Cơ cấu của các cơ quan hành chính nhà nước được quy định cụ thể trong các văn bản luật như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương… Các cơ quan hành chính nhà nước đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
DƯƠNG THỊ VÂN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA
UBND THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Hà Nội – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
DƯƠNG THỊ VÂN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA
UBND THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG VŨ TÙNG
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2019
Tác giả luận văn
Dương Thị Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài nhà trường
Trước hết tác giả xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô giáo Viện Kinh tế & Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã hết lòng dạy dỗ, truyền đạt cho tác giả những kiến thức quý báu trong quá trình học tập Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS An Minh Ngọc và TS Phạm Thị Kim Ngọc đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tác giả về mọi mặt để hoàn thành luận văn này
Và tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các bác, các cô, các chú và các anh, chị làm việc tại các cơ quan, đơn vị của thị xã Đông Triều đã tạo điều kiện
để tác giả hoàn thành luận văn
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và rèn luyện
Do thời gian thực hiện có hạn và kiến thức kinh nghiệm chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, hạn chế, tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp
ý kiến của các Thầy giáo, Cô giáo và các anh chị học viên để luận văn của tác giả hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2019
Tác giả luận văn
Dương Thị Vân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH VẼ v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝCỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 7
1.1 Khái quát về cơ quan hành chính nhà nước 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Vai trò và chức năng của cơ quan hành chính nhà nước 8
1.1.3 Các loại hình cơ quan hành chính nhà nước 10
1.2 Tổng quan về năng lực quản lý 18
1.2.1 Khái niệm về năng lực 18
1.2.2 Khái niệm về năng lực quản lý 19
1.2.3 Khái niệm về năng lực quản lý nhà nước 20
1.3 Các yếu tố cấu thành năng lực quản lý nhà nước 21
1.3.1 Hệ thống thể chế hành chính nhà nước 22
1.3.2 Tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của bộ máy 25
1.3.3 Đội ngũ cán bộ, công chức 27
1.3.4 Nguồn lực tài chính và hệ thống cơ sở vật chất 30
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực quản lý của cơ quan hành chính nhà nước 32
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý nhà nước của cơ quan hành chính nhà nước 30
1.5.1 Các yếu tố bên trong 30
1.5.2 Các yếu tố bên ngoài 37
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝCỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU 42
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 42
Trang 62.1.1 Đặc điểm tự nhiên 42
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
2.2 Thực trạng năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều 47
2.2.1 Các yếu tố cấu thành năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều 47
2.2.2 Thực trạng năng lực qua đánh giá kết quả thực thi công việc giai đoạn 2016 - 2018 50
2.2.3 Đánh giá kết quả thực hiện công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức 70
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến NLQL của UBND thị xã Đông Triều 76
2.3.1 Các yếu tố bên trong 86
2.3.2 Các yếu tố bên ngoài 80
2.4 Đánh giá về năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều 82
2.4.1 Những ưu điểm 82
2.4.2 Những hạn chế 84
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 86
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 88
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA UBND THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TRONG THỜI GIAN TỚI 89
3.1 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều đến năm 2025 89
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo, phương hướng 89
3.1.2 Mục tiêu 89
3.2 Một số giải pháp 90
3.2.1 Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã 90
3.2.2 Cải cách thể chế hành chính, thủ tục hành chính 103
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức 94
3.2.4 Đảm bảo các nguồn lực cho hoạt động công vụ có hiệu quả 99
3.2.5 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử 100
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC ……… 107
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cán bộ, công chức UBND thị xã Đông Triều phân theo độ tuổi 49Bảng 2.2: Trình độ văn hóa của cán bộ, công chức UBND thị xã Đông Triều 50Bảng 2.3: Trình độ học vấn của cán bộ, công chức UBND thị xã Đông Triều 51Bảng 2.4: Trình độ Tiếng anh của cán bộ, công chức UBND thị xã Đông Triều 53Bảng 2.5: Trình độ quản lý hành chính cán bộ, công chức cấp huyện trên địa bàn thị
xã Đông Triều 53Bảng 2.6: Trang thiết bị, cơ sở vật chất cho cán bộ, công chức UBND thị xã Đông Triều 56Bảng 2.7: Số lượng CB, CC làm việc tại khối Chính quyền thị xã Đông Triều, năm
2018 80Bảng 2.8: Đánh giá xếp loại cán bộ, công chức cấp huyện thuộc khối Chính quyền thị xã Đông Triều 82Bảng 2.9: Cán bộ, công chức cấp huyện thị xã Đông Triều tự đánh giá về bản thân 83Bảng 2.10: Đánh giá của người dân về công tác cán bộ, công chức cấp huyện trên địa bàn thị xã Đông Triều 84Bảng 2.11: Đánh giá của người dân về công sự sáng tạo của cán bộ, công chức thị
xã Đông Triều 85
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương ở Việt Nam 15
Hình 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp huyện 17
Hình 2.1 Bản đồ địa giới hành chính thị xã Đông Triều 42
Hình 2.2 Phong cảnh thị xã Đông Triều 44
Hình 2.3 Cơ cấu tổ chức của UBND thị xã Đông Triều 48
Hình 2.4: Trình độ học vấn của cán bộ, công chức cấp huyện khối Chính quyền thị xã Đông Triều 51
Hình 2.5: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức cấp huyện khối Chính quyền thị xã Đông Triều 52
Hình 2.6: Thu ngân sách nhà nước 55
Hình 2.7 Trụ sở UBND Thị xã Đông Triều 56
Hình 2.8: Thu ngân sách nhà nước 3 năm (2016 - 2018) 58
Hình 2.9: Thu nội địa (cân đối ngân sách được hưởng) 3 năm (2016-2018) 59
Hình 2.10: Chi ngân sách nhà nước 3 năm (2016 - 2018) 59
Hình 2.11: Chi thường xuyên ngân sách 3 năm (2016-2018) 60
Hình 2.12:Chi đầu tư phát triển 3 năm (2016-2018) 60
Hình 2.13: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trong 03 năm 2016 - 2018 62
Hình 2.14: Tổng giá trị sản xuất trong 03 năm (2016-2018) 63
Hình 2.15: Cơ cấu GRDP 64
Hình 2.16: Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thị xã qua từng năm 64
Hình 2.17: Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ (giá so sánh 2010) trên địa bàn thị xã qua từng năm 67
Hình 2.18: Giá trị ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp trên địa bàn thị xãqua từng năm 67
Hình 2.19: Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn thị xã qua các năm từ 2016-2018 74
Hình 2.20 Sự hài lòng của người dân về giải quyết TTHC tại UBND thị xã Đông Triều 86
Hình 2.21: Thái độ giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức thuộc UBND thị xã Đông Triều 86
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề t i
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: Tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch có
đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội Như vậy, năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của nền hành chính là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Giữa năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính có mối quan hệ biện chứng Hoạt động quản lý hành chính trước hết phải đề cao hiệu lực, phải đảm bảo được hiệu lực thực hiện Mặt khác, một nền hành chính tốt hoạt động phải có hiệu quả Như vậy cả hiệu lực, hiệu quả quản lý đều được quyết định bởi năng lực quản
lý Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính phải tập trung xây dựng và hoàn thiện các yếu tố cấu thành năng lực quản lý Ngược lại, để đánh giá tiến bộ về năng lực quản lý phải dựa trên những tiêu chí, thước đo cụ thể phản ánh hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính
Việc nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước là một yêu cầu tất yếu và cấp bách trong điều kiện nước ta hiện nay Sự cần thiết này xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
- Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là nhiệm vụ vừa mới mẻ, vừa khó khăn, nặng nề Bản thân bộ máy nhà nước (mà trong đó trực tiếp là bộ máy hành chính nhà nước) không đổi mới tổ chức hoạt động theo hướng nâng cao năng lực quản lý thì không thể hoàn thành nhiệm vụ
mà Đảng và nhân dân giao phó
- Thực tiễn tổ chức hoạt động quản lý hành chính nhà nước ta cho thấy, bên cạnh những ưu điểm, thành tựu đã đạt được trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc vẫn còn những yếu kém cần phải khắc phục kịp thời như bệnh quan liêu, mệnh lệnh, vi phạm dân chủ, quản lý thiếu tập trung thống nhất, thiếu trật tự kỷ cương, bộ máy cồng
Trang 11kềnh, làm việc kém năng suất Những yếu kém khuyết điểm đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
- Tình hình chính trị, kinh tế và tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ trên thế giới thay đổi về cơ bản, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới về tổ chức và hoạt động của hành chính nhà nước để có thể đáp ứng kịp với diễn biến của tình hình và tốc độ phát triển của thời đại Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước là những tác động có chủ định nhằm làm cho hoạt động quản lý nhà nước đạt được những mục tiêu định hướng
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, trong những năm gần đây, năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày càng được nâng lên và đạt được nhiều kết quả tốt như: Kinh tế của thị xã tiếp tục ổn định và phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đổi mới; an ninh quốc phòng được đảm bảo, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên; hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm của thị xã như: Đông Triều được Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới đầu tiên của Quảng Ninh và các tỉnh khu vực phía Bắc; ngày 11/3/2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết thành lập thị xã Đông Triều và 6 phường thuộc thị xã Đông Triều, mở ra
cơ hội mới cho sự phát triển của Đông Triều Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận ngày 09/12/2013 là Khu di tích quốc gia đặc biệt
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, kết quả quản lý trên một số lĩnh vực còn hạn chế: Kinh tế tăng trưởng cao nhưng chưa đạt mục tiêu Nghị quyết Thị ủy, HĐND thị xã đề ra; du lịch, dịch vụ phát triển chậm Công tác quản
lý đất đai, tài nguyên còn xảy ra sai phạm ở một số địa phương Công tác lập một
số quy hoạch, giải quyết vướng mắc trong giải phóng mặt bằng một số công trình
dự án còn chậm Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản theo phân cấp ở một số
xã còn xảy ra sai phạm Tình trạng cờ bạc, trộm cắp, tai nạn giao thông tuy được kiềm chế, kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn phức tạp Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng chưa bền vững, hộ cận nghèo còn cao
Trang 12Với mục tiêu phấn đấu Đông Triều đủ tiêu chuẩn đô thị loại III trước năm
2020, trở thành thành phố và là thành phố dịch vụ, công nghiệp vào năm 2020, yêu cầu nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã là yêu cầu cấp thiết
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều” làm luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Sau khi nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng hiện nay nhiều học giả đã thực hiện nghiên cứu về nâng cao năng lực quản lý của UBND các cấp, trong đó có UBND cấp huyện như:
+ Sách “Hành chính công”- Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (năm 2003) của TS Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên): Đây là giáo trình chuyên sâu về khoa
học hành chính, bao gồm các nội dung: chức năng hành chính, thể chế hành chính, phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý hành chính nhà nước, quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực Cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản về khoa học hành chính công cũng như làm nổi bật những quy luật vận hành khách quan trong hoạt động của bộ máy nhà nước
+ Sách “Quản lý học đại cương” - Nxb chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội (năm 2014) của PGS.TS Nguyễn Hữu Hải: Nội dung cuốn sách đề cập đến
những vấn đề cơ bản nhất về quản lý, thế nào là quản lý, các yếu tố cấu thành quản lý, vai trò của quản lý, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý cũng như các phương pháp quản lý
+ Sách “Quản lý công” - Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội (năm 2015) của TS Trần Anh Tuấn và PGS.TS Nguyễn Hữu Hải (đồng chủ biên) Nội
dung cuốn sách đã thể hiện cách tiếp cận mới về nội dung, hình thức và phương pháp quản lý của khu vực công, trong đó tập trung vào các vấn đề như: quản lý công, khu vực công, nội dung quản lý công, một số kỹ năng quản lý công
+ Bùi Tiến Quý (2000), Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách đã chỉ ra chính quyền địa phương liên quan trực tiếp đến
việc quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội cũng như mọi mặt đời sống của nhân dân, nên tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động phải hướng vào phục
Trang 13vụ dân, sát với nhân dân Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu về mặt lý luận cũng như tổng kết thực tiễn Nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương các cấp trên cơ sở phân cấp rõ hơn, nhiều hơn thẩm quyền, trách nhiệm của bộ máy chính quyền địa phương cấp dưới, phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo của địa phương trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội
+ Ths Đào Thị Thanh Thủy (2016), Quản trị địa phương - phương thức nâng cao chất lượng, năng lực quản lý của chính quyền địa phương, Tạp chí Tổ chức nhà nước Nội dung bài viết đề cập đến cách tiếp cận quản trị và quản trị địa phương, các
yếu tố quyết định hiệu quả của quản trị địa phương Trong đó trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là yếu tố quyết định đến hiệu quả quả trị địa phương Đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế về trình độ cũng như phẩm chất đạo đức dẫn đến số vụ án hình sự liên quan đến sự suy thoái về đạo đức của cán bộ, công chức trong những năm qua có chiều hướng gia tăng Tình trạng tham nhũng vẫn còn tồn tại và có nhiều diễn biến phức tạp Cán bộ, công chức trong
bộ máy hành chính nhà nước còn mắc bệnh quan liêu, xa dân, xa cấp dưới và cơ sở Đây là những hạn chế ảnh hưởng lớn đến năng lực quản lý nhà nước
+ Trịnh Tuấn Thành, (2005), Đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội,
chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật mã số 6.01.01 Luận văn làm
rõ cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước hiện nay: quan niệm, vai trò, đặc điểm tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện Đánh giá thực trạng, cơ cấu tổ chức và nội dung hoạt động của UBND cấp huyện Phân tích những yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện Qua đó đề xuất một số giải pháp quan trọng nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện: hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện, tăng cường giám sát hoạt động của UBND cấp huyện, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức UBND cấp huyện
Ngoài ra còn nhiều các nghiên cứu, hội thảo về nâng cao năng lực quản lý của UBND cấp huyện Các nghiên cứu này đã chỉ ra vị trí, vai trò của chính quyền địa phương các cấp (tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà
Trang 14nước ), nâng cao năng lực quản lý của chính quyền địa phương có ý nghĩa nâng cao vai trò của Đảng, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước nói chung Các nghiên cứu cũng
đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực quản lý của UBND các cấp, trong đó có cấp huyện
Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều Điều này thể hiện tính mới mẻ của đề tài và là lý do để tác giả
lựa chọn chủ đề Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều làm luận văn cao học của mình
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhằm giúp UBND thị xã Đông Triều để nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới
Để đạt được mục đích này, luận văn sẽ thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về năng lực quản lý của một cơ quan hành chính công
- Phân tích thực trạng năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều; đánh giá những điểm mạnh; điểm yếu và xác định nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý của UBND thị
xã Đông Triều
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều
- Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của UBND thị xã Đông Triều, giai đoạn 2016 - 2018; Nội dung tập trung nghiên cứu về năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp hệ thống hóa, so sánh, tổng hợp, đối chiếu, phân tích thống kê; phương pháp khảo sát thực tiễn Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng trong chương 1 nhằm khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê,
Trang 15so sánh đối chiếu được sử dụng chủ yếu ở chương 2 nhằm khái quát năng lực quản
lý của UBND thị xã Đông Triều, qua đó phân tích, tổng hợp thực trạng và các yếu
tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều, thống kê số liệu các năm, so sánh, đối chiếu, đánh giá thực trạng năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều, những mặt mạnh, những tồn tại hiện nay và so sánh với một số huyện, thị xã, thành phố khác thuộc tỉnh Quảng Ninh để đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo Phương pháp hệ thống hóa, phân tích tổng hợp được sử dụng ở chương 3 để xây dựng phương hướng, giải pháp cho việc nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều trong thời gian tới Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến của các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ liên quan để có thêm căn cứ đánh giá đối tượng nghiên cứu đúng và đầy đủ hơn
5.2 Số liệu phục vụ cho nghiên cứu
Số liệu thứ cấp: Được lấy từ một số báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm của thị
xã Đông Triều, của tỉnh Quảng Ninh; đánh giá xếp hạng chỉ số cải cách hành chính hàng năm của tỉnh Quảng Ninh; báo cáo năm của các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND thị xã Đông Triều
Số liệu sơ cấp: Phỏng vấn, điều tra khảo sát và thu thập số liệu về hiệu quả quản trị và hành chính công; sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của các
cơ quan hành chính nhà nước trên địa thị xã Đông Triều
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành ba chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của cơ quan hành chính nhà nước Chương 2: Thực trạng năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý của UBND thị xã Đông Triều
Trang 16CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ
CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát về cơ quan h nh chính nh nước
1.1.1 Khái niệm
Cơ quan hành chính nhà nước cũng là một cơ quan nhà nước Do đó để hiểu được khái niệm cơ quan hành chính nhà nước trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm cơ quan nhà nước
Theo giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, 2006 của Trường Đại học Luật Hà
Nội do Thái Vĩnh Thắng, Vũ Hồng Anh chủ biên thì “Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có
cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước” Từ khái niệm trên có thể thấy rằng cơ quan nhà nước trước hết
phải là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định Thứ hai, cơ quan nhà nước được giao một phần nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước (có quyền lực nhà nước nhất định) Thứ ba, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như cơ cấu
tổ chức của cơ quan nhà nước được quy định trong các văn bản pháp luật
Các cơ quan nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất đó chính là bộ máy nhà nước Nếu căn cứ vào trật tự hình thành cũng như tính chất, vị trí, chức năng của các cơ quan nhà nước thì bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay gồm: Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, hệ thống cơ quan tư pháp
Có thể thấy rằng cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận hợp thành của
bộ máy nhà nước được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước (quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp) Đó là hệ thống cơ quan đứng đầu là Chính phủ, ngoài ra còn có các bộ và cơ quan ngang bộ, UBND các cấp
Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm cơ quan hành chính nhà nước:
“Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương
Trang 17diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành, điều hành, có cơ cấu tổ chức và
phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định” [11]
Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước:
Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận của bộ máy nhà nước nên cũng có các đặc điểm chung của cơ quan nhà nước như sau:
Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào quan hệ pháp luật nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công (mang tính quyền lực nhà nước) Biểu hiện của tính quyền lực nhà nước đó là: Cơ quan hành chính nhà nước có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và có thể được áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định
Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Cơ cấu của các cơ quan hành chính nhà nước được quy định cụ thể trong các văn bản luật như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương…
Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao Đây là một điều kiện quan trọng đảm bảo cho các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước của mình, tránh sự chồng chéo, trùng lặp trong quá trình thực thi hoạt động quản lý nhà nước
Nguồn nhân sự chính trong cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật Cán bộ, công chức
Ngoài những đặc điểm chung nói trên, cơ quan hành chính nhà nước còn có những đặc điểm riêng như sau:
Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước Để thực hiện chức năng này, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành (những hoạt động được tiến hành trên cơ sở pháp luật
và để thi hành pháp luật) Như vậy hoạt động chấp hành - điều hành (hoạt động quản lý hành chính nhà nước) là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước
Trang 18Cơ quan hành chính nhà nước là hệ thống cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước
Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành - điều hành Điều này có nghĩa là cơ quan hành chính nhà nước chỉ tiến hành các hoạt động để chấp hành hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước thông qua việc tiến hành các hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền Đặc điểm này xuất phát từ chức năng của cơ quan hành chính nhà nước đó là chức năng quản lý hành chính nhà nước Và để thực hện chức năng quản lý hành chính nhà nước được hiệu quả thì cần phải phân định thẩm quyền rõ ràng, tránh sự chồng chéo giữa các cơ quan Do đó pháp luật phải quy định cụ thể thẩm quyền của từng cơ quan trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước do cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chấp hành của
cơ quan quyền lực nhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị
cơ sở trực thuộc Hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng như đáp ứng các dịch vụ xã hội, đảm bảo công bằng, vì lợi ích chung của xã hội
1.1.2 Vai trò và chức năng của cơ quan h nh chính nh nước
Các cơ quan hành chính nhà nước thực thi quyền hành pháp, tổ chức thực hiện những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại và điều hành công việc chính sự hàng ngày của quốc gia Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hai quyền: lập quy
và tổ chức thực hiện hay hành chính [7]
Quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản pháp quy dưới luật Tùy theo từng giai đoạn, từng nước có thể có tên gọi khác nhau cho các loại văn bản này Ở
Trang 19nước ta có các loại như: Nghị định, Quyết định, Thông tư để cụ thể hóa luật, thực hiện luật nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế - xã hội thuộc phạm vi quyền hành pháp Dưới góc độ pháp luật, có thể xem đây là sự ủy quyền của lập pháp cho hành pháp để điều hành các hoạt động cụ thể của quyền lực nhà nước
Quyền hành chính là quyền tổ chức ra bộ máy hành chính để quản lý đất nước, sắp xếp nhân sự, điều hành công việc quốc gia, sử dụng nguồn tài chính và công sản
để thực hiện những chính sách của đất nước Đó là quyền tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội, đưa pháp luật vào đời sống nhằm giữ gìn trật tự an ninh
xã hội, phục vụ lợi ích của công dân, bảo đảm dân sinh, giải quyết các vấn đề xã hội
và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính và công sản để phát triển đất nước một cách
có hiệu quả
1.1.3 Các loại hình cơ quan h nh chính nh nước
Cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam chia thành hai nhóm:Cơ quan hành chính nhà nước Trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương Cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc Chính phủ
là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất UBND các cấp là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương [11]
* Cơ quan hành chính nhà nước Trung ương
Cơ quan hành chính nhà nước trung ương thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính chất chung, vĩ mô dựa trên những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia để thực thi các hoạt động lập quy mang tính hướng dẫn chung cho cả quốc gia thực hiện chi tiết việc triển khai tổ chức thực hiện pháp luật Đồng thời bảo đảm cho cách quản lý hành chính nhà nước (triển khai thực hiện pháp luật) thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia
Các cơ quan hành chính nhà nước trung ương có trách nhiệm hoạch định chính sách chung về đối nội, đối ngoại quốc gia; đại diện bênh vực quyền lợi quốc gia, không bị ảnh hưởng quyền lợi của địa phương; bảo đảm điều phối lợi ích quốc gia, lợi ích chung của các địa phương và kiểm soát mọi quá trình quản lý xã hội
Cơ quan hành chính nhà nước trung ương ở Việt Nam được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ và do đó, trên một nguyên tắc chung, Chính phủ có thể được thay cho bộ máy hành chính nhà nước trung ương
Trang 20Theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015: Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
Cơ cấu tổ chức và thành viên của Chính phủ: Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội quyết định Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các bộ, cơ quan ngang
bộ Việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ do Chính phủ trình Quốc hội quyết định
Chính phủ tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm bình đẳng giới
- Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chức năng, phạm vi quản lý giữa các bộ, cơ quan ngang bộ; đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu
- Tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, năng động, hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm nguyên tắc cơ quan cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cơ quan cấp trên
- Phân cấp, phân quyền hợp lý giữa Chính phủ với chính quyền địa phương, bảo đảm quyền quản lý thống nhất của Chính phủ và phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương
- Minh bạch, hiện đại hóa hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ,
cơ quan hành chính nhà nước các cấp; bảo đảm thực hiện một nền hành chính thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, hiện đại, phục vụ Nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ: Chính phủ lãnh đạo hoạt động của các
bộ và chính quyền địa phương trên 2 phương diện:
Trang 21Một mặt, Chính phủ với tư cách là cơ quan chấp hành cao nhất của cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện quyền lập quy bằng việc ban hành các văn bản pháp quy dưới luật (nghị quyết, nghị định, quyết định) để thực hiện các đạo luật, các pháp lệnh và các nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội
có tính chất bắt buộc thi hành trên phạm vi cả nước Các bộ, địa phương có nghĩa vụ thực hiện các văn bản pháp quy đó HĐND các cấp căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương đề ra các nghị quyết, các biện pháp thực hiện các quyết định của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và đề ra các nghị quyết cho UBND cùng cấp thực hiện
Mặt khác, Chính phủ với tư cách cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cấp cao nhất của toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước, từ Trung ương đến UBND các cấp, các cơ quan, công sở hành chính, sự nghiệp trong cả nước
* Cơ quan hành chính nhà nước địa phương
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là hệ thống các cơ quan triển khai
tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống ở địa phương
Ý nghĩa quan trọng nhất cần phải có các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là do:
- Chính phủ không thể trực tiếp điều hành tất cả các công việc của nhà nước trên phạm vi toàn lãnh thổ Vì thế cần có chính quyền nhà nước tại địa phương
- Mỗi địa phương đều có những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, về kinh tế - xã hội, về truyền thống văn hóa, phong tục tập quán vì thế chính quyền trung ương không thể nào hiểu và thỏa mãn được đầy đủ các nhu cầu của từng địa phương Để gần dân hơn, tìm hiểu và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của dân cũng như thực hiện tốt hơn chức năng quản lý nhà nước, cần phải có chính quyền nhà nước ở địa phương Việc thành lập các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nhằm những mục đích sau:
- Để triển khai thực hiện các quyết định của các cơ quan nhà nước trung ương;
- Tạo điều kiện để nhân dân địa phương tự quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương;
Trang 22- Giảm bớt gánh nặng của chính quyền trung ương, tạo điều kiện để chính quyền trung ương tập trung sức lực vào giải quyết những công việc tầm cỡ quốc gia;
- Tôn trọng quyền lợi của địa phương trong các chính sách, quyết định của nhà nước
Tổ chức bộ máy cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ở Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương và được quy định thành 03 cấp:
- Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;
- Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường
và xã, quận chia thành phường
UBND - cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có hai tư cách:
Một là, cơ quan chấp hành của HĐND, chịu trách nhiệm thi hành các nghị
quyết của HĐND và báo cáo công việc trước HĐND cùng cấp và UBND cấp trên HĐND có quyền bãi miễn các ủy viên của UBND, giám sát các hoạt động và bãi bỏ những quyết định không thích đáng của UBND cùng cấp UBND chịu sự giám sát của HĐND và đôn đốc của Thường trực HĐND
Hai là, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm không
chỉ chấp hành những nghị quyết của HĐND cùng cấp mà còn chấp các quyết định của các cơ quan chính quyền cấp trên, thi hành luật thống nhất trên cả nước UBND các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ - cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
Nhiệm vụ quyền hạn của UBND được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 là chấp hành và là hành chính nhà nước ở địa phương
Cơ cấu tổ chức của UBND chia thành 02 nhóm: Các ủy viên UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
* UBND cấp huyện trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước địa phương
- Vị trí, vai trò của cấp huyện:
Trang 23Cấp huyện ở Việt Nam hiện nay được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 bao gồm: huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
Theo quy định của pháp luật, cấp huyện chia thành 03 loại I, II, III ( Điều 3, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015) Tuy nhiên, ngoài chia thành 03
loại trên còn chia theo:
Huyện gắn với khu vực nông thôn;
Quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương gắn với khu vực đô thị
Mỗi đơn vị hành chính cấp huyện đều được tổ chức chính quyền tương ứng Chính quyền cấp huyện gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Cấp huyện là đơn vị hành chính lãnh thổ trung gian nằm giữa tỉnh và xã Chính quyền cấp huyện chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp tỉnh và trực tiếp quản lý nhà nước đối với chính quyền địa phương cấp
xã
Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh với chính quyền địa phương cấp huyện và giữa chính quyền địa phương cấp huyện với chính quyền địa phương cấp xã được xem xét dưới hai góc độ:
Quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước,
Quan hệ trong việc cung cấp dịch vụ (kể cả dịch vụ hành chính công)
Như trên đã nêu, có 05 loại chính quyền địa phương cấp huyện, trong đó 04 loại gắn với đô thị; huyện gắn với quản lý vùng nông thôn Chính quyền quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn phân biệt với nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền huyện ở nông thôn
- Mối quan hệ của cấp huyện với cấp tỉnh và cấp xã:
Trong hệ thống chính quyền 4 cấp, chính quyền cấp huyện là cấp trực tiếp quản lý chính quyền cấp xã và chỉ đạo, định hướng, kiểm tra hoạt động của chính quyền cấp xã
Trang 24Hiến pháp qua các thời kỳ cũng như Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đã xác định ở mức độ nhất định mối quan hệ giữa các cấp quản lý trong
hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định cụ thể nhiệm vụ
và quyền hạn của từng cấp Đồng thời xác định mối quan hệ phân cấp, phối hợp như
mô tả trong Hình 1.1
1.1.3 Cấp huyện trong xu hướng đổi mới theo Hiến pháp 2013
Nguồn: Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện:
Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính theo hướng chủ yếu tập trung
ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của từng cấp chính quyền; nhiệm
vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực hiện quản lý theo lãnh thổ; ở địa phương đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực
Đặc biệt, luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị nhằm thể hiện sự khác biệt với chính quyền nông thôn Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thành phố, quận, thị xã… ngoài việc quyết
Hiến pháp, các luật, pháp lệnh xác định cụ thể chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn của từng cấp
Ủy quyền của chính quyền địa phương cấp trên cho cấp dưới
Hình 1.1 Quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương ở Việt Nam
Cấp tỉnh
Cấp huyện
Cấp xã
Trang 25định các vấn đề của địa phương như đối với địa bàn nông thôn, còn tập trung quyết định các vấn đề quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, quản lý
và tổ chức đời sống dân cư đô thị Tuy nhiên, chính quyền cấp huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản như sau:
(1) Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn (2) Quyết định những vấn đề của địa phương trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương và quy định khác của pháp luật có liên quan
(3) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên
ủy quyền
(4) Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã (5) Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp tỉnh về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện
(6) Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn
- Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp huyện:
Tổ chức bộ máy Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm 02 nhóm: Ủy ban nhân dân cấp huyện (gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên là người đứng đầu các cơ quan chuyên môn, ủy viên phụ trách công an, ủy viên phụ trách quân sự) và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện [4]
Ngoài 02 nhóm tổ chức trên, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể thành lập một
số tổ chức trực thuộc khác (đơn vị sự nghiệp) để giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước các vấn đề trên địa bàn Chính phủ quyết định cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân các cấp cũng như số lượng các cơ quan chuyên môn [4]
Trang 26Cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND cấp huyện được mô tả tại Hình 1.2
Huyện ủy
(v tương đương) Các tổ chức
chính trị - xã hội
Hình 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp huyện
Nguồn: Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương
- Hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện:
Ủy ban nhân dân cấp huyện hoạt động theo nguyên tắc tập thể và cơ chế hoạt
động được pháp luật quy định Ủy ban nhân dân họp thường kỳ mỗi tháng một lần,
có thể có những cuộc họp bất thường [4] Các cuộc họp phải bảo đảm bảo 2/3 số ủy
viên Ủy ban nhân dân cấp huyện có mặt
Pháp luật quy định cụ thể nguyên tắc hoạt động của Ủy ban nhân dân nói
chung và Ủy ban nhân dân cấp huyện nói [4]
Nguyên tắc làm việc tập thể sẽ là một thách thức đối với tập thể Ủy ban nhân
dân khi xác định trách nhiệm Ở Việt Nam chưa có quy định chịu trách nhiệm tập
thể thông qua hình thức từ chức tập thể Muốn các quyết định tập thể không rơi vào
tình huống xấu để phải chịu trác nhiệm, các ủy viên Ủy ban nhân dân phải có đủ
năng lực để tham gia vào hoạt động tâp thể, có kỹ năng chia sẻ ý tưởng, thuyết
trình, thuyết phục được người khác ủng hộ ý kiến của mình cũng như phân tích để
chỉ ra tính không hợp lý, không khoa học của những ý tưởng mà các ủy viên khác
Đơn vị sự nghiệp
do Ủy ban nhân dân huyện thành
lập
Trang 271.2 Tổng quan về năng lực quản lý
1.2.1 Khái niệm về năng lực
Năng lực là một thuật ngữ mang tính đa nghĩa Tùy theo từng trường hợp khác nhau mà thuật ngữ này sử dụng với ý nghĩa khác nhau Thuật ngữ năng lực được hiểu, diễn đạt theo nhiều cách khác nhau
Theo quan điểm của các nhà tâm lý học: "Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định
nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao" [17] Các năng lực hình thành
trên cơ sở của các tư chất tự nhiên, của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có
Theo từ điển tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học tháng 5/2000 thì "năng lực được hiểu là tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện đầy đủ một số nhiệm vụ nào đó và thành công trong thực thi
một chức vụ nào đó".Và là "khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để
thực hiện một hoạt động nào đó là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người
khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao"
Theo cuốn "Thuật ngữ hành chính" do Bộ Nội vụ, Học viện Hành chính quốc gia và Viện nghiên cứu Hành chính xuất bản năm 2002 thì "năng lực" được hiểu là
"Khả năng về thể chất và trí tuệ của cá nhân con người hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tự tạo lập và thực hiện các hành vi cư xử của mình trong các quan hệ
xã hội nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do Nhà nước hay chủ thể khác ấn định với kết quả tốt nhất"
Như vậy, nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả hoạt động nào đó Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẻ mà là một tập hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động Các thuộc tính ấy
có quan hệ tác động lẫn nhau, thống nhất với nhau trong một chỉnh thể Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng lực tiềm ẩn, những năng lực đó được bộc lộ ra hay không tùy thuộc vào những điều kiện chủ quan hay khách quan Năng lực vừa mang tính bẩm sinh có sẵn, vừa là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn của con người
Trang 28Vậy năng lực là sự kết hợp của nhiều kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với một tình huống nào đó Tức là năng lực là khả năng vận dụng kết hợp nhiều kiến thức, kỹ năng và thái độ để phản ứng phù hợp với một tình huống nào đó Tóm lại, khái niệm năng lực được sử dụng trong luận văn này: Năng lực là khả năng thực hiện nhằm đạt mục tiêu định trước với kết quả tốt nhất
1.2.2 Khái niệm về năng lực quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, nhu cầu tổ chức, điều hành xã hội cũng hình thành như một tất yếu lịch sử Trong lịch sử, trình độ, tính chất quản lý xã hội phát triển từ thấp đến cao theo sự phát triển của xã hội Xã hội được quản lý tốt bằng những cơ chế, biện pháp tiến bộ thì ổn định, không ngừng phát triển và ngược lại Hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ quản lý Có quan niệm cho rằng quản lý là hành chính, là cai trị Có quan niệm khác lại cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Các cách nói này nhìn chung không
có gì khác nhau về nội dung mà chỉ khác về cách dùng thuật ngữ, khác về cách diễn giải Quản lý được hiểu theo hai góc độ: một là góc độ tổng hợp mang tính chính trị xã hội; góc độ khác mang tính hành động thiết thực Hai quan niệm này đều có cơ sở khoa học và thực tế Nhìn chung, quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính.v.v trên cơ sở kết hợp các yếu
tố đó với nhau nhằm đạt được mục tiêu định trước
Dưới góc độ xã hội học, quản lý là một khái niệm chỉ chức năng của các hệ thống có tính tổ chức, chức năng này có trong giới sinh học, trong đời sống xã hội
và trong quản lý kĩ thuật Quản lý nói chung là chức năng nhằm bảo vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ hoạt động thực hiện một chương trình và một mục đích của hoạt động đã được ý thức hoá của một tập đoàn người, của một tổ chức xã hội hoặc của một cá nhân nào đó với tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ:
Mary Parker Follet: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”
Trang 29Robert Albanese: “Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục đích của tổ chức”
Harolk Kootz & Cyryl O‟Donell: “Quản lý là việc thiết lập và duy trì môi trường nơi mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm”
Tóm lại, khái niệm quản lý có thể được hiểu là sự tác động liên tục, có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu lực tối ưu so với yêu cầu đặt ra hoặc quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội
và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan
Năng lực quản lý của một tổ chức tức khả năng của tập thể các nhà quản lý các cấp có thể tạo ra nhằm thực hiện được những nhiệm vụ mà tổ chức đã đề ra hoặc được trao cho Trong khu vực nhà nước, những nhiệm vụ mà tổ chức phải thực hiện phụ thuộc vào mức độ tự chủ của tổ chức có được trong khuôn khổ chung của thể chế nhà nước Tuy nhiên mức độ tự chủ phụ thuộc vào cách thức mà pháp luật nhà
nước quy định cho từng loại tổ chức [17]
Năng lực quản lý được đề cập trong luận văn này được hiểu là khả năng thực hiện các chức năng quản lý thể hiện qua hiệu quả quản lý nhằm đạt được mục tiêu
đề ra
1.2.3 Khái niệm về năng lực quản lý nh nước
Trong các loại hình quản lý, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Năng lực quản lý nhà nước gắn liền với các chức năng quản lý nhà nước [11]
Quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây:
- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
Trang 30- Đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
- Quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…
Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong xã hội
Theo nghĩa rộng, 3 chức năng cơ bản của Quản lý nhà nước, đó là: (1) chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; (2) chức năng hành pháp (chấp hành
và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; (3) chức năng tư pháp
do cơ quan tư pháp thực hiện
Tuy vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật [11] Theo đó, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quản lý được giới hạn trong các cơ quan hành pháp, đó là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp; hệ thống các cơ quan: quyền lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nước Nếu tiếp cận khái niệm quản lý nhà nước dưới góc độ này, Quản lý nhà nước bao gồm có 2 chức năng cơ bản: (1) Lập quy được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện pháp luật; (2) Tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội
Quản lý nhà nước được đề cập trong luận văn này được hiểu theo nghĩa là quản lý hành chính nhà nước
Vậy Năng lực quản lý nhà nước là khả năng thực hiện các chức năng quản lý hành chính nhà nước của bộ máy hành chính nhà nước, nhằm huy động tổng hợp các nguồn lực công để đạt các mục tiêu của quản lý nhà nước
Quản lý có 4 chức năng sau :
- Chức năng hoạch định: là chức năng quan trọng nhất của quản lý, nhằm định
ra chương trình, mục tiêu, chiến lược mà quản lý cần đạt được
Trang 31- Chức năng tổ chức: là chức năng nhằm hình thành nhóm chuyên môn hóa, các phân hệ tạo nên hệ thống để cùng góp phần và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu mong muốn
- Chức năng kiểm tra: là chức năng nhằm kịp thời phát hiện ra những sai sót trong quá trình hoạt động và các cơ hội đột biến trong hệ thống Đây là chức năng quan trọng nhất của người lãnh đạo
- Chức năng điều chỉnh: là chức năng sửa chữa các sai sót nảy sinh, tạo thế cân bằng mới trong quá trình hoạt động, tận dụng các cơ hội thúc đẩy tổ chức phát triển nhanh chóng
1.3 Các yếu tố cấu th nh năng lực quản lý nh nước
Thuật ngữ “thể chế” trong cách tiếp cận nhằm chỉ một tổ chức với những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền, quy tắc hoạt động của nó buộc các thành viên của tổ chức đó thống nhất chấp hành Trong trường hợp này, “thể chế” được định nghĩa là một tổ chức gắn liền với những quy định về hoạt động của tổ chức đó
Có quan niệm cho rằng thể chế là những quy chế, nội quy có thể được ban hành chính thức (bằng văn bản) hoặc không chính thức (thỏa thuận bằng văn nói )
để điều chỉnh, can thiệp vào quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa nhằm đảm bảo cho các mối quan hệ đó phát triển theo ý định có trước của tổ chức
Thể chế cũng được hiểu là pháp luật, phong tục tập quán đã được thiết lập và nhiều người phải tuân theo Trong trường hợp này, thể chế là những quy định chung bắt buộc mọi người trong tổ chức phải tuân theo
Thể chế luôn gắn liền với tổ chức, do đó, trong một ý nghĩa tương đối có thể
đưa ra khái quát định nghĩa thể chế như sau: Thể chế bao hàm tổ chức với hệ thống
Trang 32các quy tắc, quy chế được sử dụng để điều chỉnh sự vận hành của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [10]
Giống như thuật ngữ thể chế, thể chế hành chính cũng chưa có một định nghĩa đầy đủ Căn cứ vào hoạt động của hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp
có thể đưa ra một cách tiếp cận đến thuật ngữ thể chế hành chính
Thể chế hành chính nhà nước là một hệ thống gồm luật, các văn bản pháp quy dưới luật tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước, một mặt là thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như cho mọi tổ chức và cá nhân sống và làm việc theo pháp luật; mặt khác là các quy định các mối quan hệ trong hoạt động kinh tế cũng như các mối quan hệ giữa các cơ quan và nội bộ bên trong của các cơ quan hành chính nhà nước
Có thể tiếp cận thể chế hành chính nhà nước hay định nghĩa thể chế hành chính nhà nước từ những gì cần thiết để các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động có hiệu quả
Có thể tóm lược định nghĩa thể chế hành chính nhà nước như sau: Thể chế hành chính nhà nước là toàn bộ các yếu tố cấu thành hành chính nhà nước để hành chính nhà nước hoạt động quản lý nhà nước một cách hiệu quả, đạt được mục tiêu của quốc gia” [10]
Với quan niệm về thể chế hành chính nhà nước như trên, thể chế hành chính nhà nước được cấu thành từ các yếu tố:
- Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở
- Hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước điều chỉnh sự phát triển kinh tế
- xã hội trên mọi phương diện, đảm bảo xã hội phát triển ổn định, an toàn, bền vững Đó là thể hiện quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực (thể chế kinh tế, thể chế văn hóa, thể chế về an ninh, an toàn, trật tự trị an và quốc phòng )
- Hệ thống các văn bản pháp luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến tậm cơ sở, bao gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước được thành lập theo luật định
- Hệ thống các văn bản quy định chế độ công vụ và các quy chế công chức
Trang 33- Hệ thống các chế định về tài phán hành chính nhằm giải quyết những tranh chấp hành chính giữa công dân với nền hành chính thông qua khiếu kiện về sự vi phạm pháp luật của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với công dân, đối với các tổ chức xã hội
- Hệ thống các thủ tục hành chính nhằm giải quyết các quan hệ giữa nhà nước với công dân và các tổ chức xã hội Đó là hệ thống các thủ tục phức tạp, đòi hỏi phải công khai, rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ tiếp cận
* Vai trò của thể chế hành chính:
Hệ thống thể chế hành chính là căn cứ và tiền đề pháp lý cho các hoạt động quản lý, điều hành của bộ máy hành chính nhà nước, chủ yếu tập trung ở 2 nhóm: Một là, hệ thống các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, chủ yếu là xác định địa vị pháp lý, chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước Phần lớn những quy định này được thể hiện trong các luật như Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương…, các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ của các
bộ, cơ quan ngang bộ, về cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện… và hệ thống các quy chế làm việc của các cơ quan, văn bản có liên quan đến nội dung phân công, phân cấp quản lý nhà nước
Hai là, hệ thống văn bản do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành theo thẩm quyền (dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật hành chính, văn bản cá biệt) để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Hầu hết các thủ tục hành chính liên quan đến mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân và doanh nghiệp đều nằm ở nhóm quy định này Do vậy, số lượng các văn bản này thường rất lớn so với nhóm thứ nhất và thường xuyên có sự thay đổi để đáp ứng mục tiêu và yêu cầu quản lý phù hợp với sự biến động và tác động của các quan hệ khách quan
Môi trường thể chế là điều kiện tiên quyết để duy trì và bảo đảm sự vận hành của cả hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Các quy định này thể hiện trong bốn loại quan hệ: giữa cơ quan hành chính với cơ quan nhà nước nói chung (các cơ quan trong hệ thống lập pháp và tư pháp); giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau; giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp; giữa cơ quan
Trang 34hành chính nhà nước và các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị Các cơ quan hành chính nhà nước chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong môi trường thể chế thuận lợi, gồm hệ thống văn bản chứa đựng các quy định được ban hành đúng thẩm quyền, kịp thời, phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội và bảo đảm sự bao quát toàn bộ các ngành, lĩnh vực quản lý từ trung ương đến địa phương
Hệ thống các thiết chế hành chính nhà nước bao gồm các cơ quan quản lý hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương Hiệu quả hoạt động của các cơ quan này không hoàn toàn phụ thuộc vào hình thức, quy mô tổ chức mà chủ yếu và trước hết vào tính hoàn thiện của chúng xét trên các phương diện sau:
- Vị trí, chức năng từng cơ quan phù hợp với tính chất tổ chức bộ máy cũng như nội dung, phạm vi yêu cầu quản lý nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế
- xã hội trong từng giai đoạn cụ thể;
- Nội dung các nhiệm vụ được xác định bảo đảm tính bao quát, toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và đối với tất cả các khâu của quá trình quản lý (như quy hoạch, kế hoạch, tổ chức triển khai, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm…);
- Cơ cấu tổ chức phù hợp với quy mô và trình độ quản lý, được phân công, phân cấp hợp lý, định rõ trách nhiệm của từng chủ thể đi liền với hệ thống các giải pháp hỗ trợ có hiệu quả;
- Hệ thống các quy định, quy chế đầy đủ, bao quát quy trình vận hành và sự phối hợp, kết hợp giữa các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương;
Kinh nghiệm cho thấy, đây là những yếu tố cần và đủ bảo đảm sự vận hành thống nhất, thông suốt và tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước
1.3.2 Tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của bộ máy
Hành chính nhà nước ở địa phương là hệ thống các cơ quan triển khai tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống ở địa phương
Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương ở Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật khác Theo Hiến pháp 2013 phân chia địa giới hành chính ở Việt Nam được quy định thành 3 cấp: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện,
Trang 35thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường Việc thành lập Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định Luật tổ chức Chính quyền địa phương quy định cụ thể những nội dung Hiến pháp quy định
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân: Nhiệm vụ, quyền hạn chung của
Uỷ ban nhân dân được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương Qua các bản Hiến pháp và các Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân trước đây và Luật tổ chức chính quyền địa phương hiện nay đều có thể thống nhất chung là: nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân là chấp hành và
là hành chính nhà nước ở địa phương Cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân: Cũng giống như chính phủ, cơ cấu tổ chức Ủy ban nhân dân cũng chia thành 2 nhóm: Các
ủy viên của Ủy ban nhân dân; Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Các ủy viên của Ủy ban Nhân dân gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các uỷ viên
Uỷ ban nhân dân Chủ tịch phải là đại biểu Hội đồng nhân dân Các thành viên khác không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân Chủ tịch được Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu nhưng phải được chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn Số lượng thành viên Ủy ban nhân dân do pháp luật quy định
Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân đóng vai trò “tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân” thực hiện các chức năng quản lý nhà nước theo ngành trên địa bàn lãnh thổ Mỗi một cấp hành chính nhà nước ở địa phương (cấp tỉnh; cấp huyện và cấp xã) có một cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và được quy định bằng văn bản pháp luật Cấp tỉnh và huyện có các cơ quan chuyên môn do chính phủ quy định bằng nghị định; Cấp xã không tổ chức các cơ quan chuyên môn
mà trực tiếp tham mưu giúp việc cho Ủy ban Nhân dân là công chức cấp xã Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được các văn bản pháp luật quy định là “người lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân”
Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là quản lý hành chính nhà nước, là hoạt động chịu sự chi phối, tác động của rất nhiều yếu tố và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một yếu tố thay đổi sẽ kéo theo các nhân tố khác thay đổi Đó
là các yếu tố như cơ cấu, tổ chức, chức năng của các cơ quan hành chính, đội ngũ
Trang 36cán bộ, công chức, chế độ công vụ… Vấn đề chủ yếu ở đây là sự phân công trong nội bộ hệ thống tổ chức, việc xác định nhiệm vụ cho các cơ quan khác nhau để tạo được sự điều hoà, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được mục tiêu tổng thể của hệ thống các cơ quan hành chính và cả bộ máy nhà nước nói chung Cơ cấu
tổ chức hợp lý sẽ tránh được sự chồng chéo, vướng mắc, dễ dàng phối hợp, điều chỉnh công việc trong thực hiện nhiệm vụ, tiết kiệm thời gian; ngược lại nếu cơ cấu bất hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động Bộ máy hành chính là một chỉnh thể và mỗi cơ quan hành chính là một bộ phận, cả bộ máy chỉ hoạt động tốt khi mỗi bộ phận vừa thực hiện tốt nhiệm vụ của mình vừa phối hợp tốt với các bộ phận khác để hoàn thành được mục tiêu chung
1.3.3 Đội ngũ cán bộ, công chức
* Khái niệm cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức" Thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước và tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản
lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng cán bộ; công chức; viên chức Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật khác (ví dụ như Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Luật Bình đẳng giới; Luật Giáo dục; ) đều có những điều, khoản sử dụng các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức", nhưng chưa có một văn bản luật nào giải thích các thuật ngữ này
Theo điều luật số: 22/2008/QH12 Luật cán bộ công chức được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 quy định:
- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,
Trang 37chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung
là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
* Đặc điểm của cán bộ, công chức
Đội ngũ CBCC được tạo nên từ hai nguồn chính là bầu cử và tuyển dụng Do các tổ chức hành chính nhà nước có cấu trúc thứ bậc, thực hiện các chức năng đa dạng, phức tạp và có những đặc trưng cơ bản đó là:
- CBCC là nhân tố chủ yếu, nhân tố hàng đầu đóng góp vào sự tồn tại, phát triển của cơ quan, tổ chức Đồng thời họ chịu sự ràng buộc theo những nguyên tắc
và khuôn khổ nhất định do tổ chức đặt ra;
- CBCC mang tính Đảng, tính giai cấp rõ rệt và sản phẩm của họ là các quyết định quản lý; CBCC là những người được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ;
- Đội ngũ CBCC hoạt động mang tính chất ổn định, ít chịu biến động nhằm duy trì tính ổn định, liên tục của nền hành chính; họ được bảo hộ bằng quy định
“biên chế nhà nước”
Trang 38* Vai trò của cán bộ, công chức
- Là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, đưa các chính sách và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành thực tiễn và tiếp thu nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt được những yêu cầu của thực tiễn của cuộc sống để phản ánh kịp thời với cấp trên, là một trong những nguồn lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Đội ngũ CBCC có vị trí, vai trò quyết định trong việc triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại cơ sở Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, làm cho Đảng, Nhà nước “ăn sâu, bám rễ” trong quần chúng nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Như vậy, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động hay không, tùy thuộc phần lớn vào sự tuyên truyền và tổ chức vận động nhân dân của đội ngũ CBCC
- CBCC có số lượng lớn và vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền các cấp nói riêng Bởi vì
họ là những người trực tiếp gắn bó với địa phương, am hiểu tâm tư, nguyện vọng của người dân địa phương, đồng thời là người đại diện cho nhân dân trong việc cung cấp thông tin cho các cán bộ lãnh đạo để đưa ra quyết định quản lý khoa học, đúng đắn
- CBCC cũng là những người trực tiếp hòa giải những xung đột, mâu thuẫn tranh chấp trong nội bộ nhân dân, hiện thực hóa quyền làm chủ cơ sở của nhân dân Vì vậy, trình độ và phẩm chất của đội ngũ này có ảnh hưởng rất lớn đến sự vận hành liên tục và hiệu quả của bộ máy nhà nước Và thực tế cũng chứng minh: Nơi nào quan tâm đầy đủ và làm tốt công tác cán bộ, có đội ngũ cán bộ, công chức vững mạnh thì nơi ấy tình hình chính trị xã hội ổn định, kinh tế văn hóa phát triển, quốc phòng, an ninh được giữ vững, mọi chủ trương chính sách của Đảng được triển khai có hiệu quả Ngược lại, ở đâu đội ngũ CBCC không được quan tâm, để xảy ra tình trạng tham nhũng, của quyền, hách dịch thì nơi đó tình hình địa phương gặp nhiều khó khăn, phức tạp, dễ bị kẻ xấu lợi dụng
Trang 39CBCC là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng hệ thống chính trị, là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực của địa phương, động viên mọi tầng lớp nhân dân ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêu về kinh tế- xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương
1.3.4 Nguồn lực tài chính và hệ thống cơ sở vật chất
Những bảo đảm về mặt tài chính và điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý nhà nước phụ thuộc một phần vào nhu cầu quản lý, nhưng chủ yếu là trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, địa phương trong từng giai đoạn Việc đầu tư về tài chính, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm cho
sự vận hành của bộ máy và hoạt động của chế độ công vụ, công chức vừa là điều kiện, vừa là một trong những tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực, hiệu quả của nền hành chính (xét về hiệu quả chi tiêu công) Mặc dù mức chi tiêu cụ thể cho bộ máy hành chính luôn là vấn đề gây tranh cãi và khó thống nhất quan điểm, nhưng thước đo chủ yếu vẫn là năng lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính, mức chi tiêu phải phù hợp với trình độ phát triển, nhu cầu quản lý và coi đó là nguồn đầu
tư cho phát triển
Các yếu tố nêu trên được xem là những “yếu tố bên trong” gắn liền với cơ cấu
tổ chức và quá trình vận hành của hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở
* Nguồn lực tài chính
Tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước được hiểu là các hoạt động thu
và chi bằng tiền của các cơ quan nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên của
cơ quan nhà nước, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó Nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước có thể do ngân sách nhà nước (NSNN) cấp toàn bộ hoặc cấp một phần Để duy trì các hoạt động cho sự tồn tại và phát triển của các cơ quan hành chính Nhà nước đòi hỏi phải
có các nguồn tài chính đảm bảo Trong khi đó, hoạt động của các cơ quan đơn vị này thực hiện mục đích phục vụ lợi ích công cho xã hội, không đòi hỏi người nhận những dịch vụ và hàng hóa do tổ chức mình cung cấp phải trả tiền Do đó, NSNN sẽ phải cấp phát kinh phí để duy trì hoạt động của các tổ chức công Hiện nay, các tổ chức công được phép thu một số khoản thu như phí, lệ phí và các khoản thu khác
Trang 40theo Luật pháp quy định nhằm bổ sung nguồn kinh phí hoạt động nhưng xét tổng thể thì nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu vẫn do Nhà nước cấp
Quản lý tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước thường được hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định Quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và các nhiệm vụ mà nhà quản lý phải thực hiện thường xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời tổ chức kiểm tra Ngoài ra nó còn hàm ý cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của tổ chức Tài chính được thể hiện là sự vận động của các dòng vốn gắn với sự tạo lập và sử dụng những quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội trong đó phản ánh các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể Quản lý tài chính trong các cơ quan HCNN là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính trong các cơ quan HCNN để đạt những mục tiêu đã định Đối tượng quản lý của Quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị, đó chính là hoạt động tài chính của những cơ quan, đơn vị này Đó là các mối quan hệ kinh tế trong phân phối gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong mỗi cơ quan, đơn vị Cụ thể là việc quản lý các nguồn tài chính cũng như những khoản chi đầu tư hoặc các khoản chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị Để Quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị; cơ quan, đơn vị sử dụng nhiều phương pháp cũng như nhiều công cụ quản lý khác nhau nhưng mục đích hướng đến của quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị cũng là tính hiệu quả trong hoạt động tài chính để nhằm đạt đến những mục tiêu đã định
Xác định nhiệm vụ chi tài chính trong các cơ quan HCNN ở mỗi cơ quan, đơn
vị, các khoản chi được chia thành hai loại: Các khoản chi hoạt động thường xuyên
và các khoản chi hoạt động không thường xuyên
Chi thường xuyên trong các cơ quan, đơn vị là khoản chi để duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị này, thường ít có biến động lớn qua các năm, các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét Tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi bộ phận của cơ quan, đơn vị phải thực hiện