1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm địa hóa môi trường phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên khu vực vịnh Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh

214 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 8,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm địa hóa môi trường phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên khu vực vịnh Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh Nghiên cứu đặc điểm địa hóa môi trường phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên khu vực vịnh Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

- -NGUYỄN XUÂN DŨNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

SỬ DỤNG KHÔN KHÉO ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN KHU VỰC VỊNH TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

- -NGUYỄN XUÂN DŨNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

SỬ DỤNG KHÔN KHÉO ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN KHU VỰC VỊNH TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS Hoàng Văn Thắng

2 GS.TS Mai Đình Yên

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các kết quả nghiên cứu tham khảo của các tác giả khác đã đƣợc trích dẫn đầy đủ trong luận án

Tác giả luận án

Nguyễn Xuân Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng tri ân và kính trọng đến TS Hoàng Văn Thắng, GS Mai Đình Yên, hai người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn Nghiên cứu sinh hoàn thành Luận án tiến sĩ

Luận án không thể hoàn thành nếu như nghiên cứu sinh không nhận được sự cho phép, tạo điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo và đồng nghiệp Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường, nơi Nghiên cứu sinh đang công tác

Trong quá trình thực hiện Luận án, Nghiên cứu sinh cũng nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ từ thầy, cô, đồng nghiệp và bạn bè, Nghiên cứu sinh xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Luận án được hoàn thành tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc đến các thầy cô và các bạn đồng nghiệp trong Trung tâm đã giúp

đỡ và động viên Nghiên cứu sinh trong quá trình hoàn thành Luận án

Cuối cùng, Nghiên cứu sinh muốn bày tỏ lòng tri ân và kính trọng đến những người thân trong gia đình: bố, mẹ, vợ, các con và các anh chị em đã động viên, chia sẻ và giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu của Nghiên cứu sinh

Hà Nội, ngày tháng 7 năm 2014

Nguyễn Xuân Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của luận án 2

3 Nội dung của luận án 3

4 Luận điểm bảo vệ 3

5 Điểm mới của luận án 3

6 Ý nghĩa của luận án 4

7 Thời gian thực hiện luận án 5

8 Bố cục của luận án 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG ĐẤT NGẬP NƯỚC 6

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đất ngập nước 6

1.1.1 Đất ngập nước 6

1.1.2 Các dịch vụ hệ sinh thái của đất ngập nước 7

1.1.3 Bảo tồn có sự tham gia cộng đồng 9

1.2 Sử dụng khôn khéo đất ngập nước 12

1.2.1 Khái niệm sử dụng khôn khéo đất ngập nước 12

1.2.2 Các tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước 17

Trang 6

1.2.3 Các mô hình sử dụng khôn khéo đất ngập nước 20

1.3 Các nghiên cứu liên quan đến đất ngập nước tại vịnh Tiên Yên 25

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30

2.2 Cách tiếp cận 33

2.2.1 Tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước 33

2.2.2 Tiếp cận hệ sinh thái 33

2.2.3 Tiếp cận quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng 36

2.3 Phương pháp nghiên cứu 37

2.3.1 Đánh giá nông thôn có sự tham gia 37

2.3.2 Phương pháp phân tích theo mô hình DPSIR 45

2.3.3 Phương pháp áp dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) 46

2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và phương pháp đánh giá mức độ suy thoái 46

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 50

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 50

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 50

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực vịnh Tiên Yên 52

3.1.3 Đặc điểm đa dạng sinh học đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 61

3.2 Tầm quan trọng của đất ngập nước ven biển đối với kinh tế, xã hội và môi trường 80

3.2.1 Dịch vụ cung cấp 80

3.2.2 Dịch vụ điều tiết 82

Trang 7

3.2.3 Dịch vụ văn hóa 84

3.2.4 Dịch vụ hỗ trợ 85

3.3 Những bất cập trong quản lý và sử dụng tài nguyên đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 87

3.3.1 Các bất cập 87

3.3.2 Nguyên nhân 100

3.3.3 Mức độ suy thoái đất ngập nước ven biển vịnh Tiên Yên hiện nay và dự báo trong thời gian tới 109

3.3.4 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức quản lý đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên hiện nay 112

3.4 Các giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 115

3.4.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 116

3.4.2 Các bước đề xuất giải pháp 116

3.4.3 Các bên liên quan và mức độ quan tâm, ảnh hưởng đối với đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 118

3.4.4 Các giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 127

3.4.5 Phương án triển khai thực hiện các giải pháp 135

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 144

1 Kết luận 144

2 Khuyến nghị 145

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 146

TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

PHỤ LỤC 160

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ sở để xác định mẫu 39

Bảng 2.2 Cơ cấu mẫu điều tra 39

Bảng 2.3 Các bước điều tra bằng phiếu hỏi 41

Bảng 3.1 Đặc điểm các sông tại vịnh Tiên Yên 51

Bảng 3.2 Các kiểu đất ngập nước ven biển khu vực nghiên cứu vịnh Tiên Yên 61

Bảng 3.3 Biến động diện tích một số kiểu đất ngập nước năm 2000 và 2012 65

Bảng 3.4 Thành phần và số lượng loài sinh vật khu vực nghiên cứu 71

Bảng 3.5 Các loài thân mềm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 tại khu vực nghiên cứu 74

Bảng 3.6 Các loài cá quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 76

ảng 3.7 Thành phần loài bò sát quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 77

ảng 3.8 Các loài thú quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 78

Bảng 3.9 Các loài sinh vật quý hiếm có tên trong Danh lục đỏ IUCN, Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Nghị định 32/2006 NĐ-CP khu vực nghiên cứu 79

Bảng 3.10 Tổng hợp các dịch vụ hệ sinh thái khu vực nghiên cứu 86

Bảng 3.11 So sánh hiện trạng quản lý đất ngập nước tại vịnh Tiên Yên với 12 nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái của IUCN năm 2011 93

Bảng 3.12 Nguy cơ báo động chuyển đổi rừng ngập mặn sang các mục đích khác 95

Bảng 3.13 Mức độ suy thoái hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vực vịnh Tiên Yên 110

Bảng 3.14 Dự báo mức độ suy thoái rừng ngập mặn khu vực vịnh Tiên Yên 112

Bảng 3.15 Mức độ ảnh hưởng các bất cập đến đất ngập nước tại khu vực nghiên cứu 113

Bảng 3.16 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức quản lý đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 113

Bảng 3.17 Mức độ ảnh hưởng của các hoạt động thường ngày của một số nhóm liên quan đến đất ngập nước 122

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mối liên quan giữa hệ thống tự nhiên (các dịch vụ hệ sinh thái) và

hệ thống xã hội (quản lý và sử dụng) 8

Hình 1.2 Sơ đồ các bước chính cộng đồng tham gia vào các dự án bảo tồn 11

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh 31

Hình 2.2 Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu vịnh Tiên Yên 32

Hình 2.3 Khung tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước 35

Hình 2.4 Sơ đồ lát cắt địa hình và phân bố tài nguyên đất ngập nước ven biển tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên 43

Hình 2.5 Sơ đồ lát cắt địa hình và phân bố tài nguyên trên cạn tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên 43

Hình 2.6 Quy trình nghiên cứu luận án 49

Hình 3.1 Sử dụng đất ngập nước tại khu vực vịnh Tiên Yên 53

Hình 3.2 Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế tại huyện Tiên Yên năm 2010 – 2012 54

Hình 3.3 Sản lượng lúa tại các huyện khu vực nghiên cứu 55

Hình 3.4 Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nghiên cứu 56

Hình 3.5 Mật độ dân số tại một số xã, thị trấn khu vực nghiên cứu 58

Hình 3.6 Cơ cấu thành phần các dân tộc tại 15 xã khu vực nghiên cứu 59

Hình 3.8 Tỷ lệ người dân biết các loại tài nguyên thiên nhiên tại khu vực vịnh Tiên Yên 63

Hình 3.7 Bản đồ các kiểu đất ngập nước khu vực nghiên cứu vịnh Tiên Yên 64

Hình 3.9 Vai trò dịch vụ cung cấp của đất ngập nước 81

Hình 3.10 Vai trò của rừng ngập mặn trong việc hạn chế tác động của bão 83

Hình 3.11 Thể chế quản lý liên quan đến đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 88

Hình 3.12 Mức độ phổ biến sử dụng các phương tiện đánh bắt không bền vững 97

Hình 3.13 Nhu cầu nâng cao nhận thức về đất ngập nước 102

Trang 10

Hình 3.14 Nhu cầu tham gia bảo tồn, quản lý đất ngập nước tại khu vực

nghiên cứu của các nhóm cộng đồng 103 Hình 3.15 Mức độ tác động của các hoạt động phát triển kinh tế đến đất

ngập nước khu vực nghiên cứu 106 Hình 3.16 Sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản 2005-2012 109 Hình 3.17 Khung logic đề xuất giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước

ven biển khu vực vịnh Tiên Yên 118 Hình 3.18 Các bên liên quan trong quản lý và bảo tồn đất ngập nước vịnh

Tiên Yên 119 Hình 3.19 Mức độ quan tâm, ảnh hưởng của các bên liên quan đến bảo tồn

đất ngập nước khu vực vịnh Tiên Yên 124 Hình 3.20 Mối quan hệ và ảnh hưởng tương đối của các bên liên quan tại

khu vực vịnh Tiên Yên (Sơ đồ Venn) 126 Hình 3.21 Bản đồ phân vùng chức năng sinh thái khu vực vịnh Tiên Yên 130

Trang 11

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

ĐKH Biến đổi khí hậu

BVMT Bảo vệ môi trường

CBD Công ước Đa dạng sinh học

COP Hội nghị các nước thành viên

PTBV Phát triển bền vững

Ramsar Công ước về các vùng đất ngập nước RNM Rừng ngập mặn

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất ngập nước (ĐNN) có mặt khắp mọi nơi trên thế giới, từ vùng ẩm nhiệt đới đến các vùng ôn đới và chiếm diện tích khoảng 6% bề mặt trái đất, nghĩa là khoảng 8,6 triệu km2 [31] ĐNN có vai trò quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân cư Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới ở các vùng cửa sông ven biển

và xung quanh các thủy vực nội địa [32] ĐNN còn là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài động và thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm Ở Việt Nam, ĐNN rất đa dạng với diện tích xấp xỉ 5.810.000 ha, chiếm khoảng 8% diện tích toàn

bộ các vùng ĐNN của Châu Á [33] ĐNN Việt Nam gồm 2 nhóm: ĐNN nội địa và ĐNN ven biển ĐNN ven biển phân bố rộng khắp chiều dài bờ biển Việt Nam bao gồm rừng ngập mặn (RNM), ĐNN cửa sông, bãi triều, đầm phá và vùng biển có độ nước sâu không quá 6 m khi triều thấp

Vịnh Tiên Yên là một vịnh biển lớn thuộc tỉnh Quảng Ninh Các vùng ĐNN ven biển khu vực vịnh Tiên Yên là nơi có hoạt động kinh tế diễn ra sôi động, có vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia cũng như trong khu vực, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo tồn ĐDSH, bảo vệ môi trường (BVMT)

và phòng tránh thiên tai Khu vực vịnh Tiên Yên đa dạng về địa chất, địa mạo; tài nguyên phong phú; các hệ sinh thái (HST) đặc thù như RNM, thảm cỏ biển; sự đa dạng về thành phần loài cao, đặc biệt là các loài đặc sản như sá sùng, bông thùa, sò huyết, ngao, ngán Chính vì vậy, các nguồn tài nguyên của khu vực đang được đẩy mạnh khai thác phục vụ phát triển kinh tế như nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, cảng biển, du lịch và khai thác khoáng sản

Tuy nhiên, hiện nay ĐNN vịnh Tiên Yên đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc khai thác, sử dụng và quản lý Sức ép của sự gia tăng dân số, các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội và sự suy thoái tài nguyên, môi trường do khai thác quá mức

Trang 13

và khai thác bằng các biện pháp hủy diệt đang ngày càng đe dọa nghiêm trọng đến diện tích, chức năng, giá trị và dịch vụ ĐNN tại khu vực này ĐNN ven biển khu vực vịnh Tiên Yên còn chịu nhiều tác động mạnh mẽ từ các quá trình, hiện tượng và tai biến thiên nhiên Việc sử dụng ĐNN trong khu vực vịnh cho nhiều mục đích phát triển kinh tế vẫn diễn ra manh mún, thiếu quy hoạch đồng bộ, hệ thống [18]

Bảo tồn theo cách truyền thống vẫn tỏ ra chưa thực sự hiệu quả Thực tế cho thấy ĐDSH vẫn đang bị suy giảm; hoạt động khai thác, sử dụng ĐNN vẫn chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ; vai trò của các cơ quan chức năng chưa hoạt động đủ mạnh Một số công trình nghiên cứu cho thấy mặc dù khu vực giàu có về các nguồn tài nguyên nhưng hiệu quả khai thác kinh tế thấp, nhu cầu khai thác tiếp tục gia tăng trong khi tài nguyên đã suy giảm, các hoạt động phát triển đã gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường Thực tế tại vịnh Tiên Yên cho thấy những cách tiếp cận mới, khoa học, phù hợp với thực tế địa phương trong quản lý ĐNN là rất cần thiết Câu hỏi đặt ra cho việc quản lý ĐNN tại đây là làm thế nào để sử dụng một cách khôn khéo ĐNN, sao cho vừa khai thác hợp lý những tài nguyên của ĐNN

để phục vụ cuộc sống của người dân địa phương nhưng vẫn duy trì được các chức năng và thuộc tính của ĐNN

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên, luận án “Nghiên cứu đề xuất

các giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên

Yên, tỉnh Quảng Ninh” được nghiên cứu với mục tiêu và các nội dung sau đây

2 Mục tiêu của luận án

(1) Nghiên cứu những bất cập trong quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN ven biển hiện nay tại khu vực vịnh Tiên Yên;

(2) Đề xuất được các giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước ven biển khu vực vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

3 Nội dung của luận án

(1) Nghiên cứu vai trò, tầm quan trọng của ĐNN ven biển khu vực vịnh Tiên Yên đối với kinh tế, xã hội và môi trường theo 4 nhóm dịch vụ HST;

(2) Nghiên cứu những nội dung về quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN ven biển hiện nay ảnh hưởng đến sử dụng khôn khéo ĐNN khu vực vịnh Tiên Yên bao gồm việc xác định các bất cập; các nguyên nhân và mức độ suy thoái tác động đến ĐNN vịnh Tiên Yên;

(3) Nghiên cứu, đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc

sử dụng khôn khéo ĐNN ven biển khu vực vịnh Tiên Yên;

(4) Đề xuất giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN ven biển phù hợp khu vực vịnh Tiên Yên

4 Luận điểm bảo vệ

(1) ĐNN ven biển khu vực vịnh Tiên Yên có tính đa dạng sinh học cao và có vai trò hết sức quan trọng đối với môi trường, kinh tế và xã hội tại khu vực nhưng bị tác động, ảnh hưởng do những bất cập trong quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN hiện nay;

(2) Sử dụng khôn khéo là giải pháp hiệu quả nhằm hạn chế những bất cập trong quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN ven biển khu vực vịnh Tiên Yên

5 Điểm mới của luận án

(1) Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở khoa học và thực tiễn sử dụng khôn khéo ĐNN khu vực cửa sông, ven biển;

(2) Đề xuất được giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN ven biển khu vực vịnh Tiên Yên trong mối quan hệ hài hòa hai chiều giữa hệ thống tự nhiên (các dịch vụ HST) và hệ thống xã hội (quản lý và sử dụng ĐNN) một cách hệ thống có sự tham gia, chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan, đặc biệt người dân địa phương giải quyết các bất cập trong quản lý vả sử dụng ĐNN hiện nay theo 5 nhóm giải pháp chung,

Trang 15

20 hoạt động cụ thể với 2 mô hình đề xuất thí điểm cho 2/4 vùng chức năng sinh thái khác nhau

6 Ý nghĩa của luận án

Luận án cũng đã áp dụng phương pháp phân tích DPSIR thống nhất cho một khu vực đất ngập nước cửa sông, ven biển nhằm đánh giá được hiện trạng và vai trò của đa dạng sinh học trong khu vực, những bất cập và nguyên nhân cũng như tác động của việc quản lý và sử dụng đất ngập nước hiện nay, trên cơ sở đó, đề xuất được các giải pháp nhằm sử dụng khôn khéo tài nguyên đất ngập nước và các dịch

vụ của chúng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất các giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN ven biển tại khu vực vịnh Tiên Yên cho các nhà hoạch định chính sách tại Quảng Ninh trong việc quản lý, bảo tồn ĐNN hiện nay Các giải pháp này còn là nghiên cứu điển hình tham khảo hữu ích cho các địa phương, các khu ĐNN ven biển khác trong việc quản lý, bảo tồn và

sử dụng khôn khéo ĐNN

Trang 16

Cung cấp một cách hệ thống các thông tin, dữ liệu về tự nhiên, đa dạng sinh học và kinh tế xã hội phục vụ quản lý, nghiên cứu khoa học và giáo dục, đào tạo về ĐNN ven biển hiện nay tại vịnh Tiên Yên

7 Thời gian thực hiện luận án

Luận án được nghiên cứu từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 12 năm 2013

8 Bố cục của luận án

Bố cục của luận án gồm tổng cộng 145 trang với 29 hình (trong đó có 4 bản

đồ và 20 bảng) Ngoài phần mở đầu (5 trang), kết luận và khuyến nghị (2 trang), các nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương gồm:

Chương 1 Tổng quan sử dụng khôn khéo đất ngập nước (24 trang);

Chương 2 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu (20 trang);

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận (94 trang)

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG ĐẤT NGẬP NƯỚC

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐẤT NGẬP NƯỚC

1.1.1 Đất ngập nước

Hiện nay có khoảng trên 50 định nghĩa khác nhau về ĐNN, phân loại ĐNN đang được sử dụng [19] Việc sử dụng các định nghĩa ĐNN tùy thuộc vào mục đích quản lý của mỗi quốc gia hay tổ chức quốc tế Định nghĩa theo Công ước Ramsar tương đối phù hợp với điều kiện ĐNN vịnh Tiên Yên và đang được áp dụng nhiều trên thế giới và tại Việt Nam được lựa chọn để áp dụng

Theo Công ước Ramsar “ĐNN là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp” [15, 43] Với định nghĩa này, ĐNN có diện tích

tương đối lớn, bao gồm các địa hình hết sức phong phú và phức tạp, từ vùng biển nông, ven biển, cửa sông, đầm phá (có thảm thực vật bao phủ hay không) đến đồng bằng châu thổ, tất cả các sông, suối, ao, hồ, đầm lầy tự nhiên hay nhân tạo, các vùng nuôi trồng thủy sản, canh tác lúa nước

Phân loại ĐNN nhằm xác định các kiểu ĐNN phục vụ cho các mục tiêu về điều tra, đánh giá và quản lý ĐNN, bước căn bản, khởi đầu cho việc bảo tồn và sử dụng khôn khéo [57, 104] Do đặc trưng về địa mạo, thủy văn sự đa dạng và phong phú cảnh quan, loại hình ĐNN tại vịnh Tiên Yên, hệ thống phân loại ĐNN của Công ước Ramsar đơn giản, dễ sử dụng, đủ chi tiết để bao hàm các loại hình ĐNN khác nhau và đặc biệt đã được thừa nhận trong thực tiễn áp dụng với các thứ bậc được thiết kế phù hợp theo các nhóm thuộc tính tại khu vực vịnh Tiên Yên (Hệ thống phân loại theo Công ước Ramsar tại Phụ lục 6)

Trang 18

Đồng thời định nghĩa ĐNN và phân loại ĐNN cũng phù hợp với các chính sách quản lý, bảo tồn, sử dụng khôn khéo ĐNN hiện nay của Việt Nam Vì vậy việc

áp dụng định nghĩa và hệ thống phân loại ĐNN theo Công ước Ramsar là phù hợp

1.1.2 Các dịch vụ hệ sinh thái của đất ngập nước

Theo định nghĩa của Đánh giá HST thiên niên kỷ, các dịch vụ HST là

“những lợi ích con người đạt được từ các HST, bao gồm dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ, và dịch vụ văn hóa” [46, 113]

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng giữa HST/dịch vụ HST với phúc lợi của con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Con người, một mặt, sống nhờ vào HST thông qua các dịch vụ của nó, gồm: (i) Dịch vụ cung cấp (cung cấp bãi đẻ, các loại vật liệu, cây thuốc, thực phẩm, nước ; (ii) Dịch vụ điều tiết (điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất, điều hòa nguồn nước, dịch bệnh…); (iii) Dịch vụ văn hóa-tinh thần (các giá trị du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, giáo dục, tôn giáo, nghệ thuật và các lợi ích phi vật chất khác; và (iv) Dịch vụ hỗ trợ (hình thành đất, duy trì các chu trình dinh dưỡng, chu trình sinh địa hóa, dòng năng lượng…)

Mặt khác, con người lại tác động vào hệ sinh thái thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp (nguyên nhân trực tiếp) và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội (nguyên nhân sâu xa/cơ bản) – tác động chính làm suy thoái các HST và ĐDSH Mối tương tác giữa con người và HST có sự thay đổi giữa/và chịu sự tác động của các cấp: địa phương, quốc gia và quốc tế (Hình 1.1)

Các hoạt động của con người có thể có những ảnh hưởng đến việc duy trì cấu trúc và các chức năng của các HST Trên thế giới, các HST đang chịu những ảnh hưởng do con người gây ra, như khai thác quá mức rừng, chuyển đổi đất sang các hoạt động phát triển khác, phát triển cơ sở hạ tầng, đốt nhiên liệu hóa thạch, suy thoái đất, xáo trộn các chế độ dòng chảy và ô nhiễm nguồn nước, làm tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển Những ảnh hưởng này thường tác động sâu sắc đến sức khoẻ và phúc lợi của con người cũng như phát triển kinh tế tại địa phương [41]

Trang 20

đó, cần thiết phải áp dụng các hệ quản lý bao trùm, cách tiếp cận toàn diện và liên ngành nhằm phát huy tác dụng thực sự

Kinh nghiệm từ các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động tương tự khác trên toàn thế giới cho thấy việc áp dụng quản lý tổng hợp HST,

sử dụng khôn khéo có thể tối ưu hóa những lợi ích về mặt sinh thái, kinh tế và xã hội của các hoạt động nhằm mục tiêu duy trì, phục hồi cấu trúc và chức năng các HST Những bài học từ Chương trình 12, Quỹ Môi trường toàn cầu [41] cho thấy cần phải xác định quy mô quản lý vượt ra ngoài ranh giới của một loại hình nơi cư trú duy nhất, một KBT, một đơn vị chính trị hay hành chính để bao quát toàn bộ một HST Nhu cầu của con người có vai trò chủ yếu trong việc gây xáo trộn các HST, cho nên các giải pháp sử dụng khôn khéo cần phải lồng ghép các yếu tố kinh

tế, xã hội với các mục đích quản lý HST Ngoài ra, do các HST mang tính động, cho nên công tác quy hoạch quản lý cần phải mềm dẻo và thích ứng để các chiến lược quản lý có thể điều chỉnh đáp ứng được với các thông tin và kinh nghiệm mới

1.1.3 Bảo tồn có sự tham gia cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng hết sức cần thiết thể hiện sự nhất trí của cộng đồng đối với quá trình đề xuất và thực hiện các giải pháp sử dụng khôn khéo Cộng đồng địa phương khi tham gia nâng cao tính “sở hữu”, vì thế sẽ cảm nhận sâu sắc hơn sự cam kết với các mục tiêu và hoạt động quản lý nếu họ được cơ hội tham gia giải quyết các vấn đề đó [13, 69] Cộng đồng bao gồm tất cả các bên liên quan tại địa phương bao gồm cộng đồng địa phương, các nhóm người sử dụng tài nguyên, các nhóm sở thích, các quan chức địa phương, các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan khác

Có nhiều mức độ tham gia như thông báo, tham vấn, cùng quyết định, cùng

phối hợp, ủng hộ các mối quan tâm độc lập của cộng đồng Thông báo là mức độ

thấp nhất của sự tham gia, là cách tiếp cận từ trên xuống khi quyết định trong công tác bảo tồn Mục tiêu của thông báo là để thuyết phục cộng đồng về các quan điểm của nhà lãnh đạo; tuy nhiên, các nhóm hay cá nhân nhận được thông tin về các hoạt

Trang 21

động dự kiến, nhưng họ không có điều kiện làm thay đổi chúng Tham vấn là bước

cao hơn thông báo Các cộng đồng địa phương, các bên liên quan chủ chốt và các tổ chức, cơ quan cùng quyết định khi được mời đến để biết và trao đổi về các vấn đề

cùng quan tâm và tham gia vào quyết định cuối cùng Cùng quyết định điều này xảy

ra khi các bên liên quan được mời đến để biết và trao đổi về vấn đề cùng quan tâm

và tham gia vào quyết định cuối cùng Cùng phối hợp khi hai bên cùng tham gia quyết định và chia sẻ trách nhiệm để thực hiện các quyết định đó Ủng hộ các mối quan tâm độc lập của cộng đồng là mức độ cao nhất của sự tham gia của cộng

đồng Cộng đồng chịu trách nhiệm xây dựng các chương trình bảo tồn và thực hiện các quyết định mà họ lựa chọn Vai trò của các chuyên gia, các cơ quan hay nhà đầu

tư là hỗ trợ cộng đồng bằng các thông tin và các kĩ năng có thể cả nguồn lực để giúp cho đưa ra các quyết định với các thông tin tốt nhất có thể Mức này thể hiện cách tiếp cận hoàn toàn từ dưới lên trong công tác bảo tồn [76]

Và cuối cùng là tìm ra sự đồng thuận của cộng đồng về bảo tồn, đây cũng là vấn đề mấu chốt, sơ đồ các bước tham gia của cộng đồng tại Hình 1.2 Có nhiều cách thu hút sự tham gia của cộng đồng trong đó có các hình thức phổ biến như: tổ chức các cuộc họp để cùng trao đổi, thảo luận các vấn đề liên quan; tham vấn sâu, trực tiếp các bên liên quan; tham vấn thông qua phiếu hỏi; diễn đàn để giới thiệu và thảo luận các nội dung

Như vậy, do mục đích sử dụng các dịch vụ HST khác nhau, có nhiều bên liên quan, vì vậy mức độ tác động và quan tâm đến các loại hình dịch vụ này khác nhau Các bên liên quan trong bảo tồn là những người bị tác động, những người bị ảnh hưởng, có quyền hành, hoặc những người có mối quan tâm tới sự thành công hay thất bại của các giải pháp bảo tồn đưa ra

Quá trình tham gia của các bên có thể sử dụng ý kiến của những đối tượng có ảnh hưởng, quyền hạn cao nhất để xây dựng kế hoạch bảo tồn từ buổi sơ khai Điều này không chỉ giúp giành được sự ủng hộ của họ ngay từ đầu, mà nó còn giúp nâng cao chất lượng bảo tồn Giành được sự ủng hộ từ những đối tượng có ảnh hưởng, có

Trang 22

quyền lực còn có thể giúp có được nhiều nguồn lực hơn, đây cũng là yếu tố sẽ làm cho công tác bảo tồn được thành công

Nguồn: [21, 69]

Hình 1.2 Sơ đồ các bước chính cộng đồng tham gia vào các dự án bảo tồn

Thông thường, công tác quản lý, khai thác và bảo tồn đa dạng sinh học liên quan đến nhiều bên với các cấp độ tham gia khác nhau như: ban quản lý vườn quốc gia, KBT, chính quyền địa phương các cấp, doanh nghiệp, người dân địa phương, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan tư vấn Vì vậy, xác định rõ vai trò, sự quan tâm của các bên liên quan, đặc biệt là người dân địa phương và sự tham gia của họ trong quá trình bảo tồn và sử dụng ĐNN là hết sức quan trọng để đề ra các giải pháp phù hợp

Trang 23

1.2 SỬ DỤNG KHÔN KHÉO ĐẤT NGẬP NƯỚC

1.2.1 Khái niệm sử dụng khôn khéo đất ngập nước

Sử dụng khôn khéo ĐNN có ý nghĩa khác nhau trong những thời điểm khác nhau với những nguyên tắc khác nhau Tài liệu “Các chức năng và giá trị của ĐNN: thực trạng hiểu biết của chúng ta” của Oreeson và cộng sự (1979) cho thấy tỷ lệ trích dẫn các công trình nghiên cứu về sử dụng khôn khéo ĐNN là 84% trong thập

kỷ 70, 14% trong thập kỷ 60 và chỉ có 2% là trước năm 1960

Lịch sử ban đầu của ĐNN cho thấy có rất ít hiểu biết về “những giá trị” sẵn

có của nó Nhận thức của nhiều người cho rằng ĐNN là đất bỏ đi, tốt nhất là tránh

xa chúng và nếu có điều kiện thì cho thoát nước và san lấp Chính sách đầu tiên về ĐNN là Luật đầm lầy năm 1849 của Hoa Kỳ nhằm giảm sự can thiệp của Liên bang vào việc kiểm soát lụt và thoát nước bằng cách chuyển công việc này từ liên bang cho các bang và cho họ được “cải tạo” ĐNN bằng cách xây dựng những con trạch, phai đập và thoát nước Vì thế, chính sách này đã trực tiếp làm giảm diện tích ĐNN Năm 1879, bang Illinois (Hoa Kỳ) cũng đã thông qua Luật về con trạch thoát nước

và Luật về thoát nước nông trại [31] Larson và Kusler (1979) đã mô tả: “hầu hết những ghi chép trong lịch sử đều cho rằng ĐNN là đất bỏ đi, nếu không phải là bãi lầy của sự phản bội, vũng bùn của thất vọng, nơi ẩn náu của những động vật gây hại, những tên sống ngoài vòng pháp luật và phản loạn Một ĐNN có ích là ĐNN được thoát nước, không còn những yếu tố xã hội nữa [32] Cho đến giữa thế kỷ 20, ĐNN vẫn luôn có nghĩa là thoát nước Những người sở hữu ĐNN đã được khuyến khích phân lô và thoát nước phục vụ nông nghiệp và các sử dụng khác Hàng loạt ĐNN ven biển đã bị hủy hoại do nạo vét và san lấp cho giao thông và phát triển đất

Vào đầu những năm 70, mối quan tâm về bảo vệ ĐNN đã tăng đáng kể khi Công ước quốc tế về bảo tồn các vùng ĐNN - Công ước Ramsar ra đời năm 1971 Nhiệm vụ của Công ước là bảo tồn và sử dụng khôn khéo ĐNN thông qua hành động địa phương, khu vực và quốc gia cũng như hợp tác quốc tế hướng tới mục tiêu

Trang 24

khôn khéo, thúc đẩy một loạt các hành động thích hợp đảm bảo bảo tồn và sử dụng khôn khéo ĐNN Do đó tâm điểm sử dụng khôn khéo là bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN và tài nguyên của chúng vì lợi ích của con người [32]

Kể từ khi định nghĩa sử dụng khôn khéo ra đời, khái niệm này có nhiều bước phát triển và thay đổi với những thuật ngữ tương tự nhưng được thể hiện cụ thể hơn Thuật ngữ đầu tiên liên quan đến sử dụng khôn khéo là “sử dụng hợp lý” được Ủy ban về Rừng của Hoa Kỳ đưa ra năm 1910 để mô tả khái niệm về khai thác bền vững TNTN [36] Năm 1987, Ủy ban này đã định nghĩa một cách chính thức

“PT V là phát triển nhằm đạt được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của thế hệ tương lai để đạt được nhu cầu của chúng” Phát triển thêm một bước, Hội nghị các bên tham gia Công ước lần thứ 6 (COP6) đã xem việc “sử dụng khôn khéo như là một cơ chế PTBV” [10, 15]

Cũng trong thời gian này, một định nghĩa khác lại cho rằng “Sử dụng khôn khéo liên quan đến sử dụng bền vững ĐNN cho hoạt động con người trong khi vẫn giữ được cân bằng tự nhiên của ĐNN” [17] Cụ thể hơn, định nghĩa này, một số tác giả cho rằng “Sử dụng khôn khéo tạo nên tình huống các bên đều có lợi (win – win), con người và tự nhiên” [16] Định nghĩa phổ biến, theo Đánh giá HST thiên niên kỷ “Sử dụng khôn khéo tương đương với duy trì dịch vụ HST nhằm duy trì lâu dài ĐDSH cũng như sự thịnh vượng và xóa đói nghèo” Nghị định số 109/2003/NĐ-

CP về bảo tồn và PT V các vùng ĐNN quy định “PT V các vùng ĐNN là các hoạt động sử dụng, khai thác hợp lý các tiềm năng về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong giới hạn cho phép nhằm duy trì chức năng sinh thái và bảo vệ môi trường các vùng ĐNN” [5]

Để đảm bảo rằng định nghĩa Công ước Ramsar về sử dụng khôn khéo ĐNN

là cập nhật và cùng một “ngôn ngữ chung” trong bối cảnh như vậy, năm 2004 các quốc gia thành viên yêu cầu Ban khoa học và kỹ thuật của Công ước (STRP) đánh giá lại các định nghĩa sử dụng khôn khéo ĐNN đã có, ứng dụng của chúng và sự tương đồng với mục tiêu PT V và đề xuất định nghĩa cập nhật Định nghĩa sử dụng

Trang 25

khôn khéo được cập nhật và thông qua năm 2005 tại Hội nghị các bên tham gia lần

thứ 9 (COP9) tại Kampala, Uganda “Sử dụng khôn khéo ĐNN là duy trì đặc tính sinh thái, đạt được thông qua việc thực hiện tiếp cận HST trong bối cảnh PTBV”

[10, 15, 17]

Cũng theo xu hướng nêu trên định nghĩa đặc tính sinh thái và thay đổi đặc tính sinh thái ĐNN được cập nhật Theo Công ước Ramsar “Đặc tính sinh thái là sự kết hợp của các thành phần, các quá trình, các lợi ích và dịch vụ của HST tiêu biểu cho vùng ĐNN tại một thời điểm nhất định" [10] Để thống nhất với định nghĩa đặc tính sinh thái, “Thay đổi đặc tính sinh thái ĐNN được định nghĩa là những biến đổi bất lợi do con người gây ra cho bất kỳ thành phần, quá trình hay lợi ích, dịch vụ nào của HST" Các HST được mô tả như một phức hệ các quần xã sinh vật (bao gồm cộng đồng người) và môi trường vô sinh (các thành phần của HST) tương tác với nhau (thông qua các quá trình sinh thái) như một đơn vị chức năng, cung cấp vô số các lợi ích cho con người (dịch vụ HST)

Một số định hướng về nguyên tắc bảo tồn, sử dụng khôn khéo ĐNN theo Isozaki, M.Ando and Y Natori (1992): khai thác sử dụng ĐNN một cách khôn khéo

có nghĩa là không làm biến đổi các chức năng, dịch vụ và quá trình sinh thái của chúng; tiến hành quản lý tổng hợp, nhất là quản lý TNTN dựa vào cộng đồng; xây dựng thể chế, chính sách, quy hoạch, căn cứ pháp lý cũng như cơ sở khoa học để sử dụng khôn khéo, có hiệu quả và bền vững các vùng ĐNN; quy hoạch và triển khai các hoạt động bảo vệ các vùng ĐNN quan trọng và các HST ĐNN là điểm nóng cần được bảo tồn; lồng ghép quản lý ĐNN vào kế hoạch phát triển kinh tế địa phương, nghĩa là phải xem ĐNN là một trong những tài nguyên quốc gia phục vụ cho phát triển; đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ về nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng khôn khéo các HST ĐNN trên cơ sở bảo tồn để PTBV; tạo những thu nhập thay thế giúp cộng đồng giảm sức ép lên ĐNN, gắn hoạt động phát triển kinh tế với bảo tồn ĐNN; đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục môi trường nâng cao nhận thức về ĐNN nói riêng và môi trường nói chung

Trang 26

Stearns (1978) đã liệt kê 12 mục đích cụ thể của quản lý ĐNN: duy trì chất lượng nước; giảm xói mòn; chống lũ lụt; tạo hệ thống tự nhiên để xử lý chất ô nhiễm từ không khí; tạo một vùng đệm giữa đô thị đông dân với khu vực công nghiệp nhằm cải thiện khí hậu và tác động vật lý như tiếng ồn; duy trì vốn gen của thực vật đầm lầy và cung cấp những quần xã tự nhiên hoàn chỉnh điển hình; hỗ trợ

về thẩm mỹ và tâm lý cho con người; kiểm soát côn trùng; tạo sinh cảnh đẻ trứng cho cá và những sinh vật làm thực phẩm khác; tạo ra thực phẩm, tơ sợi và thức ăn gia súc, như gỗ; xúc tiến những chương trình khoa học [14, 26, 106, 114]

Ngoài ra, liên quan đến sử dụng khôn khéo còn có khái niệm “phục hồi HST”, được hiểu là sự tái tạo HST hay quần xã hiện không còn tồn tại ở đó thường được gọi là phục hồi Tuy nhiên trong thực tế, thuật ngữ phục hồi hiện đang được sử dụng một cách rộng rãi hơn, việc quản lý một cách khôn khéo một vùng ĐNN đã bị tổn hại thì nay cũng thường được gọi là phục hồi [32]

Ngày nay, quản lý, sử dụng khôn khéo ĐNN có nhiều cách thức khác nhau phụ thuộc vào mục đích của các nhà quản lý [60] Quản lý ĐNN theo mục tiêu dựa trên các chức năng của các vùng ĐNN là cách áp dụng rộng rãi [12] Nhấn mạnh đến tính liên kết, Grumbine (1994) cho rằng quản lý HST là liên kết các kiến thức khoa học về mối quan hệ HST và các mối quan hệ về xã hội, chính trị phức tạp nhằm hướng tới mục tiêu chung là bảo vệ sự toàn vẹn HST trong một thời gian dài [108, 115] Tương tự ý kiến nêu trên, Bộ Lâm nghiệp của Hoa Kỳ [121] lại quan niệm quản lý HST là sự liên kết các yếu tố sinh thái, kinh tế và xã hội để duy trì và nâng cao chất lượng môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu trong hiện tại và tương lai

Bộ môn Quản lý Đất đai của Hoa Kỳ (1994) cũng cho rằng quản lý HST là sự liên kết các nguyên tắc sinh thái, kinh tế và xã hội để quản lý các hệ sinh học và vật lý bằng cách bảo vệ tính bền vững sinh thái một cách lâu dài, tính đa dạng của tự nhiên và sản lượng của cảnh quan Đảm bảo tính linh hoạt, thích ứng, Hội HST học của Hoa Kỳ (1995) định nghĩa quản lý HST là sự quản lý có mục đích rõ ràng, được thể hiện bằng những chính sách và quy chế dựa trên thực tiễn và sự thay đổi thích

Trang 27

ứng với những kết quả quan trắc và nghiên cứu về sự tương tác giữa các quá trình sinh thái cần thiết để duy trì các thành phần, cấu trúc và chức năng của HST

Định nghĩa có tính chất khái quát hơn của Cục Bảo vệ môi trường (2004) nêu

ra quản lý ĐDSH là sự quan tâm, chăm sóc đối với TNTN, các HST, các loài và nguồn tài nguyên di truyền, hay đối với một địa phương, một vùng, một lưu vực, những nơi có giá trị cao về bảo tồn Quản lý ĐDSH liên quan đến việc xác định các đối tượng, đề xuất các biện pháp bảo vệ, ngăn chặn suy thoái, phục hồi các HST, các cảnh quan, các loài có nguy cơ bị tiêu diệt và sử dụng hợp lý và bền vững các loài và tài nguyên sinh học và đặc biệt quản lý ĐDSH cần có sự tham gia của nhiều ngành [12]

Do vậy, sử dụng khôn khéo ĐNN là khai thác, sử dụng loại tài nguyên này với khối lượng nhỏ hơn hoặc bằng lượng TNTN khác hoặc nhân tạo, có thể thay thế được hoặc trong giới hạn tự khôi phục được Hay nói cách khác sử dụng khôn khéo

là sử dụng tài nguyên sao cho mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất mà không phát sinh mâu thuẫn lợi ích sử dụng và không ảnh hưởng tới môi trường Sử dụng khôn khéo ĐNN còn được hiểu là việc khai thác, sử dụng tài nguyên ĐNN theo hướng vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ các giá trị vốn có của nguồn tài nguyên này hay nói cách khác là các dịch vụ HST Các hình thức khai thác, sử dụng các vùng ĐNN phải phù hợp với bản chất tự nhiên của chúng để không gây suy thoái tài nguyên và môi trường, đặc biệt trong giới hạn cho phép có thể phục hồi và gắn với

sự tham gia, chia sẻ lợi ích với các bên liên quan Song song với quá trình khai thác trong giới hạn cho phép là quá trình phục hồi, phát triển nhằm đảm bảo tính hài hòa giữa sử dụng, khai thác để phát triển kinh tế và bảo tồn các kiểu ĐNN, duy trì ĐDSH và VMT

Không thể đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh, cuối cùng để đạt được việc sử dụng khôn khéo ĐNN Sử dụng khôn khéo ĐNN trong trường hợp đặc biệt hay tại vùng ĐNN cụ thể có thể không phải là sử dụng khôn khéo cho các trường hợp khác và những thay đổi theo thời gian có thể thay đổi từ sử dụng khôn khéo thành không

Trang 28

khôn khéo Vì thế, việc sử dụng khôn khéo là câu hỏi lớn chú trọng vào cách tư duy, quy hoạch, tổ chức, thay đổi và điều chỉnh quản lý theo thực tế sử dụng

1.2.2 Các tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước

Trong thời gian gần đây, các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia xây dựng và phát triển những cách tiếp cận mới và áp dụng thành công bao gồm: tiếp cận sử dụng khôn khéo ĐNN, tiếp cận HST, tiếp cận dựa trên HST, tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng, tiếp cận đồng quản lý TNTN và tiếp cận quản lý tổng hợp đới bờ

Theo Công ước Ramsar, tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước nhằm duy trì các dịch vụ HST cho sự thịnh vượng và giảm nghèo của con người Tiếp cận này cung cấp cách tiếp cận đa phạm vi và chỉ ra cách làm thế nào để có những can thiệp quản lý cũng như ra các quyết định quản lý đối với các các dịch vụ HST Tiếp cận sử dụng khôn khéo cho rằng có sự tồn tại mối quan hệ tương hỗ giữa con người

và các dịch vụ HST Sự phát triển không phù hợp, thiếu quy hoạch sẽ làm đảo lộn cấu trúc và chức năng của các HST, gây nên những tác động tiêu cực đến sự thịnh vượng của con người [10, 17, 102, 119, 120]

Theo Lê Trọng Cúc (1998), E Malby (2003) tiếp cận HST có nghĩa là: một chiến lược về quản lý tổng hợp đất, nước và tài nguyên sinh học nhằm thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững trong mối quan hệ bình đẳng; tạo ra sự cân bằng hợp lý giữa bảo tồn và sử dụng tài nguyên ĐDSH và nhấn mạnh rằng sự đa dạng về văn hoá và sinh học là những thành tố quan trọng của cách tiếp cận HST; một quá trình quy hoạch có sự tham gia của người dân qua cách quản lý thích ứng Quản lý phải bao gồm tất cả những người liên quan và cân đối giữa quyền lợi địa phương với những bộ phận khác của xã hội; thúc đẩy sự tham gia đồng đều của tất cả các lĩnh vực trong xã hội và phải phân quyền đến tận cấp thấp nhất thích hợp [14, 22, 26,

106, 107]

Đánh giá HST thiên niên kỷ (MA, 2005) cũng đề cập đến tiếp cận HST, nội dung gồm ba hợp phần chính là: (1) đánh giá tổng hợp hiện trạng, xu thế của các HST và các dịch vụ của hệ, các tác nhân gây biến đổi HST và ảnh hưởng đến sự

Trang 29

thịnh vượng của con người; (2) dự báo động thái và xu thế các dịch vụ của hệ; (3) xây dựng phương án đáp ứng đối với các động thái được xác định Đánh giá thiên niên kỷ đặt sự thịnh vượng của con người vào vị trí trung tâm, công nhận giá trị ĐDSH và các HST có vai trò sống còn đối với phúc lợi xã hội và kinh tế của con người và cần có các quyết định hành động phù hợp dựa trên cơ sở xem xét các giá trị đó đối với sự thịnh vượng [109, 110, 113]

Tiếp cận dựa trên hệ sinh thái đề cập đến việc sử dụng ĐDSH và các dịch vụ HST như là một phần của chiến lược tổng thể giúp con người thích ứng với các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu ( ĐKH) và các bất lợi khác [46, 117] Tiếp cận dựa trên HST là khái niệm mới dựa trên nguyên tắc: các HST khỏe mạnh có thể chống chịu nhiều hơn với các tác động và giảm tính dễ tổn thương của cộng đồng sống và phục thuộc vào HST; HST cung cấp các dịch vụ có thể trợ giúp thích ứng với các cú sốc, biến thiên và thay đổi của khí hậu và các áp lực khác Như vậy, cách tiếp cận này nhấn mạnh vào các giải pháp làm thế nào để duy trì được sức khỏe của HST, đề cao vai trò các dịch vụ HST, sử dụng các dịch vụ HST như là công cụ quản lý, bảo tồn

Tiếp cận quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng, tiếp cận đồng quản lý đề cao vai trò của cộng đồng và các bên liên quan bao gồm các bên liên quan trực tiếp và các bên liên quan gián tiếp trong quản lý và bảo tồn ĐDSH Đồng quản lý TNTN được định nghĩa là sự phối hợp trong đó người khai thác nguồn lợi, chính quyền, các bên liên quan khác thông qua tư vấn và thương thuyết cùng thoả thuận về vai trò, chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm và quyền hạn trong việc quản lý tài nguyên thiên môi trường [10, 13, 21, 23, 74, 116] Quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng là dựa trên tiền đề người dân địa phương, những người hơn ai hết quan tâm đến việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên, hơn cả những người quản lý hoặc tổ chức của nhà nước Cộng đồng địa phương là những người hiểu hơn ai hết hệ sinh thái ở địa phương họ, và họ cũng là những người hơn ai hết có khả năng quản lý một cách hiệu quả những nguồn tài nguyên đó thông qua những hình thức sử dụng “truyền thống” hoặc địa phương [123] Dựa vào cộng đồng là một nguyên tắc mà những người sử

Trang 30

Tiếp cận quản lý tổng hợp đới bờ bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các

mục tiêu quy hoạch và quản lý các hệ thống tài nguyên đới bờ, có xét đến các yếu tố lịch sử, văn hoá và truyền thống, đồng thời quan tâm đến hài hoà các lợi ích trong việc sử dụng tài nguyên [11, 22, 23, 24, 112, 118] Theo Cicin- Sain & Knecht (2005), quản lý tổng hợp đới bờ là một phương thức quản lý được áp dụng trong quá trình động và liên tục, thông qua đó các quyết định về việc bảo tồn, sử dụng và PTBV tài nguyên biển và ven bờ được đưa ra với sự tham gia của tất cả các bên liên quan bao gồm các ngành kinh tế, các cơ quan Chính phủ và cộng đồng Phần cốt lõi của quản lý tổng hợp đới bờ là xây dựng các thể chế và chính sách để điều hoà các giải pháp quản lý nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp vùng bờ [24]

Những cách tiếp cận này tuy có những khác biệt nhất định nhưng đều có những điểm thống nhất là nỗ lực tìm ra những giải pháp tối ưu trong việc giải quyết những mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển nhằm chia sẻ lợi ích một cách công bằng trong sử dụng tài nguyên giữa các cộng đồng địa phương, giữa các nhóm người liên quan trong xã hội Đồng thời, chúng khắc phục những hạn chế trong cách quản lý truyền thống, áp đặt từ trên xuống và khuyến khích những giải pháp quản lý từ cơ sở/cộng đồng đi lên

Các cách tiếp cận này cũng có những đặc thù riêng tùy thuộc vào từng hoàn

cảnh cụ thể Cách tiếp cận quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng nhấn mạnh vào sự tham gia và lợi ích của cộng đồng địa phương; cách tiếp cận đồng quản lý nhấn

mạnh vào sự tham gia và lợi ích các bên liên quan; tiếp cận hệ sinh thái, tiếp cận sử

dụng khôn khéo và quản lý dựa trên HST nhấn mạnh tính toàn vẹn về cấu trúc, chức năng, dịch vụ và sự cân bằng của HST trong một thể động thống nhất một cách lâu dài với các bên liên quan trong đó có người dân địa phương Đặc biệt, các

tiếp cận này đã làm nổi bật, đề cập toàn diện đến một số yếu tố hết sức quan trọng trong công tác quản lý như: đặc điểm cấu trúc, chức năng HST; các tác động của HST với HST lân cận; hay sinh kế, lợi ích kinh tế từ HST; các bên liên quan

Trang 31

So sánh các cách tiếp cận đã đề cập cho thấy tiếp cận sử dụng khôn khéo ĐNN, tiếp cận HST và tiếp cận quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng có nhiều điểm tương đồng và có nhiều ưu điểm nổi bật Các tiếp cận này đều nhấn mạnh vai trò của các dịch vụ HST, vai trò tham gia của các bên liên quan đặc biệt là cộng đồng địa phương trong bảo tồn gắn với cơ chế chia sẻ lợi ích cụ thể có được từ HST Điều này giải quyết vấn đề có tính “bản chất” hơn, giải quyết được mâu thuẫn căn bản trong quản lý, bảo tồn ĐDSH

Có thể thấy rằng, cách tiếp cận sử dụng khôn khéo, tiếp cận HST và tiếp cận quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng là những cách tiếp cận mang tính tổng hợp cao, tính hệ thống đòi hỏi người đánh giá phải phân tích mối quan hệ tương hỗ đa chiều giữa các nhân tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính sách, điều mà từ trước đến nay một

số phương pháp đánh giá HST chưa đặt ra Các tiếp cận này bổ sung, hỗ trợ cho nhau hình thành nên nhóm các cách tiếp cận sử dụng khôn khéo phù hợp đối với bảo tồn ĐNN vịnh Tiên Yên Vì vậy, các cách tiếp cận này được lựa chọn áp dụng trong quá trình nghiên cứu Luận án Nội dung của các cách tiếp cận này được áp dụng cụ thể trong Mục 2.2 Cách tiếp cận của Chương 2

1.2.3 Các mô hình sử dụng khôn khéo đất ngập nước

Trên cơ sở phân tích, đánh giá và so sánh các cách tiếp cận liên quan đến quản lý và sử dụng khôn khéo ĐNN hiện nay nhằm đánh giá ưu điểm, hạn chế và làm rõ các “tiêu chí” sử dụng khôn khéo ĐNN Một số mô hình về sử dụng khôn khéo ĐNN đã tương đối thành công trên thế giới, trong khu vực và tại Việt Nam được nghiên cứu trong Luận án nhằm làm nổi bật hơn các tiêu chí này Ngoài ra, các mô hình này có điều kiện khá giống với Việt Nam nói chung và vịnh Tiên Yên nói riêng, vì thế việc nghiên cứu áp dụng trong điều kiện thực tế là rất cần thiết

1.2.3.1 Các mô hình liên quan đến sử dụng khôn khéo ĐNN trên thế giới

Mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN thành công tại Mehico [103] xác định được những vấn đề tác động, đe dọa đến ĐNN, đồng thời xác định các bên liên quan cũng như việc thiết lập được chiến lược quản lý Vùng ĐNN ven biển ở phía

Trang 32

nam Sonora nằm trong ba vùng đồng bằng châu thổ quan trọng của các sông Yaqui, Mayo và Fuerte Đây là các vùng ĐNN có tính ĐDSH cao và nằm dọc theo một tuyến đường di cư quan trọng của các loài chim ven biển và chim nước Các ảnh hưởng từ thâm canh nông nghiệp và thủy lợi tạo ra mối đe dọa chủ yếu đến việc bảo tồn các vùng ĐNN, tiếp theo là các hoạt động như chăn nuôi đại gia súc, NTTS và

đô thị hóa

Các bên liên quan quan trọng nhất đối với các vùng ĐNN là ngư dân đánh cá thường xuyên và theo mùa, các nhóm dân tộc, người NTTS, nông dân, người chăn nuôi gia súc, thợ săn, du khách, các nhà công nghiệp và cư dân địa phương Một kế hoạch chiến lược được các cơ quan chính phủ, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ và đại diện cộng đồng xây dựng Qua nhiều hội thảo, các bên liên quan

đã có cơ hội xác định các vấn đề bảo tồn chính đối với các vùng ĐNN và tham gia đóng góp vào việc xây dựng chiến lược bảo tồn ĐNN [103]

Mô hình này khá đơn giản nhưng đã xác định được yếu tố quan trọng quyết định thành công trong mô hình này là các bên liên quan tham gia bảo tồn các vùng ĐNN đồng thời xác định được bất cập ảnh hưởng đến bảo tồn ĐNN Tuy nhiên mô hình này chưa xác định được cơ chế tham gia giữa các bên cũng như chưa đề cập đến các phân vùng môi trường cụ thể

Mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN được đánh giá cao tại vùng La Segua, Ecuado [21] Những vấn đề môi trường đe dọa HSTĐNN vùng La Segua bao gồm việc sử dụng phân bón hoá chất độc hại, xây dựng đập, săn bắn chim và thải chất thải rắn Hoạt động đầu tiên được thực hiện là xác định các mâu thuẫn ở khu vực cũng như những giải pháp có thể có Tiếp theo đó là xây dựng một khung nội dung cho kế hoạch quản lý, bảo tồn và thực hiện nó

Quá trình bao gồm 3 giai đoạn: dự báo nội dung, xây dựng kế hoạch quản lý

và áp dụng của địa phương Các bước này đã được thực hiện thành công và một ban

cố vấn pháp lý đại diện cho người sử dụng của địa phương đã được thành lập

Trang 33

Trong mô hình này, quản lý có sự tham gia là nền tảng của dự án được yêu cầu trong suốt quá trình lập kế hoạch

Mô hình đã xác định các mẫu thuẫn, lập kế hoạch quản lý và đặc biệt thành lập được ban cố vấn pháp lý với đại diện các bên liên quan Tuy nhiên, mô hình này chưa làm rõ các giá trị, dịch vụ HST mang lai và đặc thù về ĐNN của vùng cũng như cơ chế tham gia của các bên liên quan và các vùng môi trường ưu tiên bảo tồn, vùng ưu tiên khai thác và sử dụng

1.2.3.2 Các mô hình liên quan sử dụng khôn khéo đất ngập nước trong khu vực Đông Nam Á

Mô hình phục hồi RNM Kalibo, Philippin [10] là mô hình trồng lại RNM Buswang được khởi động tại huyện Kalibo Aklan thông qua hội bảo tồn RNM Kalibo Mô hình được thực hiện tại một vùng 50 ha ven biển gần với cửa sông Barangay thuộc Kalibo với 28 hộ gia đình là những người được hưởng lợi Tổ chức phi chính phủ địa phương đã tham gia vào hoạt động phát triển cộng đồng làm việc trực tiếp với cộng đồng tại đây đóng vai trò cầu nối giữa những người dân địa phương với những cơ quan của chính phủ Kết quả là dự án đã trồng thành công 100

ha đước và 40 ha dừa nước Mỗi gia đình tham gia dự án được nhận trồng 1-2 ha nuôi dưỡng và bảo vệ cây trong 3 năm Việc trồng rừng đã đem lại nhiều lợi ích cho người dân bao gồm cả ổn định bờ biển, cải thiện những bãi bồi và hồi phục sinh cảnh cho chim, cá, giáp xác và nhuyễn thể

Những cải thiện về sinh thái này đã giúp phát triển kinh tế địa phương và tiếp tục có những khuyến khích cho những nỗ lực trong quản lý bền vững nguồn tài nguyên của họ Khai thác nhuyễn thể khi triều thấp không những bảo đảm cung cấp thực phẩm cho những gia đình được hưởng lợi từ dự án mà còn cho cả những người khác thuộc cộng đồng

Qua mô hình cho thấy yếu tố nổi bật thành công của mô hình phục hồi RNM Kalibo là: sự kết nối, tham gia và phối hợp giữa tổ chức phi chính phủ có kinh nghiệm với cộng đồng địa phương trong bảo tồn Tuy nhiên mô hình này chưa thể

Trang 34

hiện vai trò của chính quyền địa phương cũng như có chế chia sẻ lợi ích và duy trì tính bền vững sau khi dự án kết thúc

Mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN tại Malaysia [21]: RNM Kampung Kuantan vùng cửa sông Selangor thu hút một loài đom đóm phát sáng dùng để trang trí cây thông Noel Một nhà buôn địa phương đã thành lập một doanh nghiệp cho thuê thuyền để du khách có thể đi quan sát đom đóm và từ đó dẫn phát triển các hoạt động du lịch trong vùng Mối đe dọa đầu tiên đối với sinh cảnh của đom đóm

là một dự án nắn dòng sông ở thượng nguồn dẫn đến làm giảm dòng nước ngọt và việc phát triển du lịch thiếu kiểm soát trong vùng

Một số bên liên quan ở địa phương bao gồm hội đồng phát triển và an ninh thôn và các nhà buôn địa phương đã tham gia vào việc quản lý vùng thông qua cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn về các hoạt động bảo tồn và quản lý, phổ biến các tài liệu giáo dục và nhận thức Với mô hình này các hoạt động du lịch và các tác động đến môi trường vùng ĐNN được kiểm soát

Sự tham gia bảo tồn, quản lý của các bên liên quan vừa đảm bảo được công tác bảo tồn đồng thời hoạt động phát triển kinh tế từ hoạt động du lịch, tận dụng lợi thế đặc thù của vùng Tuy nhiên, mô hình này chưa đề cập đến cơ chế chia sẻ lợi ích

và kế hoạch bảo tồn lâu dài cũng như xác định các vùng môi trường cụ thể bị tác động cũng như có giải pháp cụ thể

1.2.3.3 Các mô hình liên quan đến sử dụng khôn khéo ĐNN tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam có một số mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN được áp dụng và cho kết quả khả quan Mỗi mô hình, mỗi địa phương có cách làm và tiếp cận khác nhau để giải quyết các vấn đề, tuy nhiên điểm then chốt trong hầu hết các

mô hình này là huy động được sự tham gia, hỗ trợ của các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa phương và có cơ chế phù hợp Một số mô hình có các loại hình ĐNN

và điều kiện tự nhiên, xã hội tương tự với vịnh Tiên Yên đã được áp dụng trong thời gian qua như sau:

Trang 35

Mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định

[99] Bài học rút ra là để người dân tự do khai thác ngao là cách quản lý không phù hợp, có hiệu quả thấp và làm suy giảm ĐDSH Vì vậy, mô hình sử dụng khôn khéo ngao giống đã được nghiên cứu và ứng dụng, trong đó đã xác định các bên liên quan tại địa phương: chính quyền tỉnh, chính quyền huyện và xã; vườn quốc gia; người dân địa phương; doanh nghiệp nhỏ thuê mặt nước Các bên liên quan tại khu vực Vườn đã thống nhất và tuân thủ quy chế bảo tồn và sử dụng khôn khéo Quy chế này được Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định thông qua

Theo đó, các bên liên quan đều có trách nhiệm quản lý, bảo tồn cũng như chia sẻ lợi ích có được từ sử dụng tài nguyên ngao giống tại đây Đối với người dân,

họ được phép khai thác ngao giống trong giới hạn nhất định, đồng thời họ có trách nhiệm đóng một phần kinh phí lợi nhuận họ thu được cho các bên liên quan khác trong vùng Đối với chính quyền địa phương họ có thêm nguồn kinh phí tăng cường công tác quản lý xã hội tại khu vực nuôi ngao Đối với vườn quốc gia, họ có thêm một nguồn thu, đồng thời họ tăng cường và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc quản lý, bảo tồn ĐDSH trong khu vực Chính quyền cấp tỉnh điều phối chung công tác quản lý, bảo tồn Có thể thấy trong mô hình này, trách nhiệm và quyền lợi đều được gắn chặt với nhau đối với các bên liên quan, và cuối cùng hình thành nên cơ chế quản lý khá bền vững

Mô hình phục hồi RNM Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh [40, 79] Gần như

tất cả RNM đã bị hủy hoại bởi chất diệt cỏ trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam Cần Giờ là Khu dự trữ Sinh quyển RNM đầu tiên trên thế giới Bài học kinh nghiệm được xem là chìa khóa thành công đối với phục hồi HST này gồm: chính sách hỗ trợ của chính quyền thành phố; cam kết ở cấp độ cao của cán bộ của cơ quan lâm nghiệp; sự đóng góp của nhân dân địa phương vào việc trồng và bảo vệ rừng; hỗ trợ tài chính và công tác khuyến lâm giúp đỡ dân cư trong rừng tạo thu nhập

Các khía cạnh của tiếp cận HST đã được ứng dụng trong mô hình này là bảo tồn, chia sẻ lợi ích một cách công bằng và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên

Trang 36

đều được đồng thời đề cập Những lợi ích sinh kế mà người dân địa phương hưởng thụ được đảm bảo vì vậy, người dân được động viên và tích cực trong việc trồng và bảo vệ rừng Các bên liên quan được xác định gồm chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh và cộng đồng địa phương khu vực Cần Giờ Việc khai thác các dịch vụ HST,

cơ chế chia sẻ chưa được đề cập cụ thể trong mô hình

Mô hình KBT Biển Rạn Trào tại xã Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa [75, 77] Với

đặc trưng của vùng ven biển là sử dụng đa mục tiêu thì sự tham gia và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan trong đó có cộng đồng là thực sự cần thiết cho sự điều phối hiệu quả Trên cơ sở đó, mọi hoạt động diễn ra đều được các bên liên quan hiểu rõ, tham gia và ủng hộ Một yếu tố cần được xem xét trong mô hình này

là tính bền vững Sau khi các hoạt động hỗ trợ của các dự án và nhà tài trợ kết thúc nguồn tài chính bền vững cho các hoạt động bảo tồn tại KBT Rạn Trào cần phải được tính đến Đồng thời, thể chế hóa các quy định có sự tham gia của cộng đồng

1.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẤT NGẬP NƯỚC TẠI VỊNH TIÊN YÊN

Từ khoảng năm 2005 trở về trước, rất ít các nghiên cứu về ĐNN được thực hiện tại vịnh Tiên Yên, chỉ một số nghiên cứu về các đối tượng cụ thể liên quan đến TNTN, ĐDSH như nghiên cứu sử dụng bền vững nguồn lợi sá sùng và bông thùa tỉnh Quảng Ninh; nghiên cứu quy hoạch NTTS nước biển, nước lợ tại Tiên Yên và Hải Hà và một số nghiên cứu khác về RNM tại Tiên Yên

Tuy nhiên trong khoảng 10 năm gần đây, khu vực vịnh Tiên Yên có thêm nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của ĐNN

Năm 2005, kết quả nghiên cứu trầm tích bãi triều cửa sông vùng Tiên Yên -

Hà Cối [1] cho thấy chúng đã bắt đầu có sự ô nhiễm kim loại nặng theo mức độ khác nhau, trong đó: Khu Mũi Chùa và khu Đầm Hà được xem như là tự nhiên, chưa có biểu hiện ô nhiễm nghiêm trọng các nguyên tố kim loại nặng; Khu Ba Chẽ

đã có ô nhiễm kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cr, As) do ảnh hưởng của các chất thải từ lưu vực thượng nguồn và do vật liệu thải từ mỏ than Mông Dương; Khu Hà Cối đã

Trang 37

bị ô nhiễm kim loại nặng như Cu, Pb, Cr, As, có thể do ảnh hưởng của các chất thải

từ khu vực Móng Cái đưa tới

Năm 2007, áo cáo quy hoạch ĐNN ven biển nhằm bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai phân các vùng ĐNN ven biển và để xuất định hướng sử dụng bền vững ĐNN ven biển theo các vùng của nước ta từ Bắc đến Nam trong đó có vịnh Tiên Yên [20] Ngoài ra, cũng trong năm đó cơ sở dữ liệu ĐNN cửa sông Tiên Yên được thiết lập [19]

Năm 2008, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu và đề xuất các mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN tại các xã vùng cửa sông Ba Chẽ của huyện Tiên Yên [78] Mô hình quản lý tổng hợp TNTN dựa vào cộng đồng phục vụ PTBV tại thôn Hà Thụ, xã Hải Lạng, Tiên Yên, Quảng Ninh Mô hình này đã có sự tham gia tích cực của cộng đồng, các hoạt động trong

mô hình được thực hiện theo hướng “tiếp cận từ dưới lên”, song chưa đề cập đến các dịch vụ HST và cơ chế chia sẻ lợi ích đối với các bên liên quan sử dụng dịch vụ HST này Ngoài ra, một số doanh nghiệp và các đối tượng liên quan khác chưa được đề cập đến và mô hình thực hiện trong phạm vi nhỏ

Tổng cục Môi trường (2011) nghiên cứu đề xuất phương pháp đánh giá mức

độ suy thoái HST và thử nghiệm đối với RNM và cỏ biển; đồng thời lượng giá dịch

vụ HST vịnh Tiên Yên [70] Lê Thị Nga (2011) đã sử dụng công cụ viễn thám để đánh giá biến động các kiểu ĐNN tại Tiên Yên đồng thời đề xuất định hướng sử dụng ĐNN ven biển khu vực vịnh Tiên Yên [45]

Trần Đăng Quy (2012) nghiên cứu đặc điểm địa hóa khu vực vịnh Tiên Yên làm cơ sở cho việc đề xuất các vùng chức năng môi trường kết luận về đặc điểm phân

bố hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong nước và trầm tích; vai trò địa hóa quan trọng của hệ sinh thái RNM đối với sự bền vững của vịnh Tiên Yên [49, 80]

Hoàng Văn Tuấn, Trần Đăng Quy, Nguyễn Văn Vượng, Mai Trọng Nhuận (2012) nghiên cứu phân vùng chức năng sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường vịnh Tiên Yên đề xuất 07 vùng chức năng môi trường khác nhau trên cơ sở 8 tiêu chí

Trang 38

phân vùng, chủ yếu dựa vào đặc điểm tự nhiên và địa hóa môi trường [80] Tuy nhiên cách phân vùng này chưa nghiên cứu đến các tác động của các hoạt động phát triển kinh tế trong khu vực, chưa có sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là cộng đồng địa phương Hay nói cách khác là các nghiên cứu này chưa áp dụng tiếp cận hệ sinh thái và tiếp cận sử dụng khôn khéo ĐNN trong quản lý, bảo tồn ĐNN tại khu vực này cũng chưa tính đến các chức năng sinh thái khác nhau của khu vực Đồng thời khu vực vịnh Tiên Yên có diện tích không quá lớn được phân thành quá nhiều vùng chức năng môi trường không phù hợp và không khả thi áp dụng trong thực tiễn quản lý địa phương

Tổng cục Thủy sản (2012) nghiên cứu đề xuất thành lập khu bảo tồn biển Tiên Yên, Hà Cối, có 3 phân khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (HST rừng ngập mặn Đồng Rui); phân khu phục hồi sinh thái; phân khu phát triển Ban quản lý khu bảo tồn biển này cũng được đề xuất thành lập với quy chế hoạt động Tuy nhiên, việc hình thành KBT này vẫn mang tính truyền thống, các quy định có tính chất hành chính, mệnh lệnh từ trên xuống Cộng đồng, sự tham gia các bên liên quan chưa được đề cập cụ thể trong việc đề xuất KBT biển này [72]

NHẬN XÉT CHUNG

Nhìn chung từ năm 2005 trở về trước và trong khoảng 10 năm trở lại đây, khu vực Quảng Ninh nói chung và khu vực vịnh Tiên Yên nói riêng đã có một số nghiên cứu các vấn đề cụ thể như: môi trường trầm tích, ĐDSH và có một số tác giả nghiên cứu phân vùng môi trường, sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn, ngoài

ra còn có một số nghiên cứu về biến động, lượng giá kinh tế ĐNN tại Tiên Yên

Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng tại một vài điểm nghiên cứu, chưa được xem xét, nghiên cứu toàn diện trên toàn khu vực vịnh Tiên Yên Chưa có một nghiên cứu đề cập một cách hệ thống về quản lý, sử dụng khôn khéo và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan tại khu vực vịnh Tiên Yên, đặc biệt là vai trò của cộng đồng Chưa có đánh giá, xem xét toàn diện, hệ thống về sự hài hòa giữa về

hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội trong quản lý, bảo tồn, khai thác và sử dụng tài

Trang 39

nguyên ĐNN theo các tiêu chí sử dụng khôn khéo Các tiếp cận mang tính chất

“mệnh lệnh hành chính”, chưa xem xét tiếp cận từ dưới lên, đặc biệt là chưa có các tiếp cận mới, hiện đại trong những năm gần đây

Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận về sử dụng khôn khéo ĐNN và đánh giá, so sánh các ưu điểm và hạn chế thực tiễn các mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN trên thế giới, trong khu vực và tại Việt Nam và các nội dung còn thiếu sót chưa được nghiên cứu về ĐNN tại khu vực vịnh Tiên Yên nêu trên, quản lý, bảo tồn và

sử dụng khôn khéo ĐNN được áp dụng tại khu vực vịnh Tiên Yên như sau:

“Sử dụng khôn khéo ĐNN là duy trì đặc tính sinh thái, đạt được thông qua việc thực hiện tiếp cận HST trong bối cảnh PTBV” Các tiếp cận sử dụng khôn

khéo, tiếp cận hệ sinh thái, tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng có thể xem là những tiếp cận quy chuẩn và hiện đại trong việc quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước hiện nay

Mục tiêu quản lý, sử dụng khôn khéo ĐNN nói chung và vịnh Tiên Yên nói riêng là phải đảm bảo hài hòa công tác bảo tồn làm sao duy trì cho được cấu trúc, chức năng và các dịch vụ HST song song với việc khai thác, sử dụng hiệu quả, lâu dài hay các dịch vụ HST đảm bảo sinh kế cộng đồng địa phương

Nguyên tắc là phải thích ứng theo định nghĩa, nội dung các hướng dẫn về sử dụng khôn khéo ĐNN theo Công ước Ramsar với tâm điểm là bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN; đồng thời cập nhật các các nội dung, quy trình cũng như nguyên tắc về phương pháp luận tiếp cận HST hướng tới 3 mục tiêu của Công ước ĐDSH là bảo tồn; sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH và chia sẻ lợi ích có được từ nguồn gen Ngoài ra có sự lồng ghép nội dung về bảo tồn dựa vào cộng đồng

Tiêu chí quyết định đến sử dụng khôn khéo ĐNN là gắn với việc duy trì giá trị, vai trò các dịch vụ HST bao gồm thể chế, chính sách quản lý ĐNN; và cơ chế điều phối, tham gia phối hợp quản lý, bảo tồn và chia sẻ lợi ích của tất cả các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng chung quanh vùng ĐNN; các vấn đề liên quan đến

sử dụng đất, ô nhiễm; và việc khai thác, sử dụng bằng các phương tiện, cách thức

Trang 40

không bền vững trong việc quản lý và sử dụng các dịch vụ HST ĐNN Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ với nhau quyết định đến hiệu quả các giải pháp sử dụng khôn khéo của vùng.

Vì vậy, bằng việc áp dụng các cách tiếp cận quy chuẩn và hiện đại, các nội dung được đề xuất nghiên cứu là làm rõ giá trị ĐNN đối với kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời đánh giá và đề xuất giải quyết một cách hệ thống các bất cập trong quản lý, bảo tồn và sử dụng ĐNN ven biển nêu trên tại vịnh Tiên Yên có sự tham gia cộng đồng trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa việc sử dụng các dịch vụ HST cho phát triển kinh tế mà vẫn đảm bảo được cấu trúc, chức năng hay nói cách khác

là không làm mất đi, hay ảnh hưởng đến chúng

Ngày đăng: 20/02/2021, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Thục Anh, Nguyễn Khắc Giảng (2006), "Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng của trầm tích bãi triều cửa sông vùng vịnh Tiên Yên - Hà Cối, Quảng Ninh", Tạp chí Địa chất, Tập 293 (1), tr. 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng của trầm tích bãi triều cửa sông vùng vịnh Tiên Yên - Hà Cối, Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Thục Anh, Nguyễn Khắc Giảng
Năm: 2006
2. Ban Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn (2004), Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Ban Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
3. Nguyễn Ngọc Bình (2001), Báo cáo kết quả đề mục: Đặc điểm đất ngập mặn dưới các thảm thực vật rừng ngập mặn ven biển Việt Nam, Đề tài độc lập cấp nhà nước 2000-2002, Viện Khoa học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đề mục: Đặc điểm đất ngập mặn dưới các thảm thực vật rừng ngập mặn ven biển Việt Nam, Đề tài độc lập cấp nhà nước 2000-2002
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Năm: 2001
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước giai đoạn 2004-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước giai đoạn 2004-2010
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
5. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2004), Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2004
6. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2006), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 quy định danh mục động, thực vật rừng nguy cấp quý hiếm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 quy định danh mục động, thực vật rừng nguy cấp quý hiếm
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2006
7. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2007), Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2007
8. ùi Đình Chung, Trần Định (2005), "Danh mục ban đầu các loài cá biển Việt Nam", Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển, Tập III, Nhà xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục ban đầu các loài cá biển Việt Nam
Tác giả: ùi Đình Chung, Trần Định
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Chung (1994), Nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái biển, Chuyên khảo biển Việt Nam, Tập IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái biển
Tác giả: Nguyễn Văn Chung
Năm: 1994
10. Công ƣớc Ramsar (2007), Sử dụng khôn khéo đất ngập nước và quản lý đất ngập nước có sự tham gia của cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng khôn khéo đất ngập nước và quản lý đất ngập nước có sự tham gia của cộng đồng
Tác giả: Công ƣớc Ramsar
Năm: 2007
11. Cục Bảo vệ môi trường (2003), Quản lý tổng hợp đới bờ, kinh nghiệm thực tế ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tổng hợp đới bờ, kinh nghiệm thực tế ở Việt Nam
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2003
13. Cục Bảo vệ môi trường (2004), Thiết lập và tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương và người dân bản địa trong quản lý Đất ngập nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập và tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương và người dân bản địa trong quản lý Đất ngập nước
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2004
14. Cục Bảo vệ môi trường (2004), Vận dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong việc thực thi Công ước đa dạng sinh học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong việc thực thi Công ước đa dạng sinh học Việt Nam
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2004
15. Cục Bảo vệ môi trường (2005), Hướng dẫn Công ước về các vùng đất ngập nước Ramsar, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Công ước về các vùng đất ngập nước Ramsar
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2005
16. Cục Bảo vệ môi trường (2005), Nguyên tắc phòng ngừa trong bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc phòng ngừa trong bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2005
17. Cục Bảo vệ môi trường (2005), Sổ tay sử dụng khôn khéo đất ngập nước - Kiểm kê, đánh giá và quan trắc đất ngập nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay sử dụng khôn khéo đất ngập nước - Kiểm kê, đánh giá và quan trắc đất ngập nước
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2005
18. Cục Bảo vệ môi trường (2005), Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện Công ước Ramsar, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện Công ước Ramsar
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2005
19. Cục Bảo vệ môi trường (2007), Điều tra, đánh giá, thống kê, quy hoạch các khu bảo tồn đất ngập nước có ý nghĩa quốc tế, quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá, thống kê, quy hoạch các khu bảo tồn đất ngập nước có ý nghĩa quốc tế, quốc gia
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2007
20. Cục Bảo vệ môi trường (2007), Quy hoạch đất ngập nước ven biển phóng tránh thiên tai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch đất ngập nước ven biển phóng tránh thiên tai
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2007
22. Cục Bảo vệ môi trường (2008), Quản lý tổng hợp đời bờ - Cách tiếp cận mới trong quản lý tài nguyên và môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tổng hợp đời bờ - Cách tiếp cận mới trong quản lý tài nguyên và môi trường
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w