TS Nguyễn Đại Thắng đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Hoàn thiện công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN TIẾN THẮNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CỨU TRỢ, HỖ TRỢ LƯƠNG THỰC TẠI CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC
KHU VỰC HOÀNG LIÊN SƠN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 180090 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Đại Thắng
HÀ NỘI - 2019
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn cao học “Hoàn thiện công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GVC TS Nguyễn Đại Thắng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Thắng
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Viện Kinh tế và quản lý Đại học Bách khoa Hà Nội, tập thể các thầy, cô giáo đã giảng dạy, tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo GVC TS Nguyễn Đại Thắng đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Hoàn thiện công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn”
Xin trân trọng cảm ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Thắng
Trang 6iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ, HỖ TRỢ LƯƠNG THỰC TỪ NGUỒN DỰ TRỮ QUỐC GIA 6
1.1 Tổng quan về Dự trữ quốc gia 6
1.1.1.Khái niệm về dự trữ, dự trữ quốc gia, hoạt động dự trữ quốc gia 6
1.2.Hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn Dự trữ quốc gia 14
1.2.1 Khái niệm về cứu trợ, hỗ trợ lương thực, hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực………… 14
1.2.2.Cơ chế chính sách về cứu trợ, hỗ trợ lương thực 16
1.2.3.Nội dung của hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực 17
1.2.4.Các tiêu chí đánh giá hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực 19
1.2.5.Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia 21
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cứu trợ, hỗ trợ lương thưc từ nguồn dự trữ quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam 25
1.3.1.Kinh nghiệm của một số nước 25
1.3.2.Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 28
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ, HỖ TRỢ LƯƠNG THỰC TẠI CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC KHU VỰC HOÀNG LIÊN SƠN 31 2.1 Giới thiệu tổng quan về Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 31
2.1.1 Quá trình hình thành, chức năng và nhiệm vụ của Cục 31
2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của Cục 33
2.1.3 Nguồn lực của Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 35
Trang 7v
2.2 Phân tích thực trạng công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn dự trữ
quốc gia của Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 39
2.2.1 Các cơ chế chính sách có liên quan đến công tác cứu trợ, hỗ trợ 39
2.2.2 Kết quả hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực của Cục giai đoạn 2014-2018 43
2.2.3 Phân tích các nội dung hoạt động của công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực của Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 48
2.2.4 Đánh giá chung về hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 61
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CỨU TRỢ, HỖ TRỢ LƯƠNG THỰC TẠI CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC KHU VỰC HOÀNG LIÊN SƠN 67
3.1 Bối cảnh mới và định hướng hoàn thiện công tác cứu trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 67
3.1.1 Bối cảnh mới 67
3.1.2 Chiến lược phát triển Dự trữ Quốc gia đến năm 2025 68
3.1.3 Định hướng công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 70
3.2 Giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác cứu trợ lương thực tại Cục Dự trữ nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 71
3.2.1 Các căn cứ để đề ra giải pháp 71
3.2.2 Nội dung của các giải pháp 72
3.3 Một số kiến nghị với cấp trên và các bộ phận liên quan 77
3.3.1 Kiến nghị với cơ quan Tổng cục dự trữ nhà nước 77
3.3.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương 04 tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Giang và Yên Bái 77
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị hàng hóa dự trữ quốc gia tại các bộ, ngành 35 Bảng 2.2: Cơ cấu nhân lực theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ năm 2018 38 Bảng 2.3: Tổng hợp số liệu xuất cấp lương thực hỗ trợ học sinh trong giai đoạn 2014 - 2018 44 Bảng 2.4: Tổng hợp số liệu xuất cứu trợ lương thực khẩn cấp giai đoạn 2014 – 2018 46 Bảng 2.5 Tổng hợp số liệu về lương thực cứu trợ, hỗ trợ đã xuất cấpgiai đoạn
2014 - 2018 47 Bảng 2.6: Thống kê số lượt người được cứu trợ, hỗ trợ lương thực trong giai đoạn 2014 - 2018 49 Bảng 2.7: Tổng hợp lương thực xuất cấp hỗ trợ học sinh 04 tỉnh giai đoạn
2016 - 2018 54 Bảng 2.8: Thời gian triển khai cứu đói cho dân huyện Trạm Tấu bị ảnh hưởng bão lũ năm 2017 55
Trang 9vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 14
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn 34
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động Dự trữ Quốc gia có vị trí và vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững, bảo đảm ổn định chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước khi có xẩy ra thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, địch họa và tham gia bình ổn thị trường khi có tình huống đột biến xẩy ra; hoạt động Dự trữ Quốc gia luôn được phát triển và đổi mới, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
và tiến trình hội nhập quốc tế, bởi các yếu tố đó mà bất kỳ quốc gia nào cũng được coi dự trữ là nguồn lực quý giá nhất
Mục tiêu của Dự trữ quốc gia là chủ động phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh trong tình huống đột xuất, cấp bách Trong thực hiện mục tiêu của DTQG thì cứu trợ, hỗ trợ là một hoạt động quan trọng của Tổng cục DTNN nói chung và Cục Dự trữ nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn nói riêng trong việc đảm bảo an sinh
xã hội Đặc biệt đã cứu trợ, hỗ trợ lương thực cho nhân dân 04 tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai và Hà Giang bị thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh, mất mùa hoặc điều kiện kinh tế khó khăn mà không thể tự lo liệu được cuộc sống của mình và gia đình trong những lúc giáp hạt, giáp Tết càng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động DTQG, góp phần bảo đảm an sinh xã hội,
ổn định đời sống nhân dân, phát triển sản xuất, bảo đảm trật tự an toàn xã hội Trong công tác thực hiện cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG của Cục
Dự trữ nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn thì việc thực hiện đúng cơ chế chính sách quản lý nhà nước, quy trình cứu trợ, hỗ trợ, công tác quản lý xuất cấp, sử dụng lương thực cứu trợ từ nguồn DTQG đã có những tiến bộ theo thời gian
Tuy nhiên, nhìn chung công tác quản lý nhà nước về hoạt động cứu trợ,
hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG của Cục Dự trữ nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn trong thời gian qua còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được những
Trang 11yêu cầu thực tiễn đặt ra về quản lý nhà nước đối với công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn vấn đề: “Hoàn thiện công tác cứu trợ,
hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn” làm đề
tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý kinh tế vừa có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề cứu trợ xã hội đã được nhiều công trình nghiên cứu trên phạm vi
cả nước cũng như từng địa phương Trong số các công trình liên quan đến cứu trợ xã hội nói chung có các công trình tiêu biểu sau:
- “Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay” (2012) của
Bùi Thị Thanh Huyền, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn tổng quan và làm rõ hơn cơ sở lý luận về trợ giúp xã hội thường xuyên Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên (những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế) trên địa bàn tỉnh Thái Bình từ năm 2007 đến năm 2011 Đề xuất những giải pháp để triển khai thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên trong giai đoạn 2010-2020
- “Hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam” (2011) của
Nguyễn Bích Ngọc, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh
tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và giới thiệu kinh nghiệm quốc tế về trợ giúp xã hội thường xuyên Làm rõ hơn sự cần thiết của hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam và chỉ rõ các vấn đề đặt ra cần được giải quyết Đưa ra một số định hướng và kiến nghị những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt động trợ giúp thường xuyên ở Việt Nam
Trang 12- “Công tác cứu trợ xã hội ở một tỉnh miền Trung: Kinh nghiệm và khó khăn” (2008) của Trương Đình Đức đăng trên Tạp chí Lao động - Xã hội số
331 Bài viết về công tác cứu trợ xã hội ở một tỉnh miền Trung; phân tích khó khăn của địa phương trong công tác cứu trợ xã hội, đồng thời rút ra một số kinh nghiệm cho công tác cứu trợ xã hội
Còn nhiều công trình nghiên cứu khác, tuy nhiên đến thời điểm này,
chưa có luận văn, luận án nào nghiên cứu về:“Hoàn thiện công tác cứu trợ,
hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn”; do
vậy đề tài không trùng lắp với các nghiên cứu khác
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá những thành công, hạn chế
và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn cho giai đoạn 2020 – 2025
b) Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực thực tiễn cơ bản về hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG
- Phân tích thực trạng hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực
tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ
nguồn DTQG cấp Cục Dự trữ Nhà nước khu vực
b) Phạm vi nghiên cứu
Trang 13Công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn giai đoạn 2014-2018 và định hướng phát triển đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu
Đề tài sử dụng tài liệu, số liệu thứ cấp Các thông tin, dữ liệu, số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản quản lý của các cấp, các ngành có liên quan;
từ các công trình khoa học liên quan đến đề tài; từ niên giám thống kê, báo cáo tổng kết của Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn, các cơ quan chức năng, địa phương liên quan đến công tác cứu trợ, cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG trong giai đoạn 2013-2017
b) Phương pháp thống kê, mô tả
Sau khi thu thập số liệu, dùng phương pháp thống kê, mô tả để tiến hành thống kê, mô tả và tổng hợp các loại chỉ số tuyệt đối, tương đối và số bình quân Trên cơ sở đó, luận văn mô tả quy mô và sự thay đổi của các chỉ tiêu về công tác cứu trợ lương thực tại Cục DTNN khu vực Hoàng Liên Sơn
c) Phương pháp so sánh
Phương pháp này để so sánh kết quả hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN theo thời gian để khẳng định các vấn đề ưu tiên giải quyết, tính hiệu quả trong việc thực thi các chính sách cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG Đồng thời, so sánh số lượng đối tượng được hưởng qua các năm, qua các chính sách hỗ trợ để thấy rõ kết quả đạt được trong hoạt động cứu trợ lương thực
d) Phương pháp phân tích, tổng hợp
Luận văn đi từ phân tích thực trạng quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Cục DTNN khu vực Hoàng Liên Sơn, trên cơ sở đó sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra những đánh giá về thực trạng, những thành tựu cơ bản đạt được và những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Cục DTNN khu vực Hoàng Liên Sơn trong thời gian vừa qua
Trang 146 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương
thực từ nguồn dự trữ quốc gia
Chương 2: Thực trạng hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự
trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn
Chương 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác cứu
trợ, hỗ trợ lương thực tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ,
HỖ TRỢ LƯƠNG THỰC TỪ NGUỒN DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.1 Tổng quan về Dự trữ quốc gia
1.1.1 Khái niệm về dự trữ, dự trữ quốc gia, hoạt động dự trữ quốc gia
a) Dự trữ
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Dự trữ là toàn bộ những nguồn vốn hay giá trị mà một chủ thể kinh tế hay Nhà nước dành ra dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ để phòng ngừa và khắc phục có hiệu quả các tổn thất do thiên tai, biến cố bất ngờ gây ra đối với sản xuất, đời sống hoặc để đảm bảo cho sự liên tục không bị gián đoạn trong sản xuất kinh doanh Theo Từ điển Tiếng Việt: Dự trữ là trữ sẵn để dùng khi cần đến
b) Dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia (hay DTNN) là dự trữ của một đất nước - một quốc gia mà bất cứ một quốc gia nào cũng phải có Tuy nhiên, dự trữ quốc gia là gì? Cũng có những khái niệm khác nhau:
Dự trữ quốc gia, theo từ điển Bách khoa Việt Nam là dự trữ của một nước, do Nhà nước nắm giữ và quản lý, bao gồm dự trữ các vật tư hàng hoá quan trọng nhất, các loại vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, tiền chưa phát hành Là quỹ dự trữ lớn nhất, nhằm mục đích khắc phục những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn, trong một thời gian nhất định, dự trữ quốc gia là nguồn tích luỹ của quốc gia, là sức mạnh của đất nước
Giáo trình kinh tế thương mại, trường Đại học Kinh tế quốc dân thì cho rằng: DTQG là một dạng dự trữ đặc biệt của hàng hoá Dự trữ này do Nhà nước quy định bảo đảm các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân khi có thiên tai, chiến tranh và có sự biến động của thị trường
Hay trong giáo trình về quản lý kinh tế của Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Quỹ DTQG là một phần của
Trang 16cải vật chất của Nhà nước được tích lũy thành lực lượng dự phòng chiến lược
để sử dụng vào mục đích phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, phục vụ an ninh quốc phòng và thực hiện các nhiệm vụ khác của Chính phủ” mà “hàng hoá đưa vào quỹ DTQG là những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống và an ninh quốc phòng”
Luật Dự trữ quốc gia được Quốc hội (Khoá XIII) thông qua ngày
20/11/2012 Điều 4 Khoản 1 ghi rõ: Dự trữ quốc gia là dự trữ vật tư, thiết bị, hàng hóa do Nhà nước quản lý, nắm giữ Mục tiêu của dự trữ quốc gia: Nhà
nước hình thành, sử dụng DTQG nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn,
dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh (Điều 3 Luật dự trữ quốc gia) Tình huống đột xuất, cấp bách là tình trạng thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh có nguy cơ bùng phát trên diện rộng; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trật
tự an toàn xã hội cần được giải quyết ngay (Điều 4 Luật Dự trữ quốc gia)
Như vậy, DTQG trước hết là nguồn dự trữ chiến lược của quốc gia do nhà nước quản lý, nắm giữ nhằm thực hiện những nhiệm vụ có tính chiến lược đảm bảo cho hoạt động của nền kinh tế - xã hội được bình thường, ổn định và phát triển; tính chiến lược này được thể hiện trên các mặt cơ bản sau:
Một là, đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục
hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, đây là nhiệm vụ đầu tiên đáp ứng cả phòng và chống, đảm bảo cho sản xuất và đời sống diễn ra bình thường, không bị gián đoạn
Hai là, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước Nhiệm vụ giữ gìn
an ninh, quốc phòng của đất nước được đặt song song với phát triển kinh tế -
xã hội mang tính chiến lược lâu dài mà dự trữ quốc gia phải đảm nhiệm, đảm bảo cơ sở vật chất góp phần phòng ngừa và ngăn chặn bạo loạn, hành vi phá hoại, diễn biến hòa bình, chiến tranh tôn giáo, sắc tộc và gây chiến từ bên ngoài
Trang 17c) Hoạt động dự trữ quốc gia
Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ thống cơ
sở vật chất - kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia (Điều 4 Luật Dự trữ quốc gia)
Như vậy, nội dung của hoạt động DTQG bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình hình thành, duy trì và sử dụng DTQG như: Dự báo, xây dựng chiến lược, kế hoạch, dự toán ngân sách DTQG; xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật để quản lý DTQG; điều hành nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ DTQG và quản lý sử dụng có hiệu quả DTQG
1.1.2 Hệ thống tổ chức dự trữ quốc gia (Dự trữ Nhà nước) của Việt Nam
1.1.2.1 Quá trình hình thành phát triển của Ngành Dự trữ Nhà nước
Sau khi hoà bình được lập lại năm 1954, để thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng lịch sử trong cả nước, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá I, từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955, Quốc hội đã ra nghị quyết khẳng định chủ trương
của Đảng và nhà nước ta về công tác DTQG: “Xây dựng cho được một lực lượng dự trữ hùng hậu để ứng phó với mọi tình hình bất trắc xẩy ra”
Thực hiện nghị quyết của Quốc hội, ngày 13/1/1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 663/TTg về tổ chức dự trữ vật tư của quốc gia, với danh mục gồm 27 loại vật, tư hàng hoá trị giá trên 50 triệu đồng, đồng thời giao cho Uỷ ban kế hoạch Nhà nước theo dõi việc tổ chức và bảo quản hàng hoá dự trữ được giao tại 4 Bộ: Thương nghiệp, Công nghiệp, Quốc phòng, Y tế
Để thống nhất việc quản lý lực lượng DTQG, ngày 07/8/1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 997/TTg về việc thành lập Cục Quản lý dự trữ vật tư Nhà nước trực thuộc Phủ Thủ tướng (tổ chức tiền thân của Tổng cục DTNN ngày nay) Như vậy, hệ thống tổ chức cơ quan quản lý chuyên trách DTQG của Nhà nước Việt Nam chính thức ra đời và hoạt động với tư cách là một hệ thống tổ chức độc lập; có chức năng, nhiệm vụ quản lý
Trang 18chuyên trách các hoạt động DTQG kể từ ngày 07/8/1956
Để phù hợp với tình hình thực tế, kể từ tháng 8 năm 1964, Chính phủ chủ trương tăng cường một bước công tác quản lý Tổ chức của Cục phải chuyển từ phương thức quản lý tập trung sang phương thức phân tán đồng thời mở rộng việc quản lý theo nhiều ngành theo nguyên tắc: Cơ quan được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý, cung cấp loại hàng hoá nào thì có nhiệm
vụ quản lý DTQG về loại hàng đó để tận dụng hệ thống tổ chức, kho tàng và kinh nghiệm chuyên môn Theo nguyên tắc đó, tại các bộ, ngành có các tổ chức quản lý DTNN được thành lập, như: Cục Dự trữ vật tư thuộc Bộ Vật tư, Cục Dự trữ lương thực thuộc Bộ Lương thực, Cục Dự trữ Nội thương thuộc
Bộ Nội thương… Nhờ đó, mà hoạt động DTQG đã đóng góp kịp thời, có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng của đất nước
Bước vào công cuộc đổi mới, Cục Quản lý Dự trữ Vật tư Nhà nước đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Để đảm bảo tính tập trung thống nhất dưới sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ, ngày 18/02/1984 Hội đồng
Bộ trưởng có Nghị định số 31/HĐBT thành lập Cục Quản lý Dự trữ Nhà nước trên cơ sở Cục Dự trữ Vật tư Nhà nước thuộc Bộ Vật tư và các Cục Dự trữ thuộc các bộ, ngành; ngày 08/9/1988, Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định số 142/HĐBT ban hành quy chế quản lý DTQG, đồng thời đổi tên Cục Quản lý
Dự trữ Vật tư Nhà nước thành Cục DTQG trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động DTQG trong điều kiện phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 20/8/2000 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 102/2000/QĐ-TTg chuyển Cục Dự trữ quốc gia về trực thuộc
Bộ Tài chính và ngày 20/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 106/2009/QĐ-TTg về việc đổi tên nâng cấp Cục Dự trữ quốc gia thành Tổng cục DTNN trực thuộc Bộ Tài chính Hiện nay, Tổng cục DTNN có trụ sở đặt tại số 4, ngõ Hàng Chuối 1, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, TP
Hà Nội
Trang 191.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ngành Dự trữ Nhà nước [5]
Tại Quyết định số 106/2009/QĐ-TTg ngày 20/8/2009 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính
a) Vị trí và chức năng
- Tổng cục Dự trữ Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý Nhà nước về
dự trữ Nhà nước; trực tiếp quản lý các loại hàng dự trữ được Chính phủ giao
- Tổng cục Dự trữ Nhà nước có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước; kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp
b) Nhiệm vụ và quyền hạn
Tổng cục Dự trữ Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định:
+ Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ; dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về dự trữ Nhà nước; + Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, quy hoạch hệ thống kho, đề án, dự án quan trọng về dự trữ Nhà nước;
+ Danh mục, mức dự trữ từng loại hàng, tổng mức dự trữ Nhà nước và tổng mức tăng dự trữ Nhà nước trong từng thời kỳ và hàng năm;
+ Kế hoạch, dự toán ngân sách dự trữ Nhà nước và phương án phân bổ vốn bổ sung dự trữ Nhà nước hàng năm cho các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ Nhà nước;
+ Kế hoạch đặt hàng dự trữ Nhà nước tại các Bộ, ngành được Chính phủ giao trực tiếp quản lý hàng dự trữ;
Trang 20+ Việc sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước để tham gia bình ổn thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định:
+ Dự thảo thông tư và các văn bản khác về dự trữ Nhà nước;
+ Chế độ quản lý tài chính, ngân sách dự trữ Nhà nước, cơ chế mua, bán, nhập, xuất hàng dự trữ Nhà nước; chế độ thống kê, báo cáo về dự trữ Nhà nước;
+ Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật thuộc lĩnh vực dự trữ Nhà nước;
+ Cấp tăng vốn dự trữ Nhà nước; cấp chi phí nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, cứu trợ, viện trợ, bảo hiểm hàng dự trữ Nhà nước cho các Bộ, ngành, các cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý hàng dự trữ Nhà nước
- Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Dự trữ Nhà nước
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc lĩnh vực dự trữ Nhà nước sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dự trữ Nhà nước
- Tổ chức thực hiện đặt hàng dự trữ Nhà nước tại các cơ quan, đơn vị dự trữ và thực hiện ký hợp đồng bảo quản theo kế hoạch đã được phê duyệt
- Tổ chức quản lý, sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước theo chương trình, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện quản lý dự trữ Nhà nước bằng tiền theo quy định của pháp luật
- Trực tiếp quản lý các loại hàng dự trữ Nhà nước theo danh mục được Chính phủ giao:
+ Thực hiện nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ an toàn các hàng dự trữ được giao theo quy định của pháp luật;
Trang 21+ Thực hiện xuất hàng dự trữ Nhà nước để cứu trợ, cứu hộ, cứu nạn, viện trợ quốc tế hoặc sử dụng vào mục đích khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
- Tổ chức thực hiện công tác đầu tư xây dựng hệ thống kho, trang thiết bị
kỹ thuật theo chương trình, kế hoạch đã được duyệt
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật dự trữ Nhà nước; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật
- Tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ vào công tác dự trữ Nhà nước
- Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý; tổ chức thực hiện công tác thống kê và chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình quản
- Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt
- Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao và theo quy định của pháp luật
1.1.2.3 Mô hình tổ chức của Ngành Dự trữ Nhà nước
Mô hình tổ chức của Dự trữ Nhà nước Việt Nam gồm:
Trang 22- Cơ quan Tổng cục Dự trữ Nhà nước tại Trung ương: Có 09 tổ chức hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước (Vụ Chính sách và Pháp chế; Vụ Kế hoạch; Vụ Khoa học và Công nghệ bảo quản;
Vụ Quản lý hàng dự trữ; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tài vụ - Quản trị; Văn phòng; Thanh tra; Cục Công nghệ thông tin) và 01 tổ chức sự nghiệp (Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ Dự trữ Nhà nước)
- Gồm 22 Cục Dự trữ Nhà nước khu vực thuộc Tổng cục: Hà Nội; Tây Bắc; Vĩnh Phú; Hoàng Liên Sơn; Bắc Thái; Hà Bắc; Hải Hưng; Đông Bắc; Thái Bình; Hà Nam Ninh; Thanh Hóa; Nghệ Tĩnh; Bình Trị Thiên; Đà Nẵng; Nghĩa Bình; Nam Trung Bộ; Nam Tây Nguyên; Bắc Tây Nguyên; Thành phố
Hồ Chí Minh; Đông Nam Bộ; Tây Nam Bộ; Cửu Long
- Dưới các Cục gồm 96 Chi cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Cục Dự trữ Nhà nước khu vực
Trang 23Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước [5]
1.2 Hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn Dự trữ quốc gia 1.2.1 Khái niệm về cứu trợ, hỗ trợ lương thực, hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực
a) Cứu trợ
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Cứu trợ là sự giúp đỡ của Nhà nước
và xã hội về thu nhập và các điều kiện sống, bằng các hình thức khác nhau cho nhân dân khi bị thiên tai, dịch bệnh hoặc rủi ro, bất hạnh, đói nghèo, không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Cứu trợ xã hội bao hàm hai nội dung: Cứu tế và trợ giúp
- Cứu tế là giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính chất khẩn thiết,
Trang 24“cấp cứu” ở mức tối thiểu cần thiết cho những người lâm vào cảnh bần cùng không còn khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình
- Trợ giúp (hỗ trợ) xã hội là sự giúp đỡ thêm bằng tiền, hiện vật hoặc các điều kiện và phương tiện sinh sống thích hợp để người được giúp đỡ có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình sớm hoà nhập với cộng đồng
b) Hỗ trợ lương thực
Hỗ trợ lương thực là thực hiện hỗ trợ trực tiếp bằng hiện vật, trong đó,
hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giải quyết kịp thời những khó khăn về nhu cầu ăn để duy trì cuộc sống và tiếp tục hoạt động của nhân dân vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc một bộ phận dân
cư thuộc diện hộ nghèo trong bối cảnh thất bát mùa màng, giáp hạt giúp người dân vượt qua khó khăn, khắc phục những tổn thất và có điều kiện vươn lên ổn định sản xuất, vượt qua nghèo đói
Hỗ trợ học sinh nội trú, bán trú của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh tại các trường phổ thông tại các vùng dân tộc thiểu số,vùng sâu vùng xa tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn
Hỗ trợ lương thực gồm 02 hình thức: hỗ trợ thường xuyên và hỗ trợ đột xuất
- Hỗ trợ thường xuyên là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội dành cho các thành viên trong cộng đồng về lương thực trong thời gian dài Cứu trợ thường xuyên là sự giúp đỡ có tính lâu dài cho các đối tượng khác nhau
- Hỗ trợ đột xuất là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội cho các thành viên trong cộng đồng về lương thực khi gặp các rủi ro, khó khăn, bất ngờ khiến cho cuộc sống của họ tạm thời bị đe dọa, nhằm giúp họ nhanh chóng vượt qua sự hụt hẫng, ổn định cuộc sống và sớm trở lại hòa nhập với cộng đồng hoặc hỗ trợ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán tại các vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số…
Trang 25c) Hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực
Hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực: Thực hiện điều tra, thống kê đối tượng được hưởng chính sách cứu trợ, hỗ trợ; tổ chức xuất cấp, giao nhận lương thực cứu trợ kịp thời; quản lý, sử dụng lương thực cứu trợ, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực
1.2.2 Cơ chế chính sách về cứu trợ, hỗ trợ lương thực
Hoạt động cứu trợ, hỗ trợ xã hội, trong đó có cứu trợ, hỗ trợ lương thực
ở nước ta luôn được Nhà nước đặt lên hàng đầu và là một phương sách quan trọng để duy trì sự ổn định và phát triển đất nước Chính sách cứu trợ, hỗ trợ
xã hội đã được thể chế hóa thành các quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động cứu trợ, hỗ trợ xã hội Qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, pháp luật về cứu trợ, hỗ trợ xã hội ngày càng được hoàn thiện hơn
a) Hệ thống chính sách cứu trợ, hỗ trợ lương thực bao gồm:
- Chính sách hỗ trợ gạo cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, giáp hạt, hạn hán, bão lụt hàng năm
- Chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
- Chính sách hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất thay thế nương rẫy trong thời gian chưa tự túc được lương thực
- Chính sách hỗ trợ gạo đột xuất cho người dân di cư tự do từ Campuchia
về Việt Nam gặp khó khăn về đời sống
- Chính sách hỗ trợ gạo cho các hộ nghèo nằm trong các xã vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh biên giới
b) Cơ chế phân cấp trong cứu trợ, hỗ trợ lương thực
Triển khai hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực được phân cấp rõ đối với từng cơ quan, đơn vị liên quan; đối với các bộ, ngành được giao nhiệm vụ cứu trợ, hỗ trợ lương thực và các bộ, ngành tham mưu, đề xuất với Chính phủ về
Trang 26công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực và đối với các cơ quan tiếp nhận tại địa phương và quan trọng nhất là đối với các đơn vị trực tiếp triển khai thực hiện hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực sẽ giúp công tác này triển khai có hiệu quả
1.2.3 Nội dung của hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực
a) Điều tra, thống kê đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ
Điều tra, thống kê đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ lương thực là bước đầu tiên trong hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực; nhằm tổng hợp số liệu cụ thể đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ bao gồm những ai, đối tượng được hưởng mức cứu trợ, hỗ trợ cụ thể ra sao? Bước này thường bắt đầu do các xã, huyện, các trường phổ thông có đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ triển khai thực hiện
Trước và sau khi thiên tai, bão lụt, dịch bệnh xảy ra hoặc thực hiện các chính sách của Nhà nước như: Cứu đói, hỗ trợ trồng rừng, hỗ trợ học sinh, hỗ trợ nhân dân trong dịp Tết nguyên đán, giáp hạt,… Các xã, huyện, các trường phổ thông tổng hợp tình hình thiệt hại và số hộ, số khẩu thiếu đói báo cáo các
cơ quan chức năng của tỉnh, thành phố
Căn cứ báo cáo của các xã, huyện, tỉnh giao cơ quan có chức năng theo lĩnh vực (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính, Sở Lao động -Thương binh và xã hội, ) tổng hợp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trung ương có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị xin hỗ trợ phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả thiệt hại và cứu trợ, cứu đói cho nhân dân
b) Tổ chức xuất cấp, giao nhận lương thực cứu trợ, hỗ trợ
Căn cứ vào đề nghị của các tỉnh, thành phố; ý kiến tham gia của các bộ, ngành liên quan, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định giao cho Bộ Tài chính xuất cấp không thu tiền lương thực DTQG cho các tỉnh, thành phố Trên cơ sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quyết định giao nhiệm vụ cho Tổng cục DTNN xuất lương thực cứu trợ,
hỗ trợ cho các tỉnh, thành phố
Trang 27Căn cứ vào quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục DTNN ban hành quyết định giao nhiệm vụ cho các Cục DTNN khu vực triển khai thực hiện, đồng thời ban hành văn bản gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố được cứu trợ, hỗ trợ thông báo số lượng lương thực được cứu trợ, hỗ trợ đơn vị Cục DTNN khu vực thực hiện xuất cấp lương thực, địa điểm giao nhận, thời gian thực hiện và đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phối hợp với các Cục DTNN khu vực để tổ chức việc giao nhận
Sau khi có chỉ đạo của Tổng cục trưởng Tổng cục DTNN, Cục trưởng Cục DTNN khu vực ban hành quyết định giao nhiệm vụ cho các Chi cục DTNN trực tiếp tổ chức việc xuất cấp và lập các thủ tục đấu thầu đơn vị vận tải, ký hợp đồng thuê vận chuyển lương thực giao đến trung tâm huyện lỵ; đồng thời, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về số lượng lượng thực, địa điểm, thời gian để phối hợp giao nhận dựa trên cơ sở quyết định phân bổ lương thực cứu trợ của Ủy ban nhân dân tỉnh và phối hợp với các cơ quan có chức năng (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Sở Giáo dục và đào tạo) cùng đơn vị tiếp nhận lương thực để
ký hợp đồng giao nhận
c) Quản lý, sử dụng lương thực cứu trợ, hỗ trợ
Lương thực DTQG xuất cứu trợ, hỗ trợ cho các địa phương được giao nhận tại trung tâm huyện lỵ, thị xã Sau khi tiếp nhận lương thực DTQG, các địa phương có trách nhiệm quản lý, sử dụng lương thực cứu trợ, hỗ trợ đúng mục đích, đúng đối tượng theo quy định của pháp luật, bảo đảm không thất thoát, lãng phí Nghiêm cấm việc bán, đổi lương thực cứu trợ, hỗ trợ để tạo nguồn bù đắp các chi phí hoặc sử dụng sai mục đích Trường hợp không sử dụng hết số lương thực đã tiếp nhận (sau khi kết thúc việc cứu trợ, hỗ trợ) phải theo dõi, bảo quản, quản lý chặt chẽ và chỉ sử dụng vào mục đích để cứu trợ, hỗ trợ
d) Kiểm tra, giám sát công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực
Kiểm tra, giám sát là quá trình xem xét tình hình thực tế để đánh giá
Trang 28nhận xét rút kinh nghiệm trong quản lý Công tác kiểm tra, giám sát là hoạt động thiết yếu, thường xuyên của công tác quản lý nhằm đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm phát hiện kịp thời những sơ hở trong cơ chế, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, có biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi, vi phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý
Đối với công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực, sau khi tổ chức cấp phát cho dân, cho học sinh, căn cứ báo cáo của Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân huyện thành lập đoàn kiểm tra, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh kết quả kiểm tra tình hình cấp gạo cứu trợ, hỗ trợ cho dân, cho học sinh mục đích
sử dụng Ngoài ra, các bộ, ngành được giao nhiệm vụ cũng thành lập đoàn kiểm tra, giám sát công tác quản lý, sử dụng hàng cứu trợ, hỗ trợ tại các địa phương được cứu trợ, hỗ trợ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực
a) Tính xác thực của số liệu thống kê
Trong quản lý hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG, việc thống kê chính xác danh sách các đối tượng thuộc diện nhận cứu trợ, hỗ trợ đóng vai trò rất quan trọng Căn cứ vào số liệu tổng hợp của xã, huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ xin được cứu trợ,
hỗ trợ
Việc thống kê danh sách phải đảm bảo chính xác, công khai, minh bạch
và đảm bảo đúng đối tượng, theo quy định của nhà nước Nếu số liệu không chính xác sẽ phát sinh nhiều vấn đề trong quá trình cấp phát cho dân gây ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào chính sách của Nhà nước
b) Mức độ đáp ứng kịp thời
Cứu trợ xã hội được coi như “lưới đỡ - điểm tựa” cho người dân trong lúc khó khăn; cứu trợ, hỗ trợ xã hội được coi là chế độ bảo đảm cộng đồng, mang tính nhân đạo, nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt Do đó, đánh giá tác động kinh tế, đánh giá hiệu quả của công tác cứu trợ, hỗ trợ từ nguồn
Trang 29DTQG không thể chỉ đánh giá bằng hiệu quả kinh tế trực tiếp, đơn thuần mà phải đánh giá bằng tác động của nó đối với đời sống và ổn định sản xuất Khi được cứu trợ, hỗ trợ kịp thời, người dân bị rủi ro bởi thiên tai sẽ có điều kiện
để phục hồi, khắc phục hậu quả thiên tai, theo đó, phát triển sản xuất và ổn định được đời sống; tạo ra khả năng phát triển bền vững trong tương lai
c) Hiệu quả sử dụng
Hiệu quả của cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG được đánh giá bằng hiệu quả kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội Khi xảy ra thiên tai, lũ lụt gây ra thiệt hại lớn về của cải vật chất và người, bao nhiêu lượt người được cứu trợ, hỗ trợ lương thực giúp họ vươn lên giải quyết được khó khăn, ổn định cuộc sống Đánh giá bằng phần trăm hoặc mức độ cứu trợ, hỗ trợ để giải quyết những khó khăn cho bao nhiêu gia đình, bao nhiêu người, bao nhiêu huyện, bao nhiêu xã và quy mô lớn hơn là vùng hoặc bao nhiêu tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được cứu trợ, hỗ trợ khi bị rủi ro do thiên tai
d) Mức độ đảm bảo an sinh xã hội
Cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG là việc cấp không thu tiền cho nhân dân vùng bị thiên tai, bị rủi ro và thuộc trách nhiệm chính của Nhà nước Nhà nước có trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức hoạt động cứu trợ, hỗ trợ; vì vậy, hiệu quả của cứu trợ, hỗ trợ nói chung, cứu trợ, hỗ trợ lương thực nói riêng phải được tính bằng việc đảm bảo an sinh cho bao nhiêu hộ, bao nhiêu khẩu và bao nhiêu huyện, tỉnh khắc phục được những tổn thất nặng nề do thiên tai và ổn định sản xuất, đời sống nhân dân trong vùng, ổn định chính trị
và trật tự an toàn xã hội Cứu trợ, hỗ trợ không chỉ có ý nghĩa về mặt bảo đảm
an sinh xã hội, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng
Về kinh tế, cứu trợ, hỗ trợ từ nguồn DTQG của Nhà nước là điều kiện để nhân dân vượt qua khó khăn, phấn đấu khắc phục hậu quả thiên tai, vươn lên phát triển sản xuất, tăng thu nhập và phát triển kinh tế bền vững, là nhân tố quyết định sự thành công của công cuộc xoá đói, giảm nghèo đối với nhân
Trang 30dân bị thiệt hại do thiên tai
Về chính trị, cứu trợ, hỗ trợ từ nguồn DTQG nhằm đảm bảo an sinh xã hội Đảm bảo an sinh xã hội là chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta Cứu trợ, hỗ trợ là điều kiện quan trọng nhằm góp phần giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo; Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện về vật chất để nhân dân giải quyết rủi ro, tự vươn lên hoà nhập cộng đồng
Về an ninh, quốc phòng, các huyện nghèo, xã nghèo chủ yếu thuộc địa bàn các tỉnh giáp biên giới, địa bàn chiến lược, hiểm trở, vùng núi, vùng xa, vùng sâu, điều kiện thời tiết không thuận lợi và thường xuyên bị thiên tai Công tác cứu trợ, hỗ trợ chủ yếu tập trung cho các địa phương này, do vậy, cứu trợ là điều kiện bảo đảm an sinh xã hội và ổn định dân cư và bảo đảm an ninh, quốc phòng; người dân yên tâm chung sống với bão lụt, bám đất, bám làng giữ vững an ninh, quốc phòng và xây dựng được thế trận “quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”, đây là nhân tố quan trọng để bảo vệ
sự an toàn và an ninh lãnh thổ đất nước trong mọi tình huống
1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia
1.2.5.1 Các nhân tố thuộc về môi trường
a) Chính sách của Nhà nước
Nhân tố thuộc về cơ chế chính sách của Nhà nước nói chung và chính sách về an sinh xã hội, cứu trợ, hỗ trợ, xóa đói giảm nghèo, nói riêng có tác động mạnh vào quản lý hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG
Cụ thể, nó tác động trực tiếp đến số lượng lương thực xuất cấp để thực hiện các chính sách, mục tiêu của Chính phủ; tác động đến các đối tượng được thụ hưởng; các tổ chức, cá nhân có liên quan khi triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước
b) Điều kiện kinh tế xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế mở với hai xu hướng cơ bản của thế giới là:
Tự do hóa kinh tế và dân chủ hóa (phi tập trung hóa) kinh tế với nhiều sắc
Trang 31thái và nhiều trình độ khác nhau nhằm phát huy động lực của cơ chế thị trường có sự can thiệp chủ quan của Nhà nước vào sự phát triển khách quan của nền kinh tế, DTQG có vai trò quan trọng trong quá trình quốc tế hóa nền kinh tế Đối với mỗi quốc gia, lực lượng dự trữ hùng mạnh, cho phép mở rộng
và chủ động trong các quan hệ quốc tế, bao gồm cả việc viện trợ khẩn cấp cho các nước khi cần thiết
Ở nước ta, nếu không có khối lượng và cơ cấu mặt hàng dự trữ đầy đủ thì khó ứng phó kịp thời tình hình quốc tế hiện nay Như vậy, quan hệ quốc tế
có ảnh hưởng lớn đến hoạt động DTQG nói chung và tác động đến công tác cứu trợ, hỗ trợ xã hội nói riêng Trong điều kiện quan hệ quốc tế rộng mở, khi gặp rủi ro, khó khăn, nguồn lực quốc tế sẽ hỗ trợ, giúp đỡ trong việc khắc phục hậu quả của thiên tai, giúp đỡ người nghèo thông qua việc viện trợ bằng tiền hoặc trực tiếp bằng hiện vật
c) Điều kiện tự nhiên
Đối với nước ta, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng rất lớn tới quản lý hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG Những điều kiện tự nhiên
đó chủ yếu gồm: Điều kiện về thời tiết khí hậu và điều kiện về địa hình
- Về thời tiết khí hậu, Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thì mưa nhiều, mưa to gây ra lũ lụt lớn; mùa khô thì khô quá mức, hạn hán kéo dài; hàng năm phải hứng chịu trung bình từ 4 - 6 cơn bão/năm Đặc biệt trong những năm gần đây, sự đa dạng phức tạp của thời tiết khí hậu, môi trường sinh thái bị biến đổi nảy sinh những tai họa mới về thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh với tần suất ngày càng dày, cường độ lớn, diện rộng gây mất mát lớn về người và tài sản Đối tượng phải cứu trợ, hỗ trợ hàng năm rất lớn và đa dạng Công tác cứu trợ, hỗ trợ mặc dù luôn coi trọng khâu nắm tình hình để tổ chức thực hiện nhưng trước những diễn biến đó, công tác cứu trợ gặp nhiều khó khăn và thường ở trong tình trạng bị động
- Về địa hình, nước ta với diện tích không lớn nhưng trải dài từ Bắc
Trang 32xuống Nam Địa hình hẹp và tương đối phức tạp, hàng năm đều có thiên tai xảy ra ở nhiều địa phương gây thiệt hại nặng về người, tài sản, mùa màng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân và sự phát triển kinh tế của đất nước Miền Bắc thì có nhiều sông ngòi, đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thường xuyên bị ảnh hưởng lũ quét và sạt lở đất Miền Trung địa hình nhỏ hẹp, đất đai cằn cỗi, hàng năm chịu ảnh hưởng nhiều của bão lũ và hạn hán Miền Nam đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thấp, thường xuyên bị mưa lũ, ngập úng, cơ sở hạ tầng phòng hộ yếu kém Với địa hình như vậy, nên công tác cứu trợ mỗi khi triển khai thường gặp khó khăn trong việc vận chuyển, giao lương thực đến tay người dân thường bị động, không đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhân dân
1.2.5.2 Các nhân tố thuộc về tổ chức thực hiện
a) Công tác phân cấp, phối hợp
Hiệu quả của việc quản lý hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG chịu ảnh hưởng lớn từ công tác phân cấp, phối hợp giữa các cơ quan liên quan từ Trung ương, tới địa phương, cụ thể: Các bộ, ngành được Thủ tướng Chính phủ giao quản lý hàng DTQG (Bộ Tài chính), thực hiện việc đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ xuất cấp, sử dụng hàng DTQG để khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, phòng chống dịch bệnh và cứu đói (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn); cơ quan trực tiếp triển khai xuất cấp lương thực cứu trợ, hỗ trợ (Tổng cục DTNN, Cục DTNN khu vực, Chi cục DTNN); đơn vị tiếp nhận, sử dụng lương thực DTQG (các tỉnh, thành phố được cứu trợ) Nếu các bộ, ngành, cơ quan liên quan được phân cấp rõ ràng và phối hợp chặt chẽ trong hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG thì đảm bảo công tác này được thực hiện một cách nhanh chóng góp phần ổn định sản xuất và đời sống nhân dân trong các vùng xảy ra bão lụt, dịch bệnh và trong thời kỳ giáp hạt; đồng thời đảm bảo được tính kịp thời trong cứu trợ, giúp nhân dân vượt qua khó khăn, rủi ro
Trang 33Ngược lại, nếu không có sự phân cấp, phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ, ngành, cơ quan liên quan thì công tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG sẽ gặp khó khăn trong nhiều khâu từ khâu đề xuất đến khâu thực hiện (xuất kho, vận chuyển, giao nhận, cấp phát)
Nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan thì công tác kiểm tra, giám sát sẽ được triển khai thực hiện một cách hiệu quả, tiết kiệm Khi triển khai thực hiện hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia, công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện ngay từ khâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùng dưới sự phối hợp của các bên liên quan sẽ giúp việc quản lý,
sử dụng lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia đảm bảo kịp thời, chính xác, công bằng và hiệu quả nhất
b) Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật mà chủ yếu là hệ thống kho tàng ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng, chất lượng hàng hoá dự trữ, trong đó có mặt hàng lương thực Nếu không có đủ kho hoặc chất lượng kho tàng không đảm bảo thì không thể đáp ứng được khối lượng hàng hoá dự trữ lớn, khó có thể đáp ứng được yêu cầu của Chính phủ và người dân Bởi vậy, chất lượng hệ thống kho luôn phải được quan tâm đầu tư xây dựng, mở rộng đáp ứng đủ sức chứa cho các mặt hàng DTQG
c) Năng lực dự trữ lương thực của quốc gia
Kết quả và hiệu quả quản lý cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG phụ thuộc rất lớn vào năng lực dự trữ lương thực Nếu năng lực dự trữ lương thực đủ mạnh mới có thể sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống khẩn cấp xảy ra Ngược lại, năng lực dự trữ lương thực quá mỏng khó mà đáp ứng ngay yêu cầu cứu trợ hoặc có đáp ứng được thì chỉ ở mức độ nhất định
d) Phẩm chất, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG
Con người là chủ thể tiến hành các hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực
từ nguồn DTQG Do vậy, con người đóng vai trò quyết định tới hiệu quả hoạt
Trang 34động cứu trợ, hỗ trợ lương thực Vì vậy, nếu cán bộ, công chức làm công tác
dự trữ quốc gia nói chung và của Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn riêng nhận thức đúng đắn về vai trò, chức năng của DTNN Họ là những người có trình độ, ý thức trách nhiệm, có tâm, đạo đức nghề nghiệp khi đó sẽ giúp cho việc tổ chức hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực hiệu quả hơn
Như vậy, mọi việc thành công hay thất bại đều do con người quyết định Nếu có một đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt thì hiệu quả hoạt động sẽ cao Phẩm chất, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành Dự trữ Nhà nước được quan tâm đúng mức thì quản lý hoạt động cứu trợ, hỗ trợ lương thực từ nguồn DTQG sẽ mang lại hiệu quả cao
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cứu trợ, hỗ trợ lương thưc từ nguồn dự trữ quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước
Dự trữ nhà nước là tiềm lực vật chất, công cụ sẵn sàng có và cần để ứng cứu trong những trường hợp cần thiết cấp bách, bảo đảm an sinh xã hội khi xảy ra tình huống thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh Vì vậy, trên thế giới hầu như mọi quốc gia đều tổ chức dự trữ nhà nước thành một quỹ để sẵn sàng đối phó với những bất trắc của nền kinh tế Vấn đề an sinh xã hội ngày nay đều được các quốc gia quan tâm, vì có tác động trực tiếp đến ổn định chính trị, xã hội
và phát triển bền vững
1.3.1.1 Malaysia
Chính phủ Malaysia giao cho Công ty Cổ phần Lương thực (Bernas) được độc quyền nhập khẩu lương thực; phân phối cho các doanh nghiệp trong nước bán; duy trì lượng dự trữ gạo trong kho để thực hiện xuất cấp theo chỉ đạo của Chính phủ ứng phó trong trường hợp khẩn cấp như: Thực hiện cứu trợ cho nhân dân khi bị thiên tai, đói kém
Cổ phần của Nhà nước chiếm trong Bernas là 1% nhưng được coi là “cổ
Trang 35phần vàng”, Nhà nước điều chỉnh bằng cách yêu cầu Bernas bán ra theo giá chỉ đạo để thực hiện bình ổn thị trường hoặc thực hiện cứu trợ cho nhân dân vùng bị thiên tai, thiếu đói
Thời gian dự trữ gạo của Malaysia kéo dài từ 5 tháng đến 6 tháng Hiện nay, mức tồn kho dự trữ gạo khoảng 500 ngàn tấn Lực lượng gạo dự trữ do Công ty lương thực Malaysia (Bernas) quản lý luôn luôn sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của Chính phủ trong việc xuất cấp phục vụ các nhu cầu cho nhân dân như là thực hiện dịch vụ công (không hoàn toàn theo cơ chế thị trường) Các kho chứa lương thực dự trữ của Malaysia được bố trí gần cảng biển, rải khắp các vùng đất nước, thuận tiện cho công việc cứu trợ và nhu cầu của thị trường Khi có nhu cầu cần xuất cấp lương thực từ nguồn DTNN, Chính phủ chỉ đạo Bernas xuất cấp từ lương thực dự trữ trong kho đưa đến tận tay người dân được hỗ trợ Trong trường hợp điều kiện xuất cấp gặp khó khăn về công tác vận chuyển, Chính phủ huy động lực lượng quân đội để thực hiện công tác cứu trợ Kinh nghiệm hoạt động cứu trợ từ DTNN của Malaysia là: Luôn luôn đảm bảo lương thực cho người dân trong mọi tình huống thiên tai, đưa lương thực phân phối đến tận người dân, trong những trường hợp khó khăn huy động lực lượng quân đội thực hiện công tác cứu trợ, Việt Nam cần nghiên cứu vận dụng
1.3.1.2 Inđônêsia
Inđônêsia, đất nước có 17.000 hòn đảo và dân số hơn 250 triệu người, địa lý phức tạp và thiên tai cũng vô cùng khắc nghiệt nên Chính phủ rất coi trọng việc đảm bảo lương thực cho người dân
Hoạt động cứu trợ lương thực được thực hiện tập trung Tổng cục hậu cần Nhà nước Indonesia (Bulog) là thành viên Chính phủ Bulog có hệ thống
tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương trong toàn quốc, ở tỉnh gọi là Bulog tỉnh, ở huyện gọi là Subdolog và dưới huyện là các điểm kho Bulog đảm bảo tồn kho thường xuyên là 1,78 triệu tấn gạo, được phân chia ra 2 nhóm, nhóm mua vào bán ra ngay, nhóm mua vào đưa vào dự trữ cho dân đủ
Trang 36dùng trong 3 - 4 tháng Cũng như Bernas của Malaysia, Bulog được độc quyền nhập khẩu gạo dể thực hiện hai nhiệm vụ là bình ổn giá và đảm bảo an ninh lương thực
Chính phủ Inđônêsia đặc biệt quan tâm đến dự trữ về lương thực, một phần do dân số đông, một phần do tăng cường dự trữ trước những biến động phức tạp của thiên tai (động đất, sóng thần, bão, núi lửa, cháy rừng,…) và tình hình trên thế giới Hàng năm, nhà nước phải nhập khẩu lương thực để tăng cường lực lượng DTNN Trong những năm gần đây, nhập khẩu gạo của Inđônêsia vẫn ở mức 2 - 3,9 triệu tấn/năm, duy trì mức lương thực DTNN của Inđônêsia khoảng 3 triệu tấn gạo, nhằm phục vụ cho quốc phòng và do tình trạng cháy rừng nghiêm trọng, dân chúng lo lắng nạn đói có thể xảy ra nên cần “tích cốc phòng cơ” Nhờ có DTQG về lương thực đủ mạnh mà Chính phủ Inđônêsia luôn đảm bảo phục hồi kịp thời cuộc sống cho người dân ở các vùng bị ảnh hưởng thiên tai, dịch họa Khi cần cứu trợ khẩn cấp, Chính phủ Inđônêsia chỉ đạo Bulog xuất lương thực từ kho dự trữ Nhiệm vụ này được
ưu tiên hàng đầu Các kho dự trữ của Inđônêsia được bố trí ở các vùng thường xuyên gặp thiên tai để có thể kịp thời xuất cấp cho dân ngay lập tức
Kinh nghiệm hoạt động cứu trợ từ DTNN của Inđônêsia là: Luôn luôn sẵn sàng có đủ lực lượng lương thực và được bố trí phù hợp ở các vùng miền thường bị thiên tai để cứu trợ kịp thời cho dân cư khi bị đói kém, Việt Nam cần nghiên cứu vận dụng
1.3.1.3 Trung Quốc
Trung Quốc có mức DTNN về lương thực đạt 130 triệu tấn, đủ ăn cho dân số cả nước trong 3 tháng Để duy trì lượng lương thực dự trữ, Nhà nước thu mua khoảng 3/4 lượng lương thực đưa ra thị trường
Hệ thống quản lý lương thực DTQG của Trung Quốc được xây dựng theo mô hình dự trữ địa phương (tỉnh, thành phố) và dự trữ Trung ương Cục Quản lý dự trữ về lương thực Trung ương có các Chi cục Dự trữ, mỗi Chi cục
có địa bàn hoạt động ở một tỉnh hay một số tỉnh, trực thuộc Chi cục là các
Trang 37Tổng kho dự trữ, thường thì mỗi tỉnh có một Tổng kho dự trữ
Hoạt động DTNN của Trung Quốc luôn luôn sẵn sàng cứu trợ ổn định đời sống nhân dân vùng bị thiên tai, lũ lụt, động đất điều tiết cung - cầu thị trường, bình ổn giá Khi có nhu cầu, Chính phủ sẽ quyết định việc xuất lương thực nhằm khắc phục các tình huống cấp bách xảy ra Trung Quốc có tiềm lực DTNN lớn và dự trữ cả lương thực, thực phẩm đảm bảo cứu trợ cho nhân dân đảm bảo an sinh xã hội trong mọi biến cố thiên tai, bão lụt, động đất, hỏa hoạn, rét lạnh Việt Nam cần nghiên cứu học tập kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc dự trữ thực hiện cứu trợ đảm bảo an sinh xã hội
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Trước hết, các nước đều đặc biệt quan tâm đến việc tạo dựng một lực
lượng DTNN gồm những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống để sẵn sàng đối phó với những bất trắc xảy ra DTNN được tổ chức thống nhất thành một hệ thống có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Tổ chức này thường được đặt dưới sự lãnh đạo của người đứng đầu Nhà nước Kinh nghiệm của Inđônêsia về đảm bảo an sinh xã hội là: Nhà nước sử dụng DTNN
để thực hiện cứu trợ cho dân cư khi đói kém, mất mùa, thiên tai xảy ra Điều rút ra là Nhà nước đặc biệt quan tâm đến DTNN, cái “van an toàn” của đất nước, đảm bảo ổn định sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh
xã hội, chúng ta cần nghiên cứu vận dụng vào hoạt động cứu trợ, hỗ trợ từ nguồn DTNN ở Việt Nam
Thứ hai, Trung Quốc, một đất nước hơn 1,3 tỷ dân, lại liên tục bị thiên
tai nặng nề và thường xuyên xảy ra các đợt động đất, bão lớn Trung Quốc chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước rất quan tâm đến DTNN, tổ chức hoạt động DTNN thành hệ thống Sự đầu tư về vốn hàng hoá dự trữ và cơ sở vật chất, kho tàng và công nghệ khá hiện đại Đặcbiệt dự trữ lương thực đạt ở mức rất cao, có vùng dự trữ đủ ăn đến 06 tháng còn thông thường thì 03 tháng Việt Nam cần nghiên cứu để tăng cường lượng lương thực DTNN bố trí ở những địa bàn thường xuyên xảy ra thiên tai
Trang 38như: Khu vực Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Thứ ba,Malaysia hiện nay tồn kho dự trữ khoảng 500 ngàn tấn Các kho
chứa lương thực dự trữ được bố trí gần cảng biển, rải khắp các vùng đất nước, thuận tiện cho công việc cứu trợ và nhu cầu của thị trường Khi xảy ra thiên tai việc cứu trợ cho dân cư được huy động lực lượng quân đội vận chuyển lương thực để cứu trợ
Việc nghiên cứu DTNN và hoạt động cứu trợ, cứu trợ lương thực từ nguồn DTNN của một số nước trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm, khả năng ứng dụng cho Việt Nam là phải luôn luôn có lực lượng lương thực DTNN, được bố trí ở những địa bàn trọng yếu của đất nước; địa bàn thường xảy ra thiên tai Thực hiện cứu trợ, cứu trợ lương thực phải nhanh chóng kịp thời và huy động lực lượng tại chỗ, cả về lương thực, con người, phương tiện phục vụ cho công tác cứu trợ; trong đó, con người và phương tiện của lực lượng quân đội cần được huy động sử dụng đảm bảo nhanh chóng nhất
Trang 39TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 tác giả luận văn đã đưa ra được những vấn đề lý luận cơ bản về dự trữ quốc gia: khái niệm, hệ thống tổ chức dự trữ quốc gia Việt Nam với lịch sử hình thành, chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức; đặc biệt đi sâu nghiên cứu công tác tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực bao gồm: khái niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tác cứu trợ,
hỗ trợ lương thực Đồng thời chương 1 đã trình bày một số kinh nghiệm tổ chức, quản lý công tác tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực một số nước trên thế giới làm bài học cho Việt Nam nói chung và cho Cục dự trữ quốc gia Hoàng Liên Sơn nói riêng; đây là cơ sở tiền đề để đánh giá khách quan thực trạng công tác tác cứu trợ, hỗ trợ lương thực và đề xuất giải pháp ở các chương sau
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ, HỖ TRỢ LƯƠNG THỰC TẠI CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC KHU VỰC HOÀNG
LIÊN SƠN
2.1 Giới thiệu tổng quan về Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn
2.1.1 Quá trình hình thành, chức năng và nhiệm vụ của Cục
Ngày 20/8/2009, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 106/2009/QĐ - TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục
Dự trữ Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính theo đó Ngành Dự trữ Nhà nước được thành lập thêm 04 Cục Dự trữ Nhà nước khu vực, trong đó có Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn Ngày 07/9/2012, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2243/QĐ-BTC, về việc chính thức đưa Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn đi vào hoạt động kể từ ngày 01/10/2012 Việc thành lập và đưa Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn đi vào hoạt động là yêu cầu khách quan, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về
dự trữ trong tình hình mới; phục vụ mục tiêu phát triển bền vững trên các vùng kinh tế chiến lược của cả nước; đồng thời, đây cũng là một sự kiện quan trọng, đánh dấu một bước phát triển mới của Ngành Dự trữ Nhà nước, đưa số Cục Dự trữ Nhà nước khu vực trực thuộc lên 22 Cục, giúp Tổng cục trưởng quản lý hoạt động Dự trữ Nhà nước trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn, có trụ sở chính đặt tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Hoàng Liên Sơn trực thuộc Tổng cục Dự trữ Nhà nước với chức năng quản lý nhà nước về hoạt động Dự trữ Nhà nước theo quy định của pháp luật trên địa bàn 4 tỉnh: Tuyên Quang, Hà Giang, Yên