Đặc điểm Ngân hàng Phát triển Thứ nhất, hầu hết mọi ngân hàng phát triển tại các quốc gia đều được thành lập, bảo lãnh và chi phối bởi Chính phủ chính quốc gia đó; Thứ hai, các ngân hàn
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
HOÀNG THỊ MAI CHI Ngành: Quản trị kinh doanh
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Mai Anh
Viện: Kinh tế và Quản lý
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
HOÀNG THỊ MAI CHI Ngành: Quản trị kinh doanh
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Mai Anh
Viện: Kinh tế và Quản lý
Chữ ký của GVHD
HÀ NỘI, 11/2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Viện Sau Đại học – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt khóa học và trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý đã tận tình giảng dạy chỉ dẫn, cung cấp tài liệu và mang lại cho tôi những tri thức rất cần thiết và quý báu
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến ban lãnh Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã luôn giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được tham gia học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Mai Anh đã quan tâm hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và cán bộ các phòng ban chức năng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Sau cùng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả người thân trong gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG 5
1.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển 5
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Phát triển 5
1.1.2 Đặc điểm Ngân hàng Phát triển 5
1.1.3 Vai trò của Ngân hàng Phát triển 6
1.1.4 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển 7
1.2 Huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 12
1.2.1 Khái niệm huy động vốn 12
1.2.2 Mục tiêu huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 12
1.2.3 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 14
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 17
1.2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến kết quả huy động vốn của Ngân hàng Phát triển 20
1.3 Bài học kinh nghiệm của Ngân hàng Phát triển một số nước về huy động vốn……… 27
1.3.1 Ngân hàng Phát triển Nhật Bản 27
1.3.2 Ngân hàng Phát triển Trung Quốc 28
1.3.3 Ngân hàng Đầu tư Châu Âu EIB 28
Trang 51.3.4 Kinh nghiệm rút ra đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam về huy động
vốn……… 30
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 32
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Phát triển Việt Nam 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới chi nhánh 37
2.1.3 Kết quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong giai đoạn từ 2014 – 2018 40
2.2 Phân tích hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 42
2.2.1.Kết quả huy động vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 43
2.2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 54
2.3 Đánh giá thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 57
2.3.1 Ưu điểm 57
2.3.2 Nhược điểm 59
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẤY MẠNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 63
3.1 Định hướng phát triển và mục tiêu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam tới năm 2020 63
3.1.1 Định hướng phát triển 63
3.1.2 Mục tiêu phát triển 64
3.2 Các giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 65
3.2.1 Giải pháp đối với chính sách huy động vốn 66
3.2.2 Giải pháp đối với các hình thức huy động vốn 69
3.2.3 Giải pháp hỗ trợ 72
3.3 Kiến nghị 75
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 75
Trang 63.3.2 Kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước 78
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
12 Ngân hàng thương mại cổ phẩn Ngoại thương
Việt Nam
VCB
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Doanh số và dư nợ cho vay TDĐT 39 Bảng 2.2: Doanh số và dư nợ cho vay TDXK 40 Bảng 2.3: Doanh số và dư nợ cho vay lại ODA, vốn ủy thác và cho vay khác 41 Bảng 2.4: Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động 45 Bảng 2.5: Doanh số vốn huy động……… 47 Bảng 2.6: Cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (theo hình thức huy động) 49 Bảng 2.7: Cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (theo kỳ hạn huy động) 51 Bảng 2.8: Lãi suất huy động vốn bình quân năm 53 Bảng 2.9: So sánh với lãi suất huy động vốn bình quân năm của các Ngân hàng thương mại 59 Bảng 3.1: Các mục tiêu cụ thể đến năm 2020………64
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 34
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 10Biểu đồ 2.1: Khối lượng vốn huy động 45 Biểu đồ 2.2: Mức độ tăng trưởng nguồn vốn huy động 46 Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động 48 Biểu đồ 2.4: Cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (theo hình thức huy động) 49 Biểu đồ 2.5: Cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (theo kỳ hạn huy động) 51
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình phát triển và ngày càng hội nhập nhanh, toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội hướng tới năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp Ngày 28/2/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 369/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển NHPT VN đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030 Trong đó, mục tiêu tổng quát là tiếp tục củng cố và phát triển NHPT VN là ngân hàng chính sách của chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận theo hướng bền vững, hiệu quả, đảm bảo đủ năng lực để thực hiện chính sách TDĐT, TDXK của Nhà nước và các nhiệm vụ khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, góp phần thực hiện chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, thách thức đặt ra đối với NHPT VN phải có cách thức huy động vốn phù hợp, hiệu quả để đảm bảo có
đủ vốn cung cấp cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, hoạt động của NHPT VN đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao kim ngạch xuất khẩu; nhiều dự án, chương trình đã phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế -xã hội trên phạm vi cả nước
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động huy động vốn của NHPT VN còn nhiều hạn chế đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam còn nhiều khó khăn và sự cạnh tranh mạnh mẽ của các tổ chức tài chính khác NHPT
VN cần thiết phải có biện pháp huy động vốn hiệu quả để đáp ứng mục tiêu tăng
trưởng tín dụng trong từng thời kỳ Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Giải
pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong hoạt động ngân hàng, vốn là điều kiện tiên quyết, là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Thực tế tại các ngân hàng hiện nay, thì vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn, còn lại chủ yếu là vốn huy động
Do vậy, huy động vốn là điều kiện đầu tiên, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và
Trang 12phát triển của mỗi ngân hàng và thực tiễn cho thấy cạnh tranh trên lĩnh vực huy động vốn ngày càng trở thành cuộc cạnh tranh nóng bỏng và gay gắt giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường Xuất phát từ thực tiễn trên, trong thời gian qua vấn
đề về vốn và huy động vốn của các tổ chức tín dụng đã được rất nhiều tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu trong một số vấn đề khoa học, trong các công trình nghiên cứu sinh và một số bài bình luận trên các tạp chí khoa học như:
- Nguyễn Thị Lan Phương, 2010 “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại
Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam” Luận văn thạc sỹ,
Trường Đại học Ngoại thương Bài viết đã cung cấp cơ sở lý luận đầy đủ trong hoạt động huy động vốn tại NHTM Qua đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn và hiệu quả của các biện pháp huy động vốn đã áp dụng tại VCB từ đó đưa
ra các kiến nghị với ngân hàng, với các cơ quan quản lý Nhà nước để tăng cường hoạt động huy động vốn tại VCB Tuy nhiên, cở sở lý luận của đề tài về hoạt động huy động vốn của các NHTM, chưa nhắc đến hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng chính sách của Nhà nước như Ngân hàng Phát triển
- Nguyễn Quỳnh Nga, 2014 “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội, chi nhánh Hoàn Kiếm” Luận văn thạc
sỹ, Trường Đại học Ngoại thương Bài viết đã chỉ ra được cơ sở lý luận trong hoạt động huy động vốn tại các NHTM Bên cạnh đó sử dụng bảng số liệu thống
kê thực trạng huy động vốn tại Chi nhánh Từ đó đánh giá, phân tích những kết quả đạt được, tồn tại, nguyên nhân để có các kiến nghị đối với Chi nhánh và Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội, với Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, bài viết nghiên cứu ở cấp độ Chi nhánh nên các giải pháp đưa ra chỉ ở mức
độ kiến nghị trong nội bộ mà chưa có các giải pháp kiến nghị với các bộ, ngành
để thúc đẩy hoạt động tập trung vốn trong toàn nền kinh tế
- Nhóm nghiên cứu Ngân hàng Chính sách xã hội, 2017 “Giải pháp tăng
cường công tác huy động vốn trong hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội” Đề
tài nghiên cứu cấp ngành Bài viết đã chỉ ra những khái niệm cơ bản về huy động vốn nói chung và đặc thù hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội nói riêng về hình thức huy động vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường huy
Trang 13động vốn với đặc thù hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Như vậy, bài viết mới chỉ có tính thực tiễn với hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Các công trình nghiên cứu trên đây đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác huy động vốn tại các ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam Tuy nhiên, Ngân hàng Phát triển Việt Nam với đặc thù là một ngân hàng chính sách, có cơ chế hoạt động đặc thù theo quy định của Chính phủ Bên cạnh đó, sự cạnh tranh trong huy động vốn trên thị trường ngày càng khó khăn thì việc làm thế nào để tăng cường nguồn vốn đáp ứng nhu cầu của Ngân hàng phát triển Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chưa có công trình nào thực sự giải đáp được
Dựa trên sự kế thừa các nghiên cứu trước đây, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu
bổ sung đầy đủ cả lý luận và thực tiễn để đánh giá thực trạng huy động vốn và đề xuất giải pháp huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong thời gian tới
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Mục tiêu của đề tài là đánh giá thực trạng huy động vốn
của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, trên cơ sở đó nhằm tìm kiếm và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn của NHPT VN
Trang 14- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động huy động vốn của
NHPT VN thông qua 03 hình thức huy động chính: phát hành TPCP, huy động tiền gửi, đi vay Tác giả sử dụng số liệu hoạt động huy động vốn của NHPT VN trong giai đoạn năm 2014- 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, thu thập qua các
quy trình quy định, các báo cáo nguồn vốn, báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, tài liệu giáo trình, các báo cáo nghiên cứu và tạp chí
chuyên ngành có liên quan
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Phương pháp chọn mẫu; Phương pháp quan sát
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để xử lý thông tin thu thập được
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo; nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển
- Chương 2: Phân tích hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
- Chương 3: Đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
PHÁT TRIỂN 1.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Phát triển
Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính gắn liền với quá trình phát triển kinh tế Các NHTM, ngân hàng đầu tư, các tổ chức tài chính phi ngân hàng như quỹ đầu tư, công ty tài chính… đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thu hút tiết kiệm và tài trợ cho phát triển, hạn chế rủi ro và tăng khả năng sinh lời Phần lớn các trung gian tài chính hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích tài chính của chủ sở hữu Song, có một số tổ chức hoạt động với các mục tiêu và đối tượng phục vụ đặc biệt, hướng tới lợi ích kinh tế - xã hội, các tổ chức tài chính này được gọi chung là: “Các công ty tài chính phát triển” NHPT cũng
là một tổ chức tài chính như vậy
NHPT được xem là một tổ chức tài chính phát triển, thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách TDĐT và chính sách TDXK thông qua các khoản cho vay để tài trợ cho các dự án phát triển, góp phần ổn định nền kinh tế Chính phủ sử dụng NHPT để thực hiện hỗ trợ tài chính cho đầu tư phát triển kinh
tế xã hội qua các khoản tín dụng có ưu đãi, thể hiện ở quy mô vốn hỗ trợ, tài sản đảm bảo tiền vay và thời hạn cho vay, lãi suất cho vay (Phan Thị Thu Hà, 2005)
1.1.2 Đặc điểm Ngân hàng Phát triển
Thứ nhất, hầu hết mọi ngân hàng phát triển tại các quốc gia đều được thành lập, bảo lãnh và chi phối bởi Chính phủ chính quốc gia đó;
Thứ hai, các ngân hàng phát triển thực hiện huy động vốn chủ yếu thông qua các chương trình được Chính phủ bảo lãnh;
Thứ ba, về hoạt động cho vay, do mục đích của tổ chức tài chính phát triển là phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời
kỳ, do đó đối tượng hỗ trợ của tổ chức này luôn gắn chặt với đối tượng ưu tiên khuyến khích phát triển của Chính phủ theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia;
Thứ tư, các ngân hàng phát triển được Chính phủ ưu đãi trong một số lĩnh vực;
Trang 16Thứ năm, ngân hàng phát triển là một tổ chức tài chính phát triển với nhiệm vụ chính là góp phần thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế
xã hội của quốc gia
1.1.3 Vai trò của Ngân hàng Phát triển
Từ những đặc điểm nói trên, NHPT có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội:
Một là, NHPT là tổ chức kinh tế có nhiệm vụ tập trung các nguồn vốn
trung và dài hạn để đầu tư có trọng điểm và ưu đãi cho các dự án phát triển Mục đích trên hết của việc tài trợ dự án đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững,
vì lợi ích quốc gia và cộng đồng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội
Vai trò này của NHPT được thể hiện thông qua :
• Các mục tiêu phát triển mà ngân hàng theo đuổi: Hoạt động chính của NHPT là tài trợ cho các dự án phát triển nhằm phát triển công nghiệp và nông nghiệp Thông qua cho vay trung và dài hạn, ngân hàng khuyến khích phát triển
cơ sở hạ tầng, phát triển doanh nghiệp, thay đổi cơ cấu thu nhập và cơ cấu kinh tế…
• Các dự án mà ngân hàng tài trợ: NHPT tài trợ cho các dự án có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của vùng, ngành hoặc liên quan đến phân phối thu nhập cho các tầng lớp dân cư nghèo, cải thiện môi trường… kết hợp với mục tiêu tài chính và các mục tiêu xã hội khác
• Các nghiệp vụ chính mà NHPT thực hiện :
• Tìm kiếm các dự án theo định hướng của Chính phủ
• Phân tích, thẩm định các dự án, tính toán các mục tiêu xã hội bên cạnh mục tiêu kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển
• Tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức tài chính khác
Hai là, NHPT góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý nguồn vốn đầu tư
của Nhà nước dành cho phát triển kinh tế- xã hội thông qua việc khuyến khích và duy trì hiệu quả kinh tế của các dự án
NHPT về cơ bản là một tổ chức tín dụng, hoạt động trên cơ sở lấy thu bù chi và có lãi, dựa trên tính chất này mà ngân hàng được phân biệt với các tổ chức
Trang 17quản lý và hành chính khác Ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua tài trợ cho các dự án, có nghĩa là thu từ dự án phải đủ bù đắp chi phí của ngân hàng và có thặng dư thích hợp Các khoản tài trợ của ngân hàng tuân thủ nguyên tắc cơ bản của độ tín dụng ngân hàng: người vay phải hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian Để thực hiện được nguyên tắc này, ngân hàng phải tìm kiếm các dự án có hiệu quả kinh tế, quản lý chặt chẽ việc sử dụng vốn của dự án, có biện pháp phòng ngừa rủi ro… qua đó, ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả tài chính của các chủ đầu tư
Ba là, NHPT hỗ trợ các doanh nghiệp và các vùng thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chiến lược tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển kinh tế Một trong những yêu cầu phát triển kinh tế có hiệu quả của các nước đang phát triển là công nghệ phải phù hợp với tăng trưởng kinh
tế Trong điều kiện công nghệ còn lạc hậu, nguồn vốn khan hiếm, để phát triển nhanh chóng rất cần phải tập trung các nguồn lực phát triển công nghệ vào một
số đầu mối chính nhằm đầu tư cho các loại hình công nghệ chủ lực phù hợp với điều kiện của đất nước NHPT được sử dụng như là thể chế phát triển về công nghệ khi tài trợ dự án thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án phát triển sản phẩm mới, hoặc ứng dụng công nghệ mới Vai trò này thể hiện:
- Khi dự án cần thiết bị và công nghệ, NHPT có thể phục vụ bằng cách cho vay để nhập thiết bị và công nghệ;
- Ngân hàng có khả năng đánh giá công nghệ không chỉ là xu hướng phát triển công nghệ trong nước và trên thế giới mà còn gợi ý những khả năng thay thế phù hợp với hoàn cảnh địa phương;
- Ngân hàng giúp chủ đầu tư nhập công nghệ mà họ có khả năng vận hành, duy trì và sửa chữa;
- NHPT còn được sử dụng để phát triển các vùng trọng điểm hoặc các vùng còn lạc hậu thông qua cho vay trung và dài hạn các dự án cải tạo và phát triển giao thông, điện nước…
1.1.4 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển
1.1.4.1 Huy động vốn
Trang 18Huy động vốn là một hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các ngân hàng Đối với NHPT việc huy động vốn còn quan trọng hơn với yêu cầu huy động được các nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất bình quân thấp trong các điều kiện cạnh tranh với các tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng, ổn định vĩ mô kém bền vững và khả năng tích luỹ trung và dài hạn của dân cư thấp
Yêu cầu với nguồn vốn huy động của NHPT là phải đảm bảo mối liên hệ về
kỳ hạn và lãi suất Quy mô của nguồn vốn liên quan đến quy mô của các dự án mà ngân hàng tài trợ và quy mô tăng lợi nhuận Lãi suất và kỳ hạn của nguồn bị tác động bởi kỳ hạn và khả năng sinh lời của dự án được tài trợ
Ngoài ra, với hoạt động chủ yếu là tài trợ cho các dự án trung và dài hạn
có khả năng sinh lời thấp hoặc rủi ro cao, yêu cầu đặt ra cho NHPT là phải có nguồn vốn hỗn hợp với lãi suất bình quân tương đối thấp, thời gian sử dụng vốn dài và chấp nhận rủi ro Trong điều kiện thị trường vốn trung, dài hạn kém phát triển, khả năng tích luỹ của nền kinh tế thấp, để thực hiện yêu cầu trên đòi hỏi phải kết hợp nỗ lực của NHPT và các điều kiện kinh tế, pháp luật phù hợp
Để thực hiện gia tăng nguồn vốn, NHPT có thể sử dụng những hình thức huy động vốn như: Huy động vốn từ Chính phủ; Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh qua thị trường vốn; Huy động từ các quỹ của Nhà nước; Huy động
từ các khoản tài trợ từ tổ chức khác; Vay nước ngoài (vay song phương, đa phương hoặc các tổ chức tài chính phát triển); Nhận tiền gửi
Tìm kiếm và thực hiện các biện pháp gia tăng quy mô nguồn vốn với lãi suất thấp, kỳ hạn dài, ổn định là điều kiện sống còn của NHPT Chiến lược nguồn vốn của ngân hàng là khai thác triệt để các nguồn hỗ trợ từ Chính phủ, các tổ chức tài chính, tiết kiệm trung và dài hạn của dân cư Đồng thời, để đảm bảo mức sinh lời hợp lý, ngân hàng duy trì tài sản thanh khoản ở mức rất thấp Hơn nữa do yêu cầu cho vay các dự án từ 10-20-30 năm trong khi nguồn vốn huy động với kỳ hạn ngắn (5-10 năm), ngân hàng phải thực hiện một kỹ thuật quan trọng là chuyển hoán các nguồn tiền từ các kỳ hạn ngắn sang kỳ hạn dài hơn Do vậy, quản lý nguồn vốn bao gồm tính toán chi phí huy động nhằm đảm bảo nguyên tắc kinh doanh có lãi và quản lý thanh khoản với đặc trưng là quản lý nợ với nội dung chính là xác định thị trường nợ của ngân hàng trong mối tương quan cạnh tranh với các ngân hàng khác
Trang 191.1.4.2 Hoạt động hỗ trợ phát triển
Vốn đầu tư tín dụng có rủi ro cao, thời hạn cho vay dài, lãi suất thấp, điều kiện tài trợ ưu đãi nên có khả năng gây ra lãng phí trong sử dụng nguồn lực Lãi suất cho vay thấp sẽ dẫn đến lãi suất huy động tiết kiệm thấp hoặc cấp bù lãi suất
và như vậy có khả năng làm triệt tiêu nhiều nguồn tiết kiệm chu chuyển qua các trung gian tài chính, gây thiếu hụt cho vay Do vậy tín dụng ưu đãi luôn đi kèm với chính sách hạn chế tín dụng Các nguồn ưu đãi này cần phải được phân bổ cho các ngành, các lĩnh vực ưu tiên và phải được kiểm soát chặt chẽ
a/ NHPT tài trợ vốn đối với các dự án đầu tư phát triển
NHPT trực tiếp cấp những khoản tín dụng ưu đãi mang tính chất thúc đẩy, làm chất xúc tác góp phần tích cực thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, sức khoẻ, ổn định xã hội thông qua đầu tư dự án xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, hạ tầng xã hội… bằng các khoản cho vay ưu đãi về mức vốn cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất và tài sản đảm bảo
b/ NHPT cung cấp tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
Đây là một trong những hoạt động rất được chú trọng tại các NHPT Các hình thức tài trợ thường bao gồm: tài trợ xuất khẩu; tài trợ dự án quốc tế; tài trợ thương mại; tài trợ tài chính doanh nghiệp; tài trợ mua bán công ty; bảo lãnh dự thầu; bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thanh toán… Đối với các hình thức tài trợ này, điều kiện để tài trợ là phục vụ cho lợi ích của quốc gia và phạm vi hoạt động của các nghiệp vụ này có thể là trong nước và cả ngoài nước
Hoạt động tài trợ của NHPT trong lĩnh vực này là hoạt động cạnh tranh đối với tất cả các ngân hàng khác nên đối tượng cho vay của lĩnh vực này rất rộng, bao gồm các ngành công nghiệp cơ bản, chế tạo, thương mại, nước, tái chế, hàng không, viễn thông, tàu thuỷ, đường sắt, sân bay, cảng biển, công nghiệp xây dựng… với các đối tượng như vậy nên khách hàng thường là những doanh nghiệp, những tập đoàn lớn
Hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu của NHPT được coi là rất đa dạng nhưng hiện tại các NHPT chủ yếu tập trung vào 2 mảng sau:
- Tài trợ xuất khẩu
Trang 20Đây là việc cho vay tài trợ xuất khẩu hàng hoá, các khoản cho vay có thể thực hiện cho cả người mua và người bán (tín dụng người mua và tín dụng người bán) Một đặc điểm rất ưu đãi của hình thức tài trợ này là thời hạn cho vay dài đủ
để khách hàng thực hiện hoàn tất thương vụ của mình
Để thực hiện hình thức tài trợ xuất khẩu thường có những tổ chức tham gia như: Tổ chức cho vay (NHPT); Nhà xuất khẩu (thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nhận tiền giải ngân); Cơ quan bảo hiểm TDXK (cấp bảo hiểm TDXK cho nhà xuất khẩu và NHPT là người thụ hưởng); Nhà nhập khẩu nước ngoài (là người ký thoả thuận trực tiếp vay vốn với NHPT - trong trường hợp tín dụng người mua); Tổ chức bảo lãnh (nếu có)
c/ Hoạt động hợp tác tài chính và hỗ trợ phát triển với các nước đang phát triển
Đây chính là hoạt động tài trợ phát triển dành cho các nước đang phát triển
thông qua các hình thức cho vay ODA và các khoản vay thúc đẩy phát triển NHPT thay mặt cho Chính phủ thực hiện tư vấn và tài trợ đầu tư cho các nước đang phát triển
Mục tiêu của hoạt động này là nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển và chuyển đổi thực hiện: cải cách nền kinh tế một cách ổn định, xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường xã hội và đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và duy trì hoà bình trên thế giới
Các lĩnh vực hỗ trợ gồm có: hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống tài chính và bảo vệ tài nguyên Các đối tác của NHPT là Chính phủ các nước và các tổ chức Nhà nước NHPT thực hiện hoạt động này thông qua hai kênh sau:
- Viện trợ, cho vay ODA ưu đãi và các khoản vay phát triển
Trang 21Đối với khoản cấp viện trợ và cho vay ODA ưu đãi: NHPT là cơ quan được Chính phủ uỷ thác thực hiện nhiệm vụ này Nguồn vốn để viện trợ và cho vay được lấy hoàn toàn từ ngân sách của Chính phủ
Đối với khoản vay phát triển: đây cũng được xem là nguồn ODA, nguồn vốn để thực hiện các khoản cho vay này một phần lấy từ ngân sách và một phần
từ nguồn huy động của NHPT Do vậy, các khoản vay phát triển này có lãi suất cao hơn khoản vay ODA ưu đãi (do lãi suất cho vay được xác định trên cơ sở hoà đồng nguồn vốn ngân sách của quốc gia và nguồn do NHPT huy động theo lãi suất thị trường) Tuy nhiên, mức lãi suất này vẫn thấp hơn nhiều so với lãi suất thương mại (thị trường) Do được coi là một dạng ODA nên khoản vay này có thể có ràng buộc và không ràng buộc
Về nguyên tắc, các khoản vay phát triển này phải có 1 số điều kiện như: Phải có hiệp định ký giữa hai Chính phủ; Chính phủ nước nhận khoản vay là người vay hoặc phải cấp bảo lãnh Chính phủ cho người vay; Điều kiện cho vay phụ thuộc vào dự án, lãi suất huy động của NHPT và đánh giá rủi ro của NHPT đối với người vay
- Khoản vay thúc đẩy phát triển
Khác với khoản vay phát triển, khoản vay thúc đẩy phát triển này không phải là khoản ODA Tuy nhiên, có thể coi khoản vay này như 1 kênh hỗ trợ chính thức khác Nguồn vốn thực hiện các khoản vay này là nguồn vốn thuần tuý của NHPT huy động trên thị trường Do đó, về cơ bản, các điều kiện cho vay của khoản vay này theo điều kiện thị trường với một số nguyên tắc:
+ Các dự án phải là dự án đầu tư phát triển nhưng phải có khả năng hoàn vốn và rủi ro ở mức chấp nhận được
+ Khoản vay chỉ dành cho những nước có độ rủi ro thấp
+ Việc phê duyệt khoản vay hoàn toàn do NHPT quyết định trên các điều kiện thương mại
+ Khoản vay này là khoản vay không ràng buộc nhưng cơ sở để đàm phán
là sự thỏa thuận giữa 2 Chính phủ và thường có sự bảo lãnh của Chính phủ bên vay
+ Trường hợp có bảo lãnh Chính phủ, lãi suất cho vay sẽ thấp hơn
Trang 22Bên cạnh đó, các điều kiện cho vay có thể thoả thuận trên cơ sở tính khả thi của từng dự án xin vay Mặc dù đây là một khoản vay thương mại nhưng lãi suất của khoản vay thúc đẩy phát triển vẫn thấp hơn lãi suất thị trường nhờ vào lãi suất huy động thấp của NHPT
Xét một cách tổng thể, các khoản vay phát triển và thúc đẩy phát triển đều nhằm mục tiêu hỗ trợ phát triển của các nền kinh tế đang phát triển hoặc đang chuyển đổi Cơ chế hỗ trợ của 2 hình thức này là hỗ trợ phát triển nhưng theo cơ chế gần với thị trường, qua đó định hướng cho các quốc gia tiếp nhận khoản vay tiếp cận với các hình thức tài trợ tân tiến và theo thông lệ quốc tế
1.2 Huy động vốn của Ngân hàng Phát triển
1.2.1 Khái niệm huy động vốn
Bản thân thuật ngữ “huy động vốn” đã nêu tương đối rõ công việc trong công tác này Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và những người thiếu vốn, có thể nói các ngân hàng, các tổ chức tín dụng đóng vai trò điều hòa mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, nghiệp vụ của mình để huy động các nguồn vốn trong xã hội
Thực chất nghiệp vụ huy động vốn là các hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh doanh sinh lời
và trả lại một phần lợi nhuận này cho người cung cấp nguồn vốn thông qua công
cụ lãi suất (Phan Thị Thu Hà, 2006)
1.2.2 Mục tiêu huy động vốn của Ngân hàng Phát triển
Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, là yếu tố quyết định để Chính phủ thực hiện các mục tiêu, chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là tiềm lực cho các tổ chức kinh tế cũng như các ngân hàng mở rộng đầu tư sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và hội nhập kinh tế giúp các ngân hàng tăng vốn đề mở rộng mạng lưới và phục vụ cho các hoạt động kinh doanh cũng như đáp ứng yêu cầu về cải tiến công nghệ, khi mà Việt Nam đang chính thức mở cửa thị trường tài chính – ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2011)
Trang 23Huy động vốn là một phạm trù tài chính, vốn huy động là khối lượng giá trị tạo lập và đưa vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.Với NHPT cũng như tất cả các ngân hàng khác là những tổ chức tài chính kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác, huy động vốn đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự tồn tại và chất lượng hoạt động của ngân hàng
Với chức năng và nhiệm vụ chính là phục vụ hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, hoạt động huy động vốn của NHPT nhằm đảm bảo được các mục tiêu sau:
• Đáp ứng đủ vốn cho các dự án đầu tư phát triển, tài trợ cho những chương trình, dự án mục tiêu của Chính phủ trong từng thời kỳ và những hoạt động cho vay, tài trợ khác
• Nâng cao năng lực tài chính, giữ vững đà tăng trưởng cả về quy mô và hiệu quả hoạt động, bảo đảm phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững, tiếp tục giữ vững vị thế là công cụ của Chính phủ hỗ trợ vốn cho đầu tư phát triển của Nhà nươc
và hoàn thành các nhiệm vụ khác được Thủ tướng Chính phủ giao
• Giảm dần và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn chi phí cấp bù chênh lệch lãi suất từ Ngân sách nhà nước, tiến tới tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của Ngân hàng
• Huy động vốn đảm bảo hợp lý về cơ cấu nguồn huy động Do mục tiêu chính của các NHPT là tài trợ cho các chương trình, dự án của Chính phủ và thực hiện cho vay trung và dài hạn là chủ yếu, nên NHPT cần phải chú trọng đến công tác huy động vốn trung và dài hạn, đảm bảo một cơ cấu nguồn hợp lý, an toàn và hiệu quả
• Góp phần thúc đẩy phát triển thị trường tài chính Việc NHPT huy động vốn để cho vay TDĐT thông qua phát hành TPCP đã có tác động quan trọng đến thị trường vốn Góp phần đa dạng hóa các công cụ nợ và tăng lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán, thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn, đặc biệt vốn dài hạn (Ngân hàng Phát triển Việt Nam, 2016, tr.15)
Ngoài ra, NHPT huy động vốn để tạo nguồn làm “tấm đệm” giúp chống lại rủi ro phá sản, vì huy động được vốn sẽ giúp trang trải những thua lỗ tài chính
và nghiệp vụ cho đến khi Chính phủ có thể tập trung giải quyết các vấn đề và đưa
Trang 24ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động bình thường; để đáp ứng những nhu cầu nội tại của ngân hàng như mua đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị những hệ thống thông tin hiện đại cho điều kiện làm việc, trả lương nhân viên
Khi một ngân hàng trên đà phát triển, nó cần vốn bổ sung liên tục để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với sự ra đời những dịch vụ mới
và những trang thiết bị mới Hầu hết các ngân hàng đều mở rộng và phát triển
cơ sở vật chất so với lúc đầu và sự bổ sung vốn sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng, chi nhánh để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng
Cuối cùng, huy động vốn của NHPT còn có mục tiêu là phương tiện điều tiết sự tăng trưởng, giúp đảm bảo rằng sự tăng trưởng của NHPT có thể được duy trì ổn định lâu dài Vì các cơ quan tài chính và thị trường tài chính đều đòi hỏi vốn của ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và của những tài sản rủi ro khác
1.2.3 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Phát triển
1.2.3.1 Huy động tiền gửi trên thị trường
Tiền gửi của khách hàng (các tổ chức kinh tế chiếm đa số tại NHPT) là nguồn huy động khá quan trọng của NHPT Khi NHPT bắt đầu hoạt động, nghiệp
vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho những tổ chức kinh tế là khách hàng của NHPT Bằng cách đó, NHPT huy động vốn của các
tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp
Tiền gửi chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn của NHPT Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh huy động với những NHTM và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các NHPT đã sử dụng nhiều hình thức tiền gửi khác nhau:
+ Tiền gửi thanh toán: Nghiệp vụ huy động này cũng tương tự như tại các
NHTM Đây là tiền của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, các chủ đầu tư gửi vào NHPT để nhờ NHPT giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của tổ chức gửi tiền đều được NHPT thực hiện Các khoản thu bằng tiền của tổ chức gửi tiền cũng có thể nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu Lãi suất của các khoản tiền gửi này rất thấp nhưng thay vào đó các chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ khác của NHPT với mức phí rẻ Thủ tục mở tài khoản
Trang 25thanh toán rất đơn giản Yêu cầu của NHPT là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư NHPT cũng có thể cho phép khách hàng thực hiện thấu chi – chi trội trên số dư của tài khoản thanh toán
+ Tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Trong thực
tế, nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội sẽ được chi trả sau một khoản thời gian nhất định hoặc nhu cầu chi trả chưa thực sự cần thiết trong khi số vốn tồn đọng lớn
Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện nhưng lãi suất thấp Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, NHPT cũng có hình thức huy động tiền gửi có kỳ hạn Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng rút tiền ra Tuy không thuận lợi như hình thức tiền gửi thanh toán nhưng người gửi tiền có sự tính toán hợp lý thì tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán và tuỳ theo độ dài của kỳ hạn gửi Bên cạnh
đó, NHPT cũng sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng những khoản huy động này để thực hiện cho vay tài trợ và các dịch vụ khác của ngân hàng mình
Tại NHPT, có một lượng vốn huy động đáng kể qua tài khoản tiền gửi của
tổ chức xã hội Do đặc điểm là thực hiện chức năng đầu tư phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và là tổ chức tài chính phát triển được Chính phủ bảo lãnh nên NHPT
có thể dễ dàng tiếp cận để huy động nguồn tiền rất lớn chưa được sử dụng từ các tổ chức như Bảo hiểm xã hội, Tiết kiệm bưu điện, Tổng công ty điện lực…
Bên cạnh hai hình thức huy động tiền gửi trên còn có thể kể đến hình thức huy động tiền gửi từ các ngân hàng khác Tuy nhiên, với NHPT, huy động vốn thông qua hình thức này không phổ biến và chiếm tỷ trọng không đáng kể
1.2.3.2 Phát hành trái phiếu
Tương tự như các doanh nghiệp, các tổ chức ngân hàng khác, NHPT cũng huy động vốn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu) trên thị trường vốn Đây là nguồn huy động rất lớn, có tính ổn định và là lợi thế của các NHPT, đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư các dự án đầu tư phát triển trung dài hạn
Lợi thế được nhắc đến của NHPT chính là sự bảo lãnh của Chính phủ và
uy tín của những tổ chức tài chính phát triển này Huy động từ phát hành trái
Trang 26phiếu đem lại nguồn vốn lớn, ổn định, thời gian huy động dài và nó là những khoản vay lớn mà không cần dựa vào tài sản đảm bảo
Ở một số nước có thị trường tài chính phát triển mạnh, ngoài huy động từ phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, NHPT còn huy động bằng cách phát hành trái phiếu của chính mình - trái phiếu NHPT Giá trị và sức hút tạo nên nguồn thu cho việc phát hành trái phiếu NHPT cũng có tác dụng như phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
Nhiểu tổ chức kinh tế và dân cư trong và ngoài nước muốn mua trái phiếu của ngân hàng vì có tính an toàn cao, do chúng được Chính phủ bảo lãnh (có thể chính thức hoặc không chính thức), dễ chuyển đổi, lãi suất hấp dẫn Trong điều kiện của những nước nghèo, nguồn tiết kiệm trung và dài hạn rất khan hiếm và ngân hàng phải trả lãi suất cao, nguồn tiết kiệm này thích hợp với các dự án rủi
ro cao (sinh lời cao) hoặc sinh lời thấp (thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội), do vậy, nguồn vốn này cần được kết hợp với các nguồn ưu đãi khác
1.2.3.3 Đi vay
NHPT có thể huy động vốn bằng cách đi vay các NHTM khác (vay thương mại), vay từ các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính – tín dụng trong và ngoài nước hoặc phát hành giấy nợ trên thị trường nước ngoài mà nguồn vốn rẻ hơn so với huy động trong nước hoặc thời hạn sử dụng dài hơn NHPT tìm kiếm các khoản vay ưu đãi từ các tổ chức tài chính có mục tiêu cho vay ưu đãi đối với các dự án phát triển như Ngân hàng thế giới (WB), các NHPT khu vực như: NHPT Châu Á (ADB), Ngân hàng đầu tư Châu Âu (EIB), NHPT của các nước: NHPT Trung Quốc (CDB), NHPT Hàn Quốc (KDB), Ngân hàng tái thiết Đức (KFW) hoặc các quỹ dành cho phát triển của Chính phủ tại các nước phát triển
Nguồn vay bên ngoài chịu nhiều nhân tố ảnh hưởng của thị trường tài chính quốc tế và phải có đảm bảo của Chính phủ
1.2.3.4 Huy động vốn khác
Ngoài các hình thức huy động kể trên, tại NHPT còn có những khoản huy động khác với lượng vốn cũng rất đáng kể từ nguồn vốn uỷ thác, nguồn vốn khấu hao cơ bản những ngành công nghiệp như điện lực, giao thông
- Nguồn vốn uỷ thác: NHPT là tổ chức được Chính phủ các quốc gia tín nhiệm nhất trong việc uỷ thác cho vay, cấp phát lại các nguồn vốn của quốc gia,
Trang 27nguồn ODA và viện trợ từ nước ngoài của Chính phủ ủy nhiệm cho vay lại Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng cao tại NHPT
- Nguồn khấu hao cơ bản: Đây là những nguồn vốn của các ngành công nghiệp uỷ thác cho NHPT để thanh toán, cấp phát cho các đơn vị trong ngành của
họ theo kế hoạch hàng năm
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Phát triển
1.2.4.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn huy động
Quy mô vốn huy động
Lưu Thị Hương (2005) chỉ ra rằng quy mô vốn huy động là chỉ tiêu phản ánh số lượng nguồn vốn huy động của ngân hàng Quy mô vốn huy động ảnh hưởng đến doanh số cho vay và hoạt động đầu tư của ngân hàng cũng như các hoạt động khác Với quy mô nguồn huy động ngày càng tăng sẽ hỗ trợ vốn cho ngân hàng hoạt động, phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động của mình Nếu quy mô vốn huy động không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn thì NHPT sẽ phải bỏ qua nhiều cơ hội đầu tư hay tài trợ cho những dự án lớn đòi hỏi vốn nhiều, điều này
sẽ ảnh hưởng đến thị phần của NHPT Nếu quy mô vốn huy động nhiều hơn nhu cầu sử dụng vốn thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Do đó, NHPT cần xác định được mối tương quan giữa hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn để có kế hoạch huy động cho phù hợp thì mới mang lại hiệu quả cao Quy mô vốn huy độngcũng tạo điều kiện nâng cao tính thanh khoản, tính ổn định
và tăng niềm tin của khách hàng
Tốc độ tăng trưởng vốn huy động
Số dư nguồn vốn huy động năm sau – Số dư nguồn
Số dư nguồn vốn huy động năm trước
H là giá trị tương đối cho phép đánh giá tốc độ tăng trưởng (nhanh, chậm) của nguồn vốn huy động trong thời kỳ nhất định (quý, năm)
Tiêu chí này thể hiện khả năng mở rộng quy mô vốn huy động của NHPT qua các năm như thế nào, ổn định hay biến đổi theo chiều hướng nào và khả năng kiểm soát của NHPT đối với nguồn vốn này Điều này ảnh hưởng đến khả năng mở
Trang 28rộng thị trường cho vay và tăng cường các hoạt động đầu tư của ngân hàng Nếu tốc
độ tăng trưởng ổn định sẽ tạo thế chủ động cho NHPT khi vạch ra kế hoạch sử dụng vốn cho tương lai; thể hiện khả năng cạnh tranh của NHPT với các đối thủ khác trong hoạt động huy động vốn
Căn cứ vào tình hình kinh tế nói chung và kế hoạch sử dụng vốn trên toàn
hệ thống, hàng năm NHPT xây dựng kế hoạch huy động vốn phù hợp để mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất
1.2.4.3 Cơ cấu huy động vốn (A)
Số dư từng loại vốn huy động (C)
x 100%
Số dư tổng nguồn vốn huy động
Trong đó: A là cơ cấu huy động vốn
C là số dư từng loại vốn (theo thời gian huy động, theo đối tượng huy động…)
A là giá trị tương đối cho thấy trong tổng nguồn vốn huy động, có bao nhiêu % vốn huy động từ dân cư/ tổ chức, từ ngắn hạn/ trung, dài hạn để đánh giá mức độ an toàn trong thanh khoản của nguồn vốn
Cơ cấu vốn huy động bao gồm cơ cấu theo đối tượng huy động hoặc cơ cấu theo kỳ hạn (ngắn hạn, trung và dài hạn) hoặc cơ cấu theo hình thức huy động
Cơ cấu vốn huy động ảnh hưởng rất lớn đến chi phí huy động vốn bình quân của NHPT và từ đó ảnh hưởng đến việc xác định chi phí đầu ra, tức là lãi suất cho vay của NHPT Nếu NHPT huy động được nhiều vốn có chi phí thấp (chẳng hạn như tiền gửi không kỳ hạn) và loại vốn này chiếm tỷ trọng lớn thì chi
Trang 29phí bình quân của ngân hàng sẽ thấp, điều này sẽ tạo ra được mức sinh lời cao cho ngân hàng Thông qua việc xác định cơ cấu vốn có thể phát hiện được mặt mạnh, mặt yếu của NHPT trong hoạt động
Mặt khác, trong cơ cấu vốn huy động thì kỳ hạn huy động cũng luôn được quan tâm xem xét Kỳ hạn huy động sẽ quyết định lãi suất huy động và
nó giúp cho ngân hàng chủ động trong hoạt động của mình Nếu tỷ trọng vốn trung và dài hạn cao hơn vốn ngắn hạn thì sẽ rất thuận tiện cho NHPT, tạo thế chủ động cho ngân hàng trong quá trình cho vay cũng như đầu tư Ngược lại, nếu tỷ trọng vốn ngắn hạn cao hơn thì NHPT sẽ rất khó khi thực hiện cho vay dài hạn đồng thời tỷ lệ dự trữ để chi trả luôn ở mức cao Đặc biệt, đối với NHPT Việt Nam, vai trò của kỳ hạn huy động vốn không những giúp NHPT VN chủ động thực hiện kế hoạch và điều tiết hoạt động mà nó còn quyết định đến sự thành công hay thất bại của hoạt động huy động vốn và kết quả hoạt động của NHPT VN Nhiệm vụ và hoạt động chính của NHPT VN chủ yếu là tài trợ cho vay những dự án đầu tư phát triển trung và dài hạn, thế nên, huy động vốn để phục vụ hoạt động của mình, NHPT VN luôn phải chú trọng đến kỳ hạn huy động vốn trung và dài hạn
1.2.4.4 Lãi suất huy động vốn bình quân
Một ngân hàng thường có hai lĩnh vực kinh doanh nòng cốt: huy động vốn
và lựa chọn tài sản sinh lời để đầu tư các nguồn vốn huy động được Khi huy động ngân hàng phải tiến hành trả lãi cho khoản vốn huy động được gọi là chi phí huy động vốn hay lãi suất huy động bình quân
Sở dĩ các ngân hàng quan tâm đến lãi suất huy động bình quân vì nó có liên quan đến việc xác định lãi suất đầu ra, đến lợi nhuận của ngân hàng
Lãi suất huy động bình quân =
Chi phí trả lãi
Tổng vốn huy động bình quân
Hoặc: Tương ứng với từng loại vốn huy động sẽ có mức lãi suất khác nhau Lãi suất của từng loại tuỳ thuộc vào thời hạn của loại vốn huy động Thông
Trang 30thường, thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao và ngược lại Vì vậy, lãi suất huy động bình quân có thể tính như sau:
Lãi suất huy động
∑ Số dư tiền gửi loại i x Lãi suất tiền gửi loại i
Tổng vốn huy độngNHPT trong quá trình hoạt động đã huy động nhiều nguồn vốn khác nhau tương ứng với nhiều mức lãi suất, do đó để đánh giá tổng hợp chi phí đầu vào và
so sánh với các kỳ trước cần phải xác định một mức lãi suất bình quân Tiêu chí này phản ánh chi phí bình quân khi NHPT huy động vốn, từ đó NHPT sẽ xác định mức lãi suất cho đầu ra với cơ cấu hợp lý để bù đắp được chi phí và có lợi nhuận
Tóm lại, tiêu chí này cho biết để huy động được một đồng vốn ngân hàng phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí Việc xác định chính xác chi phí huy động vốn là yếu tố cơ bản giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh, giảm được các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng đồng thời là yếu tố để xác định mức lợi nhuận
mà ngân hàng cần thu được từ các tài sản có sinh lời
1.2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến kết quả huy động vốn của Ngân hàng Phát triển
Kết quả huy động vốn của Ngân hàng không chỉ đo bởi mức tăng trưởng theo từng thời kỳ mà còn đo bởi tính kinh tế của việc huy động vốn (huy động vốn với lãi suất thấp, thời gian sử dụng vốn lâu dài) Chính vì vậy, nhân tố quyết định việc tăng cường huy động vốn bao gồm cả từ phía Ngân hàng và yếu tố bên ngoài Ngân hàng
1.2.5.1 Từ phía Ngân hàng:
a/ Hiệu quả hoạt động tín dụng, đầu tư
Với một ngân hàng thông thường, hiệu quả hoạt động tín dụng, đầu tư có thể chỉ xem xét trên góc độ khoản cho vay thuận lợi, giải ngân nhanh chóng và thu hồi nợ vay, lãi vay đúng hạn theo cam kết tại hợp đồng tín dụng Thế nhưng đối với NHPT, ngoài những yếu tố đó, hoạt động tín dụng, đầu tư hiệu quả còn phải xem xét đến hiệu quả kinh tế xã hội mà dự án được đầu tư mang lại như: sự
Trang 31thành công của dự án về mặt giá trị, sản phẩm được tạo ra từ dự án, số việc làm được giải quyết cho người lao động và một số ý nghĩa xã hội khác
Sở dĩ có sự xem xét toàn diện như vậy về hiệu quả hoạt động tín dụng, đầu tư là vì hiệu quả hoạt động TDĐT tại NHPT có thể sẽ quyết định việc tăng hay giảm nguồn vốn
Hiệu quả hoạt động tín dụng, đầu tư cao, chứng minh được NHPT đã thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng của mình, gây lòng tin lớn với Chính phủ từ
đó tạo uy tín của Ngân hàng Phát triển Ngoài ra, hoạt động tín dụng, đầu tư có hiệu quả tức sử dụng vốn có hiệu quả, sẽ làm cho NHPT chủ động hơn trong việc
sử dụng nguồn vốn của mình theo kế hoạch, trong đó có cả kế hoạch huy động vốn
b/ Chính sách lãi suất huy động
Chính sách này ảnh hưởng đến kết quả huy động vốn từ tiền gửi ngắn hạn, trung và dài hạn Huy động tiền gửi trên thị trường muốn thu được kết quả tốt, nhất thiết phải có chính sách lãi suất hấp dẫn, lãi suất cho kỳ hạn dài cao hơn lãi suất cho kỳ hạn ngắn Lãi suất huy động phải phù hợp với thị trường để thu hút tối đa các nguồn vốn, đảm bảo tính cân đối, thanh khoản giữa nguồn vốn và
sử dụng vốn
Do vậy, NHPT cần đưa ra chính sách lãi suất vừa đảm bảo tính kinh tế cho Ngân hàng, vừa đảm bảo quyền lợi của người có vốn gửi vào ngân hàng, có như thế NHPT mới thu hút được lượng vốn nhàn rỗi từ thị trường
c/ Chính sách phát hành trái phiếu của Chính phủ
NHPT có lợi thế lớn từ việc thu hút vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành TPCP TPCP được ưa chuộng vì tính an toàn và lãi suất hấp dẫn Vì vậy, chính sách phát hành trái phiếu của Chính phủ (bao gồm yếu tố về thời gian đáo hạn, lãi suất chiết khấu, tính thanh khoản ) có được tổ chức kinh tế và dân cư trong và ngoài nước ưa chuộng hay không sẽ quyết định lượng vốn sẵn sàng gửi vào NHPT nhiều hay không Cơ cấu trái phiếu theo kỳ hạn phải được xác định một cách hợp lý trên cơ sở căn cứ vào thời hạn cho vay bình quân và dự báo về lãi suất của nền kinh tế
Trang 32d/ Sự đa dạng và hiệu quả của các hình thức huy động vốn mà Ngân hàng áp dụng
Hình thức huy động vốn đa dạng, lãi suất hấp dẫn, kỳ hạn thích hợp sẽ thu hút được các đơn vị, các tổ chức kinh tế tìm đến ngân hàng Bên cạnh đó việc tạo
ra sự khác biệt trong các hình thức huy động mang tính chăm lo cho quyền lợi của khách hàng cũng sẽ thu hút được số lượng lớn khách hàng
Để gia tăng được tổng nguồn vốn huy động, thì chính các ngân hàng phát triển cũng cần phải đưa ra nhiều loại hình huy động vốn Bên cạnh các hình thức huy động mang tính truyền thống như nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi của các
tổ chức kinh tế ngân hàng còn phải phát triển mở rộng và đa dạng hình thức huy động vốn để vừa nâng số lượng tiền gửi vừa đáp ứng được nhu cầu người gửi về thời hạn, lợi ích khi rút tiền
Chất lượng các hình thức huy động cũng là một trong những thành tố quan trọng quyết định đến hình ảnh, uy tín của ngân hàng và là cơ sở chủ yếu thắt chặt mối quan hệ với khách hàng, tạo lòng trung thành của khách hàng Do vậy, việc thường xuyên duy trì, cải tiến các hình thức huy động tại ngân hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các ngân hàng hiện đại nói chung, của NHPT nói riêng và trở thành lợi thế cạnh tranh chủ yếu để đưa đến sự phát triển và thành công của ngân hàng trong điều kiện thị trường ngân hàng đang ngày càng trở nên ngày một đông đúc với sự cạnh tranh ngày càng một khốc liệt
Ngoài ra, bên cạnh các hình thức huy động vốn truyền thống như nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiếp nhận nguồn vốn ODA NHPT cần mở rộng và đa dạng hình thức huy động vốn để vừa nâng cao năng lực tài chính vừa đáp ứng được nhu cầu tài trợ các dự án mà bản thân ngân hàng đảm nhận
Mặt khác, một đặc điểm quan trọng trong hoạt động ngân hàng đó là sự trung thành của các khách hàng Một khách hàng khi đã sử dụng dịch vụ nào đó của ngân hàng rồi thì sẽ có xu hướng sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng
Do vậy nếu các hình thức huy động vốn mà NHPT cung ứng càng thuận tiện, an toàn, nhanh chóng và hiện đại cho khách hàng bao nhiêu thì số lượng khách hàng
Trang 33đến NHPT ngày một đông bấy nhiêu Đây chính là cơ sở để NHPT thu hút khách hàng, từ đó có khả năng tăng vốn huy động
Việc đa dạng các hình thức huy động vốn cũng góp phần tạo ra sự khác biệt
về sản phẩm của NHPT với các ngân hàng khác để nâng cao vị thế, hình ảnh của NHPT trong nền kinh tế Đồng thời, nó còn góp phần làm giảm rủi ro trong hoạt động ngân hàng, duy trì lợi nhuận ổn định và phát huy vai trò của mình
e/ Uy tín và mạng lưới Chi nhánh
- Uy tín ngân hàng
Uy tín hay có thể hiểu là thương hiệu của ngân hàng, là dấu hiệu đặc biệt để nhận biết về ngân hàng, định vị vị trí của ngân hàng trong ý thức của khách hàng, thể hiện qua sự đánh giá của khách hàng đối với ngân hàng Uy tín là nguồn lực quý giá của bất kỳ ngân hàng nào, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, không phải bất kỳ ngân hàng nào cũng có uy tín mà nó phải được tạo dựng lâu dài trong quá trình hoạt động Khách hàng bao giờ cũng tìm lựa chọn những ngân hàng có uy tín cao để gửi tiền với hy vọng ngân hàng có thể đáp ứng tốt nhu cầu của mình và hạn chế được những rủi ro Vì vậy, một ngân hàng có uy tín lâu năm trong kinh doanh thường chiếm ưu thế trong huy động vốn, nhờ đó giúp ngân hàng có khả năng ổn định lượng vốn huy động, tiết kiệm chi phí huy động Uy tín không chỉ ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn mà còn ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động khác của ngân hàng Chính vì vậy, ngân hàng phải không ngừng nâng cao uy tín đồng thời với việc tăng cường quan hệ khách hàng, và tiếp cận, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
- Mạng lưới chi nhánh
NHPT sẽ có khả năng huy động được nhiều nguồn vốn trong nền kinh tế nếu như NHPT có nhiều chi nhánh, mạng lưới rộng khắp, ở những vị trí thuận lợi
Thông thường các đơn vị kinh tế có trụ sở hay chi nhánh tập trung ở những trung tâm kinh tế, những thành phố lớn Trung tâm kinh tế là nơi có tiềm lực vốn trong xã hội rất dồi dào và là thế mạnh để các NHPT khai thác Mặt khác, các loại hình dịch vụ thường phát triển ở chính những trung tâm kinh tế,
Trang 34lúc đó mới cần có sự hỗ trợ của hệ thống ngân hàng NHPT có trụ sở, mạng lưới chi nhánh tập trung ở các trung tâm kinh tế là có điều kiện để thu hút được nhiều vốn trong xã hội, vì hầu hết các khoản tiền của các đơn vị kinh tế đang hoạt động đều nằm tại ngân hàng Tuy nhiên, nếu càng mở nhiều chi nhánh mà không cân nhắc thì chi phí giao dịch tính trên đơn vị tiền gửi sẽ cao và hoạt động ngân hàng
sẽ không có hiệu quả Do đó, xu hướng chung của các NHPT là mở rộng chi nhánh trên cơ sở bộ máy chi nhánh hết sức tinh gọn để đảm bảo được mục tiêu
mở rộng mạng lưới phục vụ huy động tiền gửi đến nhiều đối tượng khách hàng lại vừa đảm bảo hiệu quả tài chính
g/ Trình độ của cán bộ Ngân hàng
Đây là bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, là người thể hiện bộ mặt của NHPT với khách hàng Họ cũng chính là người thay mặt NHPT nhận tiền gửi của các khách hàng Khách hàng có tiếp tục quan hệ với NHPT sau lần giao dịch đầu tiên hay không một phần phụ thuộc vào năng lực của chính đội ngũ cán bộ nhân viên này
Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức nghề nghiệp, phong cách giao tiếp lịch sự, niềm nở và hoà nhã sẽ tạo một tâm lý thoải mái, đáng tin cậy cho khách hàng khi đến với NHPT và dĩ nhiên nguồn vốn huy động của NHPT sẽ không ngừng tăng trưởng và ổn định
1.2.5.2 Yếu tố bên ngoài Ngân hàng:
NHPT cũng như các NHTM trong hệ thống, đều hoạt động trên cơ sở quy luật cung - cầu của thị trường tài chính Vì vậy, ngoài những yếu tố mang tính đặc thù vừa nêu trên, công tác huy động vốn của NHPT cũng bị chi phối bởi một
số yếu tố bên ngoài Ngân hàng Cụ thể:
a/ Môi trường kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tài chính và cơ chế quản lý tài chính của NHPT Một nền kinh tế ổn định và phát triển, các yếu tố thị trường (lãi suất, tỷ giá, lạm phát, giá cả, cung cầu tiền tệ…) có ảnh hưởng trực tiếp đến tài chính quốc gia và hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, cá nhân nói chung và NHPT nói riêng Một quốc gia có nền tài chính ổn định và phát triển có thể
sẽ tạo được nguồn thu cho NSNN tạo nguồn lực về vốn để chuyển giao cho NHPT
Trang 35thực thi nhiệm vụ Một xã hội có trình độ dân trí cao, người dân có ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước sẽ tạo điều cho NHPT bảo toàn và phát triển vốn
b/ Môi trường chính sách và pháp luật
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô thông qua hệ thống pháp luật để điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế xã hội; đồng thời Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách về kinh tế như chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, chính sách liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu… Các chính sách này đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tài chính
và quản lý tài chính của NHPT, ví dụ như để thực hiện mục tiêu đầu tư phát triển
và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, Nhà nước có các chính sách về TDĐT và TDXK Thông qua các cơ chế chính sách, Nhà nước dùng nguồn lực tài chính quốc gia giao cho NHPT thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước,
do vậy nguồn vốn hoạt động của NHPT được tăng thêm Chính vì thế, công tác quản lý hoạt động nói chung và quản lý nguồn vốn nói riêng của NHPT cần được đổi mới để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
c/ Môi trường cạnh tranh trong hệ thống Ngân hàng thương mại
Cạnh tranh là một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, là động lực của sự phát triển Cạnh tranh buộc các NHPT phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Cạnh tranh sẽ làm cho các NHPT minh bạch hơn đối với các tổ chức kinh tế và đông đảo doanh nghiệp, tạo sự bình đẳng hơn giữa NHPT với các ngân hàng khách và cả các khách hàng Các khách hàng của NHPT được lợi hơn và được phục vụ với chất lượng cao, đa dạng Cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn được tiến hành thông qua việc cạnh tranh bằng lãi suất, bằng khuyến mại, mở rộng mạng lưới chi nhánh…
Cạnh tranh bằng lãi suất
Đây là biện pháp cạnh tranh có tính chất truyền thống của các ngân hàng, cũng như là sự lựa chọn có tính chất truyền thống của người gửi tiền trong việc gửi tiền, vay vốn mà đến nay chưa thể thay đổi được Hơn nữa, đây là qui luật chung của nền kinh tế thị trường, lãi suất là giá cả của việc sử dụng vốn Lãi suất cao tác động điều hoà cung cầu vốn từ nơi này đến nơi khác, vốn sẽ chảy từ nơi
Trang 36có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao Nói cách khác, khách hàng sẽ lựa chọn nơi có lãi suất huy động vốn hấp dẫn để gửi tiền
Cạnh tranh về lãi suất tạo điều kiện cho khách hàng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp chủ động lựa chọn các ngân hàng khác nhau, có lãi suất phù hợp với mình và cảm thấy an tâm, an toàn để gửi tiền
Cạnh tranh bằng khuyến mại
Cùng với việc đưa ra lãi suất hấp dẫn, để thu hút lượng tiền gửi, các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức khuyến mại khác nhau, với tổng chi phí không nhỏ đem lại lợi ích thiết thực và hấp dẫn cho người gửi tiền hay lựa chọn sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Chính sự cạnh tranh về khuyến mại cũng tạo ra sự hấp dẫn, chủ động lựa chọn cho khách hàng
sự thuận tiện cho khách hàng mọi lúc, mọi nơi
Một dạng khác cũng được coi là cạnh tranh mở rộng mạng lưới chi nhánh
đó là việc phát triển mạng lưới sản phẩm dịch vụ hiện đại và đa dạng Ngoài ra, các ngân hàng để thu hút khách hàng đến ngân hàng gửi tiền, ngoài việc cạnh tranh thông qua lãi suất, đưa ra các chương trình khuyến mại, mở rộng mạng lưới giao dịch cũng cần phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, mà yếu tố quyết định chính là hiện đại hoá trình độ công nghệ, đa dạng chủng loại sản phẩm, nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên triển khai chương trình phần mềm ứng dụng Nếu như ngân hàng có trình độ công nghệ ngân hàng hiện đại, trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý, của nhân viên khá, chuyên nghiệp và thành thạo lại có được trình độ giao tiếp, thái độ phục
vụ của nhân viên thì càng làm cho chất lượng dịch vụ của ngân hàng càng hoàn hảo, từ đó làm tăng sức hút của khách hàng đối với ngân hàng
Trang 37Trên đây là một số các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHPT, bao gồm nhân tố xuất phát từ nội tại bản thân NHPT và nhân tố do môi trường bên ngoài Tuỳ theo chiến lược hoạt động và nhiệm vụ của ngân hàng tại mỗi thời kỳ khác nhau và tùy thuộc trạng thái phát triển của nền kinh
tế mà NHPT sẽ có những biện pháp nhằm gia tăng hay thu hẹp lượng vốn huy động phục vụ cho nhu cầu sử dụng của ngân hàng
1.3 Bài học kinh nghiệm của Ngân hàng Phát triển một số nước về huy động vốn
1.3.1 Ngân hàng Phát triển Nhật Bản
NHPT Nhật Bản (JDB) được thành lập năm 1951 do nhu cầu về tài trợ đầu
tư và do hệ thống tài chính trong nước chưa sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đầu tư Cùng với thành công của công nghiệp hóa và phát triển xã hội Nhật Bản, vai trò của JDB đã có sự thay đổi Ngày 01/10/1999, JDB giải thể và NHPT Nhật Bản (DBJ) được thành lập với chức năng mới là tập trung vào việc phát triển trong khu vực, cải thiện mức sống (như bảo vệ môi trường và phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai), các ngành quan trọng mang tính chiến lược DBJ chú trọng vào các ngành kinh tế mũi nhọn như máy móc, điện tử, năng lượng Cùng với đó, DBJ cũng chú trọng một cách tích cực vào phát triển xã hội và cải thiện mức sống quốc dân như phát triển đô thị, phát triển khu vực và bảo vệ môi trường
Các nguồn vốn của DBJ được cung cấp ổn định là các nguồn vốn dài hạn
từ các quỹ tín thác của Chính phủ đã huy động được từ tiền gửi tiết kiệm bưu điện, quỹ phúc lợi, bảo hiểm nhân thọ bưu điện, v.v , và huy động một phần từ thị trường quốc tế thông qua phát hành trái phiếu có bảo lãnh của Chính phủ
Hoạt động của DBJ mang tính hỗ trợ với việc cung cấp các khoản vay dài hạn tài trợ về trang thiết bị cho khu vực tư nhân ở Nhật Bản DBJ là một tổ chức của Chính phủ và hoạt động tự chủ trong việc đưa ra quyết định về các khoản vay
Do những qui định rõ ràng của DBJ trong việc thẩm định khoản vay, chỉ cho vay khi xác định được việc hoàn trả nợ là khả thi cùng với chính sách đào tạo về chuyên môn một cách kỹ lưỡng trong việc thẩm định dự án và phân tích tín dụng, nhờ đó tỷ lệ các khoản nợ khó đòi thấp hơn nhiều so với các tổ chức tài chính tư
Trang 38nhân (PFI) Lãi suất của DBJ không thấp hơn nhiều so với các PFI nhưng được căn
cứ theo chính sách ưu tiên chứ không phải căn cứ vào uy tín tín dụng
1.3.2 Ngân hàng Phát triển Trung Quốc
NHPT Trung Quốc (CDB, ban đầu được gọi là NHPT Nhà nước Trung Quốc) được thành lập vào tháng 3/1994 và bắt đầu hoạt động từ tháng 4 cùng năm trong các dự án cơ sở hạ tầng qui mô vừa và lớn, các dự án khôi phục công nghiệp
Nguồn vốn của CDB phần lớn từ phát hành trái phiếu Trái phiếu ngân hàng của CDB phát hành trong nước được Chính phủ bảo lãnh Ngân hàng Nhân dân phân bổ trái phiếu ngân hàng CDB cho các NHTM Lãi suất do Ngân hàng Nhân dân quyết định và có cân nhắc tới lãi suất của các công cụ tài chính khác có cùng thời hạn Từ 1998, CDB đưa ra một phần hệ thống đấu thầu thông qua việc kết hợp một nhóm các ngân hàng thuơng mại để quyết định lãi suất của trái phiếu, do vậy mà huy động được vốn với lãi suất thấp Hiện nay, trái phiếu này được coi là an toàn và trở thành sự lựa chọn dài hạn hấp dẫn đối với các NHTM
Từ năm 1996, CDB đã bắt đầu phát hành trái phiếu nước ngoài Do được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu này được Công ty Moody đánh giá ở mức A3, tương đương với mức rủi ro tối thiểu Với qui mô và phạm vi hoạt động một cách rõ ràng, CDB về cơ bản là đã thành công trong việc tài trợ các dự án lớn mà rất nhiều dự án đó là về phát triển cơ sở hạ tầng Đối với các dự án được quyết định
là dự án cấp nhà nước, thì CDB cố gắng chia sẻ rủi ro bằng cách có bảo lãnh của các Bộ có liên quan CDB cũng cho vay các ngành công nghiệp yếu kém như than và dệt, tuy nhiên tỷ trọng của các khoản vay này của CDB là nhỏ và có thể kiểm soát được
1.3.3 Ngân hàng Đầu tư Châu Âu EIB
Ngân hàng Đầu tư Châu Âu được thành lập năm 1958 bởi Hiệp ước Rome, theo đó thành lập Cộng đồng Châu Âu (cụ thể là Quy chế về Ngân hàng Đầu tư Châu Âu là phụ lục của Hiệp ước) với vốn do bốn quốc gia thành lập đóng góp (Tây Đức, Pháp, Italia và ba nước đồng minh Bỉ, Hà Lan và Luxembourg) Là một
tổ chức tài chính chính sách của liên minh Châu Âu, EIB cung cấp tín dụng dài
Trang 39hạn cho đầu tư vốn hỗ trợ cho các dự án thoả mãn các yêu cầu kinh tế phù hợp với các chính sách của Cộng đồng Châu Âu quy định tại Hiệp ước Rome Các mục tiêu của EIB được xác định là: thúc dẩy “sự phát triển hoà hợp tổng thể” của Cộng đồng thông qua giúp đỡ cho sự phát triển tài chính khu vực; đẩy mạnh hiện đại hoá
và chuyển đổi của các doanh nghiệp và phát triển các hoạt động mới cần thiết nhằm thành lập thị trường chung, và tăng cướng đầu tư nhằm thúc đẩy một “lợi ích chung”
EIB là một công ty đặc biệt không vì lợi nhuận, được miễn thuế, có tư cách pháp nhân và tự chủ với các nước thành viên EC Việc quản lý EIB chủ yếu
do 4 cơ quan nội bộ thực hiện: Hội đồng các Thống đốc, Ban Giám đốc, Uỷ ban điều hành và Uỷ ban kiểm toán Các đại diện của các quốc gia thành viên (thông thường là các Bộ trưởng và thứ trưởng Bộ Tài chính hoặc các Bộ có liên quan)
có thể tham gia vào qua trình ra quyết định của ngân hàng và theo dõi ngân hàng
Để thực hiện công việc và đáp ứng như cầu vay vốn ngày càng tăng, EIB ngoài việc thường xuyên tăng vốn tự có, cũng đã tiến hành một số bước được thiết kế nhằm tăng các chương trình cho vay dành cho phát triển khu vực Đầu thập kỷ 60, ngân hàng đã bắt đầu lần đầu tiên sử dụng thị trường vốn như là 1 công cụ để huy động vốn Vào thập kỷ 1970, ngân hàng đã thiết lập một hệ thống cho vay toàn diện đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) được gọi là
“khoản cho vay toàn cầu”, một hệ thống cho vay hai bước sử dụng các tổ chức tài chính ở các nước có liên quan Đồng thời EIB tập trung vào TEN (Mạng lưới xuyên Châu Âu) - mạng lưới các dự án phát triển khắp châu Âu trong các lĩnh vực giao thông, viễn thông, phân phối năng lượng, Các khoản cho vay của EIB phù hợp với các mục tiêu chính sách của ngân hàng, nó tăng cường sự phát triển của khu vực và phát triển mạng lưới xuyên Châu Âu, cải thiện chất lượng cuộc sống và môi trường, và khuyến khích công nghiệp của Châu Âu và sức cạnh tranh của các SME Nguồn vốn của EIB chủ yếu là từ thị trường vốn EIB đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy thị trường đồng EUR mới với tư cách là nhà huy động vốn phi quốc gia chuẩn mực hàng đầu Thời hạn cho vay từ 02 đến 30 năm, bình quân là 10,2 năm trong năm 1998 Việc kết hợp sức mạnh của các cổ
Trang 40đông và chất lượng tài sản có của các khoản vay làm cho EIB được xếp hạng tín dụng ở mức AAA
Gần đây, các hoạt động cho vay của ngân hàng đã được mở rộng; tuy nhiên nó vẫn duy trì được hoạt động cho vay an toàn và hiệu quả thông qua việc phân tích tín dụng thận trọng và các công cụ phòng ngừa rủi ro tiên tiến EIB có được nguồn vốn với giá thấp và thu lời ổn định trên cơ sở tài chính vững chắc
1.3.4 Kinh nghiệm rút ra đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam về huy động vốn
Thứ nhất, vai trò của Chính phủ: Ở Đông Á, Chính phủ đóng vai trò quan
trọng trong quá trình công nghiệp hoá Tuy nhiên, khu vực công nghiệp chứa đựng phần lớn vốn của tư nhân, và các nhà công nghiệp tư nhân đóng vai trò chính Vai trò của các NHPT có thể nói là sự phát triển của công nghiệp tư nhân và các nhà công nghiệp tư nhân Một Chính phủ có thể phải đóng một vai trò quan trọng đặc biệt trong quá trình chuyển đổi, nhưng vai trò của nó phải mang tính là bổ trợ và mang tích chất sửa sai Các nền kinh tế đang chuyển đổi phải luôn lưu tâm đến khi vai trò của Chính phủ trở nên cần thiết, do vậy họ sẽ không bao giờ quay trở lại nền kinh tế kế hoạch
Thứ hai, các NHPT phải tự phát triển: Sự phát triển cơ cấu công nghiệp của
một quốc gia sẽ không tránh khỏi việc tạo ra một môi trường khác đối với NHPT Qua quá trình công nghiệp hoá, Chính phủ cũng sẽ nuôi dưỡng thị trường vốn phát triển lành mạnh, nhờ đó có thể giảm bớt vai trò của NHPT so với nhiệm vụ ban đầu của nó Các ngân hàng tư nhân có thể phát triển và vai trò của NHPT có thể bị giảm thiểu trong các lĩnh vực mà ban đầu cần đến họ Các NHPT trong khi phải chia sẽ thị phần độc quyền với các ngân hàng tư nhân, cũng phải tự phát triển bằng cách đa dạng hoá chức năng để phù hợp với môi trường mới, bằng cách đi tiên phong vào các lĩnh vực mới nơi mà chỉ riêng khu vực tài chính tư nhân không thể đạt được các chính sách quốc gia
Thứ ba, từ công nghiệp hoá đến thực hiện công bằng xã hội: Khi công nghiệp
hoá đã đạt được mức độ cao, vai trò của các NHPT có thể chuyển sang thực hiện công bằng xã hội, với ý nghĩa sửa chữa những sai sót của thị trường Nói cách khác, tầm quan trọng của NHPT sẽ chuyển sang các lĩnh vực như phát triển hạ tầng cơ sở xã hội,