Tổng hợp cơ chất chế tạo kít và nghiên cứu điều kiện tối ưu để nhuộm tế bào phục vụ chẩn đoán bệnh ung thư bạch cầu người Tổng hợp cơ chất chế tạo kít và nghiên cứu điều kiện tối ưu để nhuộm tế bào phục vụ chẩn đoán bệnh ung thư bạch cầu người Tổng hợp cơ chất chế tạo kít và nghiên cứu điều kiện tối ưu để nhuộm tế bào phục vụ chẩn đoán bệnh ung thư bạch cầu người Tổng hợp cơ chất chế tạo kít và nghiên cứu điều kiện tối ưu để nhuộm tế bào phục vụ chẩn đoán bệnh ung thư bạch cầu người Tổng hợp cơ chất chế tạo kít và nghiên cứu điều kiện tối ưu để nhuộm tế bào phục vụ chẩn đoán bệnh ung thư bạch cầu người
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VŨ ĐÌNH NGỌ
TỔNG HỢP, NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC VÀ
TÍNH CHẤT CỦA COBAN FERIT VÀ
NIKEN FERIT CẤP HẠT NANO
Người hướng dẫn khoa học :
GS.TS PHAN VĂN TƯỜNG
Formatted: Top: (Thin-thick small gap, Auto,
3 pt Line width, Margin: 1 pt Border spacing: ), Bottom: (Thick-thin small gap, Auto, 3 pt Line width, Margin: 1 pt Border spacing: ), Left: (Thin-thick small gap, Auto, 3 pt Line width, Margin: 4 pt Border spacing: ), Right: (Thick-thin small gap, Auto, 3 pt Line width, Margin: 4 pt Border spacing: )
Formatted: Font: 15 pt, Font color: Text 1 Formatted: Font: 15 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 16 pt, Font color: Text 1
Formatted: Tab stops: 2.47", Left Formatted: Font: 15 pt, Font color: Text 1 Formatted: Font: 16 pt, Font color: Text 1 Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1 Formatted: Font: 16 pt, Font color: Text 1 Formatted: Font: 15 pt, Font color: Text 1,
Vietnamese (Vietnam)
.
Trang 2
MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 5
1.1 Cấu trúc tinh thể và tính chất của ferit spinen 5
1.1.1 Cấu trúc tinh thể 5
1.1.2 Tính chất và ứng dụng của ferit spinen 7
1.1.2.1 Tính chất t ừ và ứng dụng 7
1.1.2.2 Tính chất xúc tác và ứng dụng 12
1.1.3 Cấu trúc tinh thể, tính chất của coban ferit và niken ferit 13
1.2 Các phương pháp tổng hợp ferit spinen cấp hạt nano 14
1.2.1 Phương pháp gốm truyền thống 15
1.2.2 Phương pháp đồng kết tủa 18
1.2.3 Phương pháp sol- gel 22
1.2.4 Phương pháp thủy nhiệt 31
CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Nội dung nghiên cứu 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Hóa chất để tổng hợp vật liệu 41
2.2.2 Tổng hợp vật liệu bằng phương pháp đồng kết tủa 41
2.2.3 Tổng hợp vật liệu bằng phương pháp thủy nhiệt 42
Formatted: Font: 14 pt, Not Bold, Font color:
Text 1
Formatted: Line spacing: Multiple 1.35 li Formatted: Justified, Line spacing: Multiple
1.35 li
Formatted: Justified, Line spacing: Multiple
1.35 li
Formatted: Normal, Justified, Level 1, Line
spacing: Multiple 1.35 li, Tab stops: Not at 6.1"
Formatted: Line spacing: Multiple 1.35 li
Trang 32.2.4 Tổng hợp coban ferit và niken ferit cấp hạt nano phân tán trong
nền SiO 2 bằng phương pháp sol - gel 42
2.3 Các phương pháp nghiên cứu đặc trưng cấu trúc và tính chất từ của vật liệu 43
2.3.1 Phương pháp nhiễu xạ Rơnghen (XRD) 43
2.3.2 Phương pháp phân tích nhiệt (DTA-TG) 45
2.3.3 Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM) 46
2.3.4 Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM) 47
2.3.5 Phương pháp xác định từ tính của vật liệu bằng từ kế mẫu rung (VSM) 49
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 50
3.1 Tổng hợp coban ferit và niken ferit cấp hạt nano 50
bằng phương pháp đồng kết tủa 50
3.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của pH dung dịch 50
3.1.1.1 Cấu trúc tinh thể 52
3.1.1.2 Tính chất từ 54
3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ cation kim loại 55
3.1.2.1 Cấu trúc tinh thể 55
3.1.2.2 Tính chất từ 58
3.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ dung dịch và thời gian khuấy 58
3.1.3.1 Cấu trúc tinh thể 59
3.1.3.2 Tính chất từ 62
3.1.4 Khảo sát ảnh hưởng của dung môi trong dung dịch kết tủa 62
3.1.4.1 Cấu trúc tinh thể 62
3.1.4.2 Tính chất từ 65
3.1.5 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ nung 65
3.1.5.1 Kết quả phân tích nhiệt (DTA-TG) để xác định nhiệt độ nung mẫu 65 3.1.5.2 Cấu trúc tinh thể 68
3.1.5.3 Tính chất từ 71
3.1.6 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian nung 75
Trang 43.1.6.1 Cấu trúc tinh thể 75
3.1.6.2 Tính chất từ 76
3.2 Tổng hợp coban ferit và niken ferit hạt nano bằng phương pháp thủy nhiệt 83
3.2.1 Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ cation kim loại trong dung dịch thủy nhiệt 83
3.2.1.1 Cấu trúc tinh thể 83
3.2.1.2 Tính chất từ 88
3.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ etanol/nước trong dung dịch thủy nhiệt 89
3.2.2.1 Cấu trúc tinh thể 89
3.2.2.2 Tính chất từ 92
3.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thủy nhiệt 93
3.2.3.1 Cấu trúc tinh thể 93
3.2.3.2 Tính chất từ 96
3.2.4 Ảnh hưởng của thời gian thủy nhiệt 99
3.3.4.1 Cấu trúc tinh thể 99
3.2.4.2 Tính chất từ 102
3.3 Tổng hợp coban ferit và niken ferit cấp hạt nano phân tán trong nền SiO2 bằng phương pháp sol - gel 106
3.3.1 Khảo sát ảnh hưởng của pH dung dịch đến quá trình tạo gel 106
3.3.2 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ nung 109
3.3.2.1 Cấu trúc nanocomposite 111
3.3.2.2 Tính chất từ của nanocomposite 114
3.3.3.Khảo sát ảnh hưởng của thời gian nung 118
3.3.3.1 Cấu trúc nanocomposite 118
3.3.3.1 Tính chất từ nanocomposite 119
3.3.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ khối lượng ferit trong nanocomposite 120
3.3.4.1 Cấu trúc nanocomposite 120
3.3.4.2 Tính chất từ của nano composit e 118
KẾT LUẬN 130
Trang 5DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
P HỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CA : Citric Acide
CVD : Chemical Vapour Deposition
DTA : Diffrential Thermal Analysis
Hc (Oe) : Lực kháng từ
HWHM (rad): Bề rộng tại ½ chiều cao pic cực đại trên giản đồ XRD
Ms (emu/g) : Từ độ bão hòa
Mr (emu/g) : Từ dư
PVA : Polyvinyl Alcohol
PVC : Polyvinyl Chloride
PVD : Physical Vapour Deposition
SEM : Scaning Electron Microscopy
TGA : Thermal Gravity Analysis
TEM : Tranmission Electron Microscopy
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG Formatted: Font: 16 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 16 pt, Font color: Text 1
Trang 8Bảng 1.1 Một số công trình tổng hợp nano ferit bằng phương pháp gốm 17
Bảng 1.2 Một số công trình tổng hợp nano ferit bằng phương pháp đồng kết tủa 21
Bảng 1.3 Một số công trình tổng hợp nano ferit bằng phương pháp sol - gel30
Bảng 1.4 Một số công trình tổng hợp nano ferit bằng phương pháp thủy nhiệt 38
Bảng 3.1 Kích thước tinh thể ferit và giá trị pH dung dịch thuỷ phân 53
Bảng 3 2 Các giá trị đặc trưng cấu trúc tinh CoFe2O4 thể và NiFe2O4 tổng
hợp với nồng độ khác nhau 56
Bảng 3.3 Kích thước tinh thể các mẫu đồng kết tủa ở nhiệt độ khác nhau 60
Bảng 3.4 Đặc trưng cấu trúc tinh thể nano ferit đươc tổng hợp ở các thời gian
khuấy khác nhau 60
Bảng 3.5: Đặc trưng cấu trúc tinh thể CoFe2O4 tổng hợp với các tỉ lệ etanol
trong dung dịch khác nhau 63
Bảng 3.6 Các đặc trưng cấu trúc và từ tính của các mẫu NiFe2O4 nung ở nhiệt
độ khác nhau, thời gian lưu 2 giờ 72
Bảng 3.7 Các đặc trưng cấu trúc và từ tính của các mẫu CoFe2O4 nung ở các
nhiệt độ khác nhau, thời gian lưu 2 giờ 73
Bảng 3.8 Đặc trưng cấu trúc tinh thể và từ tính của mẫu NiFe2O4 nung ở nhiệt
độ 700 0C với thời gian nung khác nhau 77
Bảng 3.9 Đặc trưng cấu trúc và từ tính của các mẫu CoFe2O4 nung ở 700 0C
với thời gian khác nhau 78
Bảng 3.10 Sự phụ thuộc của kích thưc tinh thể NiFe2O4 vào tỷ lệ etanol/nước
(% thể tích dung dịch) 90
Bảng 3.11 Đặc trưng từ tính các mẫu nano ferit thủy nhiệt ở nhiệt độ 150, 200 và
250 0C, thời gian thủy nhiệt 1,5 giờ, nung 500 0
C/ 2 giờ 97
Formatted: Line spacing: Multiple 1.15 li Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1 Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1,
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Trang 9Bảng 3.12 Đặc trưng từ tính các mẫu nano ferit thủy nhiệt ở nhiệt độ 200 C
với thời gian thủy nhiệt khác nhau, nung 500 0C/2 giờ 103
Bảng 3.13 Kích thước tinh thể và từ tính của các mẫu nano ferit tổng hợp so
sánh với kết quả của các tác giả khác 105
Bảng 3.14 Kết quả khảo sát khả năng tạo gel các mẫu (MFe2O4/SiO2) ở các
pH khác nhau 107
Bảng 3.15 Đặc trưng cấu trúc tinh thể MFe2O4/SiO2 tổng hợp ở pH 1 - 2 109
Bảng 3.16 Kích thước tinh thể ferit và từ tính các mẫu MFe2O4/SiO2 nung ở
các nhiệt độ khác nhau, lưu 1 giờ 116
Bảng 3.17 Kích thước tinh thể và từ tính mẫu MFe2O4/SiO2 nung ở 1100 0C
với thời gian nung khác nhau: 45, 60 và 90 phút 120
Bảng 3.18 Kích thước tinh thể và từ tính của các mẫu tổng hợp với các tỉ lệ
ferit trong nanocomposite khác nhau 125
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1 Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc tinh thể ferit spinen [112] 5
Hình 1.2 Đường cong từ trễ (B- H) của ferit từ mềm [21] 9
Hình 1.3 Đường cong từ trễ (B- H) của ferit từ cứng [21] 10
Hình 1.4 Sự phụ thuộc lực kháng từ Hc vào kích thước hạt (MD - vùng hạt đa đômen; SD- vùng hạt đơn đômen; SP- vùng hạt siêu thuận từ) [28] 11
Hình 1.5 Hình ảnh ổ đĩa cứng lưu trữ thông tin [21] 12
Hình 1.6 Mô tả cơ chế khuếch tán trong phản ứng pha rắn tạo spinen [15] 16
Hình 1.7 Sự phụ thuộc của áp suất hơi nước vào nhịêt độ ở các thể tích không đổi [29] 35
Hình 1.8 Bình thuỷ nhiệt - autoclab được sử dụng để nuôi các đơn tinh thể 36
Hình 2.1 Hiện tượng nhiễu xạ tia X theo mô hình nghiên cứu của Bragg 44
Hình 2.2 Sơ đồ nguyên lý hệ hiển vi điện tử quét SEM 46
Hình 2.3 Sơ đồ nguyên lý hệ hiển vi điện tử truyền qua (TEM) 48
Hình 3.1 Giản đồ XRD của các mẫu NiFe2O4 tổng hợp ở pH = 8 (P8), pH=9 (P9), pH = 10 (P10), pH = 11 (P11), pH = 12 (P12), sau nung 8000C /2 giờ 53
Hình 3.2 Giản đồ XRD của các mẫu CoFe2O4 tổng hợp ở pH = 9 53
Hình 3.3 Ảnh SEM (a) và TEM (b) của mẫu CoFe2O4 tổng hợp ở pH = 9 54
Hình 3.4 Đường từ trễ của mẫu niken ferit (a) và coban ferit (b) được tổng hợp ở pH = 9 55
Hình 3.5 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4 (A1 - A6) tổng hợp ở các nồng độ khác nhau, nung 700 0C/2 giờ 57
Hình 3.6 Ảnh SEM mẫu A4- CoFe2O4 (a) và ảnh TEM của mẫu A9-NiFe2O4 (b) 58
Hình 3.7 Đường từ trễ mẫu CoFe2O4 - A4 (a) và mẫu NiFe2O4 - A9 (b) 58
Hình 3.8 Giản đồ XRD mẫu CoFe2O4 (a) đồng kết tủa ở nhiệt độ 30 0C (E1),
600C (E2) và 90 0C (E3) và mẫu NiFe2O4 (b) đồng kết tủa ở nhiệt độ
Formatted: Line spacing: Multiple 1.25 li
Trang 11Hình 3.9 Giản đồ XRD các mẫu NiFe2O4 (a) với thời gian khuấy khác nhau
M1:15 phút, M2: 30 phút, M3: 45 phút, M4: 60 phút và các mẫu CoFe2O4 (b) với thời gian khuấy M5: 15 phút, M6: 30 phút, M7: 45 phút, M8: 60 phút 60Hình 3.10 Ảnh SEM các mẫu CoFe2O4 (M7) và mẫu NiFe2O4 (M3) 61Hình 3.11 Đường từ trễ mẫu NiFe2O4 - M1 và M3 (a) và mẫu CoFe2O4 - M7 (b) 62Hình 3.12 Giản đồ XRD của các mẫu CoFe2O4 với tỷ lệ etanol trong dung dịch
khác nhau: K1: 0 %, K2: 5 %, K3:10 %, K4: 15 %, K5: 20 % 63Hình 3.13 Giản đồ XRD của các NiFe2O4 mẫu tổng hợp với tỷ lệ 1,2 - propadiol là
0 % (mẫu P0 %), 5 % (mẫu P5 %) và 10 % (mẫu P10 %) 64
Hình 3.14 Giản đồ phân tích nhiệt precursor tổng hợp NiFe2O4 (mẫu đồng
kết tủa với nồng độ Ni2+
= 2,5.10-3 M, Fe3+ = 5.10-3 M, lượng dung môi etanol 15 %, nhiệt độ khuấy 60 0C thời gian 45 phút, pH = 9,5) 66
Hình 3.15 Giản đồ phân tích nhiệt precursor tổng hợp CoFe2O4 (mẫu đồng kết tủa
với nồng độ Co2+
= 4.10-3 M, Fe3+ = 8.10-3 M, lượng dung môi etanol 15%, nhiệt độ khuấy 60 0C thời gian 45 phút, pH = 9,5) 67Hình 3.16 Giản đồ XRD mẫu NiFe2O4 nung ở các nhiệt độ: 400, 500, 600, 700,
800, 850 và 900 0C, lưu 2 giờ 69Hình 3.17 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4 nung ở các nhiệt độ 500, 600, 700,
800 và 900 0C, lưu 2 giờ 70Hình 3.18 Ảnh SEM mẫu CoFe2O4 (a) và ảnh TEM mẫu CoFe2O4 (b) nung ở
700 0 C/2 giờ 71Hình 3.19 Đường từ trễ của các mẫu NiFe2O4 (a) và CoFe2O4 (b) nung ở các
nhiệt độ khác nhau, lưu 2 giờ 72Hình 3.20 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc kích thước tinh thể (a) và từ độ bão hòa
(b) của nano ferit vào nhiệt độ nung 74Hình 3.21 Giản đồ XRD các mẫu NiFe2O4 nung ở 700 0C với thời gian lưu khác
nhau: 0,5, 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 giờ 75
Trang 12Hình 3.22 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4 nung 700 C với thời gian lưu khác
nhau: 1, 2, 3, 4, 5 và 6 giờ 76Hình 3.23 Đường từ trễ của các mẫu NiFe2O4 với thời gian nung khác nhau 77Hình 3.24 Sự phụ thuộc kích thước hạt (a) và từ độ bão hòa của ferit vào thời
gian nung (b) 78Hình 3.25 Qui trình tổng hợp coban ferit và niken ferit cấp hạt nano bằng
phương pháp đồng kết tủa 83Hình 3.26 Giản đồ XRD các mẫu NiFe2O4 với nồng độ Ni2+ thay đổi từ
2.10-2 ÷ 10-1M, thủy nhiệt ở 200 0C/1,5 giờ 84Hình 3.27 Đồ thị sự phụ thuộc của kích thước tinh thể NiFe2O4 vào nồng độ ion
Ni2+ trong dung dịch thuỷ nhiệt
Hình 3.28 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4 tổng hợp thủy nhiệt với nồng độ
Co2+ bằng: 0,02, 0,04, 0,06 và 0,08 M sau nung 500 0C/ 2 giờ 86Hình 3.29 Sự phụ thuộc của kích thước tinh thể CoFe2O4 vào nồng độ ion Co2+
trong dung dịch thuỷ nhiệt 86
Hình 3.30 Ảnh SEM và ảnh TEM mẫu NiFe2O4(a), (c) và mẫu CoFe2O4(b),
5 – 50 % trong dung dịch thủy nhiệt 89Hình 3.33 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của kích thước tinh thể NiFe2O4 vào tỉ
lệ etanol trong dung dịch thủy nhiệt 91Hình 3.34 Giản đồ XRD mẫu CoFe2O4 tổng hợp ở 200 0C với tỷ lệ etanol bằng
15 % thể tích dung dịch thủy nhiệt 91
Hình 3.35 Ảnh SEM và ảnh TEM mẫu NiFe2O4(a), (c) và mẫu CoFe2O4(b), (d)
được tổng hợp với lượng etanol bằng 15 % thể tích dung dịch 92
Trang 13Hình 3.36 Đường từ trễ mẫu NiFe2O4 (a) và CoFe2O4 (b) tổng hợp ở nồng độ
Ni2+ bằng 4.10-2 M; mẫu có Co2+
bằng 5.10-2 M, tỉ lệ etanol 15 % thể tích dung dịch 93Hình 3.37 Giản đồ XRD các mẫu NiFe2O4 được tổng hợp thủy nhiệt ở 100,
150, 200, 250 0C với thời gian 1,5 giờ, nung 500 0C/2 giờ 94Hình 3.38 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4 được tổng hợp thủy nhiệt ở 100,
130, 150, 170, 190, 210, 250 0C với thời gian 1,5 giờ, nung
5000C/2 giờ 94Hình 3.39 Đồ thị sự phụ thuộc của kích thước tinh thể ferit vào nhiệt độ thủy
nhiệt các mẫu NiFe2O4 (1), CoFe2O4 (2), nung ở 500 0C/2giờ 95
Hình 3.40 Ảnh TEM mẫu NiFe2O4tổng hợp ở 170 0
C (a), 200 0C (c) và mẫu CoFe2O4 tổng hợp ở 170 0
C (b), 190 0C (d), nung 500 0C/2 giờ 96
Hình 3.41 Đường từ trễ mẫu NiFe2O4 và CoFe2O4 tổng hợp ở các nhiệt độ thủy
nhiệt 150, 200, 250 0C, thời gian 1,5 giờ, nung 500 0C/ 2 giờ 98Hình 3.42 Giản đồ XRD các mẫu NiFe2O4 tổng hợp thủy nhiệt ở 180 0C với thời
gian khác nhau: 30, 60, 90, 120, 150 và 180 phút, nung 500 0C/2 giờ 99Hình 3.43 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4 tổng hợp thủy nhiệt ở 180 0C với
thời gian khác nhau: 30, 60, 90, 120, 150 và 180 phút, nung
5000C/2giờ 100
Hình 3.44 Ảnh SEM mẫu NiFe2O4 (a) và mẫu CoFe2O4 (b)thủy nhiệt 200 0
C thời gian 90 phút 101
Hình 3.45 Ảnh TEM mẫu NiFe2O4 thời gian thủy nhiệt 60 phút (c), 90 phút (e)
và mẫu CoFe2O4 thủy nhiệt 60 phút (d), 90 phút (f) ở 200 0
C, sau khi nung 500 0C/ 2 giờ 101Hình 3.46 Đồ thị quan hệ giữa kích thước tinh thể NiFe2O4 (1) và CoFe2O4 (2)
thủy nhiệt ở 180 0C với thời gian khác nhau: 30, 60, 90, 120, 150 và
180 phút, nung 500 0C/2 giờ 102
Hình 3.47 Đường từ trễ mẫu NiFe2O4thủy nhiệt ở 200 0C thời gian 60 phút (a),
90 phút (b) 102
Trang 14Hình 3.48 Đường từ trễ mẫu CoFe2O4thủy nhiệt ở 200 C thời gian 60 phút (a),
90 phút (b) sau khi nung 500 0C/2 giờ 103Hình 3.49 Sơ đồ qui trình tổng hợp ferit cấp hạt nano bằng phương pháp
thủy nhiệt 106Hình 3.50 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4/SiO2 và NiFe2O4/SiO2 tạo gel ở
pH=1 - 2, sau nung 1100 0C/ 1 giờ 108Hình 3.51 Giản đồ DTA-TG mẫu gel CoFe2O4 / SiO2 110Hình 3.52 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4/SiO2 nung ở các nhiệt độ: 800, 900,
1000, 1100 và 1200 0C, lưu 1 giờ 112Hình 3.53 Giản đồ XRD các mẫu NiFe2O4/SiO2 nung ở các nhiệt độ 900, 1000,
1100 và 1200 0C, lưu 1 giờ 112Hình 3.54 Ảnh SEM các mẫu NiFe2O4/SiO2 (a) và CoFe2O4/SiO2 (b) sau nung
1100 0C, lưu 1 giờ 113Hình 3.55 Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa nhiệt độ nung và kích thước tinh thể
CoFe2O4 (1) và NiFe2O4 (2) trong nền SiO2 114Hình 3.56 Đường từ trễ các mẫu CoFe2O4/SiO2 nung ở các nhiệt độ 800, 900,
1000, 1100 0C, lưu 1 giờ 114Hình 3.57 Đường từ trễ các mẫu NiFe2O4/SiO2 nung ở các nhiệt độ: 900 (a),
1100 0C (b) lưu 1 giờ 115Hình 3.58 Đồ thị quan hệ giữa nhiệt độ nung và từ độ bão hòa (a) của các mẫu
CoFe2O4/SiO2, và mẫu NiFe2O4/SiO2 và quan hệ giữa lực kháng từ của các mẫu CoFe2O4/SiO2 với nhiệt độ nung (b) 117Hình 3.59 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4/SiO2 nung 1100 0C, thời gian 30, 45,
60 và 90 phút 118Hình 3.60 Giản đồ XRD các mẫu NiFe2O4/SiO2 nung ở 1100 0C, thời gian 45,
60 và 90 phút 119Hình 3.61 Giản đồ XRD các mẫu CoFe2O4/SiO2 với tỉ lệ khối lượng ferit 121Hình 3.62 Giản đồ XRD các mẫu NiFe2O4/SiO2 với tỉ lệ khối lượng ferit
bằng 10, 20, 30 và 40 % trong nanocomposite, nung ở 11000C/1giờ 121
Trang 15Hình 3.63 Ảnh SEM mẫu CoFe2O4/SiO2: (a), (b) ứng với mẫu có tỉ lệ CoFe2O4
bằng 20 % và 30 % và mẫu NiFe2O4/SiO2: (c), (d) có tỉ lệ NiFe2O4
bằng 20 % và 30 % trong nanocomposite 122
Hình 3.64 Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa kích thước tinh thể ferit và tỉ lệ khối
lượng ferit trong nanocomposite 123
Hình 3.65 Đường từ trễ các mẫu CoFe2O4/SiO2 với tỉ lệ khối lượng CoFe2O4
khác nhau trong nanocomposite 124
Hình 3.66 Đường từ trễ các mẫu NiFe2O4/SiO2 với tỉ lệ khối lượng NiFe2O4
bằng 20 % và 40 % trong nanocomposite 124
Hình 3.67 Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa từ độ bão hòa và tỉ lệ khối lượng ferit
trong nanocomposite 126
Hình 3.68 Sơ đồ qui trình tổng hợp nanocomposite MFe2O4/SiO2 (với M là Ni
và Co) với pha tinh thể ferit cấp hạt nano phân tán trong nền SiO2 vô
định hình bằng phương pháp sol - gel 128
Formatted: Justified, Line spacing: Multiple
1.4 li
Formatted: Font color: Text 1, English (United
States)
Trang 16MỞ ĐẦU
Tổng hợp và ứng dụng của vật liệu nano là những lĩnh vực đang được
nhiều quốc gia và đông đảo các nhà khoa học quan tâm đặc biệt, bởi vì những
tính chất hóa học, vật lý của các vật liệu nano khác nhiều so với vật liệu khối
[2, 6, 12,] Sự khác biệt về tính chất đó xuất phát từ hai nguyên nhân là: Khi
kích thước vật liệu giảm đến cỡ nanomet tỷ số nguyên tử nằm trên bề mặt và
nguyên tử bên trong các hạt tăng lên nhiều làm thay đổi tính chất bề mặt vật
liệu Hai là, khi hạt vật liệu giảm kích thước đến cỡ nanomet tương ứng với
bán kính Bohr sẽ xuất hiện hiệu ứng kích thước lượng tử (Quantum Size
Effects), trong đó các trạng thái electron cũng như các dao động trong hạt
nano bị lượng tử hóa Các trạng thái bị lượng tử hóa trong cấu trúc nano sẽ
quyết định tính chất điện, quang, tính chất từ, tính chất hóa học của cấu trúc
đó [2, 5, 7, 112]
Các vật liệu từ cấu trúc nano nói chung và các ferit cỡ hạt nano nói riêng
đã cho thấy một số đặc trưng từ tính mới, rất đặc biệt, khác với các vật liệu từ
thông thường Một trong những nguyên nhân gây nên các hiệu ứng từ đặc biệt
đó là sự tương quan giữa kích thước cấu trúc nano và chiều dài đặc trưng từ
tính Ví dụ, trong các hạt nano không thể tồn tại các vách đômen vì chiều dày
vách đômen lớn hơn kích thước hạt hay trong nhiều hệ vật liệu từ nano tinh
thể, chiều dài liên kết từ tính lớn hơn nhiều kích thước các tinh thể Mặt
khác, do cấu trúc nano làm thay đổi các đặc trưng bề mặt, tính đối xứng của
tinh thể làm xuất hiện các tính chất vật lý mới lạ [4, 5, 6, 14] Một trong các
tính chất từ đặc biệt của các vật liệu nano đã được khám phá đó là, hiệu ứng
từ trở khổng lồ (Giant Magneto Resistance - GMR) trong các màng nano đa
lớp sắt từ và phi từ Khám phá quan trọng này mở ra khả năng phát triển loại
linh kiện điện tử với nguyên tắc vật lý hoàn toàn mới dựa trên đặc tính spin
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Text 1
Trang 17của electron Hiệu ứng đơn đômen (Single domain) của các hạt nano từ và những ứng dụng trong chế tạo các ổ đĩa từ mật độ cao, các băng từ, các thiết
bị đọc và ghi từ; chế tạo các chất lỏng từ (Magnetic Liquid) ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ hiện đại: y - dược và công nghệ sinh học,
kỹ thuật bôi trơn và bảo vệ các trục quay, các máy in phun, các vật liệu đánh bóng, các thiết bị giảm trấn và đệm từ, các loại sơn hấp thụ sóng rada [2, 5,
9, 21, 112]
Coban ferit (CoFe2O4) và niken ferit (NiFe2O4) là các ferit rất điển hình,
ở dạng vật liệu khối đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong đời sống
và kỹ thuật mà không có vật liệu từ nào thay thế được Nhiều sản phẩm, linh kiện được chế tạo từ các ferit này: cuộn cảm, lõi dẫn từ để chế tạo các linh kiện trong radio, tivi, điện thoại, máy tính điện tử, thiết bị ghi từ, thiết bị sóng ngắn, [1, 3, 4, 21, 86] Tuy nhiên, ngày nay không dừng lại ở đó, các ứng dụng của chúng ở dạng hạt nano, màng mỏng nano, sợi nano, các nano composit đang mở ra những hướng nghiên cứu đầy tiềm năng Một số kết quả mới công bố về khả năng ứng dụng của các nano ferit, trong đó có CoFe2O4
và NiFe2O4 đang dành được quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực Khi các hạt ferit này có kích cỡ 1 - 100 nm chúng có thể dùng chế tạo các chất lỏng từ ứng dụng làm tăng độ tương phản của ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) trong chuẩn đoán hình ảnh [2, 26, 112], làm tác nhân phân tách các tế bào, thuốc điều trị khối u, chất dẫn truyền thuốc [42, 112], chế tạo các đĩa từ, băng mật độ cao, đầu đọc, đầu ghi [21, 24, 31, 117,
119, 121], các nguyên liệu chế tạo pin Liti dung lượng cao, chế tạo các sensor khí [27, 69, 89, 107, 112], vật liệu xúc tác cho các phản ứng hóa học
và xử lý môi trường [25, 45, 56, 65, 104] Ngoài ra, khi phân tán các hạt nano coban ferit hoặc niken ferit vào các vật liệu nền phi từ sẽ cho các sản phẩm nanocomposite với các tính chất từ rất đặc biệt, có thể kiểm soát được các
Trang 18thông số từ tính bằng cách điều chỉnh các điều kiện tổng hợp để chế tạo các sản phẩm theo yêu cầu sử dụng [18, 47, 58, 83, 94, 95]
Ở nước ta, việc nghiên cứu chế tạo và ứng dụng các vật liệu nano trong các lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống - xã hội đang là nhiệm vụ được Nhà nước, các Bộ, Ngành đặc biệt quan tâm Tuy vậy, những thành tựu thu được còn rất khiêm tốn so với các quốc gia trong khu vực và thế giới Vì vậy việc nghiên cứu về lĩnh vực trên đang là đòi hỏi bức thiết, vừa có tính khoa học vừa có tính thực tiễn đóng góp vào một lĩnh vực nghiên cứu mới đầy tiềm năng ở nước ta
Từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Tổng hợp, nghiên cứu cấu trúc và tính chất của coban ferit và niken ferit cấp hạt nano” làm đề tài luận
án của mình
*Mục đích của luận án là:
Nghiên cứu tổng hợp coban ferit và niken ferit cấu trúc tinh thể spinen, kích thước nano bằng phương pháp đồng kết tủa và thủy nhiệt; tổng hợp các nanocomposite CoFe2O4/SiO2 và NiFe2O4/SiO2 bằng phương pháp sol - gel; khảo sát đặc trưng cấu trúc và tính chất từ của vật liệu
* Những đóng góp mới của luận án:
- Đã tổng hợp được các nano ferit: CoFe2O4 và NiFe2O4, cấu trúc tinh thể đơn pha spinen, kích thước hạt trung bình 13-18 nm, đặc trưng của các hạt từ đơn đômen Các nano ferit tổng hợp được có kích thước hạt và đặc trưng từ tính tương đương hoặc ưu việt hơn kết quả của một số công trình khoa học của tác giả quốc tế mới công bố trong thời gian gần đây Các nano ferit này có khả năng ứng dụng trong thực tế để chế tạo chất lỏng từ và một số sản phẩm khác dùng trong các kỹ thuật hiện đại
- Đã khảo sát một cách chi tiết và có hệ thống các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình thực nghiệm và kích thước hạt nano ferit như: pH, nồng độ cation
Trang 19kim loại, nhiệt độ và thời gian khuấy, lượng dung môi sử dụng, nhiệt độ nung, thời gian nung…, tìm được các điều kiện tối ưu để xây dựng qui trình tổng hợp vật liệu
- Đã tổng hợp được các nanocomposite CoFe2O4/SiO2 và NiFe2O4/SiO2 với các hạt nano CoFe2O4 và NiFe2O4 (10-13 nm) phân tán trong nền SiO2 vô định hình, khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tới quá trính thực nghiệm và đặc trưng các nanocomposite: pH, nhiệt độ nung, thời gian nung, tỷ lệ pha tinh thể trong nanocomposite, từ đó xây dựng qui trình tổng hợp vật liệu, là cơ sở cho việc chế tạo loại vật liệu từ mới với nhiều tính năng ưu việt như điện trở lớn, bền nhiệt, bền hóa
- Đã nghiên cứu được mối quan hệ giữa cấu trúc tinh thể, kích thước hạt các nano ferit CoFe2O4 và NiFe2O4 và đặc trưng từ tính của chúng, cũng như mối quan hệ giữa kích thước tinh thể, hàm lượng pha tinh thể nano ferit với đặc trưng từ tính của các nanocomposite: CoFe2O4/SiO2 và NiFe2O4/SiO2 Luận án gồm 145 trang kể cả tài liệu tham khảo, 22 bảng, 78 hình vẽ và
đồ thị Cấu trúc luận án bao gồm các phần sau: Mở đầu; Chương 1- Tổng quan; Chương 2 - Nội dung và phương pháp nghiên cứu; Chương 3 - Kết quả
và bàn luận; Kết luận; Tài liệu tham khảo; Phụ lục
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Cấu trúc tinh thể và tính chất của ferit spinen
tế bào mạng của ferit spinen chứa 8 phân tử MFe2O4 trong đó có 32 ion oxi tạo nên 64 hốc tứ diện (hốc T) và 32 hốc bát diện (hốc O) Tuy nhiên, chỉ có 8 hốc tứ diện và 16 hốc bát diện có các ion kim loại chiếm chỗ Các lỗ trống được ion kim loại chiếm chỗ trên, qui ước gọi là vị trí A và B hay phân mạng
A (hốc tứ diện) và phân mạng B (hốc bát diện) tương ứng
Hình 1.1 Cấu trúc tinh thể ferit spinen [112]
Trang 21nằm ở các hốc bát diện còn 16 ion Fe3+ chia đều nằm cả
ở hốc tứ diện và hốc bát diện thì ferit có cấu trúc spinen đảo, công thức viết
dưới dạng Fe3+[M2+Fe3+]O42- Ví dụ, các ferit NiFe2O4, CoFe2O4 và Fe3O4
Trường hợp các ion M2+ và Fe3+ đồng thời phân bố vào hốc tứ diện và
hốc bát diện thì ferit có cấu trúc spinen trung gian với công thức:
M2+(1-)Fe3+[M2+Fe3+(2-)]O42- Trong đó, là độ đảo của spinen Độ
đảo của ferit phụ thuộc vào nhiệt độ theo biểu thức:
/ 2 (1 ) (1 )
Sự phân bố các ion kim loại vào các hốc tứ diện hay hốc bát diện phụ
thuộc vào các yếu tố: bán kính các ion kim loại, sự phù hợp về cấu hình điện
tử của ion kim loại và ion O2- và năng lượng tĩnh điện của mạng lưới
* Bán kính các ion kim loại: Vì hốc tứ diện có kích thước bé hơn hốc bát
diện, mà thông thường bán kính ion M2+ lớn hơn bán kính ion Fe3+ nên ion
M2+ có xu hướng chiếm các hốc bát diện còn ion Fe3+ chiếm các hốc tứ diện
* Cấu hình electron của ion kim loại M2+: Tuỳ thuộc vào cấu hình
electron của ion M2+
mà chúng có thể chiếm cứ ở hốc tứ diện hay hốc bát diện Ví dụ, Zn2+
, Cd2+ có cấu hình điện tử 3d10, số phối trí thuận lợi là 4, nên
Formatted: Font color: Text 1, Swedish
(Sweden), Condensed by 0.4 pt
Trang 22chiếm chủ yếu ở hốc tứ diện và tạo nên cấu trúc spinen thuận Còn Ni2+
, Co2+
và Fe2+
có cấu hình electron tương ứng là 3d8, 3d7 và 3d6, số phối trí thuận lợi
là 6 nên chiếm cứ hốc bát diện và tạo nên cấu trúc spinen đảo [21, 112]
* Năng lượng tương tác tĩnh điện trong mạng lưới: Các cation trong
mạng lưới tinh thể ion có xu hướng sắp xếp sao cho tổng năng lượng tương
tác tĩnh điện là lớn nhất và lực đẩy tĩnh điện giữa các cation là bé nhất Điều
này phụ thuộc nhiều vào qui trình tạo mẫu và chế độ xử lý nhiệt [21]
1.1.2 Tính chất và ứng dụng của ferit spinen
1.1.2.1 Tính chất từ và ứng dụng
Cấu trúc của ferit có các ion kim loại nằm giữa các ion oxi Trật tự từ
trong các ferit spinen là do tương tác trao đổi gián tiếp (siêu tương tác) giữa
các ion kim loại qua cầu nối là ion oxi quyết định [6, 21, 114]
Theo quan điểm của Néel, các ion từ tính M2+ và M3+
trong ferit nằm ở hai vị trí A và B và tạo thành hai phân mạng từ A và B tương ứng Nhưng do
độ phân bố các ion từ ở hai phân mạng không tương đương nên tạo nên
momen từ của ferit Thực tế, tương tác trong cùng một phân mạng là phản sắt
từ, nhưng do tương tác A - B mạnh nên các momen từ trong cùng một phân
mạng định hướng song song với nhau Trong cấu trúc từ của ferit spinen, các
momen từ ở phân mạng A và B phân bố phản song song Điều này được giải
thích nhờ sự phụ thuộc góc của tương tác siêu trao đổi giữa các ion trong cấu
trúc spinen: AOB 1250, AOA 800, BOB 900, trong đó tương tác phản sắt
từ giữa A và B là mạnh nhất Trong ferit spinen đảo, do ion Fe3+có mặt cả ở
cả hai phân mạng với số lượng như nhau nên momen từ chỉ do ion M2+ quyết
Formatted: Level 3, Line spacing: Multiple
1.65 li
Formatted: Level 4, Line spacing: Multiple
1.65 li
Trang 23định Do vậy khi ion M2+
lần lượt là Mn2+, Fe2+, Co2+, Ni2+, Cu2+, Zn2+ với số điện tử 3d tương ứng là 5, 6, 7, 8, 9, 10, ta lần lượt có các ferit với momen từ trên một đơn vị cấu trúc tính ra B (Manheton Bohr)lần lượt là 5, 4, 3, 2, 1, 0 [13, 21] Trong ferit spinen thuận, phân mạng A không có momen từ, không
có tương tác A - B, chỉ có tương tác B - B trong cùng phân mạng, như đối với ZnFe2O4 là chất phản sắt từ
Tính chất từ của ferit chịu sự tác động của kích thước hạt và quá trình tổng hợp Với các ferit kích thước nano do hiệu ứng kích thước làm cho số nguyên tử, ion trên bề mặt hạt tăng lên, hằng số mạng giảm xuống, tương tác giữa các ion trên bề mặt với các ion, nguyên tử xung quanh khác với các ion nằm bên trong, làm thay đổi vị trí trong cấu trúc, từ đó tính chất của ferit cũng thay đổi [21, 86, 102] Bên cạnh đó sự giảm kích thước các tinh thể còn ảnh hưởng tới cặp trao đổi và cơ chế lượng tử các tương tác trong các hạt ferit, làm thay đổi cơ chế đảo từ Với các hạt lớn đa tinh thể cơ chế đảo từ sẽ là dịch chuyển vách đômen, với hạt nano đơn đômen thì đảo từ theo cơ chế quay [6] Các ferit spinen tùy theo đặc trưng từ tính có thể được phân loại: ferit từ mềm hoặc ferit từ cứng Khái niệm “cứng” hay “mềm” xét dưới góc độ từ tính đó là khả năng dễ hay khó từ hóa và khử từ của chúng Đối với các ferit spinen hạt nano, khi kích thước hạt nhỏ ở mức độ nào đó, hạt ferit từ có thể có đặc trưng hạt đơn đômen hoặc siêu thuận từ [5, 6, 21, 30, 31, 32, 37, 39 ]
* Ferit spinen từ mềm:
Các ferit spinen từ mềm dễ từ hóa và dễ khử từ, chúng thường được sử dụng trong từ trường ngoài như: các trường biến đổi tần số (họ ferit NiZn, MnZn); các biến tử từ giảo, thu, phát siêu âm (họ ferit Ni); các ferit siêu cao
Trang 24tần làm việc trong vùng bước sóng cỡ milimet đến centimet (ferit họ AlNi, AlFe, MnMg ) [3, 6, 9, 21, 61, 71, 72, 84, 93, 105]
Đặc trưng cho ferit spinen từ mềm là độ từ thẩm và từ độ bão hòa lớn, lực kháng từ nhỏ Thông thường lực kháng từ nhỏ dưới 100 Oe, các ferit spinen từ mềm tốt thậm trí có lực kháng từ rất nhỏ hơn 0,01 Oe Độ từ thẩm
có thể đạt giá trị tới vài chục ngàn Các ferit từ mềm điển hình là ferit họ NiZn và MnZn [6, 71, 86, 92, 105] Ngoài các thông số trên người ta còn xem xét các thông số khác như tổn hao xoáy, tổn hao trễ, phẩm chất trong môi trường biến đổi tần số, đặc trưng từ giảo v.v [6, 21] Đường cong từ trễ của vật liệu từ mềm có dạng như hình 1.2
Hình 1.2 Đường cong từ trễ (B- H) của ferit từ mềm [21]
Trang 25*Ferit từ cứng
Ngược lại với các ferit spinen từ mềm, các ferit từ cứng có lực kháng từ lớn, thường Hc 100 Oe, thậm trí đến hàng ngàn Oe Chúng thường được sử dụng làm nam châm vĩnh cửu, các vật liệu ghi từ [3, 21] Trên hình 1.3 cho hình ảnh đường từ trễ của ferit từ cứng và một số thông số quan trọng trên đường từ trễ Nhìn vào đường từ trễ ferit từ mềm hình 1.2 và ferit từ cứng hình 1.3 thấy, các ferit từ cứng có đường từ trễ có diện tích lớn hơn Đối với ferit từ cứng ngoài lực kháng từ lớn người ta còn quan tâm đến tích năng lượng từ cực đại (B.H)max, độ từ dư Mr (hay Br), nhiệt độ Curie (càng cao càng tốt), và mật độ từ hiệu dụng [6, 21]
Hình 1.3 Đường cong từ trễ (B- H) của ferit từ cứng [21]
* Ferit spinen hạt đơn đômen và siêu thuận từ
Thông thường trong vật liệu từ, giữa hai đômen có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đômen [6, 7] Độ dày của vách đô men tùy thuộc loại vật liệu mà có thể dày từ 10 - 100 nm Khi kích thước các hạt nano ferit chỉ bằng hoặc nhỏ hơn độ dày vách đômen thì chúng trở thành các hạt đơn đômen hoặc siêu thuận từ, các tính chất khác với vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đômen này tác động lên nguyên tử ở đômen khác trong ferit Tùy
Trang 26vào loại hạt có dị hướng từ lớn hay nhỏ mà người ta có thể xác định gần đúng kích thước tới hạn của các hạt đơn đômen và hạt siêu thuận từ Ví dụ, đường kính tới hạn hạt đơn đômen của Fe 14 nm, của Co 70 nm, Ni 55 nm, của Fe2O3 166 nm [5, 6, 21, 112]
Khi kích thước hạt tiếp tục giảm xuống dưới một giới hạn nhất định thì ngay ở nhiệt độ phòng, năng lượng nhiệt đã đủ để làm cho các momen từ thay đổi giữa hai định hướng cân bằng của từ độ Các hạt sẽ tồn tại dạng siêu thuận
từ Khi đó, sự khử từ không cần tác động của từ trường ngoài, chỉ cần năng lượng chuyển động nhiệt, lực kháng từ bằng không [5, 112]
Thông thường, các hạt từ tính dễ trở thành siêu thuận từ khi có đường kính dưới 20 nm Tính chất từ đặc biệt thú vị khi bán kính hạt nằm trong khoảng giới hạn siêu thuận từ và hạt đơn đômen [5] Ví dụ, quan hệ giữa lực kháng từ và kích thước các hạt từ nano được biểu diễn trên hình 1.4
Hình 1.4 Sự phụ thuộc lực kháng từ Hc vào kích thước hạt (MD- vùng hạt
đa đômen; SD- vùng hạt đơn đômen; SP – vùng hạt siêu thuận từ) [28] Các hạt nano từ đơn đômen và siêu thuận từ cho thấy khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ hiện đại Ví dụ, hạt ferit đơn đômen dùng làm lớp phủ trên các đĩa từ, băng từ, thẻ từ, đầu đọc, đầu ghi từ
Trang 27Hình 1.5 Hình ảnh ổ đĩa cứng lưu trữ thông tin [21]
Các hạt siêu thuận từ nói chung và các hạt ferit siêu thuận từ đã và đang được nghiên cứu ứng dụng trong chế tạo chất lỏng từ và nhiều sản phẩm công nghệ cao như chúng tôi đã giới thiệu ở trên: làm tăng độ tương phản ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân, các hạt ferit nano làm chất dẫn thuốc trong điều trị khối u, đánh dấu và phân tách tế bào, chế tạo cảm biến thông minh, khử độc, sơn hấp thụ sóng rađa, chế tạo chất bôi trơn và truyền nhiệt trục quay, chế tạo giảm sóc [2, 5, 21, 90, 105, 108, 112]
1.1.2.2 Tính chất xúc tác và ứng dụng
Cácferit spinen ngoài các ứng dụng từ tính, trong những năm gần đây người ta còn nghiên cứu sử dụng các nano spinen trong các lĩnh vực xúc tác cho các phản ứng hóa học tổng hợp hữu cơ - hóa dầu, xúc tác môi trường, chế tạo điện cực và các sensor nhạy khí
Trong các công trình [41, 49, 56, 65, 90, 104], các tác giả tổng hợp và nghiên cứu hoạt tính xúc tác của các ferit spinen Fe3O4,ZnFe2O4, NiFe2O4, CoFe2O4, và các spinen bậc 2 - 3, Zn[FexCr2-xO4] trong các phản ứng oxi hóa
CO, cyclohexane, dehydro hóa etylbenzen thành stiren, ngoài ra còn một số
hệ spinen được nghiên cứu trong các phản ứng oxi hóa hydrocacbon, dehydro
Trang 28hóa hydrocacbon, oxidehydro hóa hydrocacbon thành olefin; nghiên cứu sử dụng ferit spinen trong các hộp xúc tác xử lý khí thải động cơ xăng Bên cạnh đó, chúng còn được nghiên cứu chế tạo lớp phủ điện cực catot hoặc dùng làm điện cực, chế tạo các sensor nhạy khí hydrocacbon [69, 89, 107] như là các spinen: NiFe2O4, CoFe2O4, LiMnCoO4, Mn2-xCoxNi1-xO4 Việc tổng hợp được các loại ferit spinen hạt nano, sợi nano, màng mỏng nano đã
mở ra khả năng ứng dụng ngày càng rộng và hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực xúc tác, điện hóa, điện xúc tác [43, 44, 48, 51, 61, 70, 87, 92, 114, 119, 123]
1.1.3 Cấu trúc tinh thể, tính chất và ứng dụng của coban ferit và niken ferit
Coban ferit (CoFe2O4) và niken ferit (NiFe2O4) là các ferit spinen rất quan trọng trong kỹ thuật Về mặt cấu trúc, tinh thể coban ferit và niken ferit đặc trưng của nhóm các ferit spinen, cấu trúc lập phương tâm mặt [6, 16, 21,
22, 30, 31, 33, 36, 37] Chúng là các spinen đảo, vì cấu hình electron của ion
Ni2+ là 3d8 của ion Co2+ là 3d7 nên số phối trí thuận lợi là 6 nên các ion Ni2+
(A) - Fe3+(B), tương tác này khác với tương tác Co2+
(B) - Fe3+(A) hay Ni2+(B) - Fe3+(A) Sự phân bố các ion Ni2+
, Co2+ và ion Fe3+ vào các vị trí A và B quyết định tính chất từ của ferit, mặc dù chúng có thành phần hóa học không đổi [21, 45, 57, 67, 112,
113, 117]
Thông thường, niken ferit có đặc trưng từ mềm, dạng khối có từ độ bão hòa Ms 55 emu/g, lực kháng từ Hc bằng khoảng 100 Oe, chúng được sử dụng để chế tạo các lõi dẫn từ và các linh kiện làm việc ở tần số cao [20, 36,
Trang 2967, 78, 80] Khác với tinh thể niken ferit, coban ferit có dị hướng từ lớn
2,65.106 - 5,1.106 erg/cm3, đặc biệt càng tăng khi ferit có cấu trúc nano [50]
Ở dạng khối coban ferit có đặc trưng từ cứng, từ độ bão hòa Ms 81 emu/g,
Hc lớn tới 4,3 kOe Tuy nhiên, tính chất từ của ferit coban phụ thuộc rất mạnh
vào kích thước, hình dạng hạt và chế độ xử lí nhiệt của mẫu điều chế Trước
kia, coban ferit chủ yếu được ứng dụng trong chế tạo nam châm vĩnh cửu và
các thiết bị ghi từ [6, 22, 30, 36, 37, 39, 53] Trong những năm gần đây, việc
khám phá những tính chất mới của các nano ferit người ta thấy rằng các nano
coban ferit và nano niken ferit có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: chế tạo
các đĩa quang từ, ổ lưu trữ thông tin mật độ cao, chất tăng độ tương phản ảnh
cộng hưởng từ (MRI), chất dẫn truyền thuốc trong điều trị khối u, tác nhân
đánh dấu và phân tách tế bào, các chất lỏng từ dùng trong y - sinh học, kỹ
thuật bôi trơn, máy lạnh từ, các sensor khí, các xúc tác trong các phản ứng oxi
hóa, oxi dehydro hóa tổng hợp hữu cơ, xử lý khí thải [32, 43, 48, 50, 65, 69,
80, 81, 89, 93, 96, 104, 107, 113, 116, 117, 121, 122]
1.2 Các phương pháp tổng hợp ferit spinen cấp hạt nano
Để tổng hợp các ferit cỡ hạt nano người ta đã sử dụng nhiều phương pháp:
phương pháp cơ học (nghiền các ferit được tổng hợp từ phản ứng pha rắn),
nhóm các phương pháp hóa học ướt (sol- gel, đồng kết tủa, thủy nhiệt, vi nhũ,
tự cháy ) và nhóm phương pháp tổng hợp từ pha hơi [2, 5, 21, 26, 64, 112]
Phương pháp cơ học để chế tạo các hạt nano ferit còn gọi là phương
pháp tiếp cận từ trên xuống (Top-down), các ferit được hình thành từ các phản
ứng pha rắn ở nhiệt độ cao, sau đó qua giai đoạn nghiền bởi các máy nghiền
nghiền rung, nghiền hành tinh hay nghiền có phụ gia để cho các sản phẩm
ferit nano Tuy nhiên phương pháp này cho cỡ hạt không đồng đều và dễ bị
lẫn tạp chất [9, 13, 15, 20, 57]
Formatted: Indent: First line: 0"
Trang 30Nhóm các phương pháp hóa học ướt: đồng kết tủa, sol-gel, thủy nhiệt, vi nhũ, tự cháy được tiến hành với sự kết hợp các phần tử phản ứng được đồng nhất các ở qui mô phân tử, nguyên tử, còn gọi là cách tiếp cận từ dưới lên
(Bottom - up) Chính sự đồng nhất cao đã làm giảm nhiệt độ phản ứng tạo
ferit và cho kích thước hạt nhỏ mịn và đồng đều [8, 13, 15, 62, 86]
1.2.1 Phương pháp gốm truyền thống
Tổng hợp vật liệu bằng phương pháp gốm đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp Phương pháp này chủ yếu thực hiện phản ứng của các cấu tử phối liệu rắn ở nhiệt độ cao (thông thường ở nhiệt độ bằng 2/3 nhiệt độ nóng chảy) [15, 22] Để tăng khả năng phản ứng, hạ nhiệt
độ và rút ngắn thời gian nung người ta thường phải nghiền mịn và trộn đồng đều các nguyên liệu với nhau, có thể ép viên hoặc dùng các phụ gia thúc đẩy phản ứng nếu yêu cầu chất lượng sản phẩm cho phép Quá trình phản ứng ở trạng thái rắn diễn ra chậm, sự khuếch tán chất phản ứng và sản phẩm ở nhiệt
độ cao quyết định tốc độ phản ứng Bề mặt tiếp xúc trong phản ứng pha rắn nhỏ, nếu phản ứng không có mặt pha lỏng hoặc pha khí thì nhiệt độ phản ứng càng cao và thời gian càng dài Phương pháp gốm thường cho sản phẩm dạng khối, tinh thể kết tinh lớn [22]
Kĩ thuật tổng hợp các ferit dạng khối bằng phương pháp gốm truyền thống đã được nghiên cứu và ứng dụng để chế tạo các loại nam châm, lõi từ v.v… Trong phương pháp này người ta thường dùng các nguyên liệu đầu là các oxit Ví dụ, để tổng hợp ferit niken (NiFe2O4) thường sử dụng các oxit NiO và Fe2O3 Các oxit được định lượng chính xác, nghiền trộn kĩ để tạo sự đồng nhất sau đó nung ở nhiệt độ trên 12500
C [3, 15, 22, 62] phản ứng tạo ferit xẩy ra như sau:
NiO + Fe2O3 = NiFe2O4 (1.1)
Trang 31Tương tự, phản ứng tạo ferit coban từ các oxit:
CoO + Fe2O3 = CoFe2O4 (1.2) Trong phản ứng trên NiO, CoO có cấu trúc lập phương, số phối trí Ni2+
và O
đều bằng 6 còn Fe2O3 giống Al2O3 cấu trúc 2 phân mạng, phân mạng oxi gói gém chắc đặc lục phương, phân mạng Fe3+
chiếm 2/3 các hốc bát diện, còn lại các hốc tứ diện đều trống Các oxit CoO, NiO có nhiệt độ nóng chảy cao (CoO có tnc: 1810 0C; NiO có có tnc: 1955 0C) và các spinen CoFe2O4 và NiFe2O4 đều có nhiệt độ nóng chảy cao 2000 0C vì vậy phản ứng tạo ferit chỉ diễn ra nhờ sự khuếch tán các chất ở trạng thái rắn Ở nhiệt
độ cao tại vị trí tiếp xúc các chất phản ứng, các cation Ni2+
và Co2+ khuếch tán từ phía NiO và CoO đi vào các hốc bát diện của pha Fe2O3 còn Fe3+khuếch tán theo chiều ngược lại để vào các hốc tứ diện hình thành cấu trúc spinen đảo [15, 22, 62]
Quá trình chuyển động nhiệt, sự khuếch tán các cation, sự biến đổi cấu trúc tạo ra các khuyết tật mạng lưới tại vùng tiếp xúc ở nhiệt độ cao vì vậy với phản ứng pha rắn, duy trì nhiệt độ cao là yếu tố có tính quyết định đến tốc độ phản ứng Sự kết tinh ra tinh thể spinen làm năng lượng của hệ giảm xuống, pha spinen trở nên bền vững hơn
Hình 1.6 Mô tả cơ chế khuếch tán trong phản ứng pha rắn tạo spinen [15]
Pha NiO Pha Fe2O3
Trang 32Để chế tạo các ferit cấp hạt nano bằng phương pháp gốm, khâu nghiền
có vai trò quyết định đến cỡ hạt và phân bố cấp hạt Chế tạo theo phương pháp này đơn giản về mặt công nghệ nhưng để có được cấp hạt nhỏ hơn và đồng đều thì rất khó thực hiện Ngay việc tách khối hạt để thu các hạt có kích thước đồng nhất đã là rất phức tạp [2, 13, 21, 62] Tuy nhiên, để tổng hợp nano ferit thời gian gần đây người ta vẫn sử dụng phương pháp này Trên bảng 1.1 đưa ra một số kết quả nghiên cứu tổng hợp nano ferit bằng phương pháp gốm được công bố trong thời gian gần đây
Bảng 1.1 Một số công trình tổng hợp nano ferit bằng phương pháp gốm
Sản phẩm Nguyên liệu đầu Tác giả Tài liệu
Trang 331.2.2 Phương pháp đồng kết tủa
Đây là một trong những phương pháp tổng hợp hóa học đang được sử dụng khá phổ biến để tổng hợp các vật liệu kích thước nanomet ứng dụng trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật hiện đại Nguyên tắc của phương pháp này là tiến hành kết tủa đồng thời các nguyên liệu để tạo thành precursor dưới dạng hydroxit hoặc muối ít tan như oxalat, cacbonat [9, 13, 15] Các precursor phản ứng tiếp khi nung ở nhiệt độ cao để chuyển thành sản phẩm cuối cùng Quá trình hình thành các precursor từ dung dịch, xuất phát từ các phản ứng hóa học, khi nồng độ các chất đạt đến một mức bão hòa tới hạn, dung dịch sẽ đột ngột xuất hiện những mầm kết tủa Các phần tử vật chất sẽ khuếch tán đến bề mặt các mầm, phát triển mầm cho đến khi hình thành các hạt kết tủa Như vậy sự tạo thành các kết tủa qua hai giai đoạn: tạo mầm và phát triển mầm giống như quá trình kết tinh Để thu được các hạt kết tủa kích thước đồng nhất cần tiến hành phân tách 2 giai đoạn đó Sự tạo mầm cực đại khi nồng độ chất trong dung dịch gần sát đến nồng độ bão hòa tới hạn Sự phát triển mầm tuân theo 3 cơ chế: khuếch tán, sự kết hợp các phần tử nhỏ với nhau và kết hợp các mầm để tạo kết tủa [13, 15, 62]
Nếu khu vực tạo mầm và phát triển mầm gần nhau, sản phẩm thu được
có kích thước hạt lớn Nếu hai giai đoạn ở xa nhau, hoặc hạn chế được tốc độ phát triển mầm sẽ cho sản phẩm là các tinh thể nhỏ [57, 109]
Phương pháp đồng kết tủa đã được nhiều tác giả thực hiện thành công trong chế tạo vật liệu nano như các oxit phức hợp cấu trúc peropskit, spinen với thành phần 2 - 3 cấu tử [45, 68, 78, 79] Thuận lợi nhất khi việc đồng kết tủa giữa các chất có pH kết tủa gần nhau Để điều chỉnh quá trình kết tủa,
Trang 34người ta thường quan tâm đến độ pH và lực liên kết ion trong dung dịch Tăng giá trị pH và lực liên kết ion thì kích thước hạt giảm xuống [13, 62] Vì vậy điều chỉnh pH dung dịch, lựa chọn dung môi, nhiệt độ quá trình đồng kết tủa
có tính chất quyết định đến phản ứng kết tủa Khi tiến hành đồng kết tủa, khả năng tan trở lại dung dịch của các kết tủa khác nhau, khả năng tạo phức giữa các cation kim loại và anion trong dung dịch làm kết tủa cũng không giống nhau, do đó để khống chế thành phần sản phẩm như mong muốn đòi hỏi việc tính toán và thực nghiệm phải chính xác để thu được sản phẩm có thành phần hợp thức, hiệu suất tổng hợp cao [15, 81, 99] Đồng kết tủa là một trong những phương pháp hóa học rất hiệu quả được áp dụng để tổng hợp các vật liệu nano, đặc biệt là các ferit từ Với sự đồng nhất cao các nguyên liệu, các precursor đồng kết tủa còn hình thành sớm các liên kết, làm giảm nhiệt độ thiêu kết, là phương pháp đơn giản, dễ thực hiện Trong thời gian gần đây có khá nhiều công trình nghiên cứu tổng hợp các vật liệu từ cấp hạt nano sử dung phương pháp đồng kết tủa Jing Jiang và cộng sự [67] đã sử dụng các muối nitrat kim loại niken và sắt, kết tủa trong dung môi etanol - nước bằng tác nhân ure ở nhiệt độ 90 0C/6 giờ, có chất hoạt động bề mặt (SDBS), precursor được sấy ở 60 0C/126 giờ, sau đó nung ở các nhiệt độ khác nhau Sản phẩm niken ferit có kích thước hạt trung bình 15 - 20 nm, từ độ bão hòa 30 - 50 emu/g Masoud Salavati và cộng sự [82] đã đồng kết tủa hỗn hợp muối NiCl2
và FeCl3 bằng cách nhỏ chậm dung dịch NaOH vào hỗn hợp với pH = 8, có chất hoạt động bề mặt axit octanoic, khuấy 1 giờ ở nhiệt độ 80 0C, sấy kết tủa
ở 100 0C/8 giờ, nung ở 600 0
C/4 giờ Ferit NiFe2O4 thu được có kích thước hạt 25 5 nm, hạt lớn nhất đến 100 nm, từ độ bão hòa 23,13 emu/g, lực kháng từ khá lớn 245,5 Oe Sonali L và cộng sự [107] đã thu được ferit
Trang 35NiFe2O4 có kích thước hạt nano dùng làm sensor khí Quá trình tổng hợp từ các nguyên liệu đầu là NiSO4.6H2O và Fe(NO3)3.9H2O, đồng kết tủa bằng dung dịch NaOH, sấy kết tủa trong 1 giờ ở 100 0C, nung ở 700 0C/1 giờ cho kích thước hạt tính theo Scherrer 15 - 20 nm Chia C H và cộng sự [38] đã tổng hợp CoFe2O4 bằng cách đồng kết tủa các muối CoCl2.6H2O, FeCl3 bằng dung dịch NaOH ở pH bằng 12, khuấy ở nhiệt độ phòng trong 60 phút, tách kết tủa bằng li tâm, sấy khô ở 50 0C trong 24 giờ, nung từ 300 - 1200 0C, kết quả cho thấy kích thước hạt và từ tính của ferit phụ thuộc vào nhiệt độ nung Khi nung ở 600 0C kích thước hạt trung bình bằng 23,1 nm, Ms = 54,9 emu/g,
Hc = 751 Oe; nung ở 900 0C kích thước hạt 30,3 nm, Ms = 56,4 emu/g, Hc =
1067 Oe Chen Y và cộng sự [37] đã tổng hợp CoFe2O4 bằng cách đồng kết tủa các muối CoCl2.6H2O, FeCl3.6H2O bằng dung dịch NaOH, pH= 11 - 13, khuấy ở nhiệt độ 100 0C/2 giờ, tách kết tủa bằng li tâm, sấy khô ở 100 0
C hoặc nung ở 700 0C/ 2 giờ, kết quả cho thấy kích thước hạt trung bình bằng
20 - 40 nm Maaz K và cộng sự [79] tổng hợp CoFe2O4 bằng phương pháp đồng kết tủa các ion Co2+ và Fe3+
trong dung dịch NaOH ở pH 11 - 12, có chất hoạt động bề mặt axit oleic, khuấy ở nhiệt độ 80 0C/1 giờ để kết tủa hoàn toàn, tách kết tủa bằng li tâm, rửa bằng nước cất và etanol, sấy khô ở 100 0C, nung từ 600 - 1000 0
C/10 giờ Kết quả cho thấy kích thước hạt và từ tính của ferit phụ thuộc vào nhiệt độ nung Khi nung ở 600 0C kích thước hạt trung bình bằng 21 nm, nung ở 800, 900, 1000 0C kích thước hạt tăng lên tương ứng bằng 24, 26, 32 và 38 3 nm, đặc trưng từ tính mẫu đại diện có Ms = 68 emu/g, Hc = 1205 Oe, Mr = 31,7 emu/g Vinod Kumar và cộng sự [113] đã tổng hợp CoFe2O4 bằng cách đồng kết tủa các muối kim loại chứa ion Co2+ và
Fe3+ bằng dung dịch NaOH ở pH bằng 9,5, khuấy ở nhiệt độ 70 0C, sấy ở
Trang 36800C, nung mẫu ở 100, 300, 500, 700, 900 0C/1 giờ Kết quả cho thấy kích thước tinh thể tính theo phương trình Schererr bằng 8 - 25 nm, kích thước hạt thứ cấp trong khoảng 10 – 100 nm, từ độ bão hòa từ 18 - 74 emu/g, lực kháng
từ 200 - 1200 Oe
Trên bảng 1.2 đưa ra danh mục một số công trình nghiên cứu tổng hợp nano ferit bằng phương pháp đồng kết tủa của các tác giả khác được công bố trong thời gian gần đây
Bảng 1.2 Một số công trình tổng hợp nano ferit bằng phương pháp đồng kết tủa Sản phẩm Nguyên liệu đầu Tác giả Tài liệu
Fe1,82M0,18 O3 (với
M là Cr, Mn, Ni,
Cu, Zn, Ce)
Fe(NO3)3.9H2O, M(NO3)2.6H2O,
Francesca Romana Lamastra và cộng sự
[46]
ZnFe2O4
ZnCl2, FeCl3, NaOH
Howon Lee và
NiFe2O4
FeCl 2.2H2O, NiCl2.5H2O, NH4OH
He J.H
Trang 37Sản phẩm Nguyên liệu đầu Tác giả Tài liệu
Ling Zhang và
SrFe12O19/CoFe2O4
CoCl2.6H2O, SrCl2.6H2O FeCl 3.9H2O, Na2CO3,
Vaydianathan G
CoFe2O4
CoCl2.6H2O, FeCl 3.9H2O, Urê
Xiaofen Pang và
1.2.3 Phương pháp sol - gel
Phương pháp sol - gel được áp dụng cho tổng hợp các vật liệu sạch và
có độ đồng nhất cao vì quá trình trộn lẫn cho phép đạt đến qui mô phân tử, nguyên tử Quá trình hình thành các hệ vi dị thể sol và gel trong dung dịch là các muối hoặc oxit kim loại qua các phản ứng thủy phân và ngưng tụ, các hạt rắn tạo thành khung 3 chiều, pha lỏng nằm trong lỗ trống của các khung ba chiều đó Bằng kỹ thuật sol - gel người ta đã tổng hợp được các vật liệu siêu mịn (cỡ nanomet hoặc micromet), bề mặt riêng lớn, các vật liệu cấu trúc dạng màng mỏng nano hoặc các sợi nano [8, 13, 15, 26, 47, 62, 81, 90, 94, 96,
98, 103, 109, 118, 119] Phương pháp sol - gel đã được nghiên cứu và phát triển rất phong phú, nhưng có thể qui về 3 hướng chính đó là: thủy phân các muối kim loại, thủy phân các alkoxyde và tạo phức với các phối tử khác nhau
Trang 38* Thủy phân các muối kim loại
Khi hòa tan các muối kim loại vào trong nước sẽ xẩy ra quá trình hydrat hóa và tạo phức [M(OH2)n]Z+ Hình thành liên kết giữa cation kim loại với phân tử nước bởi cặp electron trên orbital phân tử liên kết của H2O và orbital nguyên tử trống của cation kim loại Mz+ Nếu điện tích cation M lớn, cặp electron của phân tử H2O sẽ bị hút mạnh về phía cation Mz+làm cho liên kết H-O bị phân cực mạnh và xẩy ra quá trình thủy phân [13]
[(H2O)n-1M OH2]Z+ + OH2 ↔ [(H2O)n-1MOH](z-1)+ + H3O+ (1.3) Phức aquo Phức aquo - hydroxo
[(H2O)n-1MOH](z-1)+ + OH2 ↔ [(H2O)n-1M(OH)2](z-2)+ + H3O+ (1.4) Phức aquo - oxo
Hoặc quá trình trên có thể mô tả bằng phản ứng sau:
[M(H2O)n]Z+ + kH2O ↔ [M(OH)k(OH2)n-k](z-k)+ + kH3O+ (1.5) Trong phương trình (1.5) k được gọi là tỷ số thủy phân Trong cầu phối trí của ion phức có thể tồn tại đồng thời cả ba phối tử: H2O, OH- và O2- tùy thuộc vào điện tích cation và pH môi trường Các cation kim loại điện tích nhỏ (z = 2+
và z = 3+) sẽ tồn tại dạng phức aquo trong môi trường axit [M(OH2)6]Z+, khi tăng pH sẽ tạo thành phức [M(OH)k (OH2)6-k](z-k)+ Các cation có điện tích lớn hơn Z 4 trong dung dịch nước có thể tạo phức aquo-hydroxo, hydroxo, oxo- hydroxo, hay oxo tùy vào pH của dung dịch, với cation có điện tích Z > 6 luôn tạo phức tetraoxo MO4(z-8) với mọi pH
Tương tác giữa các cation kim loại với nước có thể tạo nên các phức với nhóm OH đi vào cầu nội, phức đơn nhân sẽ ngưng tụ thành phức đa nhân theo
cơ chế olation hay oxolation
Trang 39Cơ chế olation tạo liên kết M-OH-M và loại H2O theo phản ứng:
M-OH+ Mn+ OH2 M-OH-M + H2O (1.6)
Cơ chế oxolation loại phân tử nước bằng cách ngưng tụ 2 nhóm OH
và hình thành cầu nối oxi theo phản ứng:
M-OH + HO-M M-O-M + H2O (1.7)
Sự ngưng tụ các cation theo cơ chế olation hay oxolation tùy vào ion phức hình thành trong dung dịch Phương pháp thủy phân muối có nhiều ưu điểm như: có thể điều chế được các pha giả bền, điều khiển được hình thái học, kích thước hạt, dùng để chế tạo được huyền phù bền trong các dung môi khác nhau ứng dụng trong điều chế các vật liệu dạng sợi hay màng mỏng thì thuận lợi
* Thủy phân các alkoxyde
Các alkoxyde có công thức chung M(OR)n, trong đó n là số oxy hóa của nhóm alkoxy Theo quan điểm axit - bazơ có thể coi alkoxyde như hợp chất của một axit rất yếu (ROH) với một bazơ nên chúng dễ bị thủy phân theo phản ứng:
M(OR)n + n H2O M(OH)n + n ROH (1.8) Thực tế quá trình này phức tạp hơn nhiều, nhưng có thể đưa về hai quá trình thủy phân và ngưng tụ đồng thời, kết quả cuối cùng sinh ra khung oxi hoặc hydroxit Tốc độ của quá trình thủy phân và ngưng tụ ảnh hưởng đến cấu trúc của gel do đó có vai trò quyết định lên tính chất của sản phẩm Điều khiển được tốc độ của hai quá trình này có thể tổng hợp được vật liệu ở dạng khối, hạt và màng mỏng như mong muốn [8, 13, 62, 99]
* Sự thủy phân của M(OR)n:
Trang 40Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy cơ chế thủy phân của M(OR)n diễn ra theo sơ đồ:
H2O + M-OR H2O: M-OR OH-M OHR M-OH +ROH (1.9) Trong phân tử H2O, nguyên tử oxi còn dư hai cặp electron chưa tham gia liên kết, có khả năng tấn công ái nhân lớn, dễ tham gia phản ứng cộng với M dương điện (cơ chế cộng ái nhân AN: addition nucleophylic) để sinh ra trạng thái chuyển tiếp Nguyên tử dương điện hút cặp electron về phía mình làm tăng độ phân cực của liên kết H-O, nguyên tử hydro trở nên linh động hơn và
di chuyển sang RO làm cho liên kết M-OR yếu đi và kết quả cuối cùng ROH
bị loại ra khỏi phân tử R(OH)n (cơ chế thế ái nhân SN: nucleophylic substitution) Các quá trình trên sẽ thuận lợi khi tính ái nhân của phân tử đi vào (H2O), tính ái điện tử của ion M và tính chất đi ra của phân tử bị loại (ROH) là lớn Tốc độ thế ái nhân càng lớn khi:
- Trong phân tử M(OH)n chưa bão hòa phối trí (số phối trí N > số oxi hóa n) Hiệu N - n càng lớn, năng lượng hoạt hóa của giai đoạn cộng ái nhân càng nhỏ, tốc độ thủy phân càng lớn
- Khả năng vận chuyển proton ở trạng thái chuyển tiếp càng lớn, nhất
là khi M càng dương điện Các kim loại chuyển tiếp có orbital d số phối trí bằng 6 thường lớn hơn số oxi hóa của M trong alkoxyde nên phản ứng với nước mạnh hơn so với các alkoxyde của silic (N = n = 4) [8] Bốn phản ứng thủy phân, alcoxolation, oxolation và olation tham gia vào sự biến đổi alkoxyde thành khung oxit do đó cấu trúc, hình thái học của các oxit thu được phụ thuộc rất mạnh vào sự đóng góp tương đối của mỗi một phản ứng Sự đóng góp này có thể tối ưu hóa bằng sự điều chỉnh điều kiện các thông số thực nghiệm Xúc tác axit hay bazơ không những ảnh hưởng lên động học của phản ứng thủy phân- ngưng tụ mà còn làm biến đổi hình thái