Xuất phát từ thực tế đó, là cán bộ của Sở Tài chính Tuyên Quang, tôi đã quyết định đi sâu nghiên cứu công tác chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
VÂN THỊ THÊM
CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG CỦA SỞ TÀI CHÍNH TỈNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
VÂN THỊ THÊM
CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG CỦA SỞ TÀI CHÍNH TỈNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc nhất tới Cô giáo Phó Giáo sƣ Tiến sỹ Ngô Phúc Hạnh, người đã
luôn tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, những người đã đào tạo và cung cấp cho tác giả những kiến vô cùng quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Tác giả xin cảm ơn các phòng của Sở Tài chính tỉnh Tuyên Quang, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Tuyên Quang, Phòng Tài chính Kế hoạch thành phố Tuyên Quang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả có thể chuyên tâm vào việc nghiên cứu nội dung của luận văn
Do thời gian thực hiện có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô, bạn bè và đồng nghiệp để hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tuyên Quang, ngày tháng 4 năm 2019
Tác giả
Vân Thị Thêm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của
Cô giáo Phó Giáo sƣ Tiến sỹ Ngô Phúc Hạnh Các thông tin, số liệu sử dụng
trong được trích dẫn đầy đủ nguồn tài liệu, kết quả phân tích trong luận văn là trung thực Tôi xin cam đoan luận văn không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Tuyên Quang, ngày tháng 4 năm 2019
Tác giả
Vân Thị Thêm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do thực hiện đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 6
1.1 CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
1.1.1 Khái niệm chi thường xuyên 6
1.1.2 Đặc điểm của chi thường xuyên 7
1.2 CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO8 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 8
1.2.2 Vai trò của chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 9
1.2.3 Nội dung chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 10
1.3 QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 11
1.3.1 Khái niệm quản lý chi thường xuyên 11
1.3.2 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo trên địa bàn cấp tỉnh 13
1.3.3 Nội dung của quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 15
1.3.4 Các tiêu chí đánh giá quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 29
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 31
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 35 CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
Trang 6CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỦA SỞ TÀI CHÍNH TUYÊN
QUANG 36
2.1 TỔNG QUAN VỀ SỞ TÀI CHÍNH TỈNH TUYÊN QUANG VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 36
2.1.1 Tổng quan về Sở Tài chính Tuyên Quang 36
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Sở Tài chính Tuyên Quang 39
2.1.3 Công tác giáo dục và đào tạo Thành phố Tuyên Quang 48
2.2 PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 49
2.2.1 Kết quả chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục đào tạo 49
2.2.2 Công tác quản lý lập dự toán chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 50
2.2.3 Công tác quản lý thực hiện dự toán chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục đào tạo tại thành phố Tuyên Quang 54
2.2.4 Công tác quản lý quyết toán chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại thành phố Tuyên Quang 60
2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục đào tạo 68
2.3 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 70
2.3.1 Đội ngũ cán bộ công tác quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 70
2.3.2 Các yếu tố thuộc về quy trình công tác 71
2.3.3 Các yếu tố thuộc về cơ sở vật chất, hạ tầng 72
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 73
2.4.1 Kết quả đạt được 73
2.4.2 Ưu điểm 75
2.4.3 Nhược điểm 75
2.4.4 Nguyên nhân 76
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 78
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 79
Trang 73.1 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 79
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 84
3.2.1 Hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ 84
3.2.2 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý tài chính 88
3.2.3 Ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý chi 90
3.2.4 Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo 90
3.2.5 Một số giải pháp khác 92
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Nhân sự phòng Quản lý Ngân sách và phòng Tài chính Hành chính
sự nghiệp năm 2015 45
Bảng 2.2: Thu ngân sách nhà nước tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn 2015 – 2017 46
Bảng 2.3: Chi ngân sách nhà nước tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2015-2017 47
Bảng 2.4: Chi thường xuyên cho SNGD thành phố Tuyên Quang trong giai đoạn 2015-2017 50
Bảng 2.5: Căn cứ lập dự toán năm 2016 51
Bảng 2.6: Kết quả công tác quản lý lập dự toán chi thường xuyên của các đơn vị 52
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện dự toán của đơn vị và sau khi điều chỉnh 55
Bảng 2.8 : Mức lương cơ sở 56
Bảng 2.9: Tỷ lệ đóng BHXH , BHYT, BHTN qua các năm 56
Bảng 2.10: Chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục đào tạo cho thành phố Tuyên Quang giai đoạn 2015 – 2017 57
Bảng 2.11: Số liệu tổng hợp về quyết toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD thành phố Tuyên Quang trong giai đoạn 2015-2017 61
Bảng 2.12: Sai phạm của các trường trên địa bàn thành phố năm 2016 70
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài
Vai trò của chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Chi ngân sách nhà nước đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà trường Thông qua các khoản chi ngân sách giúp nhà trường trang trải các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động, trang bị những thiết bị cần thiết đảm bảo cho công tác dạy và học Các khoản chi lương, phụ cấp, tiền thưởng, phúc lợi tập thể, từ kinh phí kinh phí từ ngân sách Nhà nước giúp đảm bảo đời sống vật chất
và khuyến khích tinh thần đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý hành chính
Chi ngân sách nhà nước giữa vai trò quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học ở các trường Do quy mô giáo dục được mở rộng, do sự xuống cấp của các tài sản phục vụ hoạt động nghiệp vụ nên cần có nguồn vốn để xây dựng, sửa chữa, cải tạo, hiện đại hóa trang thiết bị, tuy nhiên sự đóng góp từ học sinh rất thấp vì vậy nguồn vốn từ ngân sách đóng vai trò vô cùng quan trọng
Chi thường xuyên thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành giáo dục: Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, rất cần lao động có trình độ Vì vậy sự phát triển sự nghiệp giáo dục được coi là mục tiêu, động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Do vậy nó đòi hỏi cần phải có sự đầu tư lớn để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng nhu cầu học tập Trong khi nguồn vốn đóng góp từ xã hội còn hạn chế thì nguồn vốn từ NSNN giữ vai trò chủ yếu trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục
Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Trong điều kiện hiện nay, NSNN còn hạn hẹp khi đó nhu cầu chi cho các ngành lại rất lớn, nhưng chi thường xuyên cho giáo dục đã chiếm một tỷ trọng tương đối trong tổng chi NSNN Vì vậy nếu không quản lý tốt nguồn kinh phí này
sẽ dẫn đến thất thoát một lượng vốn không nhỏ từ quỹ NSNN và không thúc đẩy
nền giáo dục phát triển
Trang 11Trong khi đó, cơ cấu các khoản chi phân bổ chưa hợp lý, những lĩnh vực cần
ưu tiên nhưng chưa được quan tâm đầu tư thích đáng trong khi đó những lĩnh vực
có thể giảm thiểu chi thì lại chiếm tỷ trọng tương đối cao, Từ đó dẫn đến bất hợp lý trong việc phân bổ các khoản chi này và giảm tính hiệu quả của chi NSNN cho giáo dục
Mặt khác, cần phải đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để thực hiện các chương trình giáo dục Việc quản lý, chi thường xuyên cho giáo dục luôn hướng tới mục tiêu chính là đảm bảo nguồn kinh phí cho việc thực hiện nhiệm vụ tại các trường học Tuy nhiên, việc đảm bảo các yêu cầu này không phải lúc nào cũng dễ dàng Trong khi nhu cầu của ngành giáo dục là rất lớn thì nguồn tài chính vẫn chưa đáp ứng được hết các yêu cầu đó
Vì vậy cần phải quản lý các khoản chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là yêu cầu cần thiết đặt ra các cấp các ngành mà đặc biệt quản lý tài chính trong ngành giáo dục Cần thiết phải quản lý chặt chẽ từ khâu xây dựng định mức, xây dựng kế hoạch, thường xuyên đánh giá, phân tích, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chi thường xuyên cho giáo dục
Xuất phát từ thực tế đó, là cán bộ của Sở Tài chính Tuyên Quang, tôi đã quyết định đi sâu nghiên cứu công tác chi thường xuyên và quản lý chi thường
xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo thông qua đề tài “Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại Thành phố Tuyên Quang của Sở Tài chính tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận
văn thạc sĩ
2 Tổng quan nghiên cứu
Từ khi NSNN ra đời, vấn đề nghiên cứu quản lý NSNN nói chung, quản lý chi thường xuyên NSNN nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Vì vậy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được tiếp cận ở những cấp độ, góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý có một số công trình sau đây:
Trang 12- Đồng Văn Tân (2011) Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục – đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên, Thái Nguyên Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục và đào tạo Phân tích thực trạng công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo tại đìa bàn huyện Phổ Yên và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục, đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm Thị Thu Huyền (2014) Những đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho các trường THCS trong huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Luận văn, Học viện Tài chính Luận văn tập trung phân tích cụ thể thực trạng quản
lý chi thường xuyên NSNN thông qua phân tích cơ cấu chi thường xuyên NSNN cho các trường THCS Từ đó rút ra những ưu nhược điểm đó cũng như những giải pháp tăng cường quản lý chi thường xuyên NSNN cho các trường THCS trong huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
- Nguyễn Thị Thu Hương (2018) Hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Huế Luận văn đã tập trung nghiên cứu từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản
về công tác quản lý chi thường xuyên Thành công, tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý chi thường xuyên tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị được phân tích cụ thể thông qua việc đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên tại các đơn vi sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện và khảo sát đánh giá công tác chi thường xuyên của các cán bộ công chức, viên chức đang công tác trong lĩnh vực quản lý tài chính Luận văn đã đưa ra định hướng và đề ra những giải pháp khắc phục những tồn tại và góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chi thường xuyên tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn
Trang 13- Lê Thị Hồng Nhung (2018) Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo của tỉnh Yên Bái Luận văn thạc sỹ, Đại học Thái Nguyên
Đề tài được thực hiện nhằm phân tích, đánh giá, phản ánh đúng hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái, chỉ ra những hạn chế của công tác này và nguyên nhân của những hạn chế đó Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm quản lý chi thường xuyên hiệu quả hơn, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo của tỉnh trong thời gian tới
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục
và đào tạo tại thành phố Tuyên Quang của Sở Tài chính Tuyên Quang thời gian qua nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại Sở Tài chính
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục đào tạo tại thành phố Tuyên Quang
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Tuyên Quang thông qua Sở Tài chính tỉnh Tuyên Quang
- Phạm vi về thời gian: Số liệu được thu thập trong giai đoạn 2015-2017
- Phạm vi về nội dung: Trong phạm vi đề tài, tác giả chủ yếu đánh giá thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại
Trang 14thành phố Tuyên Quang của Sở Tài chính tỉnh Tuyên Quang với các nội dung cụ thể như sau: công tác quản lý lập và phân bổ dự toán, công tác duyệt quyết toán và công tác thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi thường xuyên cho SNGD
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập các thông tin thứ cấp liên quan Các dữ liệu này được thu thập từ các văn bản của Chính phủ, các văn bản của UBND, của HĐND, của Sở Tài chính tỉnh Tuyên Quang có liên quan đến công tác quản lý chi thường xuyên trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, thông qua niên giám thống kê, báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm, báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, các tài liệu trên sách báo, tạp chí, trên các website, các đề tài nghiên cứu có liên quan đến quản lý chi thường xuyên trên địa bàn
Đối với những dữ liệu thứ cấp thu thập được, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích so sánh gồm có so sánh tương đối và tuyệt đối để phân tích và đánh giá
6 Kết cấu luận văn
Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Chương 2: Phân tích công tác quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại thành phố Tuyên Quang của Sở Tài chỉnh tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên cho
sự nghiệp giáo dục và đào tạo thành phố Tuyên Quang
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1.1 CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm chi thường xuyên
Khái quát về NSNN
Ngân sách Nhà nước vừa là phạm trù kinh tế vừa là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách Nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách Nhà nước tùy theo các trường phái và lĩnh vực nghiên cứu Sự hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh
tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách Nhà nước
NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động
và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau
Thực chất, ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước trên cơ sở Luật định
Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 16Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015 định nghĩa:
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Khái niệm về chi thường xuyên: Theo Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước Việt
Nam năm 2015 “Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên
của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh”
1.1.2 Đặc điểm của chi thường xuyên
Thứ nhất: Đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét Những chức năng vốn có của Nhà nước như: Bạo lực, trấn áp và tổ chức quản
lý các hoạt động kinh tế, xã hội đều đòi hỏi phải được thực thi cho dù có sự thay đổi
về thể chế chính trị Để đảm bảo cho Nhà nước có thể thực hiện được các chức năng
đó, tất yếu phải cung cấp nguồn vốn từ NNSN cho nó Mặt khác, tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi
bộ phận cụ thể thuộc guồng máy Nhà nước phải thực hiện Ví dụ: cho dù nền kinh
tế quốc dân đang trong thời kỳ hưng thinh, đang suy thoái thì những công việc thuộc về quản lý nhà nước tại mỗi cơ quan chính quyền vẫn cứ phải duy trì đều đặn
và đầy đủ; có khác là ở thứ tự ưu tiên trong giải quyết công việc
Thứ hai, xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội Nếu chi đầu tư phát triển nhằm tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết để thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai, thì chi thường xuyên lại chủ yếu đáp ứng cho các nhu cầu thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý kinh tế, quản
lý xã hội ngay trong năm ngân sách hiện tại Khi nghiên cứu cơ cấu chi NSNN theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát, người ta thường phân loại thành các khoản chi thành hai nhóm: Chi tích lũy và chi tiêu dùng Theo tiêu thức này thì đại
bộ phận các khoản chi thường xuyên được xếp vào chi tiêu dùng (tiêu dùng chung
Trang 17cho toàn xã hội) Bởi lẽ, ở trong từng niên độ ngân sách các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước; về quốc phòng, an ninh; về các hoạt động sự nghiệp; các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức Kết quả các hoạt động trên hầu như không tạo ra của cải vật chất hoặc gắn trực tiếp với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội ở mỗi năm đó Song điều đó cũng không làm mất đi ý nghĩa chiến lược của một số khoản chi thường xuyên Và theo đó, người ta có thể coi nó như là những khoản chi có tính chất tích lũy đặc biệt
Ví dụ: Ngày nay người ta cho rằng các khoản chi cho giáo dục đào tạo, cho Khoa học – Công nghệ là những khoản chi tích lũy
Thứ ba: Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu
tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công cộng Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nên tất yếu quá trình phân phối và sử dụng vốn NSNN luôn phải hướng vào việc đảm bảo
sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước đó Nếu một khi bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên cho nó được giảm bớt và ngược lại Hoặc quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng hàng hóa công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi
và mức độ chi thường xuyên của NSNN Ví dụ: Giáo dục là hàng hóa công cộng Trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp Nhà nước quyết định cung cấp hàng hóa này miễn phí thì tất yếu phạm vi và mức độ chi NSNN cho Giáo dục phải rộng và lớn Ngược lại, trong cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thì hoạt động giáo dục có sự chăm lo của cả Nhà nước và nhân dân Nhờ đó Nhà nước có thể thu hẹp phạm vi chi cho lĩnh vực này
1.2 CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo là khoản chi thuộc nhóm chi hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực Tài chính hành chính sự nghiệp, thuộc phạm vi chi thường xuyên của NSNN
Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục và đào tạo là khoản chi thường xuyên
Trang 18vì vậy nó có các đặc điểm sau:
Mang tính ổn định: Đặc điểm này xuất phát từ chức năng vốn có của Nhà
nước như: Bạo lực, trấn áp và tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế, xã hội đều đòi hỏi phải được thực thi cho dù có sự thay đổi về thể chế Để đảm bảo cho Nhà nước
có thể thực hiện chức năng đó, cần cung cấp vốn NSNN cho nó.Mặt khác, tính ổn định còn xuất phát từ sự ổn định trong hoạt động cụ thể mà mỗi cơ quan chính quyền nhà nước và các đơn vị sự nghiệp thực hiện
Có hiệu lực tác động ngắn hạn và mang tính chất tiêu dùng xã hội: Chi
thường xuyên chủ yếu đáp ứng nhu cầu thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội ngay trong năm ngân sách hiện tại
Phạm vi, mức độ chi gắn chặt với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa công cộng cho xã hội: Với
tư cách là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nên quá trình phân phối và sử dụng vốn NSNN luôn phải đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước
đó Nếu bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên cho nó được giảm bớt và ngược lại Hoặc là quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên của NSNN
1.2.2 Vai trò của chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Hiện nay nguồn kinh phí đầu tư cho sự nghiệp giáo dục được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: Từ nguồn vốn NSNN, từ nguồn thu sự nghiệp, từ nguồn tài trợ Chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là nguồn vốn NSNN, trong đó chi thường xuyên NSNN đóng vai trò quan trọng:
- Chi NSNN nói chung và chi thường xuyên nói riêng có vai trò quan trọng trong việc định hướng giáo dục phát triển theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước: Giáo dục đóng vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu
- Chi thường xuyên NSNN là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đảm bảo đời sống của cán bộ giáo viên, tạo ra cơ sở
Trang 19vật chất, mua sắm trang thiết bị… và nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của giáo dục
- Tạo điều kiện ban đầu để khuyến khích nhân dân cùng đóng góp và xây dựng, bảo vệ, tăng cường cơ sở vật chất để phục vụ cho giảng dạy tốt hơn, thu hút các nguồn lực, thu hút nhân tài cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục
1.2.3 Nội dung chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Nội dung chi thường xuyên NSNN cho giáo dục và đào tạo gắn liền với cơ cấu, nhiệm vụ của ngành trong mỗi giai đoạn lịch sử và được xem xét ở các góc độ khác nhau Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của ngành giáo dục đào tạo có thể hiện nội dung chi NSNN cho giáo dục đào tạo gồm:
- Chi ngân sách cho hệ thống các trường học có:
+ Chi ngân sách cho hệ thống các trường mầm non, các trường phổ thông + Chi ngân sách cho các trường đại học, các học viện, các trường cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
+ Chi cho các trường Đảng, đoàn thể
- Chi ngân sách cho các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo như:
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo
Theo cách phân loại chi thường xuyên NSNN theo yếu tố và phương thức quản lý các khoản chi cho giáo dục đào tạo có thể chia thành 4 nhóm mục chi sau:
- Các khoản chi cho con người: Là khoản chi quan trọng trong các yếu tố đầu vào của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào muốn tồn tại và hoạt động Là các khoản chi theo chế độ mà Nhà nước đã quy định chi trả cho các cơ quan nhà nước, các đơn vị giáo dục, gồm: Chi tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp theo lương, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, chi phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ nhân viên, chi học bổng…
Nội dung chi này chiếm tỷ trọng lớn nhất vào trong tổng chi NSNN cho hệ thống giáo dục Nó đáp ứng được nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ giáo viên nhằm tái sản xuất sức lao động của họ, từ đó động viên tinh thần giảng
Trang 20dạy, khuyến khích học sinh tích cực học tập thông qua các chương trình học bổng của các cấp Qua đó nâng cao chất lượng giáo dục
- Chi cho hoạt động chuyên môn: Chi mua tài liệu, đồ dùng giảng dạy và học tập, chi hội thảo, hội giảng, chi cho các lớp bồi dưỡng học sinh, bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn, chi phí nghiệp vụ chuyên môn khác
Đây là các khoản chi cần thiết cho hoạt động giảng dạy và học tập Các khoản chi này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dạy và học của giáo viên cũng như học sinh Do đó cần chú trọng cho các khoản chi này
- Chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhỏ bao gồm các khoản chi về mua sắm, sửa chữa có tính ổn định không cao phụ thuộc vào tình trạng nhà cửa và trang thiết
bị của nhà trường Mỗi năm sẽ giành ra một phần trong tổng số hạn mức kinh phí được cấp để trang trải cho kinh phí này
- Chi khác: Ngoài các khoản chi trên thì các đơn vị trường học còn phát sinh các khoản chi khác như: trợ cấp thôi việc, chi trợ cấp khó khăn cho các học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn có thành tích tốt, trích lập quỹ… Các khoản chi này phát sinh tương đối ít nhưng nó vẫn có vai trò to lớn trong hoạt động giáo dục
1.3 QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.3.1 Khái niệm quản lý chi thường xuyên
Quản lý chi thường xuyên là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sử dụng các phương pháp và công cụ chuyên ngành để tác động đến quá trình chi NSNN nhằm đảm bảo các khoản chi NSNN được thực hiện theo đúng chế độ chính sách đã được nhà nước quy định, phục vụ tốt nhất việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ
Quản lý chi thường xuyên NSNN là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động chi thường xuyên NSNN, đảm bảo cho các khoản chi thường xuyên được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả
Theo cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước ở nước ta, quản lý chi thường
Trang 21xuyên NSNN được phân quyền cho hai cơ quan quản lý hành chính là cơ quan tài chính công (Bộ Tài chính; cơ quan tài chính địa phương) và Kho bạc nhà nước Cơ quan tài chính có nhiệm vụ quản lý quá trình phân bổ NSNN theo đúng mục đích và chế độ đã được nhà nước quy định Kho bạc nhà nước giám sát quá trình sử dụng thực tế NSNN nhằm đảm bảo việc sử dụng NSNN theo đúng chế độ hiện hành Trong khuôn khổ luận văn này, quản lý chi thường xuyên chỉ được xem xét trong phạm vi quyền hạn, chức năng của cơ quan quản lý tài chính công
Quản lý chi thường xuyên của cơ quan quản lý tài chính công được phân chia theo hai tuyến: Trung ương và địa phương Ở trung ương, Bộ Tài chính là đầu mối quản lý chi NSTW Ở địa phương, Sở Tài chính là đầu mối quản lý chi NSĐP có phân cấp ở mức độ nhất định cho các phòng tài chính cấp huyện và ban tài chính xã Tuy nhiên, do hệ thống NSNN ở Việt Nam được cấu trúc theo nguyên tắc thống nhất nên NSĐP và NSTW đều được Chính phủ phê duyệt (hàng năm hoặc giao ổn định 3-5 năm), được chế định trong một luật duy nhất, được chi tiêu theo chế độ chung
Đối tượng tác động của quản lý chi thường xuyên của các cơ quan tài chính công là quá trình phân bổ và sử dụng các khoản chi của NSNN hàng năm Quá trình phân bổ các khoản chi thường xuyên được thực hiện theo quy trình 2 bước: lập danh mục các nhiệm vụ cần chi NSNN và phân bổ NSNN theo tiến độ thực hiện nhiệm vụ đã được duyệt Quá trình sử dụng NSNN bao gồm các hoạt động tiêu dùng tiền NSNN trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được tài trợ bằng NSNN
Thực chất của quản lý chi thường xuyên là giám sát quá trình xác định các nhiệm vụ cần chi NSNN, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa các khoản chi cho các nhiệm vụ đó và giám sát quá trình sử dụng thực tế NSNN Để làm việc này, cơ quan quản lý tài chính công thực hiện có hệ thống các biện pháp và công cụ đặc thù như mục lục ngân sách, định mức, chế độ chi NSNN, dự toán NSNN, quyết toán NSNN…
Mục tiêu của quản lý chi thường xuyên NSNN là đảm bảo việc sử dụng NSNN tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế, đúng chính sách, chế
độ của Nhà nước, tạo tiền đề vật chất để Nhà nước thực hiện tốt các chức năng
Trang 22nhiệm vụ của mình trong từng thời kỳ
1.3.2 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo trên địa bàn cấp tỉnh
Chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo là một bộ phận của chi thường xuyên NSNN Vì vậy, quản lý chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo cần quán triệt các nguyên tắc quản lý chi thường xuyên NSNN nói chung, cụ thể:
- Nguyên tắc quản lý theo dự toán
Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách Lập dự toán sẽ giúp chủ thể quản lý chủ động trong phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính Đối với chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo, lập dự toán còn là căn
cứ quan trọng để quản lý và kiểm soát các khoản chi trong quá trình điều hành ngân sách Ngoài ra, quản lý theo dự toán cũng là cơ sở để đảm bảo cân đối ngân sách, tạo điều kiện chấp hành ngân sách Tuy nhiên, để nguyên tắc này phát huy tác dụng thì việc lập dự toán từ các đơn vị, cơ sở giáo dục đào tạo thụ hưởng ngân sách phải khoa học, định mức và chính sách chế độ phải phù hợp với từng nhiệm vụ chi
- Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, đòi hỏi tất cả các khoản chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo đều phải được thực hiện theo đúng định mức, đúng kế hoạch Các khoản chi đều phải được ghi sổ đầy đủ vào kế hoạch chi thường xuyên và được quyết toán rành mạch Nguyên tắc này được đưa ra nhằm hạn chế tình trạng để ngoài ngân sách của các khoản chi thuộc ngân sách nhà nước, dẫn đến tình trạng lãng phí trong sử dung vốn NSNN
- Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả
Hiệu quả là yêu cầu của mọi quá trình quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính Tính hiệu quả xuất phát từ thực tế nguồn lực tài chính nói chung, nguồn kinh phí chi thường xuyên cho lĩnh vực giáo dục đào tạo nói riêng có giới hạn, nên việc phân bổ và sử dụng cần đảm bảo nguyên tắc hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Để nguyên tắc này được tôn trọng, quản lý chi thường xuyên
Trang 23của NSNN cho ngành phải làm tốt một số nội dung sau:
+ Phải xây dựng định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời phải có tính thực tiễn
+ Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị hoặc phù hợp với yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi
+ Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo các nhóm mục chi sao cho tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành
và đạt chất lượng cao
+ Khi đánh giá tính hiệu quả của chi thường xuyên cho ngành giáo dục và đào tạo phải có quan điểm toàn diện Phải xem xét mức độ ảnh hưởng của khoản chi trong việc nâng cao chất lượng dạy và học ở mọi cấp học, bậc học, ngành học
- Nguyên tắc công khai
Nguyên tắc này được thể hiện suốt trong chu trình NSNN (lập, chấp hành
và quyết toán NSNN) và phải được áp dụng cho các cơ quan tham gia vào chu trình NSNN Việc chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo phải được công khai
để mọi người biết Nguyên tắc này xuất phát từ những lý do: Giáo dục đào tạo
là lĩnh vực nhạy cảm, có liên quan đến lợi ích của toàn dân Hơn nữa, nguồn tài chính chi cho nhiệm vụ này được thực hiện phần lớn bằng nguồn vốn NSNN - một nguồn vốn được đóng góp chủ yếu bởi nhân dân, do đó việc công khai các khoản chi để mọi người dân được biết là một nguyên tắc không thể thiếu
- Nguyên tắc cân đối ngân sách
Cân đối ngân sách được hiểu là các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã
có đủ các nguồn thu bù đắp Việc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi: chỉ những khoản chi nào đã có trong dự toán chi NSNN đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì mới được phép chi Nguyên tắc này cũng đòi hỏi trong quá trình điều hành ngân sách nếu thu không đủ bù đắp các khoản chi thì cơ quan tài
Trang 24chính phải trình cấp có thẩm quyền cắt giảm những khoản chi phù hợp cân đối ngân sách
- Nguyên tắc đảm bảo sự tự chủ về tài chính của các đơn vị sử dụng ngân sách
Ngày 25/4/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nhằm trao quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm
vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu cho người lao động Lĩnh vực giáo dục, đào tạo chịu tác động của Nghị định này Theo quy định tại Nghị định trên, các trường học, các cơ sở giáo dục - đào tạo phải chủ động xây dựng dự toán chi phù hợp với nhiệm vụ chi và chủ động sử dụng nguồn kinh phí đã được duyệt để thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ được giao
- Nguyên tắc đảm bảo chi trả trực tiếp qua Kho bạc nhà nước
Với chức năng quản lý quỹ ngân sách nhà nước, kho bạc nhà nước kiểm soát mọi khoản chi ngân sách và có quyền từ chối thanh toán các khoản chi không đúng quy định, không phù hợp với chế độ Hiện nay, các đơn vị dự toán phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước Mọi khoản thanh toán đều phải có duyệt chi từ kho bạc trước khi nguồn vốn ngân sách được thanh toán chi trả
1.3.3 Nội dung của quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Chi thường xuyên NSNN nói chung và cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói riêng có nội dung hết sức phong phú và phức tạp Nó được tiến hành cho nhiều đối tượng và bao gồm nhiều khoản chi có tính chất, đặc điểm khác nhau Vì vậy, muốn phát huy được hiệu quả các khoản chi đảm bảo tiết kiệm cho NSNN cần phải thực hiện tốt các nội dung quản lý chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo
Thực chất quản lý chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo là các hoạt động
và tổ chức các hoạt động phân phối NSNN, kiểm tra giám sát việc phân phối và sử
Trang 25dụng NSNN cho giáo dục và đào tạo theo đúng quy định của pháp luật
Công tác quản lý chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo trên cơ sở thực hiện từ lập dự toán đến chấp hành dự toán và quyết toán được thực hiện theo các quy định hiện hành, thể hiện trên các mặt:
Công tác lập dự toán được thực hiện xem xét đến việc xác định các chỉ tiêu trong dự toán theo nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch, phù hợp với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị, trên cơ sở đó sẽ đánh giá được hiệu quả chi phí hoạt động của đơn vị
Công tác chấp hành dự toán được thực hiện trên cơ sở dự toán ngân sách được giao, các đơn vị tổ chức thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu chi được giao đồng thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả
Công tác quyết toán là khâu cuối cùng trong việc tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ và là cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán và thực hiện hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách theo quy định
Căn cứ vào nội dung công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục
và đào tạo, nội dung quản lý chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu này được cụ thể hóa với các nội dung sau:
a Quản lý việc lập dự toán chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo
Lập dự toán chi là khâu khởi đầu và quan trọng trong quản lý chi NSNN, nó
có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả của khâu chấp hành, kế toán và quyết toán chi thường xuyên Khi lập dự toán cần dựa trên những căn cứ sau:
Một là, chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động sự
nghiệp trong từng giai đoạn nhất định Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi tài chính ở đơn vị có một cái nhìn tổng quát về những mục tiêu, nhiệm vụ mà đơn vị phải hướng tới trong năm, từ đó xác lập được các hình thức, phương pháp phân phối nguồn vốn vừa tiết kiệm, vừa đạt hiệu quả cao
Trang 26Hai là, dựa vào các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các
chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi NSNN kỳ kế hoạch cho các đơn vị giáo dục Đây chính là việc cụ thể hóa các chủ trương của Nhà nước trong từng giai đoạn thành các chỉ tiêu cho kỳ kế hoạch Khi dựa trên căn cứ này để xây dựng
dự toán chi phải thẩm tra, phân tích tính đúng đắn, hiện thực, tính hiệu quả của các chỉ tiêu thuộc kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó có kiến nghị điều chỉnh lại các chỉ tiêu kế hoạch cho phù hợp
Ba là, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu
thường xuyên kỳ kế hoạch Muốn dự đoán được khả năng này, đơn vị giáo dục phải dựa vào cơ cấu thu NSNN kỳ báo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu kỳ kế hoạch, từ đó thiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi NSNN
Bốn là, kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí chi
NSNN kỳ báo cáo sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập dự toán
Quy trình lập dự toán chi cho giáo dục và đào tạo được tiến hành theo các bước cơ bản sau:
Căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu, chi NSNN kỳ kế hoạch để xác định các
định mức chi tiêu tổng hợp dự kiến ngân sách sẽ phân bổ cho mỗi đối tượng Trên
cơ sở đó hướng dẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí Bước này còn được gọi là xác định và giao số kiểm tra từ cơ quan tài chính hoặc cơ quan chủ quản cho đơn vị
Dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí, các đơn vị
dự toán tiến hành lập dự toán kinh phí của mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc
cơ quan tài chính Căn cứ vào mức độ phân cấp về chi thường xuyên, cơ quan tài chính ở mỗi cấp có nhiệm vụ xét duyệt, tổng hợp dự toán kinh phí các đơn vị trực thuộc để hình thành dự toán chi ngân sách trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt
Căn cứ vào dự toán chi thường xuyên đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ chính thức phân
bổ dự toán chi thường xuyên cho mỗi đơn vị
Trang 27Lập kế hoạch, dự toán là khâu mở đầu của một chu trình quản lý tài chính và đây là căn cứ quan trọng cho việc thực hiện và kiểm soát thu, chi, đảm bảo cân đối các nguồn kinh phí, thực hiện chấp hành NSNN
Công tác lập kế hoạch, dự toán thu – chi gồm: Kế hoạch, dự toán thu chi hàng năm và dự toán quý, tháng Các đơn vị sẽ tiến hành lập kế hoạch, dự toán theo biểu mẫu quy định hiện hành kèm theo thuyết minh cơ sở tính toán chi tiết từng nội dung và nhiệm vụ chi của đơn vị và với tất cả các nguồn kinh phí, trong đó khâu lập
dự toán thu chi hàng năm là trọng tâm, quan trọng nhất
Dự toán chi được lập trên cơ sở đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao, khả năng kinh phí và xây dựng theo nguồn tài chính Cụ thể:
Đối với chi thường xuyên, các đơn vị sẽ tiến hành lập dự toán chi trên cơ sở
các tiêu chuẩn định mức chi tiêu, mức chi kỳ trước và dự kiến sự biến động kỳ kế
hoạch
Các đơn vị lập, gửi dự toán thu – chi cho Sở Tài chính để xét duyệt, trình UBND tỉnh, tổng hợp gửi Bộ Tài chính Sau khi thẩm tra, tổ chức thảo luận ngân sách với các Bộ ngành, Bộ Tài chính sẽ tổng hợp, báo cáo Chính phủ và trình Quốc hội phê duyệt, sau đó trên cơ sở phê duyệt của Quốc hội sẽ thông báo kinh phí hàng năm cho các Bộ ngành chủ quản Các Bộ ngành có trách nhiệm phân bổ cho các đơn vị dự toán trực thuộc Các đơn vị sẽ gửi dự toán cho Kho bạc để theo dõi, kiểm soát chi theo hình thức cấp phát hoặc rút dự toán của đơn vị
Trong quá trình lập dự toán, các đơn vị phải đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, tập trung cho các nhiệm vụ trọng tâm và phải có sắp xếp theo thứ
Trang 28- Dựa vào định mức chi được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán: Đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong chấp hành dự toán chi
- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi thường xuyên trong mỗi kỳ báo cáo: Chi thường xuyên của NSNN luôn bị giới hạn bởi khả năng huy động của các nguồn thu Mặc dù các khoản chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán nhưng khi số thu không đảm bảo vẫn phải cắt giảm một phần nhu cầu chi tiêu Đây là một trong những giải pháp thiết lập lại sự cân đối giữa thu và chi NSNN trong quá trình chấp hành dự toán
- Dựa vào các chế độ, chính sách chi NSNN hiện hành: Đây là căn cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên, bởi lẽ tính hợp lý của các khoản chi sẽ được xem xét dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ của Nhà nước đang có hiệu lực thi hành Để làm được điều đó các chính sách, chế độ phải phù hợp với thực tiễn
Để đạt được mục tiêu cơ bản của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên, đơn vị phải đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng nguồn vốn hợp lý, tiết kiệm, thông qua áp dụng các biện pháp sau:
- Trên cơ sở dự toán chi ngân sách đã được duyệt và các chế độ, chính sách hiện hành, cơ quan chức năng phải hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho các đơn vị thi hành
- Tổ chức các hình thức cấp phát vốn thích hợp với mỗi loại hình đơn vị, mỗi loại hoạt động và nguồn kinh phí hoạt động, trên cơ sở đó quy định rõ trình tự cấp phát nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thống nhất thực hiện
- Hướng dẫn các đơn vị thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị, sao cho sự hình thành nguồn kinh phí và sử dụng kinh phí phải được hạch toán đúng, đủ, chính xác và kịp thời Trên cơ sở đó đảm bảo việc quyết toán kinh phí được nhanh, chính xác, đồng thời cung cấp các tài liệu có tính chuẩn mực cao cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt
- Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho nhu cầu chi NSNN để có biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm thiết lập lại thế
Trang 29thế cân đối mới trong qua trình chấp hành dự toán
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình nhận và sử dụng kinh phí tại mỗi đơn vị sao cho mỗi khoản chi tiêu đảm bảo theo dự toán, đúng định mức tiêu chuẩn của Nhà nước, góp phần nâng cao tính tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý chi ngân sách
Trên cơ sở dự toán chi được phê duyệt và tiêu chuẩn, định mức chi tiêu theo quy định, các đơn vị tổ chức chấp hành để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao,
cụ thể:
Căn cứ vào dự toán được giao, các đơn vị lập kế hoạch chi gửi Sở Tài chính
và KBNN nơi giao dịch để được cấp phát kinh phí
Trên cơ sở kế hoạch chi được duyệt, thủ trưởng đơn vị sẽ ra lệnh chuẩn chi Mọi khoản chi được thực hiện qua KBNN cho các đối tượng thụ hưởng
Các đơn vị được quyền chủ động điều chỉnh dự toán chi giữa các mục chi trong từng nhóm mục chi trong quá trình thực hiện nhưng phải gửi cơ quan chủ quản và KBNN để theo dõi, quản lý
Trong quá trình thực hiện các đơn vị phải đảm bảo sử dụng kinh phí đúng mục đích, triệt để tiết kiệm để nâng cao hiệu quả kinh tế các khoản chi Đồng thời phải thường xuyên thực hiện kiểm tra, tự kiểm tra trong đơn vị mình và đơn vị trực thuộc để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, điều chỉnh các khoản chi sai, không đúng đối tượng, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu
Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí tiết kiệm, có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý
Đối với nội dung chi thuộc phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (chi quản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên) đã có chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định (trừ một số tiêu chuẩn, định mức và nội dung chi
Trang 30quy định phải thực hiện như đã nêu trên), Thủ trưởng đơn vị có quyền quyết định trong các trường hợp cụ thể:
Đối với đơn vị do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động:
Thủ trưởng đơn vị quyết định mức chi không vượt quá mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
Đối với những nội dung chi, mức chi cần thiết cho hoạt động của đơn vị, trong phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, nhưng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành, thì Thủ trưởng đơn vị có thể xây dựng mức chi cho từng nhiệm vụ, nội dung công việc trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị
Mặt khác, căn cứ tính chất công việc, khối lượng sử dụng, tình hình thực hiện năm trước, Thủ trưởng đơn vị quyết định phương thức khoán chi phí cho từng
cá nhân, bộ phận, đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc sử dụng như: sử dụng văn phòng phẩm, điện thoại, xăng xe, điện, nước, công tác phí; kinh phí tiết kiệm do thực hiện khoán được xác định chênh lệch thu, chi và được phân phối, sử dụng theo chế độ quy định
Đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo không được dùng kinh phí của đơn vị
để mua sắm thiết bị, đồ dùng, tài sản trang bị tại nhà riêng hoặc cho cá nhân mượn dưới bất kỳ hình thức nào (trừ điện thoại công vụ tại nhà riêng theo chế độ quy định)
Quy chế chi tiêu nội bộ phải được thảo luận rộng rãi, dân chủ, công khai trong đơn vị, có ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn, được ban hành thành văn bản và gửi cho cơ quan quản lý cấp trên, Kho bạc nhà nước để làm căn cứ kiểm soát chi
Quy định hiện hành của Nhà nước đối với một số khoản chi chủ yếu như sau:
* Tiền lương, tiền công và thu nhập
Đối với những hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao, chi phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt là người lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định;
Trang 31Đối với những hoạt động cung cấp sản phẩm do Nhà nước đặt hàng có đơn giá tiền lương trong đơn giá sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đơn
vị tính theo đơn giá tiền lương quy định Trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan
có thẩm quyền quy định đơn giá tiền lương, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ
do Nhà nước quy định;
Đối với những hoạt động dịch vụ có hạch toán chi phí riêng, thì chi phí tiền lương, tiền công cho người lao động được áp dụng theo chế độ tiền lương trong doanh nghiệp Nhà nước Trường hợp không hạch toán riêng chi phí, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định
Nhà nước khuyến khích đơn vị tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước; tuỳ theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị, trong đó:
Đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động, thì căn cứ kết quả tài chính, số kinh phí tiết kiệm được; đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định
Quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ làm cơ sở để tính tổng thu nhập tăng thêm trong năm của đơn vị bao gồm: Tiền lương ngạch bậc và phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của người lao động trong đơn vị (lao động trong biên chế và lao động hợp đồng từ 1 năm trở lên) và mức tiền lương tối thiểu chung
do Chính phủ quy định; Tiền lương tăng thêm của người lao động do nâng bậc theo niên hạn hoặc nâng bậc trước thời hạn (nếu có) Quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm của đơn vị không bao gồm khoản tiền công trả theo hợp đồng vụ việc
Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị chi trả thu nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Trang 32Khi Nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu; khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ Nhà nước quy định (gọi tắt là tiền lương tăng thêm theo chế độ Nhà nước quy định) do đơn vị tự đảm bảo từ các khoản thu sự nghiệp và các khoản khác theo quy định của Chính phủ
Trường hợp sau khi đã sử dụng các nguồn trên nhưng vẫn không bảo đảm đủ tiền lương tăng thêm theo chế độ Nhà nước quy định, phần còn thiếu sẽ được NSNN xem xét, bổ sung để đảm bảo mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ
Đơn vị không được chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ từ các nguồn kinh phí quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP gồm: kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; kinh phí thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định; vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm; kinh phí khác (nếu có)
và kinh phí của nhiệm vụ phải chuyển tiếp sang năm sau thực hiện
Về việc đóng và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của người lao động trong các đơn vị được thực hiện theo quy định hiện hành
* Chi trả công tác phí và chi tiêu hội nghị
Đơn vị được phép quy định mức chi về công tác phí cho cán bộ viên chức đi công tác trong nước không được vượt quá mức quy định của Nhà nước và cũng chỉ được giới hạn trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị có thể cân đối được Các khoản chi công tác phí bao gồm: Phụ cấp công tác phí; Tiền thuê chỗ ở tại nơi đến công tác (có thể khoán chi cho cán bộ đi công tác); Tiêu chuẩn phương tiện tàu xe cán bộ sử dụng đi công tác
Đối với chế độ chi tiêu hội nghị, trên cơ sở quy định hiện hành, đơn vị được phép tự xây dựng quy chế chi tiêu hội nghị phù hợp với tính chất của hội nghị và
Trang 33khả năng nguồn tài chính của đơn vị Mức chi tiêu có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước
* Chi phí sử dụng điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động:
Về tiêu chuẩn trang bị điện thoại và chi phí mua máy điện thoại, chi phí lắp đặt và hoà mạng, các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện theo quy định tại Quyết định số 179/2002/QĐ-TTg ngày 16/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động đối với cán bộ lãnh đạo trong cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội
Về mức thanh toán tiền cước phí sử dụng điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động hàng tháng, đơn vị thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 29/2003/TT-BTC ngày 14/4/2003 của Bộ Tài chính
Đối với những trường hợp không đủ tiêu chuẩn trang bị điện thoại cố định tại nhà riêng và điện thoại di động theo quy định trên, nhưng trong thực tế xét thấy cần thiết phải trang bị phục vụ công việc thì thủ trưởng đơn vị được quyền mở rộng đối tượng được thanh toán tiền cước phí sử dụng điện thoại cho phù hợp (riêng tiền mua máy, chi phí lắp đặt và hoà mạng do cá nhân phải tự thanh toán) Mức thanh toán tiền cước sử dụng điện thoại tối đa không quá 200.000đồng/máy/tháng đối với điện thoại cố định tại nhà riêng và 400.000đồng/máy/tháng đối với điện thoại di động
* Trang bị, quản lý và sử dụng phương tiện thông tin điện thoại, máy fax tại
cơ quan đơn vị
Các đơn vị tự trang bị các phương tiện này theo nhu cầu và khả năng tài chính của đơn vị nhưng phải xây dựng quy chế quản lý, sử dụng các tài sản đó có hiệu quả và tiết kiệm
Đơn vị có thể xây dựng mức phân bổ sử dụng điện thoại theo tháng, quý cho từng phòng, ban Đối với các phòng, ban mới thành lập, thủ trưởng đơn vị căn cứ mức phân bổ của các phòng, ban tương ứng để xác định mức phân bổ cho phù hợp
* Về sử dụng văn phòng phẩm
Trang 34Chi mua văn phòng phẩm:
Lập dự trù chi tiết được thủ trưởng phê duyệt, tiến hành mua sắm, sử dụng
và thanh toán theo khối lượng công việc
Văn phòng phẩm phục vụ Ban lãnh đạo, phòng máy phô tô, phòng (ban) của đơn vị làm đầu mối căn cứ nhu cầu sử dụng lập dự toán được thủ trưởng phê duyệt Tiến hành mua, cấp phát trực tiếp, bộ phận sử dụng mở sổ theo dõi để dự trù cho đợt tiếp theo
Khoán văn phòng phẩm cho công chức, viên chức được cụ thể theo từng bộ phận trong đơn vị với nguyên tắc chi trả: Đối với văn phòng phẩm khoán cho cán bộ công chức, viên chức được thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào đầu mỗi quý Mỗi bộ phận lập danh sách cán bộ công chức, viên chức và làm đề nghị thanh toán
Chi mua sắm công cụ vật tư:
Căn cứ thực tế sử dụng dụng cụ, vật tư cho hoạt động chuyên môn, quản lý, phục vụ
do các bộ phận đề nghị, tiến hành lập dự toán và trình thủ trưởng phê duyệt, mua sắm, mở sổ theo dõi tình hình cấp phát sử dụng
* Chi phí nghiệp vụ thường xuyên
Chi nghiệp vụ thường xuyên của mỗi lĩnh vực có đặc điểm riêng, do đó tùy theo từng loại hình hoạt động mà xây dựng quy chế chi tiêu về nghiệp vụ chuyên môn cao hơn hoặc thấp hơn mức Nhà nước quy định cho phù hợp
c Quản lý việc thực hiện quyết toán chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo
Quyết toán chi thường xuyên là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý chi tài chính Đó là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra những kinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành
dự toán tiếp theo Bởi vậy, trong quá trình quyết toán các khoản chi ngân sách
phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
- Lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo chế độ quy định
Trang 35- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục NSNN quy định
- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của Kho bạc nhà nước đồng cấp và phải được cơ quan Kiểm toán Nhà nước kiểm toán
- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu
- Hàng quý, năm các đơn vị có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán gửi Sở Tài chính để thẩm tra, xét duyệt
- Đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc Các đơn vị dự toán cấp trên là đơn vị dự toán cấp I, phải tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm của đơn vị mình và báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc, gửi cơ quan Tài chính cùng cấp
- Cơ quan Tài chính cùng cấp thẩm định quyết toán năm của các đơn vị dự toán cấp I, xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý sai phạm trong quyết toán của đơn vị dự toán cấp I, ra thông báo thẩm định quyết toán gửi đơn vị dự toán cấp I Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan Tài chính duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp I
- Quyết toán thu chi sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải được thực hiện công khai theo quy định
Chỉ một khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết toán các khoản chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo mới tiến hành được thuận lợi Đồng thời, nó mới tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan
d Quản lý qua công tác thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo
Trang 36Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình nhận và sử dụng kinh phí NSNN ở các đơn vị giáo dục, đảm bảo chi theo đúng dự toán; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN theo quy định, kịp thời phát hiện và
xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, gây thất thoát lãng phí NSNN
Quá trình thực hiện chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục các đơn vị cần thực hiện:
- Bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả
Do thực tế nguồn lực tài chính luôn có hạn, nhưng nhu cầu chi thì thường lớn hơn rất nhiều, do đó trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính cần phải tính toán để sao cho với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả cao nhất, đó cũng chính là mục tiêu của quản lý tài chính
Dưới góc độ kinh tế thị trường, hoạt động quản lý tài chính không những phải góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao mà còn phải tính đến hiệu quả kinh tế; nghĩa là phải so sánh kết quả đạt được trên tất cả các mặt với chi phí đã bỏ ra Khi xem xét thực hiện các phương án mở rộng, tăng cường xã hội hoá, thực hiện liên doanh, liên kết trong lĩnh vực công, hay khi đưa ra một quyết định trong quản lý tài chính, dù ở cấp quản
lý nào cũng phải tính đến hiệu quả cả về mặt xã hội và kinh tế Có như vậy mới đảm bảo hài hoà các lợi ích, từ đó tạo động lực thúc đẩy phát triển cho toàn xã hội
Để thực hiện tốt yêu cầu này, trong quá trình quản lý và sử dụng nguồn kinh phí đòi hỏi:
+ Phải xây dựng được các tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời có tính thực tiễn cao
+ Phải lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao
- Tuân thủ chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu
Chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu trong lĩnh vực quản lý tài chính do Nhà nước ban hành được xây dựng trên những nguyên tắc nhất định, mang tính khoa học và có tính đến điều kiện khả năng ngân sách có thể đáp ứng, đồng thời là sự cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực này Chính vì vậy, việc chấp hành nghiêm các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức
Trang 37chi tiêu là yêu cầu đầu tiên để đảm bảo thực hiện nguyên tắc thống nhất và đảm bảo công bằng trong quản lý của Nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị
Mặt khác, các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu là căn cứ để hình thành cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan, đơn vị nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực tài chính Từ việc thực hiện cơ chế quản lý cho đến việc vận dụng các quy định cụ thể trong hoạt động tài chính, các đơn vị phải đảm bảo được tính hiệu quả trong phân bổ và sử dụng nguồn lực, không vi phạm kỷ luật tài chính
- Công khai, minh bạch
Trong công tác quản lý tài chính phải luôn thực hiện công khai, minh bạch
để đảm bảo sử dụng kinh phí hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí, tham ô, tham nhũng Công khai tài chính đồng thời cũng là biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng vốn, tài sản Nhà nước; huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm chế độ quản lý tài chính
Việc công khai tài chính theo qui định được thực hiện thông qua các hình thức: Công bố trong các kỳ họp thường niên của cơ quan, đơn vị; Phát hành ấn phẩm; Niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan, đơn vị; Thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan; Đưa lên trang thông tin điện tử; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc đối tượng được tiếp nhận thông tin công khai NSNN có quyền chất vấn cơ quan, tổ chức, đơn vị về các nội dung công khai Người có trách nhiệm thực hiện công khai phải trả lời chất vấn về các nội dung đã được công bố công khai Việc trả lời chất vấn phải được thực hiện bằng hình thức trả lời trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi tới người chất vấn, tuỳ theo hình thức chất vấn và nội dung chất vấn
- Quản lý chặt chẽ theo từng nguồn kinh phí và chi tiết theo từng nội dung chi
Để đảm bảo hoạt động, mỗi cơ quan đơn vị tuỳ từng loại hình mà có nhiều nguồn kinh phí khác nhau: nguồn NSNN cấp, nguồn thu từ phí, lệ phí, nguồn đi vay, nguồn tài trợ, viện trợ,…do vậy trong quản lý tài chính đòi hỏi phải chi tiết theo từng nguồn kinh phí sử dụng cho từng loại hình hoạt động nhằm đáp ứng được yêu
Trang 38cầu về cân đối thu chi nguồn tài chính, tạo điều kiện cho người quản lý điều hành được các hoạt động tài chính, hạn chế được sự lãnh phí, không hiệu quả trong quản
lý nguồn kinh phí
Trong quá trình thực hiện, do nội dung chi liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, mức chi được xác định theo từng đối tượng về quy mô, tính chất hoạt động, do
vậy đòi hỏi phải quản lý chi tiết theo từng nội dung chi cụ thể
1.3.4 Các tiêu chí đánh giá quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
* Tiêu chí về công tác quản lý tài chính
Chi thường xuyên NSNN nói chung, chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo nói riêng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, trình độ và quy mô của chính chi NSNN Nhưng điều quan trọng là hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chủ quan của những tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN trong quá trình thực hiện Để công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo đạt hiệu quả phải thực hiện các tiêu chí về công tác quản lý tài chính,
đó là:
+ Tiêu chí về quy mô đầu tư chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo: Đổi mới phương thức xây dựng và giao kế hoạch chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo, giúp ngành giáo dục chủ động sắp xếp, bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách phù hợp với trần ngân sách được nhà nước giao, đồng thời có giải pháp huy động thêm các nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ ưu tiên của ngành Nhà nước cam kết dành đầu tư thỏa đáng và ngày càng tăng cho giáo dục đào tạo, chi thường xuyên NSNN đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của ngành giáo dục theo sự chỉ đạo của Chính phủ
+ Tiêu chí về thực hiện chu trình quản lý ngân sách:
- Lập dự toán: Là khâu quan trọng của chu trình quản lý ngân sách, tạo cơ
sở, tiền đề cho các khâu tiếp theo Việc lập dự toán phải được tiến hành trên cơ
sở có đầy đủ căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, đảm bảo đúng tiến độ, thời
Trang 39gian quy định thì việc tổ chức thực hiện và quyết toán ngân sách mới có chất lượng, hiệu quả
- Chấp hành dự toán: Các đơn vị tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đào tạo trong nguồn kinh phí dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao Trong quá trình thực hiện, nếu có thay đổi so với dự toán đơn vị phải báo cáo
và được sự nhất trí của cơ quan có thẩm quyền trước khi thực hiện Kinh phí thực hiện phải đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả
- Công tác quyết toán: Hàng quý, năm các đơn vị phải lập báo cáo quyết toán theo thời gian, mẫu biểu quy định gửi cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính cùng cấp Báo cáo quyết toán của đơn vị phải phản ánh đầy đủ các hoạt động kinh
tế phát sinh, quyết toán theo đúng mục lục ngân sách nhà nước
+ Tiêu chí về thực hiện các quy định, định mức, tiêu chuẩn theo quy định: Các đơn vị thực hiện chi tiêu, thanh quyết toán theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước về tiêu chuẩn, định mức, chế độ như chi hội nghị, công tác phí, tiếp khách, phụ cấp ưu đãi, học bổng học sinh sinh viên, mức chi phục vụ các kỳ thi…
* Tiêu chí về quy mô và chất lượng giáo dục đào tạo
Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là khoản chi hết sức cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và chất lượng giáo dục đào tạo
Do đó để đánh giá hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo trên địa bàn phải đánh giá việc thực hiện các tiêu chí về đánh giá quy mô và chất lượng giáo dục đào tạo tại các đơn vị SNGD
Tiêu chí đánh giá quy mô và chất lượng giáo dục đào tạo là yêu cầu đối với các cơ sở giáo dục đào tạo với từng nội dung cụ thể:
- Tiêu chí về quy mô giáo dục đào tạo, bao gồm:
+ Tiêu chí về lớp học, số học sinh đến trường: Phát triển, mở rộng hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngay càng tăng của nhân dân ; Duy trì trẻ đi học đúng độ tuổi, nâng cao tỷ lệ huy động người học đến lớp
Trang 40+ Tiêu chí về cán bộ quản lý và giáo viên trong quá trình triển khai và thực hiện các hoạt động giáo dục đào tạo: Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến
+ Tiêu chí về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học: Cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị dạy và học của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng cường qua các năm Từng bước hiện đại hóa các phòng thí nghiệm, thư viện và công nghệ thông tin phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học; Tập trung đầu tư chiều sâu cho các trường trọng điểm
- Tiêu chí về chất lượng giáo dục đào tạo: Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên qua từng năm, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội; Các đơn vị phải thực hiện tốt đổi mới phương pháp phương pháp dạy học theo hướng phát huy tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; Hàng năm tăng về số lượng và chất lượng học sinh đoạt giải quốc gia, quốc tế…
Từ các chỉ tiêu đánh giá kết quả công tác quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã nêu cao được nhận thức, ý thức của các đơn vị sử dụng ngân sách từ đó quản lý và sử dụng ngân sách đúng hơn, tiết kiệm hơn
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
a Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời chính xác của các quyết định quản lý,
do đó nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung cũng như công tác quản lý tài chính nói riêng
Đối với các cơ quan quản lý cấp trên, nếu cán bộ quản lý tài chính có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sẽ đưa ra được những biện pháp quản lý phù hợp, xử lý thông tin quản lý kịp thời, chính xác làm cho hoạt động quản lý ngày