mô hình 6 119

Hình 3.18 Sơ đồ quy hoạch đoạn 1 – đường Võ Văn Kiệt 121

Hình 3.19 Sơ đồ quy hoạch đoạn 2 – đường Võ Văn Kiệt 122

Hình 3.20 Sơ đồ quy hoạch đoạn 3 – đường Võ Văn Kiệt 123

Hình 3.21 Sơ đồ quy hoạch đoạn 3 – đường Võ Văn Kiệt 123

Hình 3.22 Sơ đồ quy hoạch đoạn 5 – đường Võ Văn Kiệt 124

Hình 3.23 Sơ đồ quy hoạch đoạn 6 – đường Võ Văn Kiệt 125

Trang 13

Hình 3.24 Sơ đồ quy hoạch đoạn 7 – đường Võ Văn Kiệt 125

Hình 3.25 Sơ đồ quy hoạch đoạn 8 – đường Võ Văn Kiệt 126

Hình 3.26 Sơ đồ quy hoạch đoạn 9 – đường Võ Văn Kiệt 126

Hình 3.27 Sơ đồ quy hoạch đoạn 1 – QL2 128

Hình 3.28 Sơ đồ quy hoạch đoạn 2 – QL2 128

Hình 3.29 Sơ đồ quy hoạch đoạn 3 – QL2 129

Hình 3.30 Sơ đồ quy hoạch đoạn 4 – QL2 129

Hình 3.31 Sơ đồ quy hoạch đoạn 5 – QL2 130

Hình 3.32 Sơ đồ quy hoạch đoạn 6 – QL2 131

Hình 3.33 Sơ đồ quy hoạch đoạn 7 – QL2 131

Hình 3.34 Sơ đồ quy hoạch đoạn 8 – QL2 132

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây xanh từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống của con người Là một bộ phận quan trọng của tự nhiên, có tác dụng trong việc cải tạo khí hậu, bảo vệ môi trường, Đối với đường bộ nói chung và đường quốc lộ riêng, cây xanh là một thành phần không thể thiếu trong quy hoạch, thiết kế và xây dựng của tuyến đường và cũng là yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng cảnh quan đường bộ

Vùng ĐBSH có điều kiện khí hậu nhiệt đới rất thuận lợi cho việc phát triển cây xanh, lại có một quá trình phát triển KT-XH và lối sống hàng ngàn năm trong

đó cây xanh góp một phần quan trọng ĐBSH giữ vai trò cửa ngõ phía bắc của Tổ quốc Hệ thống giao thông hiện có như: mạng lưới đường bộ, đường sông, đường biển, đường hàng không, đường sắt, cảng biển, cảng hàng không quốc tế sân bay Nội Bài, là những đầu mối nối liền giữa ĐBSH với các vùng kinh tế trong nước

và mở rộng quan hệ giao lưu với các nước trong khu vực và thế giới Địa bàn ĐBSH lại “cận kề” với Trung Quốc (thị trường to lớn của cả thế giới) và “cách không xa” các nước vùng Đông - Bắc Á [65] Ở vào vị trí địa lý thuận lợi và với đặc điểm phát triển, ĐBSH đang có tốc độ phát triển mạnh, đã, đang và sẽ là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông của cả nước, là nơi giao lưu quốc tế giữa nước ta với các nước trong vùng Đông Nam Á và thế giới

Cùng với sự phát triển vượt bậc về kinh tế thì môi trường khu vực cũng đang

bị đe dọa nghiêm trọng đặc biệt là ô nhiễm không khí Hiện nay, ô nhiễm không khí

đã và đang trở thành vấn đề bức xúc trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Trong số các chất gây ô nhiễm không khí nói chung, khí thải từ các phương tiện cơ giới đường bộ chiếm một tỷ trọng đáng kể Căn cứ vào lượng xăng và dầu diesel các phương tiện cơ giới đường bộ tiêu thụ hàng năm và lượng chất độc hại thải ra khi đốt cháy một tấn nhiên liệu có thể ước tính được lượng chất độc hại thải ra môi trường trong năm đó [29] Theo thống kê

và dự đoán của Bộ Công thương nhu cầu năng lượng cuối cùng của ngành giao thông năm 2014 là 11.2 MTOE, năm 2015 là 12.1 MTOE; dự báo năm 2020 là 16.4

Trang 15

MTOE, năm 2025 là 22.0 MTOE và năm 2030 là 29.8 MTOE với dự báo tăng trưởng trung bình từ 2014 – 2030 là 6.3% [3]

Do đó, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường là việc hết sức cần thiết nhưng phải duy trì cho được tốc độ phát triển xã hội Trong công tác quản lý môi trường, tùy theo từng chất gây ô nhiễm và trên cơ sở khía cạnh sinh thái, nhiều biện pháp khống chế cho cả 2 đầu vào và ra đối với các nguồn gây ô nhiễm đã và đang được

sử dụng, trong đó có biện pháp trồng cây, phát triển hệ thống mảng xanh

Những năm gần đây cùng với phương hướng dần dần đổi mới thiết bị công nghệ và tăng cường các biện pháp quản lý giám sát môi trường, trong đó có số lượng và chất lượng cây xanh dọc các tuyến đường, ít nhiều được chỉnh trang và phát triển Nhờ đó, bước đầu đã phát huy tác dụng về hiệu quả cảnh quan và ở chừng mực nào đó có ảnh hưởng tích cực đối với môi trường sinh thái dọc tuyến đường Tuy nhiên, về phương diện này còn nhiều hạn chế bởi diện tích xanh dọc các tuyến đường tuy có tăng, nhưng mật độ lưu thông phương tiện cơ giới đường bộ ngày càng cao, chất lượng đường lại xuống cấp, Hơn thế nữa, loài cây trồng vẫn còn nhiều hạn chế, không những về số lượng mà cả về chất lượng Thời gian qua nhiều loài cây trồng đã bộc lộ khá rõ nét sự không phù hợp với loại hình mảng xanh dọc các tuyến đường [43]

Do đó, nghiên cứu các cơ sở khoa học môi trường để làm luận cứ, góp phần phân bố lại diện tích xanh trên cơ sở tiềm năng đất đai có tính đến lịch sử phát triển của tuyến đường và xác định tập đoàn cây trồng phù hợp cho một số tuyến đường là cần thiết và cấp bách để vùng ĐBSH có thể đạt được một diện tích xanh tối thiểu với cơ cấu cây trồng phù hợp, góp phần cải thiện môi trường sinh thái vốn đã bị ô

nhiễm nặng nề bởi quá trình phát triển kinh tế Đó là lý do hình thành đề tài “Xây

dựng cơ sở khoa học môi trường cho định hướng quy hoạch cây xanh trên một

số tuyến quốc lộ vùng đồng bằng sông Hồng”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hướng vào giải quyết một số mục tiêu cơ bản sau đây:

- Nghiên cứu, đánh giá được thực trạng việc quy hoạch cây xanh trên một số tuyến QL vùng ĐBSH

Trang 16

- Đánh giá được mức độ phù hợp của một số loài cây xanh với điều kiện sinh thái môi trường và tác động tích cực tới môi trường của các dải cây xanh trên một

số tuyến QL vùng ĐBSH Trên cơ sở đó xác định cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp hợp lý cho định hướng quy hoạch cây xanh đối với các tuyến đường QL

3 Những đóng góp mới của đề tài

Lần đầu tiên đã điều tra, đánh giá tổng hợp được thực trạng thành phần loài, cấu trúc các dải cây xanh cũng như các đặc tính lý, hóa học lớp phủ thổ nhưỡng, nước mặt của các dải cây xanh và các khoảng trống có khả năng quy hoạch cây xanh ở một số tuyến QL chính vùng ĐBSH

Đã xây dựng được cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch cây xanh trên các tuyến QL chính vùng ĐBSH và đề xuất quy hoạch cây xanh cụ thể cho các đoạn

QL 2 và đường Võ Văn Kiệt đáp ứng mục tiêu an toàn giao thông, góp phần phát triển KT-XH và ổn định sinh thái môi trường

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Xác định được vai trò và ý nghĩa quan trọng của cây xanh đối với phát triển giao thông, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường trên các tuyến đường QL vùng ĐBSH Góp phần vào quá trình bảo vệ và tôn tạo cảnh quan đường bộ trong quá trình quy hoạch, thiết kế, xây dựng và nâng cấp sửa chữa các tuyến đường QL

Đề xuất cơ sở khoa học môi trường để nghiên cứu điều chỉnh một số chỉ tiêu trong quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn thiết kế về cây xanh của các tuyến QL vùng ĐBSH, có ý nghĩa thực tiễn để áp dụng cho công tác nghiên cứu lập, thẩm định quy hoạch xây dựng và quản lý cây xanh các tuyến đường QL của ĐBSH trong thời gian tới; ứng dụng để xây dựng quy chế quy hoạch cây xanh các tuyến QL khác

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái lược về hệ thống đường quốc lộ vùng nghiên cứu

1.1.1 Hệ thống đường quốc lộ

Định nghĩa: QL là đường nối liền Thủ đô Hà Nội với các trung tâm hành chính cấp tỉnh; đường nối liền trung tâm hành chính cấp tỉnh từ ba địa phương trở lên; đường nối liền từ cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế đến các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính trên đường bộ; đường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, khu vực

Đường đô thị là đường trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị (khoản a, mục 1, điều 39, Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12) Về mặt quản lý: Thẩm quyền phân loại và điều chỉnh các hệ thống đường bộ quy định như sau: Hệ thống QL do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định; Hệ thống đường tỉnh, đường đô thị do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải (đối với đường tỉnh) và thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng (đối với đường đô thị)

Như vậy, đường QL khi chạy qua phạm vi địa giới hành chính nội thành nội thị thì theo luật nó vừa có tính chất của đường QL lại vừa phù hợp với điều kiện của đường đô thị Tuy nhiên về mặt quản lý lại có sự phân công rõ ràng, hệ thống QL

do Bộ Giao thông vận tải quản lý [47]

1.1.2 Mạng lưới đường bộ của Việt Nam

Mạng lưới đường bộ bao gồm hệ thống quốc lộ với 21.100km, chiếm tỉ lệ 4%; đường đô thị có 26.950km, chiếm 5%; đường tỉnh 28.910km, chiếm 5,1%; đường huyện 58.430km, chiếm 10%; đường liên xã 144.670km, chiếm 25%; đường thôn xóm, đường trục nội đồng 289.790km, chiếm 51% và 741km đường cao tốc Trong những năm vừa qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có những bước phát triển mạnh, theo hướng hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các công trình có tính kết nối, lan tỏa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội; chất lượng vận tải đường bộ ngày một nâng cao, bước đầu góp phần thực hiện mục tiêu GTVT đi trước một bước trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh và bảo vệ Tổ quốc

Trang 18

1.1.3 Hệ thống đường quốc lộ của vùng đồng bằng sông Hồng

Sau hơn 20 năm kể từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống giao thông đường bộ thuộc vùng ĐBSH đã có sự phát triển rõ rệt Mạng lưới QL đã

cơ bản được hình thành, gồm các trục QL hướng tâm kết nối Thủ đô Hà Nội Vùng ĐBSH với các vùng, miền khác của đất nước như QL1A, QL2, QL3, QL6, QL32 và đường Hồ Chí Minh; các trục QL kết nối đến các cảng biển, cảng hàng không như QL5, QL18 và đường Bắc Thăng Long - Nội Bài (đường Võ Văn Kiệt); các trục QL kết nối nội vùng như QL10 và QL39 Các QL này sau khi được cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới đều có chất lượng khá tốt Các tuyến QL có quy mô phổ biến là 2 làn

xe, một số đoạn qua thành phố, thị xã được mở rộng lên 4 hoặc 6 làn xe [65]

ảng 1 Hiện trạng hệ thống đường bộ trên địa bàn vùng Đ SH

Đơn vị: km

Loại

đường

Tổng chiều dài

Kết cấu mặt đường

ê tông nhựa

ê tông xi măng

Láng nhựa

Cấp phối

Đá

Đường khác

Tổng 57.696 6.674 14.216 6.981 9.984 3.551 12.544 3.857

Tỉnh lộ 3.026 1.159 168 1.141 209 287 61 - Đường đô

Nhờ có sự cải thiện của chất lượng mặt đường và bề rộng mặt đường, tốc độ

xe chạy cho phép trên các tuyến QL đã được nâng lên mức tối đa 80km/h (trước đây

Trang 19

4 Sự phát triển của đường quốc lộ là nhu cầu tất yếu của xã hội

Đường QL được coi là mạch máu liên lạc của bất kỳ đất nước nào Hầu hết các đường QL khi được xây dựng đều đóng những vai trò chiến lược trong sự phát triển của những nơi mà nó đi qua

Vận tải đường bộ là một ngành dịch vụ sản xuất có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống kết cấu hạ tầng, là huyết mạch của quốc gia, là cầu nối giao lưu các hoạt động kinh tế - xã hội, đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Giao thông vận tải nói chung là sự kết hợp hữu cơ của kết cấu hạ tầng, phương tiện và tổ chức dịch vụ vận tải nhằm đạt được hiệu quả kinh tế

- xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng Vận tải đường bộ là một trong những loại hình giao thông vận tải mà sử dụng hệ thống các công trình tạo nên cơ sở vật chất

kỹ thuật có chức năng phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt xã hội như: hệ thống các loại đường QL, đường đô thị, đường tỉnh lộ, đường huyện, đường xã, đường chuyên dùng, và hệ thống các loại cầu, bến bãi, đèn giao thông, đèn chiếu sáng, Tổng thể các công trình này được gọi là hệ thống giao thông đường bộ

Trong nền kinh tế quốc dân, vận tải là một ngành kinh tế đặc biệt và quan trọng Nó có mục đích vận chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác Trong quá trình sản xuất, nó không làm tăng giá trị sử dụng của hàng hóa, tuy nhiên tầm quan trọng của nó dễ nhận thấy trong mọi ngành kinh tế Nó cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu cho mọi nhà máy; nó vận chuyển vật liệu xây dựng, máy móc để xây dựng các nhà máy Trong quá trình sản xuất, giao thông đường bộ cũng đảm nhiệm chức năng vận chuyển từ phân xưởng tới phân xưởng và kho bãi Ngày nay khi quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu liên kết sản xuất giữa các quốc gia ngày càng tăng thì quá trình vận tải càng trở nên quan trọng, đặc biệt là vận tải đường bộ Cuối cùng, khâu phân phối tới tay người tiêu dùng cũng lại phải nhờ tới vận tải đường bộ là chủ yếu Có thể thấy rằng giao thông đường bộ là một bộ phận tất yếu quan trọng bởi những ưu điểm của nó so với các hình thức vận tải khác, cụ thể như:

- Giao thông đường bộ có tính cơ động cao, có thể vận tải trực tiếp không cần qua các phương tiện vận tải trung gian

Trang 20

- Đường bộ đòi hỏi đầu tư ít vốn hơn đường sắt, có thể đi được đến những nơi địa hình hiểm trở

- Tốc độ vận tải khá lớn, nhanh hơn đường thủy, tương đương với đường sắt,

về cự ly ngắn có thể cạnh tranh với hàng không

- Cước phí vận chuyển trên đường bộ rẻ hơn nhiều so với hàng không nên lượng hành khách và hàng hóa thường chiếm 80 - 90% về khối lượng hàng và 59 - 70% về khối lượng vận chuyển, ở nước ta, con số này là 50% và gần 90% [65]

Có thể nói, trong những năm gần đây, ngành GTVT đã được nhà nước ưu tiên tăng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách để xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ (bình quân khoảng 15% mỗi năm) Đối với nước ta, khi bước vào thời kỳ đổi mới nền kinh tế, đặc biệt là khoảng 10 năm trở lại đây, việc phát triển các tuyến đường QL đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước Sự phát triển nhanh và ngày càng nâng cao về chất lượng đường QL đã thỏa mãn tốt hơn nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của xã hội

1.2 Tình hình nghiên cứu về quy hoạch cây xanh trên thế giới và ở Việt Nam

đã có từ lâu, khoảng 1.500 năm TCN ở Ai Cập Kiến thức này được tiếp tục phát triển khi nền văn minh nhân loại ngày một thăng tiến Khi thương mại và giao thông phát triển, cây trồng được chuyển đi từ nước này sang nước khác và các vườn thực vật lớn nhỏ bắt đầu ra đời ở tất cả các quốc gia Điều này làm gia tăng chủng loại cây trồng, dẫn tới kiến thức về trồng cây và chăm sóc cây ngày càng phong phú và

đa dạng hơn [43]

Trang 21

Ở các nước Bắc châu Mỹ, sự phát triển trong quá khứ của cây xanh trên các tuyến đường bộ tập trung vào việc trồng cây, bảo quản và kiến trúc cảnh quan – đặc biệt là đường trong đô thị Đến năm 1970, cơ quan lâm nghiệp Hoa Kỳ đã đưa ra

định nghĩa về lâm nghiệp môi trường (environment forestry): “Lâm nghiệp môi

trường bao gồm những khía cạnh tài nguyên liên quan đến việc phục vụ lợi ích của con người, kết hợp với các tài nguyên đó với các giá trị hữu hình hay vô hình của thực vật rừng trong và xung quanh khu vực đô thị Các thực vật tạo rừng như vậy bao gồm một phạm vi rộng rãi các hoàn cảnh rừng: phân bố từ môi trường công viên đô thị đến các vành đai xanh và rừng gỗ trên các khu vực nông thôn, ” Một số lĩnh vực được tập trung nghiên cứu như [42]:

1) Quy hoạch, thiết kế cảnh quan gắn với trồng cây, phát triển mảng xanh: Quy hoạch và phát triển đường bộ không phải là vấn đề mới phát sinh gần đây trên thế giới mà đã có từ rất lâu Tuy nhiên, do sự phát triển của sản xuất, kết quả của cách mạng khoa học kỹ thuật bùng nổ từ giữa thế kỷ 19, dẫn đến việc phát triển hệ thống giao thông ngày càng nhanh đòi hỏi các nhà quy hoạch hiện đại phải tính đến việc khai thác cảnh quan thiên và nhân tạo không những giá trị làm trong lành môi trường mà còn nâng cao giá trị thẩm mỹ con đường Dựa trên quan niệm đó, nhiều công trình nghiên cứu liên quan về quy hoạch, thiết kế cảnh quan, kiến trúc phong cảnh của nhiều tác giả như Merlin (1993), Miller (1988), Brenda & Robert (1996), Laurie (1969), Ingel (1986), Me Harg (1969) v.v đã được triển khai Mặc dầu không chuyên sâu nhưng đây cũng là một trong các tài liệu hữu ích giúp các nhà quản lý tham khảo để có thể thiết kế chương trình, kế hoạch quản lý cây xanh dài hơi và hiệu quả

2) Đối với lĩnh vực quản trị mảng xanh có các công trình nghiên cứu của Benavides – Meza (1992), Miller & Bate (1978), Clark & Kjielgren (1989), Hayaski (1987), v.v đã vận dụng những kiến thức, kỹ thuật trong lâm nghiệp truyền thống, các ứng dụng của máy vi tính, vào điều tra, vào các giai đoạn quản trị đối với cây xanh Trong đó, một số kết quả nghiên cứu về lưu trữ và ứng dụng máy vi tính vào việc quản lý dữ liệu cây xanh (GIS) của nhiều tác giả như Pherson (1985), Weistein (1983), Miller & Marano (1986) đã mở ra một hướng mới trong việc quản lý có

Trang 22

hiệu quả hệ thống cây xanh đô thị, đặc biệt có thể tham khảo áp dụng cho việc quản

lý hệ thống cây xanh trên đường giao thông

3) Về lĩnh vực cây xanh có các công trình nghiên cứu về chủng loại cây trồng, các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, vai trò của cây xanh trong việc điều hòa khí hậu, ngăn cản gió, hạn chế tiếng ồn, hạn chế ô nhiễm không khí, đã được nhiều nhà khoa học như Rowntree & Nowal (1991); Heisler (1986, 1989), Grey & Deneke (1978), Decourt (1978, 1979), Shephard (1978), Nevers (1995), Andreson (1984), Lindsay (1972), Beck (1994), Federer (1976), v v đề cập tới Tuy nhiên, một số tác giả không dừng lại ở các vấn đề nghiên cứu riêng lẻ về cây xanh mà lại nghiên cứu tổng hợp nhiều vấn đề liên quan đến lâm nghiệp như Grey, G.W và Denneke F.J Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả như Jim, C.Y (1990), Kim TW (1982) về chọn loài cây lại mang tính chất khu vực riêng biệt như Hồng Kông, hoặc một địa phương ở Hàn Quốc, do đó rất khó có thể áp dụng ở các nơi khác, mà chỉ có tính chất tham khảo Một số tác giả khác như Rowntree, R.A & Nowork, D.J (1991) hoặc Bouvarel, P (1989) đã nghiên cứu về vai trò của rừng đô thị trong việc làm giảm lượng CO2 do con người thải ra trong quá trình sinh hoạt và sản xuất đã góp phần xác định hiệu quả của việc trồng cây xanh, phát triển mảng xanh phục vụ cho việc cân bằng nhu cầu sinh thái trong quá trình phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu như hiện nay

4) Ngoài ra, về khía cạnh xã hội nhiều nghiên cứu cũng đã được thực hiện và các nhà nghiên cứu cũng đã đề ra các giải pháp khuyến xanh, phát triển mảng xanh gia đình, mảng xanh công cộng, xây dựng các chương trình phát triển cộng đồng liên quan đến việc trồng cây ở ngoại vi, xây dựng các quy định liên quan đến cây xanh đô thị như Grey (1978), Page (1983), Weber (1982), Johnson (1982), Tate (1976), [43]

Phát triển cây xanh đô thị và giao thông ở châu Âu được quan tâm từ khá sớm, Anh là một trong những quốc gia thủa sơ khai đã có nhiều đóng góp cho nhân loại các vấn đề liên quan đến cây xanh Jame Lyte (1578) trong cuốn Sodens đã sử dụng thuật ngữ “Nhà trồng cây” Năm 1681, William Lawson đã viết khá chi tiết về việc chăm sóc cây trồng đô thị trong cuốn sách “Vườn và vườn giống mới” Jhon

Trang 23

Evelyn, năm 1662 đã đề cập tới tất cả các lĩnh vực cây trồng trong một cuốn sách có tên là Sylva Trong cuốn sách này ông chú trọng đến việc nghiên cứu cây trồng đường phố, cây cảnh Như vậy, thế kỷ 17, 18 đã có nhiều nghiên cứu và sách viết về cây xanh: trồng, chăm sóc và phát triển nó ở các đô thị châu Âu trong đó có cây xanh đường phố Cây xanh, trong thời kỳ này, là một trong các yếu tố kiến trúc, cảnh quan, môi trường và cũng chỉ giới hạn ở những nơi tập trung đông dân cư mà chưa gắn được với toàn bộ hệ thống đường bộ [43]

Tại thành phố London của Anh hiện nay có cả một rừng cây tiêu huyền (London Plane) Đây là một giống lai ghép được trồng rất nhiều trên các tuyến phố

ở thành phố này Một trong những đặc điểm tuyệt vời của loại cây là có thể chịu được ô nhiễm Lá của nó sáng bóng Thân cây to và sống được trên những khu đất cằn cũng như có những ưu điểm lý tưởng cho một loại cây trồng trong đô thị cũng như trên đường

Thị trưởng London, Boris Johnson đã xem xét kỹ việc lập văn bản hướng dẫn về những loại cây đô thị nên và không nên khuyến khích trồng ở London

“Chúng tôi đặc biệt khuyến khích các cây tán rộng Chúng tôi không muốn có một

đô thị đầy hoa anh đào và cây nhỏ Chúng tôi muốn trồng loại cây lâu năm Đó là những gì một thành phố thực sự cần, cần che bóng mát”, ông Boris từng nói

Còn thành phố Southwark của Anh, cây xanh được coi là một đặc trưng quan trọng của môi trường thành phố và được bảo vệ theo Lệnh Bảo tồn Cây xanh Nếu

ai cố tình đốn hạ hoặc hủy hoại cây xanh mà không có giấy phép, người đó có thể bị truy tố và bị phạt tới 20 nghìn bảng Anh và phải thay thế một cây khác vào chỗ đó ngay lập tức

Ở Pháp, việc trồng cây đã bắt đầu cách đây từ nhiều thế kỷ – khoảng thế kỷ

16 ÷ 17, vào thời kỳ này, người ta quan niệm trồng một loại cây trên một khu vực

và cách đều với nhau; sau đó, khi trồng cây xanh cho các tuyến đường, người ta cũng làm theo quan niệm này

Nhận thức được lợi ích thiết thực của cây xanh, chính quyền nhiều thành phố trên thế giới rất chú trọng đến việc quy hoạch cây đô thị cũng như trên đường phố Suốt thời vua Henry IV (Henry Navarre 1579-1610) của Pháp, ông đã cho thiết kế

Trang 24

lại các tuyến đường với những hàng cây rợp bóng mát Sau khi ông bị ám sát, Hoàng hậu Marie De Medici đã cho làm con đường dài đầu tiên trong thành phố Paris có hàng cây hai bên để đi dạo Từ đó, như là mốt thời thượng, con đường rợp bóng cây đua nhau xuất hiện, trở thành nền tảng cho sự phát triển cây xanh đường phố của Paris Cho đến đời Napoleon III, các hàng cây xanh mướt khắp các con phố Paris mới được gây dựng quy mô lớn và phát triển thành Thủ đô Paris hoa lệ như ngày hôm nay

Việc trồng cùng một loại cây trên một tuyến đường dần dần trở thành truyền thống và lan sang Mỹ, Canada, một số nước khác và được xem như quy định Ngày nay, người ta không còn quy định trồng cùng một loại cây trên một tuyến đường mà đây chỉ là một cách trong nhiều cách khác Ví dụ trong trường hợp có một loại dịch bệnh nào đó xảy ra đối với cây xanh, việc trồng nhiều loại cây xanh trên một tuyến đường sẽ làm cho cây xanh không chết hàng loạt Do đó, trồng nhiều loại cây trên một tuyến đường cũng là một giải pháp trồng cây

Từ nửa sau thế kỷ 19 bắt đầu có xu hướng đưa không gian tự nhiên vào đô thị để tạo sự cân bằng cho đô thị trong quá trình phát triển Các hình thức phát triển không gian xanh như: trồng cây hai bên bờ sông tạo thành lối đi dạo, dọc theo các đại lộ, ở quảng trường, Ngay từ thời kỳ này, nhiều tài liệu đã có giải thích lý do phải đưa không gian tự nhiên vào đô thị Đó là vì các lợi ích về môi trường, về xã hội và về kinh tế, 3 yếu tố này ngày nay chính là 3 trụ cột của phát triển bền vững

Từ nhận thức đó, việc trồng cây xanh đã được tổ chức trồng rất tốt, cả về số lượng lẫn chất lượng (bằng chứng là sau hơn 150 năm, nhiều cây được trồng từ thế kỷ 19 vẫn còn sống đến ngày nay) Ngoài ra, về mặt tổ chức, các cơ quan trồng cây, quản

lý cây xanh, quản lý đường giao thông và hạ tầng kỹ thuật là một việc nên thực hiện

và được phối hợp hài hòa

Trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21: Không gian xanh, cây xanh có nhiều mất mát Lý do chủ yếu: Giá trị được theo đuổi vào thời kỳ này không còn là sự cân bằng giữa đô thị và thiên nhiên mà ưu tiên cho các lợi ích kinh tế, giao thông, nhất

là giao thông xe hơi, do đó, nhiều không gian xanh đã bị phá bỏ để làm đường, mở rộng đường và làm chỗ đậu xe, Trong công tác quản lý bắt đầu có sự chuyên môn

Trang 25

hóa, mỗi ngành chỉ lo phần việc của mình và thiếu sự phối hợp hài hòa Từ đó, dẫn đến các không gian xanh bị xâm hại và giảm đi đáng kể Giai đoạn năm 1980 ÷

1990 do sự lạm dụng quá mức các không gian xanh để xây dựng các không gian chức năng khác nên chất lượng môi trường sống giảm đi rõ rệt

Khoác những chiếc “áo” len đủ màu sắc lên hàng chục cây non và đính kèm lên đó những thông điệp hài hước như "Đừng bẻ gãy tôi khi bạn say rượu" là ý tưởng độc đáo mà người dân Lafayette, Pháp đưa ra để bảo vệ những cây non ven đường khỏi sự phá hoại của những người thiếu ý thức và thời tiết giá lạnh Ý tưởng này đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ của người dân và tình trạng phá hoại cây xanh

có xu hướng giảm hẳn [64]

Không chỉ ở London và Paris, cây Tiêu huyền cũng khá phổ biến ở nhiều thành phố khác trên thế giới Nó được trồng ở vùng khí hậu ấm hơn như miền Bắc nước Ý hay miền Nam nước Pháp với những hàng cây Tiêu huyền tuyệt đẹp phủ bóng dọc kênh đào Canal du Midi cũng như các kênh rạch khác và các tuyến đường chính ở Pháp Tại Geneve (Thụy Sĩ), loại cây này cũng được trồng với số lượng lớn

Trong khi đó, Thủ đô Berlin của Đức, quy hoạch cây xanh đường phố thường chọn một loại cây làm chủ đạo Đại lộ nổi tiếng nhất Berlin – “Unter Den Linden” là ví dụ điển hình cho việc này Chạy dọc Đại lộ này là hàng cây Đoan phủ một màu xanh mướt cho những lâu đài cổ Đây được xem như là một trong những danh thắng nổi tiếng không chỉ của Thủ đô nước Đức mà của cả châu Âu

Tại châu Á, phát triển cây xanh đô thị trong thời gian gần đây đã có những hướng phát triển khá mạnh mẽ Trên quốc đảo Singapore, mỗi đường phố của đảo quốc này trồng một loại cây với chiều cao được khống chế và cắt tỉa tạo dáng phù hợp Dọc theo những đại lộ chính của Singapore là những hàng cây Mưa đã nhiều tuổi, có độ che phủ và tỏa bóng rộng đến 30m Điểm đặc biệt của loại cây này là ban ngày lá cây xanh tươi nhưng chiều tối khép lại và hoa tỏa hương vào ban đêm Những nhà thiết kế cây xanh tại đây đã tận dụng đặc điểm của loại cây này nhằm che bóng mát vào ban ngày và hạn chế việc lá cây che khuất hệ thống chiếu sáng công cộng vào ban đêm Bên cạnh những hàng cây Mưa, du khách nước ngoài khi

Trang 26

tới đây còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các loại hoa giấy, hoa đại được trồng trong khắp các khuôn viên công sở, chung cư, hoặc các danh thắng nổi tiếng

Để tạo không gian xanh cho thành phố, những người làm quy hoạch ở Singapore đã kết hợp được nguồn lực của nhà nước, tư nhân và cộng đồng dân cư cùng chung tay xây dựng Nhà nước thành lập các quỹ thu hút vốn đầu tư vào cây xanh, phát động các chương trình tình nguyện xanh dưới sự tham gia của các nhóm cộng đồng dân cư, trường học, nhân viên công sở, … Thông qua chiến dịch xanh,

sự cống hiến và cam kết của các thế hệ người dân, thành phố nhỏ bé ngày nào nay được phủ đầy cây cối hùng vĩ, hoa cỏ màu sắc và những khu công viên sống động Tất cả cư dân Singapore đều được nhận lợi ích khi chăm sóc mẹ thiên nhiên

Năm năm gần đây, kế hoạch trồng cây xanh ở Singapore bước vào giai đoạn mới - hướng tới bảo tồn sinh học đa dạng Nếu trước kia, quốc gia này phát triển theo mô hình “khu vườn trong thành phố”, giờ họ lại đang phấn đấu trở thành

“thành phố trong khu vườn” vào năm 2016 Đảo quốc nhỏ bé lọt thỏm giữa những mảng xanh quy hoạch và một đô thị nhộn nhịp nép mình dưới lớp vỏ tươi tốt

Không chỉ vậy, tới hơn 300 công viên lớn nhỏ, nhiều cây xanh còn xuất hiện trên các tòa nhà cao tầng Cứ cách 300 mét, người Singapore lại bắt gặp một công viên với màu xanh lá mát rượi Chính môi trường trong lành đã giúp đất nước tiếp tục theo đuổi, đáp ứng nhu cầu giải trí cũng như phong cách sống của các cư dân - những người đang ngày một giàu có hơn

Để làm được điều này, chính phủ Singapore đã lập kế hoạch trồng và bảo vệ cây xanh rất cụ thể, chi tiết như Chiến lược thành phố vườn thập niên 60: Trồng cây ven đường, tạo nên những công viên và khoảng không gian mở hay Chiến lược thành phố vườn thập niên 80: trồng cây ăn trái, trồng cây đa màu sắc, có mùi hương, ban hành luật bảo tồn cây xanh, …

Điển hình là vào năm 2002, một công ty bất động sản đã tự ý chặt hạ một cây xanh cổ thụ có đường kính 3,4 mét trong khu đất của mình Điều này khiến người dân Singapore hết sức phẫn nộ Tòa án nước này ngay lập tức đã ra mức phạt 8 nghìn đô la Mỹ đối với công ty này, bên cạnh số tiền hơn 76 nghìn đô la Mỹ mà công ty phải bồi thường cho nhà nước vì đã đốn hạ cây Không chỉ dừng lại ở mức

Trang 27

phạt tiền, Singapore còn ban hành những quy định nghiêm khắc hơn để răn đe những kẻ chặt cây xanh Giáo sư Johhanes Widodo, Đại học Quốc gia Singapore cho biết: “Ở Singapore, nếu bạn chặt một cây, bạn phải trồng lại năm cây mới Đó

là luật Và nếu ai đó chặt cây mà không được phép thì người đó sẽ phải ngồi tù, một chính sách rất nghiêm khắc” [87 - 89]

Trung Quốc là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời trong phát triển lâm nghiệp, trong đó lâm nghiệp đô thị và cây xanh trên đường giao thông được chú trọng quy hoạch và phát triển Người Trung Quốc trồng cây từ khoảng 2.000 năm TCN, và trong suốt phần đầu của Đế chế nhà Chu (khoảng 1.100 TCN đến 256 TCN) là hoàng đế thành lập một dịch vụ rừng có trách nhiệm cho việc bảo tồn rừng

tự nhiên Tiếp theo nhà Hán và nhà Đường khuyến khích mọi người trồng cây quan trọng cho sản xuất thực phẩm và gỗ

Bên cạnh đó, một số quốc gia như Triều Tiên, Sri Lanka, … cũng đã có những phát triển đáng ghi nhận trong lĩnh vực này, các ghi chép lịch sử ở Triều tiên chỉ ra rằng trong Vương Quốc Shilla bắt đầu từ năm 57 TCN cây đã được trồng xung quanh ngôi mộ vua, trong các khu vườn Hoàng gia dọc theo ven đường, dọc theo con sông và bờ biển nhằm mục đích kiểm soát xói mòn

Tại Sri Lanka, triều đại của vua Sinhalese Vijaya (khoảng 543 TCN), cộng đồng làng khu vườn nhà trồng hoa và mang trái cây và theo vua Dutugemunu (161 TCN đến 137 TCN) rừng trồng được nêu ra và quy tắc bảo vệ rừng, sử dụng sản phẩm rừng đã được ban hành

Phát triển cây xanh đô thị và giao thông ở châu Úc liên quan nhiều đến các nguồn cây tự nhiên tại chỗ và mang yếu tố xã hội môi trường rõ nét Đối với thành phố Sydney của Australia, các loại cây xanh trồng trên đường phố đều được coi là tài sản của thành phố và được bảo vệ chặt chẽ theo chương trình bảo tồn cây xanh Các nhà quản lý cùng các chuyên gia về thực vật học luôn phối hợp với người dân

để trồng và bảo vệ cây xanh đường phố Bên cạnh đó, thành phố Sydney cũng ra những quy định rất chặt chẽ trong việc đốn hạ hoặc tỉa cây xanh Người dân và chính quyền chỉ được loại bỏ những cành sâu mục, chết hoặc gây nguy hiểm cho người đi đường [90] Các thanh tra viên của thành phố sẽ đến tận nơi xem xét và

Trang 28

đưa ra quyết định cuối cùng xem có loại bỏ cây đó hay không Nếu phải loại bỏ, họ

sẽ gắn một tấm biển trên thân cây, ghi rõ lý do phải loại bỏ và đề xuất thay thế cây nào vào chỗ đó Ngoài ra, còn có thông tin liên lạc của thanh tra viên Những người chặt hạ cây trái phép ở mức độ nghiêm trọng có thể bị Tòa án Môi trường và Đất đai phạt tiền lên tới hơn 1 triệu đô la Mỹ

Như vậy, cây xanh trên đường bộ và trong đô thị đã được các nước trên thế giới quan tâm, phát triển từ rất lâu Trong thời đại hiện nay, một số nước phát triển

đã có những bước tiến vượt bậc trong việc tôn tạo, duy trì và phát triển cây xanh trên đường và trong đô thị Họ đã có các chế tài răn đe đủ mạnh cũng như thực hiện được những bản quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông vận tải có tầm nhìn dài hạn và đặc biệt là ý thức cộng đồng tham gia giao thông là rất cao Đây là những vấn đề cốt lõi mà Việt Nam cần phải áp dụng để có thể duy trì và phát triển được hệ thống cây xanh trên đường bộ nói chung và đường QL nói riêng một cách bền vững

1.2.2 Ở Việt Nam

Từ xa xưa cây xanh khu dân cư đã được nhân dân ta chú ý gây trồng, nhằm

sử dụng những lợi ích hiệu quả do cây đem lại tạo bóng mát, lấy hoa quả, tạo cảnh quan cho nhà ở, cho xóm làng, cho khu di tích, cho đình chùa miếu mạo, cho dinh thự cung đình, Ngoài ra còn biết khai thác những khả năng đặc biệt của cây để tạo nên những hàng cây, dải cây chắn gió bão, chắn dòng nước lũ, chống giặc cướp bảo vệ sản xuất, bảo vệ đời sống của cộng đồng dân cư Nhìn chung thời kỳ đó còn mang tính tự phát, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dân gian của nhân dân ta

Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các thành phố, đô thị ở nước ta được xây dựng phát triển, thì cây xanh đô thị - khu dân cư mới được hình thành một cách có hệ thống, mang tính đa dạng về loài, phong phú về sinh thái cảnh quan, về công dụng không gian xã hội đô thị

Ngành công viên cây xanh đô thị xuất hiện tại Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ 20 được thực hiện bởi các kỹ sư canh nông người Pháp Các kỹ sư canh nông người Pháp đã xây dựng nên một hệ thống cây xanh đô thị khá tốt Điển hình ở miền Bắc có thành phố Hà Nội với vườn Bách Thảo – Hà Nội, vườn cây quanh phủ toàn quyền Đông Dương (nay là phủ Chủ tịch) được khởi công xây dựng từ 1890 và

Trang 29

hoàn thành năm 1910 Các vườn cây khu biệt thự quận Ba Đình, vườn cây Pasteur (Viện Vệ sinh dịch tễ), vườn cây khu Bảo tàng lịch sử (Bác Cổ), vườn cây quanh nhà Hát lớn và nhiều đường cây bên bờ hồ Hoàn Kiếm, hàng cây sao đen đường Lò Đúc, hàng cây sấu đường Phan Đình Phùng, hàng cây Sữa đường Nguyễn Du, hàng cây xà cừ đường Láng, Tất cả được gây trồng hoàn chỉnh xanh tốt cho đến ngày nay Chính nhờ việc xây dựng vườn ươm sưu tập cây bản địa, cây nhập nội vào những năm 1916

Sớm hơn ở phía Nam, thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng từ năm 1864, trong đó nổi bật có Thảo Cầm Viên (sở thú cũ) do nhà thực vật người Pháp J.B Louis Pie RRe đã tiến hành tạo dựng Ngoài ra còn có vườn cây Tao Đàn, vườn cây quanh Dinh Hội trường Thống Nhất, vườn trường Lê Quý Đôn, Lê Hồng Phong,

và nhiều đường cây xanh mang điển hình thuần loài mang một số đặc tính đặc sắc của thiên nhiên mùa mưa nhiệt đới của nước ta [41]

Cây xanh đô thị thực chất là các loài cây rừng sống trong môi trường thiên nhiên hoang dã nhưng lại mang những đặc điểm hình thái, những đặc tính sinh lý – sinh thái phù hợp với điều kiện khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng trong đô thị nên được đưa về thành phố trồng và trở thành cây xanh đô thị

Nghiên cứu về mảng xanh đô thị bước đầu chỉ tập trung cho Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Nơi đông dân cư, khói bụi, tiếng ồn do công nghiệp và giao thông, … là các vấn đề thường gặp ở các đô thị lớn Việt Nam

Bên cạnh những nghiên cứu mang tính chất tổng quát và quy hoạch đô thị gắn với phát triển mảng xanh, kiến trúc phong cảnh, nghiên cứu các loài cây trồng

đô thị, chăm sóc và bảo quản, … giữ gìn khoảng không gian xanh hiện có, một chiến lược phát triển ổn định và nhất quán trên cơ sở điều tra nghiên cứu một cách

có hệ thống tình trạng hiện nay của mảng xanh đô thị Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn khác là những vấn đề cấp bách mà các đề tài nghiên cứu trong nước khoảng 20 năm nay

Để định hướng quy hoạch cây xanh đô thị và các tuyến giao thông một cách đồng bộ và tổng thể, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước đã đưa ra một số tiêu chí, theo TCVN 362 : 2005 - “Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô

Trang 30

thị - Tiêu chuẩn thiết kế” quy định các chỉ tiêu diện tích cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị và các nguyên tắc thiết kế, được Bộ Xây dựng ban hành theo

Quyết định số 01/QĐ-BXD ngày 05 tháng 01 năm 2006 thì “Cây xanh đường phố:

Thường bao gồm bulơva, dải cây xanh ven đường đi bộ (vỉa hè), dải cây xanh trang trí, dải cây xanh ngăn cách giữa các đường, hướng giao thông ” [11]

Nhiều tác giả như Hàn Tất Ngạn (Kiến trúc cảnh quan đô thị - 1996, Kiến

trúc cảnh quan -1999), Võ Đình Hiệp (Kiến trúc nhỏ, tiểu phẩm tiểu cảnh kiến trúc quảng trường thành phố-2007), Trần Hợp (Cây Xanh Và Cây Cảnh Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh - 2003), Nguyễn Thị Thanh Thủy (Tổ chức và quản lý môi trường cảnh quan đô thị, 1997), Chế Đình Lý (Cây xanh – Phát triển trong môi trường đô thị, 1998), đã nghiên cứu và biên soạn nhiều tài liệu về quy hoạch xây

dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến trúc cảnh quan đô thị, … phần lớn các công trình này đều xem cây xanh, mảng xanh như là một thành phần hữu cơ, trong cấu thành kiến trúc đô thị, một bộ phận không thể tách rời của cảnh quan thiên nhiên và làm thế nào để có thể phát triển, gắn với quy hoạch chung đô thị, hoặc quản lý cây xanh trong môi trường đô thị ra sao

Nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến chủng loại cây xanh

đô thị, nghệ thuật vườn – công viên, vườn cảnh Đông phương, bố cục vườn, … đã

được các tác giả như Hàn Tất Ngạn (Kiến trúc cảnh quan đô thị - 1996, Kiến trúc

cảnh quan -1999), Võ Đình Hiệp (Kiến trúc nhỏ, tiểu phẩm tiểu cảnh kiến trúc quảng trường thành phố-2007), Trần Hợp (Cây Xanh Và Cây Cảnh Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh - 2003), … Các công trình liên quan đến cây trồng đô thị

là các tài liệu tham khảo rất hữu ích vì đây là công trình tập hợp giới thiệu nhiều chủng loại cây trồng, kèm theo mô tả đặc điểm sinh thái loài, đã và đang được trồng

ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, … Đối với vườn cảnh, công viên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như nghệ thuật vườn – công viên của Hàn Tất Ngạn đã được đề cập đến đặc trưng các yếu tố tạo cảnh, bố cục và một số

di sản vườn – công viên tiêu biểu ở Việt Nam Công trình này cung cấp thêm cho các nhà quản lý, các nhà khoa học những kiến thức nhất định liên quan đến vai trò

Trang 31

và chức năng của công viên trong tổng thể mảng xanh đô thị – một tiêu chí không thể thiếu được trong sự phát triển của một đô thị [43]

Cùng với sự phát triển của khoa học, do nhu cầu của đời sống, con người luôn khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có cây xanh Các nghiên cứu này cũng đã được áp dụng trong quy hoạch xây dựng Tiếp thu lý thuyết của nước ngoài và thực tiễn, việc nghiên cứu về cây xanh, cảnh quan đã được chú ý Từ những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước, một số lưu học sinh Việt Nam tại Liên Xô (cũ) đã được đào tạo với chuyên ngành “cây xanh”, “cảnh quan”, một số cán bộ được đào tạo về quy hoạch xây dựng cũng đã chú trọng chuyên ngành “cây xanh”, “kiến trúc cảnh quan” Trong các Trường đại học Xây dựng, Kiến trúc Hà Nội đã hình thành bộ môn cảnh quan học Nhiều nghiên cứu khoa học về cây xanh của các cơ quan chức năng như Công ty công viên cây xanh, của Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, Trường đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học Xây dựng Hà Nội đã được công bố Bước đầu chỉ tập trung cho Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Đông dân cư, khói bụi, tiếng ồn do giao thông và công nghiệp, là các vấn đề thường gặp

Bên cạnh những nghiên cứu mang tính chất tổng quát và quy hoạch đường

bộ gắn liền với cây xanh, kiến trúc phong cảnh, nghiên cứu các loài cây trồng, chăm sóc và bảo quản, v.v giữ gìn khoảng không gian xanh hiện có, một chiến lược phát triển ổn định và nhất quán trên cơ sở điều tra nghiên cứu một cách có hệ thống tình trạng hiện nay của cây xanh ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành khác là những vấn đề cấp bách mà các đề tài nghiên cứu trong nước đang quan tâm trong khoảng 30 năm nay Các tác giả đã tập trung vào các lĩnh vực như:

- Mô hình và giải pháp không gian cây xanh cho khu đô thị mới;

- Xác định giá trị cảnh quan đô thị (trong đó có cây xanh);

- Cơ sở cảnh quan học trong việc khai thác các yếu tố tự nhiên để quy hoạch xây dựng đô thị;

- Thiết kế cảnh quan bên ngoài đường ô tô,

* Một số tác giả đã có những nghiên cứu điển hình như:

Trang 32

1) Lê Văn Nin [46] đã nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên Việt Nam, kinh nghiệm sử dụng cây xanh của nước ngoài và kinh nghiệm truyền thống và đề xuất:

- Quy hoạch công trình, xây dựng cây xanh trong mối quan hệ với việc bảo

vệ và cải tạo môi trường trong điều kiện khí hậu nóng ẩm;

- Phân vùng khí hậu để hình thành các không gian cây xanh thành phố trong phạm vi cả nước;

- Lựa chọn cơ cấu quy hoạch, phương án tổ chức không gian cây xanh trong

các tiểu khu

Tuy nhiên, trong luận án này chỉ đề cập đến vấn đề bố trí cây xanh trong các

hộ gia đình, các khu dân cư chứ chưa tính đến việc bố trí cho đường giao thông và đặc biệt là vấn đề quy hoạch chung cây xanh cho toàn khu vực – trong đó có đường giao thông

2) Hàn Tất Ngạn [45] đã đề cập đến những vấn đề chung về kiến trúc cảnh quan, kinh nghiệm truyền thống trong kiến trúc cảnh quan của Việt Nam và nước ngoài, những yếu tố cần kế thừa Tác giả đã phân tích về các yếu tố hình thành cảnh quan đô thị, vai trò của cây xanh và truyền thống của Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung đi sâu vào cảnh quan đô thị, cây xanh chỉ là một yếu tố cảnh quan nên vấn đề bố trí, lựa chọn cây cho đường bộ được đề cập rất ít

3) Trần Viết Mỹ [43] đã đề cập đến những vấn đề về xây dựng luận cứ khoa học cho việc bố trí hợp lý hệ thống cây xanh và mảng xanh cho khu vực nội thành, lựa chọn cây trồng phù hợp để giải quyết vấn đề cây xanh, mảng xanh TP.HCM Tác giả đã đi sâu vào việc giải quyết vấn đề trồng cây xanh nhằm cải thiện chất lượng môi trường TP.HCM; Có những dự báo nhu cầu cây xanh cho các năm tiếp theo dựa trên nghiên cứu các nguồn gây ô nhiễm và đặc tính sinh học của cây trồng; Xây dựng luận cứ khoa học cho việc bố trí hợp lý hệ thống cây xanh và mảng xanh cho khu vực nội thành; Lựa chọn cây trồng phù hợp để giải quyết vấn đề cây xanh, mảng xanh TP HCM

Tuy nhiên, chưa đề cập sâu và cụ thể về vấn đề cây xanh cho đường đô thị; luận cứ ô nhiễm môi trường tác giả sử dụng là ô nhiễm chung của toàn thành phố và phạm vi nghiên cứu chỉ là thành phố HCM

Trang 33

4) Doãn Quốc Khoa [31] đã tập trung nghiên cứu vào cảnh quan đô thị trong quy hoạch xây dựng đô thị và có lồng ghép cây xanh về cây xanh đô thị, tuy nhiên luận án đi sâu vào kiến trúc cảnh quan hơn là về mặt môi sinh

5) Theo Huỳnh Thị Minh Hằng và Đào Phú Quốc [21] đã nghiên cứu về khả năng sử dụng thực vật giám sát ô nhiễm không khí trên cây sanh và cây keo lá tràm

đã xác định khả năng sử dụng thực vật thân gỗ thanh lọc các khí ô nhiễm NOx, SO2,

là các khí ô nhiễm đặc trưng của hoạt động giao thông và hoạt động công nghiệp Các nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở trong phòng thí nghiệm chứ chưa đưa ra ngoài thực tế Kết quả bước đầu đã xây dựng được mô hình thực nghiệm khảo sát đánh giá khả năng sử dụng thực vật thân gỗ trong thanh lọc các khí ô nhiễm nói trên Và nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Việc sử dụng thực vật thân gỗ để xử lý khí

ô nhiễm từ giao thông là khả thi, khuyến cáo khi lựa chọn mảng xanh cho đô thị cũng như đường giao thông thì cần phải chú ý thêm về khả năng bảo vệ môi trường của mảng xanh

6) Doãn Quốc Khoa [30] đã xác định các cơ sở lý luận của “Cảnh quan học” phục vụ cho việc nghiên cứu đề xuất giải pháp khai thác các yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng đô thị Việt Nam Cụ thể: Nhận thức về yếu tố tự nhiên và vai trò của yếu tố tự nhiên trong quy hoạch đô thị; Phân loại cảnh quan tự nhiên phục

vụ quy hoạch xây dựng đô thị; Đề xuất quan điểm, nguyên tắc mô hình và giải pháp khai thác yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng

7) Trần Tuấn Hiệp [22] đã nêu lên được vai trò, ý nghĩa và phân loại cây xanh đô thị, cây xanh trên đường ô tô Đưa ra được một số loài cây xanh đi qua các vùng có điều kiện đặc biệt, kỹ thuật trồng, chăm sóc cây xanh cho các tuyến đường

ô tô

Qua các công trình đã nghiên cứu cho thấy những chủ đề được quan tâm nhiều nhất là đánh giá vai trò của cây xanh trong hộ sinh thái đô thị, đánh giá hiện trạng, phân loại hệ thống cây xanh đô thị Đa số các công trình trên đều khẳng định cây xanh có vai trò hết sức to lớn trong hệ sinh thái đô thị, chức năng chính của cây xanh là bảo vệ môi trường và tạo kiến trúc cảnh quan đô thị Tuy nhiên, quỹ đất dành cho cây xanh quá ít, quy hoạch chưa hợp lý, cơ cấu cây trồng còn đơn điệu,

Trang 34

hệ thống cây xanh ở nước ta còn thấp cả về quy mô và chất lượng, cần được cải tạo

và nâng cấp thì mới đáp ứng được nhu cầu sinh thái và môi trường

1.3 Hiện trạng và phân loại cây xanh trên các đường giao thông

1.3.1 Hiện trạng cây xanh trên đường giao thông ở vùng nghiên cứu

Hệ thống cây xanh chưa tạo được sự đồng bộ, thống nhất trên một tuyến Vị trí và khoảng cách cây trồng chưa hợp lí; nhiều loại cây hiện có chất lượng thấp không phù hợp với đặc điểm, tính chất của cây xanh đường bộ như: tán thấp, phân

bố không đều, lá rụng nhiều khi thay lá, đang chiếm tỉ lệ khá lớn trên tuyến giao thông Ngoài ra, đây là những loài cây gỗ thấp, thường ít chịu được gió bão, có đặc điểm sinh trưởng và phát triển chưa phù hợp với khí hậu, thời tiết của địa phương;

rễ chùm, ăn nổi trên mặt đất, làm khó khăn cho công tác gây trồng nhất là khi phải trồng trên tầng đất mượn bề mặt nên dễ đổ gãy, …

Trên các đảo giao thông (vòng xuyến), dải phân cách vẫn tồn tại các khối bê tông khô cứng, cỏ dại hoặc cây cảnh, thảm cỏ được trồng nhưng thiếu sự quan tâm chăm sóc, cải tạo Tình trạng này làm mất vẻ mỹ quan của đường giao thông và làm tăng nhiệt độ trên các tuyến đường vào mùa hè vốn đã rất nóng do thời tiết và phương tiện giao thông đi lại

Ý thức của một bộ phận nhân dân trong việc bảo vệ chăm sóc cây xanh còn thấp Tình trạng tùy tiện chặt phá cây xanh, nạn trộm cắp cây cảnh trên dải phân cách của một số hộ dân cư và việc chăn thả gia súc không người chăn dắt, không theo quy định nên đã phá hoại nhiều cây xanh, làm ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc, sự phát triển của cây xanh

Trong những năm qua do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, hầu hết các tuyến đường bộ chưa có quy hoạch tổng thể mang tính chiến lược về phát triển cây xanh, cũng như các dự án, kế hoạch chi tiết cho việc trồng cây xanh đường

bộ Công tác quản lý Nhà nước về quản lý cây xanh còn hạn chế Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhu cầu về nghỉ ngơi, giải trí của người dân còn chưa thực sự cần thiết đối với nhiều người

Các đơn vị thực hiện nhiệm vụ trồng, quản lý, chăm sóc cây xanh đường bộ còn hạn chế về năng lực tổ chức, yếu về tham mưu cho lãnh đạo thành phố, lãnh

Trang 35

đạo tỉnh trong công tác phát triển cây xanh đường bộ, thiếu về trang thiết bị cần thiết để thực hiện nhiệm vụ Đầu tư cho công tác trồng mới, quản lý, chăm sóc cây xanh đường bộ còn thấp, thiếu cơ chế chính sách cụ thể, hợp lí để huy động các nguồn lực đáp ứng cho công tác phát triển cây xanh đường bộ Công tác xã hội hóa

về trồng và bảo vệ cây xanh đường bộ còn nhiều hạn chế

Tóm lại, từ những kinh nghiệm phát triển cây xanh và mảng xanh trong các công trình khoa học đã công bố trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy nhiều quốc gia

đã quan tâm phát triển các quần xã cây xanh dựa trên cơ sở khoa học sinh thái học, cảnh quan học và địa lý sinh vật học Đây là cơ sở hết sức quan trọng trong định hướng quy hoạch cây xanh trên các tuyến giao thông vùng nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu kể trên còn tản mạn, ít quan tâm đến chức năng môi trường của cây xanh, đây cũng chính là vấn đề đặt ra cần nghiên cứu trong luận án nhằm cung cấp các cơ sở khoa học môi trường cho định hướng quy hoạch phát triển cây xanh đường bộ vừa đảm bảo các nguyên tắc sinh thái, địa lý, cảnh quan vừa thực hiện được các chức năng môi trường trong khu vực

1.3.2 Phân loại cây xanh theo công dụng kết hợp với hình dạng

Theo nhóm tác giả của Nhà xuất bản Ortho book (1989), trong sách: Landscape plans, có gợi ý hệ thống phân loại cây xanh đường bộ theo hình dạng lấy hai tiêu chuẩn: công dụng và hình dạng [42]

- Về công dụng, các tác giả chú trọng đến các công dụng: Che bóng mát;

Làm hàng rào ngăn sự đi lại, có xén tỉa hoặc trồng tự do, không có qui cách

- Về hình dạng, các tác giả Nhà xuất bản Ortho book (1989) phân ra theo các

dạng: Cây to, cây bụi, cây lâu năm, cây hoa ngắn ngày, cỏ và dây leo giàn

Khi phân chia, trong từng dạng, các tác giả còn phân biệt ra các hạng kích thước: thấp, trung bình và cao hay còn phân chia theo hình dạng tán cây cho các cây

to (đại mộc) Qua nghiên cứu cùng với sự tham khảo ý kiến của các chuyên gia có thể xếp các cây xanh dọc các tuyến đường vào các nhóm hình dạng và công dụng cụ thể một số loại cây dọc đường ô tô như sau:

) Cây thân gỗ (trees): Bao gồm các cây trung đại mộc, có thân gỗ, có tán

che, với công dụng che bóng hay trang trí, nhấn mạnh Tùy theo công dụng chia làm

Trang 36

hai nhóm phụ: cây bóng mát (che bóng thuần túy) và cây dáng đặc biệt (dùng che bóng) Cây dáng đặc biệt là các cây có tán nhọn, hình tháp Dựa trên kích thước lúc trưởng thành (mature size), chia ra làm 3 cỡ : cao (trên 12 mét), trung bình (6 -12 mét), thấp (< 6 mét)

2) Cây che phủ đất (ground covers): Là các cây nhiều năm, được sử dụng

làm chất liệu che phủ nền hay tạo ra các mảng có màu sắc, kết cấu tiêu biểu cho các taluy đường Tùy vào đặc điểm hình thái, có thể chia ra hai nhóm phụ: có hoa, không có hoa

3) Cỏ (grass): Là các cây thân thảo dùng tạo ra các thảm cỏ (lawn) Hoặc

trồng ở các Taluy đường có tác dụng chống xói mòn và tạo không gian xanh cho tuyến đường

1.3.3 Phân loại cây xanh theo nguồn gốc

Trước hết, cây xanh trên các tuyến đường có thể là cây xanh tự nhiên và cây trồng nhân tạo Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, quá trình thi công nên hầu hết các tuyến đường ở nước ta còn lại rất ít cây xanh tự nhiên Phần lớn cây xanh trên đường đều là cây trồng nhân tạo Vì vậy, việc phân chia thành phần theo quan điểm này ít có ý nghĩa thực tiễn [42]

1.3.4 Phân loại cây xanh trên cơ sở bảo vệ môi trường

- Cây xanh cải thiện điều kiện vi khí hậu Những vùng có nhiều cây xanh thường có tiểu khí hậu tốt

- Cây xanh lọc bụi, chắn gió, ngăn tiếng ồn, diệt vi khuẩn Ở các nguồn gây ô nhiễm, cây xanh có tác dụng phòng chống khí độc hại Khói bụi ở các xí nghiệp, nhà máy, khu công nghiệp bốc cao, theo gió tản đi các nơi, tới vùng có cây xanh tốc

độ gió giảm, bụi rơi xuống vào lá, thân cây và được giữ lại làm sạch không khí

- Cây xanh cũng có tác dụng làm giảm tốc độ gió từ 20% - 60%, tùy thuộc từng loại cây, độ cao, mật độ, tầng tán, độ rộng lá Cây lá to có tác dụng rõ rệt nhất trong việc làm giảm tiếng ồn Cây lá rộng có thể làm giảm tới 25% tiếng ồn

Cây xanh tiết ra chất phitônxit có khả năng diệt vi khuẩn gây bệnh Ngoài ra, cây xanh là yếu tố duy nhất sản xuất ôxy trong khí quyển, có tác dụng iôn hóa không khí [42]

Trang 37

1.3.5 Phân loại cây xanh theo nhu cầu sử dụng

Cách phân chia này giúp ích về mặt kỹ thuật thiết kế, chia loài là phân chia theo nhóm công dụng hay nhóm mục đích sử dụng Người ta có thể chia ra thành: Cây che bóng (shade); Cây phủ xanh (screening) và cây trang trí (esthetics) [42]

1.3.6 Phân loại cây xanh theo đặc điểm thường dùng trên đường và theo thành phần thực vật học

Trên phương diện thực vật, có thể phân chia cây xanh đường bộ thành cây lá rộng, cây lá kim hoặc cây vùng ôn đới, cây vùng nhiệt đới Hoặc căn cứ vào kích thước trưởng thành, có thể phân chia ra cây gỗ lớn (GOL) (cao trên 20 - 25 mét), cây gỗ trung bình (GOT) (10 - 20 mét) và cây gỗ nhỏ (GON) (dưới 10 mét) Trong nhiều trường hợp, cách phân chia này cũng có ích lợi trong việc chuẩn hóa các định mức quản lý Tuy nhiên, việc phân chia thành phần cây xanh đường bộ theo chủng loại thực vật hay kích thước cũng có giới hạn trong việc hoạch định kế hoạch phát triển Lý do chính là cây xanh vốn là các cơ thể sống, sinh trưởng và phát triển theo thời gian [42]

1.3.7 Phân loại cây xanh theo chủ thể quản lý

Theo chủ thể quản lý, có thể chia ra:

- Cây xanh công cộng: Là cây xanh được trồng nhằm mục đích phục vụ cho

các nhu cầu chung của xã hội, thường thuộc phạm vị trách nhiệm của các cơ quan quản lý cây xanh và công viên Phân theo địa điểm bao gồm cây đường phố và cây trong công viên

- Cây xanh khác: Bao gồm cây xanh trong các đám rừng do dân trồng, cây

xanh trong các khuôn viên như nhà dân, biệt thự, đình chùa nhà thờ, trường học, bệnh viện, doanh trại, ., cây ven kênh rạch và mặt nước, cây trồng phân tán, cây trồng trong chậu, thảm cỏ tự nhiên, các cây ăn trái, cây nông nghiệp trồng theo thời

vụ, [42]

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài cây thân gỗ, cây bụi và cây thân thảo đã sử dụng hoặc có tiềm năng phát triển trên các tuyến QL vùng ĐBSH và các chức năng của chúng trong cảnh quan và môi trường và môi trường đất, nước, không khí dọc theo một số tuyến QL vùng ĐBSH

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu tổng quan về quy hoạch cây xanh đường bộ trên thế giới và Việt Nam; Đánh giá hiện trạng quy hoạch cây xanh cho một số tuyến QL trọng điểm vùng ĐBSH; Phân tích, đánh giá các thông số môi trường đất – nước – không khí trên các tuyến QL làm cơ sở cho lựa chọn các loài cây trồng phù hợp trên quan điểm đất nào cây ấy làm cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch cây xanh cho các tuyến QL vùng ĐBSH; Đề xuất tập đoàn cây xanh và giải pháp trồng cây xanh trên một số tuyến QL vùng ĐBSH từ đó đề xuất quy hoạch cây xanh cụ thể cho một

số đoạn đường QL vùng ĐBSH theo các tiêu chí sinh thái môi trường – an toàn giao thông và kinh tế - xã hội, (nghiên cứu trường hợp: quy hoạch cây xanh cho quốc lộ

2 và đường Võ Văn Kiệt)

2.3 Phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Một số tuyến quốc lộ lựa chọn nghiên cứu

Hiện nay, vùng ĐBSH hiện có hơn 10 tuyến QL khác nhau, hơn nữa đặc điểm của các tuyến QL là trải dài hàng trăm thậm chí hàng ngàn cây số trên khắp đất nước Do đó, trong phạm vi của luận án không thể nghiên cứu hết được cả tuyến cũng như toàn bộ các tuyến QL có trong vùng ĐBSH mà chỉ lựa chọn 5 tuyến QL trọng điểm bao gồm: QL1A; QL2; đường Võ Văn Kiệt; QL18 và QL5 cũ để nghiên cứu Những nội dung nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho các định hướng quy hoạch cây xanh trên các tuyến quốc lộ vùng ĐBSH Các tuyến QL lựa chọn nghiên cứu được thể hiện ở hình 2.1

Trang 39

2.3.2 Cơ sở lựa chọn các tuyến quốc lộ để nghiên cứu

2.3.2.1 Trục giao thông Hà Nội – Hải Phòng

Trục giao thông Hà Nội - Hải Phòng và Nội Bài - Hạ Long có vai trò kết nối tam giác kinh tế này với nhau, làm hạt nhân cho sự phát triển chung của cả vùng Ngoài ra còn một số tuyến giao thông đóng vai trò liên kết vùng như: trục liên kết Đông - Tây (cao tốc Hà Nội - Việt Trì), trục liên kết Bắc - Nam (Móng Cái - Hạ Long - Hà Nội, Lạng Sơn - Hà Nội với tuyến cao tốc Hà Nội - Ninh Bình; tuyến Hài Phòng - Ninh Bình)

Một trong những tuyến giao thông quan trọng nhất vùng là QL5 Đây là tuyến đường lâu đời, và cùng với nó là những bất cập đã kéo dài trong nhiều năm qua Cùng với tốc độ phát triển kinh tế của vùng thì mật độ dân cư hai bên đường cũng tăng theo rất nhanh dẫn đến mất an toàn giao thông, hiệu quả lưu thông không cao, mất quỹ đất dọc hai bên đường

2.3.2.2 Trục giao thông Bắc – Nam

Trục giao thông Bắc - Nam là trục giao thông chiến lược, có tầm quan trọng bậc nhất đối với việc đảm bảo giao thông đối ngoại của vùng ĐBSH với cả nước Đây là trục giao thông kết nối vùng ĐBSH với hai trung tâm kinh tế lớn của cả nước là vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Ngoài ra, trục giao thông Bắc - Nam còn là trục giao thông quan trọng kết nối các tỉnh phía Bắc và phía Nam vùng ĐBSH Trên trục giao thông này, hiện có QL1A,

Hình 2.1 Sơ đồ các tuyến QL lựa chọn nghiên cứu

Trang 40

đường Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt Bắc – Nam Hiện trạng của tuyến QL1A như sau:

- QL1A là tuyến đường quan trọng nhất trên trục giao thông Bắc - Nam, hiện đảm nhiệm chính việc vận tải hành khách, hàng hóa và an ninh – quốc phòng trên trục giao thông này QL1A dài 2.301km, chạy xuyên suốt chiều dài đất nước từ cửa khẩu Hữu Nghị Quan tỉnh Lạng Sơn đến thị trấn Năm Căn tỉnh Cà Mau, đi qua địa phận 32 tỉnh và thành phố, trong đó có 4 tỉnh thuộc vùng ĐBSH là Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam và Ninh Bình

- QLlA đoạn qua địa bàn vùng ĐBSH dài khoảng 200km là đoạn có mật độ giao thông cao nhất tuyến, đặc biệt là đoạn qua địa bàn Hà Nội và các tỉnh giáp ranh như Bắc Ninh, Hà Nam [65]

Tóm lại, QL1A có quy mô còn nhỏ bé, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, chưa tương xứng với vai trò đặc biệt quan trọng của nó trong mạng lưới vận tải quốc gia và chưa đáp ứng được nhu cầu giao thông đối ngoại của vùng ĐBSH với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các tỉnh miền Trung

2.3.2.3 Trục giao thông Hà Nội - Lào Cai

Trục giao thông Hà Nội - Lào Cai là trục giao thông kết nối vùng ĐBSH và Thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc và với nước bạn Trung Quốc Trục QL2 được tiếp nối bởi QL70 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai thực hiện chức năng đảm bảo giao thông trên trục giao thông này

Trục QL này dài khoảng 350km, chạy từ Nội Bài (Hà Nội) đến thành phố Lào Cai (tỉnh Lào Cai) QL2 đoạn Nội Bài - Vĩnh Yên dài 30km đã được đầu tư mở rộng, nâng cấp quy mô 4 làn xe Nhìn chung, hiện nay toàn tuyến có chất lượng mặt đường tốt Thời gian đi từ Hà Nội đến Lào Cai đã được rút ngắn khoảng 3 ÷ 4h so với trước đây [65]

2.3.2.4 Trục giao thông kết nối trung tâm Hà Nội đến Cảng hàng không quốc tế Nội Bài

Cảng hàng không quốc tế Nội Bài là cửa ngõ giao thông đường không, cảng hàng không trung chuyển hành khách trong nước và quốc tế của cả miền Bắc và vùng ĐBSH Vì vậy, giao thông kết nối đến Cảng hàng không quốc tế Nội Bài là rất

Ngày đăng: 20/02/2021, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w