1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đa dạng sinh học Động vật không xương sống cỡ lớn ở hệ thống suối tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ

201 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 8,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đa dạng sinh học Động vật không xương sống cỡ lớn ở hệ thống suối tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ Nghiên cứu đa dạng sinh học Động vật không xương sống cỡ lớn ở hệ thống suối tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

Ngô Xuân Nam

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG Ở NƯỚC TẠI KHU BẢO TỒN

THIÊN NHIÊN VÀ DI TÍCH VĨNH CỬU,

TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

Ngô Xuân Nam

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG Ở NƯỚC TẠI KHU BẢO TỒN

THIÊN NHIÊN VÀ DI TÍCH VĨNH CỬU,

TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Thủy sinh vật học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN XUÂN QUÝNHPGS.TS NGUYỄN VĂN VỊNH

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Ngô Xuân Nam

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bản luận án này được thực hiện tại Phòng Thí nghiệm Thủy sinh học, Bộ môn Động vật Không xương sống, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn Xuân Quýnh, PGS.TS Nguyễn Văn Vịnh cán bộ giảng dạy Bộ môn Động vật Không xương sống, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi vô cùng biết ơn và cảm tạ sự giúp đỡ quý báu của các thầy

Đồng thời, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công nhân viên và các bạn đồng nghiệp trong Bộ môn Động vật Không xương sống, lãnh đạo khoa Sinh học, các phòng chức năng và lãnh đạo trường Đại học Khoa học Tự nhiên trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và làm việc tại đây

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Viện Sinh thái và Bảo vệ Công trình, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận án

Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc và các cán bộ công nhân viên Khu Bảo tồn thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiến hành khảo sát thực địa, thu thập vật mẫu tại địa bàn nghiên cứu

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố, mẹ, vợ và gia đình đã luôn ủng

hộ, động viên tôi trong quá trình thực hiện Luận án này

Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2014

Nghiên cứu sinh

Ngô Xuân Nam

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG 5

DANH MỤC HÌNH 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích của Luận án 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

5 Những đóng góp mới của Luận án 10

Chương 1 TỔNG QUAN 11

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT TRÊN THẾ GIỚI 11

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT Ở VIỆT NAM 19

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT TỈNH ĐỒNG NAI 32

1.4 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 36

1.4.1 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 36

1.4.1.1 Vị trí địa lý 36

1.4.1.2 Địa hình 37

1.4.1.3 Khí hậu, thời tiết 37

1.4.1.4 Thuỷ văn 38

1.4.1.5 Thổ nhưỡng 39

1.4.1.6 Kinh tế-xã hội 40

1.4.2 Rừng và ĐDSH 41

1.4.2.1 Đặc điểm tài nguyên rừng 41

1.4.2.2 Di tích lịch sử 44

Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 45

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 45

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 45

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 47

2.2.2 Thu thập vật mẫu ngoài tự nhiên 47

2.2.2.1 Phương pháp thu mẫu ĐVN (Zooplankton) 47

2.2.2.2 Phương pháp thu mẫu ĐVĐ (Zoobenthos) 47

Trang 6

2.2.3 Phân tích vật mẫu trong phòng thí nghiệm 48

2.2.4 Xử lý số liệu 49

2.2.4.1 Tính chỉ số ĐDSH 49

2.2.4.2 Phân tích tính tương đồng (Similarity) 50

2.2.4.3 Phân tích BEST (BIO-ENV) 51

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 52

3.1 ĐẶC ĐIỂM SINH CẢNH VÀ THỦY LÝ, HÓA HỌC CÁC THỦY VỰC NGHIÊN CỨU 52

3.1.1 Đặc điểm sinh cảnh các điểm nghiên cứu 52

3.1.2 Đặc điểm thủy lý, hóa học thủy vực nghiên cứu 60

3.2 HIỆN TRẠNG ĐDSH ĐVKXS Ở NƯỚC TẠI CÁC THỦY VỰC NGHIÊN CỨU 63

3.2.1 Thành phần loài và cấu trúc quần xã ĐVKXS ở nước 63

3.2.1.1 Động vật nổi 66

3.2.1.2 Động vật đáy 69

3.2.2 Biến động thành phần loài và mật độ ĐVKXS ở nước theo mùa 79

3.2.2.1 Biến động thành phần loài ĐVKXS ở nước theo mùa 79

3.2.2.2 Biến động mật độ ĐVKXS ở nước theo mùa 88

3.2.3 Biến động thành phần loài và mật độ ĐVKXS ở nước theo các dạng thủy vực 90

3.2.3.1 Biến động thành phần loài ĐVKXS ở nước theo các dạng thủy vực 90

3.2.3.2 Biến động mật độ ĐVKXS ở nước theo các dạng thủy vực 94

3.2.4 Đánh giá hiện trạng ĐDSH của ĐVKXS các thủy vực tại khu vực nghiên cứu 96

3.2.4.1 Động vật nổi 96

3.2.4.2 Động vật đáy 98

3.3 ĐÁNH GIÁ TÍNH TƯƠNG ĐỒNG CỦA ĐVKXS GIỮA CÁC ĐIỂM THU MẪU VÀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC NHÓM ĐVKXS VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG NƯỚC 101

3.3.1 Động vật nổi 101

3.3.1.1 Mùa khô 101

3.3.1.2 Mùa mưa 104

3.3.2 Động vật đáy 107

3.3.2.1 Mùa khô 107

3.3.2.2 Mùa mưa 109

3.3.3 Nhận xét chung về tính tương đồng giữa các điểm thu mẫu và mối tương quan giữa ĐVKXS với một số yếu tố môi trường nước 112

Trang 7

3.4 ĐỀ XUẤT CÁC ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN ĐDSH ĐVKXS

Ở NƯỚC 113

3.4.1 Những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường và ĐDSH ĐVKXS

ở nước 113

3.4.1.1 Chiến tranh hóa học của đế quốc Mỹ và tình trạng khai thác quá mức 113

3.4.1.2 Hiện tượng bồi lắng tại các thủy vực 115

3.4.1.3 Công tác quản lý, bảo vệ rừng còn nhiều khó khăn bất cập 116

3.4.1.4 Sự xâm lấn của các loài ngoại lai xâm hại 117

3.4.1.5 Tác động của BĐKH 118

3.4.2 Đề xuất các định hướng bảo tồn và phát triển ĐDSH ĐVKXS ở nước 120

3.4.2.1 Tuyên truyền, giáo dục bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH, thực hiện các

biện pháp ứng phó với BĐKH 120

3.4.2.2 Hạn chế bồi lắng thủy vực 121

3.4.2.3 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ ĐDSH các thủy vực 121

3.4.2.4 Phát triển du lịch sinh thái theo định hướng phát triển bền vững 122

3.4.2.5 Tổ chức diệt tận gốc và xây dựng giải pháp hạn chế sự phát triển các loài ngoại lai xâm hại 123

KẾT LUẬN 124

KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 126

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 8

BTTN: Bảo tồn thiên nhiên

CCA: Phân tích hợp chuẩn (Canonical correspondence analysis) CĐHH: Chất độc hóa học

DO: Nồng độ oxy hoà tan (Disssolved oxygen)

ĐDSH: Đa dạng sinh học

ĐHKHTN: Đại học Khoa học Tự nhiên

ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội

ĐVĐ: Động vật đáy

ĐVN: Động vật nổi

ĐVKXS: Động vật không xương sống

IUCN: Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên

Thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature) FAO: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp

(Food and Agriculture Organization) KBT: Khu bảo tồn

KHCN&MT: Khoa học Công nghệ và Môi trường

UBND: Ủy ban nhân dân

UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (United Nations

Educational, Scientific and Cultural Organization) VQG: Vườn Quốc gia

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại đất tại Khu BTTN và Di tích Vĩnh Cửu 39

Bảng 1.2 Hiện trạng rừng và sử dụng đất KBT đến năm 2010 42

Bảng 2.1 Kế hoạch khảo sát thực địa, thu thập vật mẫu 45

Bảng 3.1 Đặc điểm sinh cảnh các điểm thu mẫu 53

Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả đo một số chỉ tiêu thủy lý, hóa học các thủy vực nghiên cứu 60

Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả đo một số chỉ tiêu nước thủy lý, hóa học theo mùa các thủy vực nghiên cứu 60

Bảng 3.4 Tổng hợp thành phần ĐVKXS ở nước tại khu vực nghiên cứu 63

Bảng 3.5 Tổng hợp về thành phần ĐVN ở các thủy vực nghiên cứu 66

Bảng 3.6 Tổng hợp về thành phần ĐVĐ ở các thủy vực nghiên cứu 70

Bảng 3.7 So sánh số lượng loài ĐVĐ tại khu vực nghiên cứu với các thủy vực nước ngọt Đồng bằng sông Cửu Long 74

Bảng 3.8 Danh sách loài ĐVĐ có giá trị bảo tồn đã gặp ở khu vực nghiên cứu 75

Bảng 3.9 Số lượng các taxon thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại khu vực nghiên cứu vào mùa khô 79

Bảng 3.10 Số lượng loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại 4 dạng thủy vực nghiên cứu vào mùa khô 81

Bảng 3.11 Số lượng các taxon thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại khu vực nghiên cứu vào mùa mưa 83

Bảng 3.12 Số lượng loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại 4 dạng thủy vực nghiên cứu vào mùa mưa 85

Bảng 3.13 So sánh số lượng loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại khu vực nghiên cứu giữa hai mùa 87

Bảng 3.14 Số lượng các taxon thuộc các lớp ĐVKXS ở nước theo các dạng thủy vực ở khu vực nghiên cứu 91

Bảng 3.15 Hệ số tương quan BIO-ENV giữa ĐVN và các yếu tố môi trường vào mùa khô 103

Bảng 3.16 Hệ số tương quan BIO-ENV giữa ĐVN và các yếu tố môi trường vào mùa mưa 106

Bảng 3.17 Hệ số tương quan BIO-ENV giữa ĐVĐ và các yếu tố môi trường vào mùa khô 109

Bảng 3.18 Hệ số tương quan BIO-ENV giữa ĐVĐ và các yếu tố môi trường vào mùa mưa 112

Bảng 3.19 Diễn biến rừng lâm trường Mã Đà qua các thời kỳ 113

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu 46

Hình 3.1 Tỷ lệ thành phần loài ĐVKXS ở các thủy vực nghiên cứu 64

Hình 3.2 Số lượng các taxon ĐVN ở các thủy vực nghiên cứu 67

Hình 3.3 Tỷ lệ % các taxon theo các bậc phân loại của các lớp ĐVĐ ở các thủy vực nghiên cứu 72

Hình 3.4 Tỉ lệ % số loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại các thủy vực nghiên cứu vào mùa khô 80

Hình 3.5 Tỷ lệ % số lượng loài ĐVN và ĐVĐ tại 4 dạng thủy vực nghiên cứu vào

mùa khô 82

Hình 3.6 Tỉ lệ % số loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại các thủy vực nghiên cứu vào mùa mưa 84

Hình 3.7 Tỷ lệ % số lượng loài ĐVN và ĐVĐ tại 4 dạng thủy vực nghiên cứu vào

mùa mưa 86

Hình 3.8 Biến động mật độ trung bình ĐVN theo mùa 89

Hình 3.9 Biến động mật độ trung bình ĐVĐ theo mùa 90

Hình 3.10 Tỉ lệ % số loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại các thủy vực nước đứng 92

Hình 3.11 Tỉ lệ % số loài thuộc các lớp ĐVKXS ở nước tại các thủy vực nước chảy 93

Hình 3.12 Biến động mật độ trung bình ĐVN theo các dạng thủy vực 94

Hình 3.13 Biến động mật độ trung bình ĐVĐ theo các dạng thủy vực 95

Hình 3.14 Chỉ số H’ của ĐVN theo các điểm nghiên cứu 96

Hình 3.15 Chỉ số H’ của ĐVN theo các đợt nghiên cứu 97

Hình 3.16 Chỉ số H’ của ĐVN theo các dạng thủy vực và các đợt nghiên cứu 98

Hình 3.17 Chỉ số H’ của ĐVĐ theo các điểm nghiên cứu 99

Hình 3.18 Chỉ số H’ của ĐVĐ theo các đợt nghiên cứu 99

Hình 3.19 Chỉ số H’ của ĐVĐ theo các dạng thủy vực và các đợt nghiên cứu 100

Hình 3.20 Kết quả tính chỉ số tương đồng của ĐVN giữa các điểm nghiên cứu vào mùa khô 101

Hình 3.21 Không gian 2 chiều MDS của ĐVN giữa các điểm nghiên cứu vào mùa khô 102

Hình 3.22 Kết quả tính chỉ số tương đồng của ĐVN giữa các điểm nghiên cứu vào mùa mưa 104

Hình 3.23 Không gian 2 chiều MDS của ĐVN giữa các điểm nghiên cứu vào mùa mưa 105

Hình 3.24 Kết quả tính chỉ số tương đồng của ĐVĐ giữa các điểm nghiên cứu vào mùa khô 107

Hình 3.25 Không gian 2 chiều MDS của ĐVĐ giữa các điểm nghiên cứu vào mùa khô 108

Hình 3.26 Kết quả tính chỉ số tương đồng của ĐVĐ giữa các điểm nghiên cứu vào mùa mưa 110

Hình 3.27 Không gian 2 chiều MDS của ĐVĐ giữa các điểm nghiên cứu vào

mùa mưa 110

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau khi Công ước ĐDSH được 157 nước ký kết tại Rio de Janeiro (1992), việc nghiên cứu, bảo tồn ĐDSH đã được đẩy mạnh ở nhiều góc độ khác nhau trên phạm vi toàn cầu Ở Việt Nam, sau khi Luật ĐDSH được Quốc hội khóa XII thông qua, các nghiên cứu về ĐDSH phục vụ công tác bảo tồn và phát triển bền vững là một trong những định hướng quan trọng được quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu này đã và đang thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nước

ĐVKXS nước ngọt là nhóm sinh vật rất phong phú và đóng vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái nước ngọt và trong đời sống của con người

Tại các thủy vực nước ngọt, ĐVKXS tham gia vào các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, là mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn của thủy vực và tạo sự cân bằng cho các thủy vực Ngoài ra, nhiều loài còn là sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước ở các thủy vực

Trong đời sống sinh hoạt, từ xa xưa, con người đã biết sử dụng ĐVKXS để làm thực phẩm, làm đồ trang trí Ngày nay, nhờ có các nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm của mình, con người đã thuần hoá và nuôi trồng được rất nhiều loài ĐVKXS nước ngọt có giá trị kinh tế cao

Việc điều tra, nghiên cứu, khai thác và sử dụng hợp lý, phát triển bền vững nguồn lợi ĐVKXS ở các thủy vực là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với con người cho hôm nay cũng như trong tương lai Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu ĐVKXS ở nước tại các VQG và khu BTTN Thống kê của Cục Kiểm lâm, Việt Nam có

130 khu BTTN, với diện tích 2.409.288 ha Trong đó, có 31 VQG, 48 khu dự trữ thiên nhiên, 12 KBT loài/sinh cảnh, 39 khu bảo vệ cảnh quan

Trang 12

Khu BTTN và Di tích Vĩnh Cửu thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai Đặc trưng nổi bật về rừng tự nhiên trong khu vực, đó là hệ sinh thái rừng cây họ Dầu trên vùng địa hình đồi, bán bình nguyên Đây còn là nơi cư trú của nhiều loài động vật rừng, trong đó có nhiều loài được xếp là quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng đã được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam và Sách Đỏ IUCN Khu hệ động, thực vật ở đây có quan hệ mật thiết với khu hệ động, thực vật rừng của VQG Cát Tiên [52]

Khu rừng này trong thời kỳ chiến tranh còn là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của chất độc hoá học do quân đội Mỹ sử dụng nhằm huỷ diệt con người và thiên nhiên Nơi đây là vùng căn cứ cách mạng nổi tiếng, với nhiều

di tích lịch sử trong các thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm của miền Đông Nam bộ với địa danh nổi tiếng là Chiến khu Đ, với các Căn cứ Khu ủy miền Đông Nam bộ, TW Cục miền Nam và Khu Địa đạo Suối Linh, đã được Nhà nước công nhận là di tích Lịch sử-Văn hoá cấp quốc gia [52]

Ngoài ra, rừng trong khu vực còn có chức năng rất quan trọng là phòng

hộ trực tiếp cho hồ Trị An, góp phần tái tạo sự cân bằng sinh thái cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đồng thời là nơi có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch sinh thái [52]

Trước đây, tại khu vực này chỉ có các nghiên cứu về ĐDSH của các hệ sinh thái trên cạn, tập trung vào các sinh vật có kích thước lớn như chim, thú, thực vật bậc cao không có tài liệu nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS ở nước

Từ những lý do nêu trên, NCS thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học động vật không xương sống ở nước tại Khu Bảo tồn thiên nhiên

và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai”

Luận án được thực hiện trong khuôn khổ của 02 đề tài độc lập cấp nhà

nước: “Đánh giá ảnh hưởng của chất độc hóa học đối với ĐDSH và quá trình

biến đổi các hệ sinh thái khu vực Mã Đà (Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương) và hồ Biên Hùng (thành phố Biên Hòa)”, mã số CT33.21 (từ năm

Trang 13

2002-2005) và "Nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin lên quá

trình diễn thế các hệ sinh thái và sự biến đổi cấu trúc gen, protein của một số loài sinh vật tại khu vực Mã Đà”, mã số ĐTĐL2007G/46 (từ năm 2007-2010)

do PGS.TS Nguyễn Xuân Quýnh làm chủ nhiệm mà NCS là thành viên tham gia thực hiện đề tài Được sự đồng ý của Chủ nhiệm đề tài, NCS được phép

sử dụng một phần số liệu, kết quả của đề tài, đi sâu nghiên cứu cấu trúc thành phần loài, biến động thành phần loài theo mùa, theo các dạng thủy vực và phân tích mối tương quan giữa các nhóm ĐVKXS ở nước với một số yếu tố môi trường nước ở khu vực nghiên cứu

Từ năm 2012-2013, NCS còn được hỗ trợ bởi đề tài mã số 2011.11 thuộc Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted)

106.15-2 Mục đích của Luận án

- Nghiên cứu hiện trạng ĐDSH ĐVKXS ở nước tại Khu BTTN và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, sự biến động của chúng theo mùa, theo các dạng thủy vực

- Tìm hiểu mối liên quan giữa các nhóm ĐVKXS ở nước với một số yếu tố môi trường nước

- Đề xuất định hướng bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH ĐVKXS ở

nước khu vực nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: ĐVKXS ở nước, bao gồm ĐVN và ĐVĐ, thủy vực nước đứng và thủy vực nước chảy tại Khu BTTN và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

- Phạm vi nghiên cứu: Công tác khảo sát thực địa, thu thập vật mẫu được tiến hành trong 8 đợt thu mẫu, mỗi đợt từ 15-20 ngày, đại diện cho 2 mùa: mùa mưa và mùa khô, tại 12 thủy vực với 20 điểm thu mẫu thuộc Khu BTTN và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (không bao gồm hồ Trị An)

Trang 14

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Cung cấp một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về thành phần loài, phân bố, đặc điểm cấu trúc thành phần loài, mức độ ĐDSH ĐVKXS ở nước khu vực nghiên cứu và mối tương quan giữa ĐVKXS ở nước với các yếu tố môi trường nước

- Là cơ sở khoa học cho việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật; Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vững

5 Những đóng góp mới của Luận án

- Lần đầu tiên cung cấp một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về thành phần loài ĐVKXS ở nước, hiện trạng ĐDSH ĐVKXS ở nước tại Khu BTTN

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT TRÊN THẾ GIỚI

Thủy sinh học bao gồm thủy sinh học biển và thủy sinh học nước ngọt Trong các tài liệu để lại của thời cổ Ai Cập, cổ Trung Quốc cũng như cổ La

Mã, Hy Lạp để lại, đã thấy có những tư liệu về đời sống thủy sinh vật được con người sử dụng Tuy nhiên, thủy sinh học chỉ thực sự trở thành khoa học từ giữa thế kỷ XIX [41]

Giai đoạn đầu của hoạt động nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt thực

sự chỉ bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX với những nghiên cứu về động vật giáp xác nhỏ trong nước hồ ở Đức của Muller (1845) và của Eransmus ở Thụy Sỹ với thuật ngữ “plankton” lần đầu tiên được đề xuất Cùng với các hoạt động nghiên cứu chế độ nước của hồ Leman ở Thụy Sỹ của Forel (1892-1895), có thể coi đây là những cơ sở đầu tiên của Hồ ao học (Limnology) cũng như của thủy sinh học nước ngọt thế giới Thủy sinh học nước ngọt cũng phát triển từ giữa thế kỷ XIX ở Bắc Mỹ với những nghiên cứu về cá ở hồ Superior của Agassiz,

về ĐVN của Birge, Juday ở hồ Mendota (1950) và đặc biệt là lần đầu tiên có sự

mô tả hồ với thủy sinh vật như một hệ sinh thái (Forbes, 1887) [41]

Sự phát triển của thủy sinh học nước ngọt còn được thúc đẩy bởi sự chế tạo ra các thiết bị nghiên cứu như đĩa Secchi, lưới vớt sinh vật phù du ở hồ, gầu thu mẫu sinh vật đáy đã tạo điều kiện để chuyển sang nghiên cứu định lượng Cũng trong thời gian cuối thế kỷ XIX này, đã có sự thành lập một số trạm nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt đầu tiên như trạm Plon ở Đức (1891), Glubokoe ở Nga (1894) Illinois ở Mỹ (1894) và tiếp theo là các trạm

ở Thụy Điển và Đan Mạch Nhìn chung, trong giai đoạn đầu tiên này, tới cuối thế kỷ XIX, thủy sinh học nước ngọt chủ yếu còn mang tính chất điều tra Nghiên cứu thủy sinh vật như một bộ phận của Hồ ao học địa phương, góp phần nghiên cứu đặc tính các thủy vực nước ngọt (hồ, sông) của từng địa phương ở các nước [41]

Trang 16

Giai đoạn thứ hai của sự phát triển thủy sinh học nước ngọt bắt đầu từ đầu thế kỷ XX Cùng với sự phát triển của Hồ ao học nói chung và sự phát triển của kỹ thuật khảo sát, đặc biệt là kỹ thuật, thiết bị định lượng, thủy sinh học nước ngọt bắt đầu đi vào nghiên cứu các vấn đề lý luận về chu trình vật chất trong thủy vực với sự tham gia của thủy sinh vật, năng suất sinh học của thủy vực, cơ chế, mối quan hệ và hệ quả của các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong thủy vực - được coi như một hệ sinh thái ở nước Trong số các tác giả đi đầu cho hướng phát triển này của thủy sinh học nước ngọt có thể kể đến: Welch (1935), Rutter (1940), Hutchison (1957), Thiennman (1925, 1934), Vinberg (1966) Vào cuối thế kỷ XX, trong khi tiếp tục nghiên cứu ở trình độ cao các vấn đề cân bằng vật chất và năng lượng trong thủy vực, năng suất sinh học sơ cấp và thứ cấp, mô hình toán học hệ sinh thái thủy vực nước ngọt nội địa, trước hết là các thủy vực dạng hồ, loại hình học thủy vực, thủy sinh học nước ngọt và cả thủy sinh học biển lại tiếp cận với các vấn đề ô nhiễm thủy vực do các tác động tiêu cực của sự phát triển công nghiệp, dân cư trên thế giới, gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên

và môi trường nước ngày càng nặng nề Các vấn đề lớn đặt ra là: đánh giá, dự báo tình trạng ô nhiễm, hệ quả sinh thái và các giải pháp tái tạo, phục hồi các

hệ sinh thái bị suy thoái của môi trường nước, sử dụng các tác nhân sinh học bên cạnh các tác nhân khác [41]

Các nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS ở nước giai đoạn này có thể kể đến

công trình về Trùng bánh xe (Rotatoria), theo tổng hợp của Yule và Yong (2004) số lượng loài Trùng bánh xe trên thế giới khoảng 1.800 loài, 125 giống

và 33 họ [139] Một nghiên cứu khác của Segers từ năm 1994 đến 2001 cho thấy thành phần các taxon ở một số nước Brunei, Campuchia và Lào là nghèo, chỉ có ở Thái Lan là phong phú nhất với 310 loài Rotatoria được ghi

nhận Ngoài ra, tác giả còn nhấn mạnh, các loài thuộc hai giống Lecane và

Trang 17

Brachionus là đặc trưng cho vùng nhiệt đới [121,122] Năm 2008, Segers

đã xác định trên thế giới có khoảng 2.031 loài Trùng bánh xe thuộc hai nhóm chính Monogononta và Bdelloidea Trong nghiên cứu này, tác giả đi sâu phân tích về ĐDSH ở bậc giống, loài; cung cấp dẫn liệu về phân bố và một số đặc điểm sinh học và sinh thái học [122] Đến năm 2010, Segers và cộng sự tiếp tục ghi nhận mới về Trùng bánh xe ở Campuchia: xác định được 23 đơn vị phân loại, trong đó có 3 mẫu chưa được mô tả đến loài Các tác giả cũng nhận định cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về nhóm sinh vật này [123]

Về Giáp xác (Crustacea), nghiên cứu của Forró và cộng sự (2008) về Cladocera đã xác định khoảng 620 loài Các tác giả cũng ước tính số lượng loài thực tế cao hơn 2-4 lần Trong nghiên cứu này, tác giả đi sâu phân tích về ĐDSH ở bậc giống, loài; cung cấp dẫn liệu về phân bố và một số đặc điểm sinh học và sinh thái học, đồng thời đưa ra nhận định về khả năng nhân nuôi [74] Đối với tôm, cua, có các công trình mô tả nhiều giống và loài mới như: Yeo và Naiyanetr (1999) mô tả 3 giống cua mới ở bắc Lào cùng với những

lưu ý về loài Potamiscus (Ranguna) pealianoides Bott, 1966 (Crustacea,

Decapoda, Brachyura, Potamidae) [133], Yeo và cộng sự mô tả 1 giống cua mới thuộc họ Potamidae ở Thái Lan vào năm 2000, 1 loài cua mới thuộc

giống Esanthelphusa tại Lào vào năm 2004 và 3 loài cua mới thuộc giống

Hainanpotamon tại Trung Quốc, Việt Nam và Lào vào năm 2007 [135, 136,

137], Naiyanetr (2001) mô tả 1 loài cua mới thuộc họ Potamidae tại Thái Lan

[100], Hanamura và cộng sự (2011) nghiên cứu về giống Macrobrachium

Bate, 1868 thu được từ hệ thống sông của Lào ghi nhận được 4 loài mới cho khoa học và 11 loài mới cho Lào, các tác giả cũng chứng minh mối liên hệ giữa các loài thuộc giống này có quan hệ gần với khu hệ tôm nước ngọt Bắc Việt Nam [77] Nguyễn Văn Xuân (2012) mô tả loài tôm mới thuộc giống

Macrobrachium thu được từ hồ Tonle Sap của Campuchia, tác giả cũng ghi

nhận tầm quan trọng về giá trị kinh tế và nơi sống của loài này [108]

Trang 18

Về Thân mềm (Mollusca) có thể kể đến các công trình của Yule và Yong (2004) đã thống kê được hơn 150 loài Chân bụng (Gastropoda) và Hai mảnh vỏ (Bivalvia), trong đó có 6 bộ và 20 giống Gastropoda; 5 bộ và 12 giống Bivalvia Riêng lớp Bivalvia trên thế giới, Bogan (2008) đã xác định có

ít nhất 19 họ thuộc 3 phân lớp Bivalvia sống ở nước ngọt Riêng Bộ Unioniformes có 6 họ, 180 giống và 800 loài sống trong môi trường nước ngọt [61, 139]

Về Côn trùng (Insecta) có công trình của McCafferty (1983) nghiên cứu về 10 bộ côn trùng thủy sinh Tác giả đã xây dựng khoá định loại côn trùng thủy sinh đến họ, xác định được 10 bộ côn trùng thủy sinh với tổng cộng 139 họ Trong đó, Ephemeroptera: 17 họ, Odonata: 11 họ, Plecoptera: 9

họ, Hemiptera: 17 họ, Megaloptera: 2 họ, Lepidoptera: 4 họ, Coleoptera:

24 họ, Trichoptera: 18 họ, Diptera: 36 họ và ít nhất là Neuroptera chỉ có 1

họ Thêm vào đó, tác giả cũng dự đoán số lượng loài thuộc côn trùng thủy sinh tại Bắc Mỹ như sau: Ephemeroptera có 700 loài, Odonata: 450 loài, Plecoptera: 500 loài, Hemiptera: 400 loài, Megaloptera: 50 loài, Lepidoptera: 50 loài, Coleoptera: 1.000 loài, Trichoptera: 1.200 loài, Diptera: 3.500 loài và Neuroptera: 6 loài Tác giả cũng cung cấp thêm các dẫn liệu về tiến hóa, địa động vật, phân bố của một số nhóm côn trùng thủy sinh [98] Merritt và Cummins (1996) cũng đã phân loại đến giống côn trùng thủy sinh và bán thủy sinh ở Bắc Mỹ Công trình nghiên cứu này đã đưa ra hệ thống phân loại rất rõ ràng, đặc biệt ở bộ Trichoptera, Diptera (các họ Chironomidae, Simuliidae, Culicidae và Tipulidae) Đồng thời, các tác giả

đã đưa ra hệ thống phân loại của bộ Collembola và Orthoptera sống ở nước [99] John và cộng sự (1994) đã xây dựng các khoá định loại các bộ côn trùng thủy sinh ở Trung Quốc đến giống và nghiên cứu sử dụng chúng để đánh giá chất lượng các thủy vực nước ngọt dựa vào sự có mặt của từng nhóm Trong

Trang 19

đó, bộ Ephemeroptera có 10 họ, Odonata: 17 họ, Plecoptera: 9 họ, Hemiptera:

16 họ, Megaloptera: 2 họ, Lepidoptera: 1 họ, Coleoptera: 40 họ, Trichoptera:

19 họ, Diptera: 30 họ và Neuroptera: 3 họ Đồng thời, các tác giả đã xây dựng khoá định loại tới giống của các bộ, họ côn trùng thủy sinh với nhiều đặc điểm phân loại và hình minh họa rõ ràng [85] Nisarat (2007) nghiên cứu về

hệ thống học họ Baetidae (Insecta: Ephemeroptera) ở Đông Nam Á Tác giả

đã mô tả 26 loài mới của 8 giống, nâng tổng số loài lên 140 loài thuộc 19 giống của họ Baetidae ở châu Á [115]

Các lớp Hình nhện (Arachnida), Giun ít tơ (Oligochaeta), Đỉa (Hirudine) và Giun tròn (Nematoda) cũng được các tác giả quan tâm nghiên cứu không những về phân loại học mà cả về sinh thái học Có thể kể đến các công trình của: Bartsch (2008) về nhện nước ngọt [60], Healy và cộng sự (1999) về giun ít tơ ở nước [78], Abebe và cộng sự (2006) về sinh thái học và phân loại giun tròn nước ngọt [53]

Đặc biệt, từ năm 2002 đến năm 2008, dự án “Đánh giá ĐDSH động vật nước ngọt” (FADA)” được thực hiện bởi 163 nhà khoa học trên thế giới như: Yeo và cộng sự (Crustacea: Decapoda: Brachyura) [138], De Grave và cộng

sự (Crustacea: Decapoda: Caridea) [70], De Moor và Ivanov (Insecta: Trichoptera) [71], Wagner và cộng sự (Insecta: Diptera) [132], Kalkman và cộng sự (Insecta: Odonata) [88], Barber-James và cộng sự (Insecta: Ephemeroptera) [59], Polhemus và cộng sự (Insecta: Heteroptera) [120], Väinölä và cộng sự (Crustacea: Amphipoda) [129] với sự tài trợ của nhiều

tổ chức như: Tổ chức Bảo tồn ĐDSH (CBD), Trung tâm nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS) nhằm đánh giá tổng quan về mức độ ĐDSH ở bậc giống và loài động vật, thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt trên thế giới [57] Kết quả nghiên cứu cho thấy đã mô tả 125.531 loài động vật nước ngọt, chiếm 9,5% tổng số loài động vật được công nhận trên toàn cầu (1.324.000 loài)

Trang 20

Trong đó, Insecta chiếm ưu thế với: 75.874 loài (chiếm 60,4%), động vật có xương sống: 18.235 loài (14,5%), Crustacea: 11.990 loài (10%), Arachnida: 6.149 loài (5%), Mollusca: 4.998 loài (4%), tiếp đến là Rotifera: 1.948 loài (1,6%), Annelida: 1.761 loài (1,4%), Nematoda: 1.808 loài (1,4%), Platyhelminthes: Turbellaria: 1.297 loài (1%) và số ít là Collembola và các nhóm khác như Bryozoa, Tardigrada [58] Ngoài ra, các kết quả đánh giá đa dạng động vật nước ngọt toàn cầu còn công bố trên tạp chí Hydrobiologia (2008) với hơn 50 bài báo khoa học [57] Các kết quả nghiên cứu này đã thống kê cơ bản hiện trạng ĐDSH động vật ở nước ở các bậc phân loại khác nhau cùng với vùng phân bố của chúng Đây là những công trình có giá trị, góp phần quan trọng vào công tác nghiên cứu phân loại học và địa động vật học về động vật ở nước, đặc biệt là ĐVKXS

Một trong những hướng nghiên cứu về ĐVKXS nước ngọt là nghiên cứu

tương quan giữa các yếu tố môi trường với quần xã ĐVKXS ở nước Người ta thường sử dụng các phần mềm để xử lý số liệu nhằm xác định đặc tính cấu trúc, phân bố và mối quan hệ giữa quần xã sinh vật và yếu tố môi trường như

pH, nhiệt độ, độ cao và thành phần vật chất tầng đáy Theo Braak và Verdonschot (1995), CCA là một trong những phương pháp phổ biến được sử dụng trong các nghiên cứu thủy sinh vật học Trong đó, ĐVKXS ở nước là một trong những đối tượng được nghiên cứu Phương pháp CCA thường được sử dụng nhằm xác định các thành phần môi trường trong dữ liệu về hệ sinh thái, đặc biệt là các thành phần môi trường là yếu tố giới hạn của hệ sinh thái [62]

Sử dụng phương pháp CCA, Lonergan và cộng sự (1996) đã xác định mối tương quan của 72 loài ĐVĐ với các yếu tố môi trường như pH, nồng độ canxi,

độ dẫn, màu sắc và đặc điểm về hình thái trong 45 hồ ở Canada Kết quả đã xác

định Hyallela azteca là loài có chỉ thị tốt nhất đối với pH [95] Hunt và cộng sự

(2003) dựa vào phương pháp CCA để đánh giá tương quan giữa các yếu tố môi trường và ĐVKXS ở nước của 16 suối tại Oklahoma (Mỹ) Kết quả cho thấy 3

Trang 21

yếu tố là độ cao, DO và kích thước vật chất tạo nền đáy có sự ảnh hưởng lớn nhất đến sự phong phú và cấu trúc thành phần loài ĐVKXS [83] Voigts (1976)

đã tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữa ĐVKXS ở nước với sự thay đổi của các loài thực vật trong một số đầm lầy thuộc bang Iowa, Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ phong phú của ĐVKXS tăng lên khi chuyển từ sinh cảnh ưu thế là thực vật nổi sang sinh cảnh ưu thế là thực vật ngập nước, nhưng mức độ phong phú cao nhất đạt được tại khu vực có xen kẽ cả thực vật nổi và thực vật ngập nước [130] Sử dụng phương pháp CCA, Paukert và cộng

sự (2003) đã chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa lớp phủ thực vật và một số chỉ tiêu môi trường nước đối với cấu trúc thành phần loài ĐVKXS trong 30 hồ được nghiên cứu Kết quả cũng chỉ ra rằng, mức độ phong phú của Amphipoda

và Gastropoda có tương quan chặt với các loài thực vật thủy sinh Trong khi

đó, Chironomidae lại có tương quan với các loài thực vật nổi, mặc dù thành phần loài này chỉ chiếm 28% diện tích mặt hồ [117] Nghiên cứu của Donald

và cộng sự (1993) về mối quan hệ giữa ĐVKXS ở 40 hồ thuộc vùng Ontario và các yếu tố môi trường Kết quả cho thấy quần xã ĐVKXS không có mối quan

hệ chặt với hình thái hồ nhưng quan hệ chặt với các yếu tố môi trường, đặc biệt

là pH [72] Kết quả nghiên cứu của Lonergan và Rasmussen (1996) đã chỉ ra rằng, sự suy giảm số lượng cũng như thành phần của các loài chân bụng (Gastropoda) có liên quan chặt chẽ đến sự giảm giá trị pH của môi trường [95] Lee và cộng sự (1992) đã tiến hành các nghiên cứu tác động của độ axit trong

nước tự nhiên đối với sự phân bố loài Hyalella azteca trong 30 hồ phía Tây

Bắc Ontario Kết quả cho thấy số lượng loài này sẽ giảm xuống trong các môi trường sống có giá trị pH thấp hơn 5,8 [94] Trong một nghiên cứu tương tự, Vranovsky và cộng sự (1994) đã tiến hành xác định tác động từ nguồn axit nhân sinh tới thủy sinh vật trong hệ thống hồ thuộc phía đông núi Tatra (Slovakia) Kết quả nghiên cứu từ 14 hồ trong khu vực này cho thấy, những loài ĐVĐ cỡ nhỏ nhạy cảm với sự axit hóa đã biến mất hoặc chỉ tìm thấy rải rác trong những hồ đã bị axit hóa [131]

Trang 22

Maitland (1978) đã phân tích về sự khác biệt giữa thủy vực nước đứng

và nước chảy và đưa ra những đặc trưng lý học, hoá học và sinh học như dòng chảy, khí hoà tan, các sinh cảnh và vi sinh cảnh… Tác giả cho rằng dòng chảy

là một yếu tố quan trọng của các thủy vực nước chảy và đã chỉ ra tốc độ cực đại của dòng nước nằm ở lớp nước có độ sâu 1/3 tính từ bề mặt [96] Đến năm

1997, Maitland và Morgan đã xuất bản công trình Quản lý bảo tồn sinh cảnh nước ngọt: hồ, sông và các vùng đất ngập nước, các tác giả đã đi sâu phân tích

về giá trị của các hệ sinh thái nước ngọt, các tác động của con người đối với

hệ sinh thái nước ngoại, xây dựng hệ thống giải pháp quản lý bảo tồn đối với từng dạng thủy vực [97] Alison (1987) đưa ra những đặc tính lý hoá của các thủy vực nước chảy như: nhiệt độ, ánh sáng, độ pH, khí hoà tan, các chất hữu

cơ có trong dòng chảy… [54]

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình axit hóa các suối đầu nguồn ở dãy núi Vosges (Pháp) đối với quần xã ĐVKXS cỡ lớn, Guerold (2000) đã thu được 151 taxa tại 41 điểm thu mẫu Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn có xu thế giảm dần từ cuối nguồn đến đầu nguồn suối nơi có hàm lượng pH thấp, canxi thấp và hàm lượng nhôm cao Tất cả các nhóm sinh vật đều bị ảnh hưởng của quá trình axit hóa, nhưng riêng Mollusca, Crustacea và Ephemeroptera là không xuất hiện ở nơi bị axit hóa mạnh Các tác giả cũng cảnh báo hiện tượng phát thải khí SO2 là mối đe dọa cho các hệ sinh thái đầu nguồn [76]

Có thể thấy rằng, các nghiên cứu về ĐVKXS nước ngọt trên thế giới chủ yếu tập trung nghiên cứu về thành phần loài, phân loại học, địa động vật

và đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài, mối tương quan với môi trường Các nghiên cứu tổng hợp về thành phần loài tại các vùng/VQG/khu BTTN nhằm mục đích cung cấp dẫn liệu khoa học, làm cơ sở khoa học để hoạch định chính sách, bảo tồn và phát triển bền vững còn hạn chế

Trang 23

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT Ở VIỆT NAM

Các dẫn liệu có liên quan đến thủy sinh vật của Việt Nam đã được ghi chép trong các sách sách Vân Đài Loại Ngữ (1773) của Lê Quý Đôn, sách Dư địa chí của Phan Huy Chú (1838) Cuốn sách đã thống kê được khá nhiều loài ĐVKXS có giá trị cũng như dẫn liệu về nơi ở, về đặc điểm sinh học và sinh thái học của một số loài Tuy nhiên, những dẫn liệu này thường tản mạn và chưa dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học [41]

Theo Đặng Ngọc Thanh (1974), Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2002), Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2007) các nghiên cứu về ĐVKXS nước ngọt ở Việt Nam được bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX với công trình nghiên cứu

về ốc nước ngọt của Crosse và Fisher (1863) Nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt nói chung và ĐVKXS nước ngọt nói riêng được chia thành hai giai đoạn chính: trước năm 1945 (trước cách mạng tháng Tám) và từ năm 1945 đến nay (sau cách mạng tháng Tám) [41]

Giai đoạn trước năm 1945: Trong giai đoạn này các nghiên cứu về

ĐVKXS còn ít, các nghiên cứu chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực phân loại học và một phần về phân bố địa lý, mặt khác các nghiên cứu đều do các tác giả người nước ngoài thực hiện Pavie (1904) đã công bố các kết quả nghiên cứu về thành phần loài trai, ốc, tôm, cua nước ngọt lưu vực sông Mekong giai đoạn cuối thế kỷ XIX [33,41] Nghiên cứu về giáp xác gồm các công trình của Richard (1894), Brehm (1852), Daday (1907) và Stingelin (1905) Nghiên cứu về Rotatoria gồm các công trình của Richard (1894) và Weber (1907) Nghiên cứu về cua nước ngọt gồm các công trình của Edward (1809), De Man (1898), Rathbun (1902, 1906) mới xác định

và công bố 15 loài cua nước ngọt Việt Nam Nghiên cứu về tôm nước ngọt,

De Man (1904) công bố 3 loài tôm thấy ở Việt Nam và Thái Lan Thành phần loài tôm sau đó được các tác giả khác bổ sung như Solllaud (1914) và Bouvier

Trang 24

(1904, 1920, 1925) [33, 35, 38, 41] Nghiên cứu về trai và ốc, cũng theo Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2007), trong thời kỳ này có thể kể đến các công trình quan trọng của Crosse và Fischer (1863), Fisher (1891), Fisher và Dautzenberg (1904), Dautzenberg và Fisher (1905 - 1908) là những tài liệu rất cơ bản về trai ốc nước ngọt Việt Nam [41]

Giai đoạn từ năm 1945 đến nay: Các nghiên cứu về thủy sinh vật nói

chung và các nghiên cứu về khu hệ ĐVKXS ở Việt Nam trong giai đoạn này

đã có sự phát triển rõ rệt Đặc biệt có rất nhiều công trình nghiên cứu là do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện Đồng thời, việc thành lập nhiều cơ sở nghiên cứu, thuỷ sinh học nước ngọt đã bước sang thời kỳ nghiên cứu mở rộng và hiện đại Nhất là sau năm 1975, nghiên cứu thủy sinh học, trong đó có ĐVKXS nước ngọt đã có những bước phát triển mới với lực lượng khoa học thống nhất cả nước, được tổ chức lại phục vụ yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước [33, 38, 41]

Nghiên cứu về khu hệ ĐVKXS nước ngọt: Đây là một trong những

hướng nghiên cứu quan trọng nhằm bổ sung, hoàn thiện khu hệ ĐVKXS nước ngọt Việt Nam, sắp xếp và bổ sung về vị trí phân loại của một số nhóm đã biết Các nghiên cứu có tính chất toàn diện về ĐVKXS nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam là của Đặng Ngọc Thanh (1980) và Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980), tuy nhiên khi đó chưa có nhiều dẫn liệu về nhóm côn trùng thủy sinh Gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài, đặc trưng phân

bố, miêu tả thêm loài mới hoặc tu chỉnh vị trí phân loại nhiều nhóm ĐVKXS nước ngọt Trong đó, công trình được xem là có tính tổng hợp về các nghiên cứu thủy sinh học thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam là “Thủy sinh học các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam” (Đặng Ngọc Thanh và cộng sự, 2002) Trong đó, các tác giả đã thống kê số lượng loài ĐVKXS nước ngọt đã biết của Việt Nam Ngoài ra, đã có những công trình chuyên khảo về một số nhóm

Trang 25

ĐVKXS nước ngọt được công bố như: "Động vật chí Việt Nam, tập 5" (Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải, 2001), “Tôm, cua nước ngọt Việt Nam" (Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải, 2012) [36, 38, 45] Các công trình nghiên cứu

chủ yếu có liên quan đến một số nhóm ĐVKXS nước ngọt từ sau năm 1945

được tóm lược như sau:

Các nghiên cứu về Trùng bánh xe (Rotatoria), Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980) đã mô tả 54 loài Trùng bánh xe có trong các thủy vực nước ngọt Bắc Việt Nam Nhóm Trùng bánh xe trong thời kỳ những năm 1960 ở Nam Việt Nam cũng được Shirota và Hoàng Quốc Trương điều tra nghiên cứu [38, 124] Trần Đức Lương và cộng sự (2009) đã bổ sung 3 loài Rotatoria

mới cho khu hệ ĐVN Việt Nam, bao gồm Lecane ungulata (Gosse),

Brachionus bidentata Anderson và Euchlanis triquetra Ehrenberg [17]

Nguyễn Quang Huy (2010) nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS ở sông Đáy, sông Nhuệ thuộc địa phận tỉnh Hà Nam đã xác định 44 loài trùng bánh xe, thuộc 12

họ, 3 bộ, tác giả cũng bàn luận về phân bố và sự biến động của nhóm này theo mùa và theo các tuyến thu mẫu [14] Kết quả nghiên cứu của Trần Đức Lương (2012) ở các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam đã xác định 66 loài trùng bánh xe, đồng thời cũng đã phân tích khá rõ về sự phân bố của các loài theo các vùng sinh thái khác nhau [18]

Các nghiên cứu về Giáp xác chân khác (Amphipoda) còn ít được quan tâm, Lê Hùng Anh và Đặng Ngọc Thanh (2007) đã tổng hợp được 71 loài thuộc nhóm Amphipoda - Gammaridea ở vùng biển ven bờ Việt Nam Đến năm 2011, Lê Hùng Anh đã xác định 5 loài giáp xác chân khác thuộc nhóm loài rộng muối đã gặp ở một số thủy vực nước ngọt (hang động) ở Tam Cốc, Bích Động; Tràng An - Ninh Bình [2, 3]

Các nghiên cứu về Giáp xác râu ngành (Cladocera), các công trình nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh (1980), Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980) đã định loại được 45 loài giáp xác râu ngành ở các thủy vực nước

Trang 26

ngọt nội địa Bắc Việt Nam Kết quả phân tích nhiều vật mẫu từ năm 1975 đến nay, dẫn liệu của 50 loài giáp xác râu ngành trong các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam thuộc các họ Daphniidae, Sididae, Macrothricidae, Bosminidae và Chydoridae đã được mô tả và định loại Korovchinsky

(2011) đã mô tả loài Sarsilatona cf fernandoi (Rane, 1983) (Crustacea:

Cladocera: Sididae) tìm thấy ở Nam Việt Nam Tác giả đã chứng minh loài này phân bố rộng rãi trong các thủy vực nhỏ ở vùng nhiệt đới châu Á, từ Ấn

Độ đến Việt Nam [38, 41, 90]

Các nghiên cứu về Giáp xác chân chèo (Copepoda), các công trình tiêu biểu như Đặng Ngọc Thanh (1965, 1977); Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980); Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (1991, 1992, 2001); Hồ Thanh Hải (1996) nghiên cứu ở Bắc Việt Nam Shirota, Hoàng Quốc Trương (1963 - 1964); Phạm Văn Miên (1978); Đặng Ngọc Thanh, Phạm Văn Miên (1979); Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (1985, 1996, 1997) nghiên cứu ở Nam Việt Nam Các công trình này đã bổ sung nhiều dẫn liệu về thành phần loài và phân bố của Copepoda Tổng hợp các nghiên cứu đến năm 2001, giáp xác chân chèo Calanoida nước ngọt nội địa Việt Nam đã biết được 33 loài thuộc 3

họ Diaptomidae, Centropagidae và Pseudodiaptomidae (Đặng Ngọc Thanh và

Hồ Thanh Hải, 2001) Năm 2007, Hồ Thanh Hải và Trần Đức Lương đã bổ sung 6 loài Copepoda (Cyclopoida, Harpacticoida) cho khu hệ ĐVN nước

ngọt Việt Nam, bao gồm: Halicyclops aequoreus (Fisher, 1860) (Cyclopoida),

Tachidius (Neotachidius) triangularis Shen et Tai, 1963; Elaphoidella coronata (Sars, 1904); Onychocamptus mohammed (Blanchard et Richard,

1891); Enhydrosoma bifurcarostratum Shen et Tai, 1965 và Stenhelia

(Delavalia) ornamentalia Shen et Tai, 1965 (Harpacticoida) Các vật mẫu

được tìm thấy tại sông Cả và các thủy vực khác thuộc tỉnh Nghệ An Hồ Thanh Hải và cộng sự (2008) tiếp tục bổ sung dẫn liệu về 2 loài giáp xác Copepoda thuộc họ Diaptomidae cho Việt Nam, bao gồm các loài

Trang 27

Sinodiaptomus sarsi (Rylov, 1923) và Dolodiaptomus spinicaudatus Shen et

Tai, 1964 [14] Trần Đức Lương (2012) đã xác định được 105 loài giáp xác chân chèo phân bố ở các thủy vực nội địa Việt Nam, đồng thời cũng đã phân tích khá cụ thể về phân bố của các loài này theo vùng địa lý sinh thái tự nhiên, vùng cảnh quan, phân bố Bắc - Nam và theo các loại hình thủy vực [18]

Các nghiên cứu về Tôm nước ngọt (Macrura), có thể kể đến các công trình của Đặng Ngọc Thanh (1961, 1967, 1975), Đặng Ngọc Thanh và Nguyễn Huy Yết (1972) đã bổ sung một số loài mới cho miền Bắc Việt Nam, đồng thời các tác giả xem lại vấn đề danh pháp và vị trí phân loại của nhiều loài tôm đã biết trước đây Ở miền Nam Việt Nam, có công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Xuân (1978, 1979, 1981, 1992) về họ Palaemonidae Đến năm 1998, Đặng Ngọc Thanh đã bổ sung thành phần loài cơ bản của Palaemonidae Nam Việt Nam và đặc điểm phân bố Đến năm 2001, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2001) đã miêu tả và định loại thành phần loài Palaemonidae ở Việt Nam bao gồm 24 loài thuộc 6 giống [33, 35, 36, 38] Đối với họ Atyidae, Đặng Ngọc Thanh (1980) đã cung cấp dẫn liệu về thành

phần loài ở miền Bắc Việt Nam, gồm 8 loài thuộc giống Caridina [35] Đến

năm 1999, Cai và cộng sự (1999) công bố một loài tôm Atyidae mới cho khoa

học ở Việt Nam với tên khoa học là Caridina clinata [64] Đặng Ngọc Thanh

và Đỗ Văn Tứ (2007) đã công bố danh sách 14 loài tôm thuộc họ Atyidae đã biết ở Việt Nam, trong đó có 2 loài mới được phát hiện cho Việt Nam Các tác giả cũng công bố thêm 4 loài Atyidae mới phát hiện cho khoa học ở Việt

Nam, đó là Caridina pseudoserrata, C rubropunctata, C uminensis và C

vietriensis, nâng tổng số loài tôm Atyidae ở Việt Nam lên 18 loài [42-44]

Các nghiên cứu về Cua nước ngọt (Brachyura), có thể kể đến các công trình tiêu biểu của Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2001) công bố cua nước ngọt Việt Nam gồm 19 loài thuộc 8 giống và 2 họ Potamidae và Parathelphusidae Đến năm 2002, các tác giả đã bổ sung hai loài cua mới

Trang 28

thuộc họ Potamidae ở Việt Nam [36, 37] Gần đây, có nhiều công trình của các tác giả nước ngoài về cua nước ngọt Việt Nam Đặc biệt, năm 1999, Yeo

và Nguyễn Xuân Quýnh công bố thêm một loài cua mới cho khoa học ở Việt

Nam, đó là Somanniathelphusa dangi, cùng với việc bàn luận về đặc điểm hình thái, vị trí phân loại của 4 loài cua thuộc giống Somnaniathelphusa đã

được Đặng Ngọc Thanh công bố trước đây [134]

Về các nhóm giáp xác nước ngọt khác có công trình của Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2002) đã thống kê được nhóm Conchostraca có 2 loài thuộc 2 họ, Ostracoda 8 loài thuộc 7 giống và 1 họ, Isopoda 2 loài và 2 họ và Tanaidacea 1 loài và 1 họ [38] Nguyễn Quang Huy (2010) nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS ở sông Đáy, sông Nhuệ thuộc địa phận tỉnh Hà Nam đã xác định và bàn luận về phân bố của 3 loài Ostracoda [14] Về các nhóm này, có

số lượng loài và vật mẫu tương đối hiếm, vì vậy đến nay không có nhiều dẫn liệu công bố ở Việt Nam

Theo Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2002), các kết quả nghiên cứu về trai ốc nước ngọt Bắc Việt Nam từ trước năm 1970 đã được Đặng Ngọc Thanh công bố năm 1967 với nội dung tu chỉnh, tổng hợp về phân loại học Đến năm 1971, có công trình của Nguyễn Xuân Quýnh về trai nước ngọt Bắc Việt Nam Đến năm 1980, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã công bố 47 loài

ốc thuộc 14 họ và 52 loài trai thuộc 6 họ ở miền Bắc Việt Nam Có thể coi đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về trai ốc nước ngọt Bắc Việt Nam [38] Gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về ốc nước ngọt, tiêu biểu như công trình nghiên cứu về họ ốc nhồi (Ampullariidae) ở Việt Nam Nội dung của nghiên cứu này cho thấy theo công bố của Đặng Ngọc Thanh (1980)

đã ghi nhận 2 loài ốc nhồi ở Bắc Việt Nam là Pila conica và Pila polita Các

dẫn liệu sau này đã bổ sung thêm địa điểm phân bố ở phía Nam của hai loài trên Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2003) đã xác định thành phần loài ốc

Trang 29

Ampullariidae ở Việt Nam gồm 2 giống Pila và Pomacea với 5 loài và đưa ra

khóa định loại đến loài của 5 loài thuộc họ ốc nhồi Ampullariidae ở Việt Nam [34, 35, 38] Về họ ốc vặn (Viviparidae: Gastropoda), Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2004) đã công bố 9 loài thuộc 5 giống ốc vặn ở Việt Nam Các tác giả cũng đã đưa ra khóa định loại, bàn luận về phân loại học và xác định vùng phân bố của từng loài ốc vặn Viviparidae [40] Đến năm 2004, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã xác định danh sách các loài trai, ốc nước ngọt Việt Nam bao gồm 138 loài thuộc 63 giống, 21 họ với số loài có chiều hướng giảm nhưng số giống lại tăng lên so với những công bố trước đó Trong đó, đã bổ

sung loài hến Polymesoda sp., tu chỉnh lại về phân loại học họ ốc nhồi

Ampullariidae và ốc vặn Viviparidae Các tác giả trên cũng lưu ý việc thu mẫu bổ sung ở Tây Bắc, Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cần được chú ý nhiều hơn [38] Đỗ Văn Tứ và Hoàng Thị Thanh Nhàn (2013) đã phân tích, đánh giá và đưa ra một số nhận định về tình trạng bảo tồn các loài trai nước ngọt (Bộ Unionoida) ở Việt Nam, cụ thể là với khoảng 50% số loài bị đe dọa, trai nước ngọt Việt Nam sẽ trở thành một trong những nhóm loài thân mềm nước ngọt bị đe dọa cao nhất thế giới Các tác giả cũng khuyến cáo cần

có nhiều nghiên cứu hơn nữa để bổ sung thông tin cho tất cả những loài trai nước ngọt bị đe dọa và thiếu dữ liệu [47]

Các nghiên cứu về côn trùng nước (Insecta) có kết quả nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980, 2002) đã xác định 46 loài ấu trùng bộ Diptera Trong số ấu trùng Chironomidae đã biết (theo định loại của Phạm Văn Miên tới giống) hiện nay, phân họ Chironominae có số loài nhiều nhất:

32 loài, các phân họ Tanypodinae: 5 loài và Orthocladinae: 6 loài [35, 38] Nguyễn Văn Vịnh (2003) nghiên cứu về bộ Ephemeroptera tại 55 điểm của Việt Nam đã mô tả 102 loài thuộc 50 giống, 14 họ Ephemeroptera, đồng thời, tác giả cũng xây dựng khóa định loại đến loài của bộ Ephemeroptera ở Việt

Trang 30

Nam [105] Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2005) đã mô tả thêm 2 loài mới thuộc họ Heptageniidae, bộ Ephemeroptera ở Việt Nam [106] Năm 2006, tác giả đã bổ sung 3 loài thuộc họ Ephemerellidae, bộ Ephemeroptera Các nghiên cứu trước cũng đã xác định được 5 loài mới thuộc họ Ephemerellidae tại Việt Nam [107] Hoàng Đức Huy (2005) cũng đã xác định 198 loài (14 loài mới, 25 loài lần đầu ghi nhận, 28 loài đã biết và 131 loài chưa xác định ở dạng ấu trùng) thuộc 58 giống và 24 họ của bộ Trichoptera ở Việt Nam [81] Kết quả nghiên cứu của Trần Anh Đức (2008) về họ Gerridae (Heteroptera: Gerromorpha) đã xác định được 64 loài thuộc 26 giống có ở Việt Nam Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả đã xây dựng được một khóa định loại đến loài cho họ Gerridae ở Việt Nam Tác giả cũng bàn luận về hệ thống học của phân

họ Eotrechinae [127]

Về giun ít tơ (Oligochaeta) có kết quả nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1980, 2002) đã thống kê được 46 loài giun ít tơ, 2 loài giun nhiều tơ nước ngọt chính thức, 5 loài nước lợ và 1 loài giun biển di nhập vào theo nước triều và 9 loài đỉa Nhìn chung, các nhóm này vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, số lượng loài thực tế chắc chắn còn nhiều hơn nữa [35, 38]

Về nhện (Arachnida) có công trình của Phạm Đình Sắc (2005) đã thống

kê 275 loài, 144 giống thuộc 33 họ, trong đó có nhiều họ có đời sống gắn liền với cây thủy sinh như Tetragrathidae (12 loài, 4 giống), Pisauridae (3 loài, 3 giống) [30]

Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu ĐDSH các nhóm ĐVKXS ở nước Các kết quả nghiên cứu này không những cung cấp

các dẫn liệu khoa học phục vụ nghiên cứu cơ bản mà còn sử dụng để đánh giá tổng hợp về tài nguyên thiên nhiên, góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết của đời sống Có thể kể đến các công trình của Nguyễn Xuân Quýnh và

Trang 31

cộng sự (2004) đã đưa ra dẫn liệu về thành phần ĐVKXS tại một số thủy vực thuộc VQG Phong Nha-Kẻ Bàng với 116 loài thuộc 93 họ và 9 lớp Trong đó, Insecta là nhóm phong phú và đa dạng hơn cả, bao gồm 67 họ trong tổng số 93

họ đã gặp (chiếm 72,1%) Thành phần loài chủ yếu là ĐVĐ (chiếm 93,5% tổng

số họ), ĐVN chiếm rất ít (chỉ chiếm 6,5% tổng số họ đã gặp) [26] Công trình tiếp theo của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2007, 2008) về thành phần ĐVKXS ở nước sông Đáy, sông Nhuệ (thuộc địa phận tỉnh Hà Nam) đã xác định được 150 loài thuộc 70 họ, 11 lớp, 6 ngành ĐVKXS (Rotatoria, Arthropoda, Mollusca, Annelida, Coelenterata, Tardigrada) Chỉ số đa dạng H’ trung bình của sông Đáy là 2,48 (tính cho nhóm ĐVN), tương ứng với mức độ đa dạng trung bình khá Sông Nhuệ có chỉ số H’ dao động từ 1,37-1,83, trung bình là 1,64 Như vậy, ĐDSH tại đây ở mức trung bình kém [26,

104, 111] Cũng trong năm 2006-2007, Nguyễn Quang Huy và cộng sự đã xác định 45 loài ĐVN và 74 loài ĐVĐ tại vùng cửa sông Bạch Đằng [103]

Kết quả nghiên cứu ĐVN ở các thủy vực trong vùng đầm lầy than bùn

U Minh Thượng-Vồ Dơi của Hồ Thanh Hải và cộng sự (2005) đã xác định được 70 loài ĐVN thuộc 22 họ của các nhóm Trùng bánh xe, Chân chèo, Râu ngành, Có bao, Chân lá, Chân đều Ngoài ra, còn thấy 9-10 nhóm ĐVN khác chủ yếu có nguồn gốc nước lợ ven biển [11]

Theo Hồ Thanh Hải và Đặng Ngọc Thanh (2005), khi nghiên cứu các thủy vực nước ngọt nội địa ở Đồng bằng sông Cửu Long xác định được 98 loài giáp xác, trong đó các nhóm Cladocera: 38 loài, Copepoda: 30 loài và tôm cua nước ngọt: 25 loài, 62 loài trai ốc, 24 loài giun nhiều tơ, 16 loài giun

ít tơ, 83 loài trùng bánh xe, 27 họ ấu trùng côn trùng ở nước Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả đã nhận xét: Khu hệ ĐVKXS ở đây mang nhiều sắc thái của vùng Ấn Độ-Mã Lai Do sự sai khác về chế độ khí hậu, chế độ thủy văn giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam đã tạo nên đặc trưng phân

Trang 32

bố Bắc Nam của khu hệ thủy sinh vật các thủy vực nội địa Việt Nam, đặc trưng này thể hiện rõ ở các nhóm động vật giáp xác và thân mềm [12]

Kết quả nghiên cứu về ĐDSH ĐVKXS vùng cửa sông Cả và một số đầm nuôi tôm phụ cận ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh của Nguyễn Huy Chiến (2007) đã phát hiện 328 loài thuộc 211 giống, 126 họ, 46 bộ Trong đó có 131 loài nước ngọt, ĐVN: 70 loài, ĐVĐ: 61 loài Copepoda và Cladocera có số loài nước ngọt bằng nhau với 21 loài, Rotatoria: 22 loài, các nhóm khác: 6 loài Gastropoda có số loài lớn nhất với 26 loài, Bivalvia: 12 loài, Polychaeta:

2 loài, Crustacea: 17 loài, các nhóm khác: 4 loài Tác giả đã nhận định, nhìn chung, vào mùa khô, số loài ít hơn mùa mưa [7]

Kết quả nghiên cứu của Hoàng Ngọc Khắc (2010) về Giáp xác lớn và Thân mềm ở sông Hồng (từ Phú Thọ đến cửa Ba Lạt) đã xác định 248 loài giáp xác lớn, thân mềm ở khu vực nghiên cứu Trong đó, bổ sung 53 loài ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu, 38 loài cho khu vực miền Bắc và 26 loài lần đầu được ghi nhận ở Việt Nam Tác giả cũng phân tích các đặc trưng phân

bố, biến động số lượng của đối tượng nghiên cứu; Bước đầu đánh giá hiện trạng nguồn lợi sinh vật và những yếu tố tác động tới nguồn lợi của những loài này trong khu vực nghiên cứu [16]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Huy (2010) về ĐDSH ĐVKXS

ở sông Đáy, sông Nhuệ thuộc địa phận tỉnh Hà Nam và sự biến đổi của nó dưới ảnh hưởng của các họat động kinh tế, xã hội đã xác định 210 loài thuộc 7 ngành, 12 lớp, 29 bộ và 81 họ Trong đó, chiếm ưu thế là các nhóm Crustacea (27,6%), Rotatoria (21%), Insecta (19,5%) và Gastropoda (11,9%); ĐVN có

93 loài và ĐVĐ là 117 loài Khu hệ ĐVKXS thu được mang tính chất khu hệ vùng đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu là các loài phân bố rô ̣ng, phổ biến ở các sông vùng đồng bằng Bắc Việt Nam Tác giả đã đi sâu phân tích biến động thành phần loài ĐVKXS theo mùa, theo các tuyến thu mẫu; Đánh giá hiện trạng

Trang 33

ĐDSH ĐVKXS tại khu vực nghiên cứu thông qua các chỉ số đa dạng; Đánh giá mức độ ô nhiễm của sông thông qua hệ thống BMWP và ASPT và bước đầu xác định xu thế biến đổi ĐDSH ĐVKXS khu vực nghiên cứu dưới ảnh hưởng của các họat động kinh tế, xã hội, trên cơ sở đó, đề xuất các định hướng bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển ĐDSH của sông [14]

Đối với khu vực miền Trung, gần đây có kết quả khảo sát, đánh giá đa dạng và tài nguyên sinh vật các thủy vực nước ngọt nội địa tỉnh Thừa Thiên Huế của Hoàng Thị Bình Minh và cộng sự (2011) Các tác giả đã xác định 65 loài ĐVN và 51 lòai ĐVĐ phân bố trong các thủy vực nước ngọt khu vực nghiên cứu Thành phần loài của các thủy vực có sự khác nhau theo mùa và theo các dạng thủy vực Đối với ĐVN, thủy vực sông và hồ chứa có số lượng loài mùa khô cao hơn mùa mưa, trong khi đó, hồ tự nhiên, ao và ruộng lại có

số lượng loài mùa mưa cao hơn mùa khô Đối với ĐVĐ, thủy vực sông, hồ chứa và ao có số lượng loài mùa khô cao hơn mùa mưa, trong khi đó, hồ tự nhiên lại có xu hướng ngược lại Riêng ruộng có số lượng loài ĐVĐ không thay đổi theo mùa Về tiềm năng tài nguyên sinh vật ở khu vực nghiên cứu được đánh giá ở mức trung bình so với các tỉnh Bắc Trung Bộ Đáng chú ý là ĐVN có mật độ cao nhất thuộc nhóm giáp xác chân chèo và trong nhóm ĐVĐ, mật độ cao nhất thuộc nhóm chân bụng Các tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp tổng hợp về cơ chế, chính sách, bảo vệ môi trường… nhằm khắc phục suy giảm ĐDSH thủy sinh vật tại khu vực nghiên cứu [19]

Đối với khu vực Tây nguyên có nghiên cứu gần đây nhất của Lê Hùng Anh và cộng sự (2013) về đa dạng ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực Tây Nguyên

và các loại có nguy cơ bị đe dọa Các tác giả đã xác định được ở Tây Nguyên

có 60 loài ĐVĐ, bao gồm 17 loài giáp xác và 43 loài trai ốc, trong đó đáng chú ý có 5 loài được coi là đặc hữu ở Việt Nam, đồng thời xác định nguy cơ

đe dọa làm suy giảm quần thể và thu hẹp vùng phân bố thủy sinh vật [4]

Trang 34

Nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước cũng

là một hướng nghiên cứu mới được nhiều nhà khoa học quan tâm Đây là một trong những nghiên cứu ứng dụng ĐVKXS vào thực tiễn, dễ sử dụng và mang lại nhiều lợi ích về kinh tế Mở đầu cho hướng nghiên cứu này phải kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2000, 2001, 2004) đã đưa ra khoá định loại đến họ các nhóm ĐVKXS ở nước ngọt phục vụ cho việc nghiên cứu đánh giá chất lượng nước bằng sinh vật chỉ thị Đồng thời, các tác giả đã công bố một quy trình quan trắc và đánh giá chất lượng nước ngọt bằng việc sử dụng sinh vật chỉ thị là ĐVKXS cỡ lớn [24, 25, 109]

Lê Thu Hà (2003) nghiên cứu về thành phần ĐVKXS cỡ lớn và sử dụng chúng là sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước từ suối Tam Đảo đến sông Cà Lồ Kết quả đã thu được 53 họ thuộc 11 bộ của ngành Chân khớp (Arthropoda), 16 họ thuộc 3 phân lớp của ngành Thân mềm (Mollusca), 2 họ thuộc lớp Đỉa (Hirudinea) và các đại diện của lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) [10]

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Huy (2010) về chất lượng nước sông Đáy và sông Nhuệ được xác định bằng hệ thống tính điểm BMWPVIET

và chỉ

số ASPT Nhìn chung, cả sông Đáy và sông Nhuệ đã và đang bị ô nhiễm ở các mức đô ̣ khác nhau Sông Nhuê ̣ (tuyến 1) đang bi ̣ ô nhiễm nă ̣ng nề nhất , chỉ số ASPT chỉ đạt từ 1,1-3,5, chỉ số ASPT trung bình là 2,5 tương ứng với mức độ rất bẩn (Polysaprobe) Chất lượng nước tuyến 2 có chỉ số ASPT trung bình là 4,1 (ở mức độ bẩn vừa: -mesosaprobe) Chất lượng nước tuyến 3 có giá trị ASPT trung bình 4,0 (ở mức độ bẩn vừa: -mesosaprobe) [14]

Nghiên cứu của Hoàng Đình Trung và cộng sự (2011) về đa dạng thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn và chất lượng nước mặt ở sông Hương đã xác định

37 loài trong 25 họ ĐVKXS cỡ lớn, trong đó, ấu trùng côn trùng nước chiếm

ưu thế, phần lớn các họ này là các nhóm chỉ thị cho vùng nước sạch, có điểm

số BMWP từ 5-10 điểm Từ các chỉ số ASPT theo hệ thống tính điểm BMWPVIET cho thấy chất lượng nước sông Hương ở hạ lưu bị ô nhiễm hữu cơ

ở mức khá lớn Hầu hết các chỉ số ASPT thu được đều thuộc mức bẩn vừa (

Trang 35

-mesosaprobe) Điều này phù hợp với kết quả phân tích hóa học chất lượng môi trường nước [48]

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái lên quần xã ĐVKXS ở nước cũng là hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Khi các

yếu tố môi trường tác động lên đời sống của sinh vật mà sinh vật phản ứng lại một cách thích nghi thì chúng được gọi là các yếu tố sinh thái [32] Theo hướng nghiên cứu này, Đặng Ngọc Thanh (1980) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nước thải thành phố Nam Định đối với thủy sinh vật trong đầm nuôi cá cho thấy, thành phần loài nhóm Rotatoria chiếm ưu thế cả về số lượng loài và thành phần loài ĐVN Số lượng ĐVN không ổn định, trung bình từ 100-200 nghìn cá thể/m3 Về ĐVĐ, trong các đầm có nước thải chỉ thấy chủ yếu là giun ít tơ và ấu trùng Chironomidae, gồm các loài ưa sống trong môi trường nhiễm bẩn, giầu chất dinh dưỡng [23] Khi nghiên cứu về sông Tô Lịch, Nguyễn Xuân Quýnh (1985) đã kết luận tình trạng ô nhiễm của sông theo các đoạn khác nhau Đoạn từ Bưởi đến Nghĩa Đô do có nước thải của các nhà máy: da, giấy Thụy Khuê, nhà máy mỳ Nghĩa Đô đổ vào làm cho đoạn sông này bị nhiễm bẩn nặng, thành phần loài, số lượng ĐVN thấp (14 loài), ĐVĐ không gặp Đoạn từ Cầu Giấy đến Kim Giang điều kiện môi trường có phần tốt hơn (17-24 loài ĐVN và 4 loài ĐVĐ) Từ nhà máy sơn Tổng hợp đến cầu Bươu, do ảnh hưởng của nước thải các nhà máy sơn, pin và phân lân Văn Điển, số loài ĐVKXS lại giảm xuống (16 loài ĐVN và 2 loài ĐVĐ) nhưng không gặp ấu trùng Chironomidae Tác giả cũng đã xếp loại một số thủy vực nhiễm bẩn ở Hà Nội, dự đoán xu thế phát triển của các thủy vực Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa [22, 23] Jung và cộng sự (2007) nghiên cứu về thành phần loài và phân bố theo độ cao của quần xã côn trùng nước ở suối tại Sapa, Lào Cai [86] Nguyễn Huy Chiến (2007) nghiên cứu mối quan hệ giữa nồng độ muối và độ đục với khu hệ ĐVKXS ở vùng cửa sông Cả và các đầm nuôi tôm phụ cận [7]

Trang 36

Ngoài ra, có thể kể đến các nghiên cứu của Lê Thu Hà, Nguyễn Xuân Quýnh (2001) về thành phần ĐVKXS cỡ lớn ở suối Tam Đảo, Vĩnh Phúc [9]; Phan Thị Anh Đào và cộng sự (2006) về thành phần thủy sinh vật ở một số nhánh sông trong lưu vực sông Cầu [8]; Nghiên cứu của Võ Văn Phú và cộng

sự (2009) về ĐVKXS ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam [21]; Hồ Thanh Hải (2006) về thành phần ĐVKXS ở nước hệ thống sông Vu Gia, sông Bung, sông Thanh, sông Cái (Quảng Nam)… [1]

Tóm lại, có thể nói rằng, trong nhiều năm qua, rất nhiều tác giả trong

và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về ĐVKXS ở nước tại Việt Nam, không những nghiên cứu về phân loại học mà còn nhiều nghiên cứu ứng dụng, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, góp phần bảo tồn, phát triển bền vững ĐDSH và kinh tế xã hội

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƯỚC NGỌT TỈNH ĐỒNG NAI

Tại tỉnh Đồng Nai, theo Báo cáo hiện trạng môi trường của tỉnh năm

2001 cho thấy tại Hồ Trị An, ĐVN đã hình thành và đi vào thế ổn định với các loài ưu thế đặc trưng cho loại hình thủy vực dạng hồ Vào mùa mưa, số lượng ĐVN giảm nhiều so với mùa khô, nhất là tại sông La Ngà, nguyên nhân

là do dòng chảy ở vùng cửa sông La Ngà đã đẩy dòng nước bị nhiễm bẩn (sản phẩm dư thừa của nghề nuôi cá bè và nhà máy đường La Ngà) xuống vùng gần đập Đã thống kê được 40 loài ĐVN, trong đó có 6 loài chỉ phân bố trong

hồ mà không có trên sông Tuy nhiên thành phần các loài ưu thế thì không thay đổi ĐVĐ: 14 loài, trong đó tôm nước ngọt Palaemonidae 12 loài, hai

loài có mật độ cao là Macrobrachium equidens và M lanchesteri Số lượng

ĐVĐ ở đây có xu hướng tăng vào mùa mưa Các họ Culicidae và Chironomidae (Diptera) phân bố đều từ vùng trên của hồ tới đập, cao nhất tại cầu La Ngà và cầu Mã Đà Trong hồ đã hình thành khu hệ nhuyễn thể hai

mảnh vỏ phong phú về số lượng Loài hà hến Limnoperna siamensis phát

Trang 37

triển số lượng lớn ở vùng gần đập Cũng theo kết quả nghiên cứu này, 63 loài ĐVN đã được phát hiện tại lưu vực sông Đồng Nai Số lượng ĐVN thấp nhất

ở khu vực cửa sông Bé, số lượng cao nhất tập trung ở khu vực chân đập Trị

An và Hoá An đến cửa sông Đã tìm thấy 44 loài ĐVĐ trong lưu vực, trong

đó có 18 loài có nguồn gốc biển Số loài ĐVĐ giảm từ mùa khô sang mùa mưa vì độ mặn giảm hạn chế các loài giun nhiều tơ và giáp xác có nguồn gốc biển di nhập vào nội địa Các dẫn liệu cũng cho thấy số lượng loài ở sông Đồng Nai có xu hướng tăng dần từ năm 1999 đến năm 2000 Số loài ưu thế giảm từ mùa khô sang mùa mưa, biểu hiện tính chất tương đối đồng nhất từ chân đập Trị An đến khu vực cửa sông theo sự tăng độ dinh dưỡng, mức độ nhiễm bẩn và nhiễm mặn [31]

Đối với sông Thị Vải: đã tìm thấy 39 loài ĐVN, trong đó Rotatoria chiếm ưu thế Số lượng loài mùa mưa cao hơn mùa khô, có thể do lưu lượng nước lớn đã pha loãng dòng nước thải, kích thích sự phát triển của động vật ĐVĐ: tổng số loài phát hiện tháng 9 năm 2000 là 16 loài Hầu hết là giun nhiều tơ phân bố ở khu vực cửa sông So với những năm trước thì số lượng loài và số lượng cá thể của nhóm Crustacea và Mollusca đều giảm, khu hệ ĐVĐ ở nhiều khu vực đã bị hủy diệt mà nguyên nhân là do lớp bùn bị ô nhiễm ngày càng nhiều và mở rộng về phía cửa sông, tuy nhiên thành phần loài ưu thế về cơ bản vẫn không đổi [31]

VQG Cát Tiên có công trình của Hoàng Văn Thắng (2005) nghiên cứu

về ĐDSH, chức năng chính và một số nhân tố tác động lên hệ sinh thái đất ngập nước khu vực bầu Sấu Tác giả đã tổng hợp được trong khu vực có 72 loài ĐVN thuộc 7 ngành ĐVKXS Trong đó Rotatoria và Cladocera chiếm tỷ

lệ cao nhất (51,4 và 31,9%) và Protozoa chiếm tỷ lệ thấp nhất (1,4%) So với toàn bộ VQG Cát Tiên, thành phần ĐVN tại bầu Sấu cũng khá cao, chiếm 58% (72/124) tổng số loài đã được xác định Đã xác định được 56 loài ĐVĐ thuộc 28 họ, 4 lớp-ngành Trong đó ngành Thân mềm (Mollusca) chiếm tỷ lệ

Trang 38

cao nhất (42,8%), ấu trùng côn trùng đứng thứ hai, với tỷ lệ 37,5%, giun ít tơ

có số loài ít nhất, chiếm 3,6% Kết quả nghiên cứu còn cho thấy về thành phần ĐVĐ có một số loài chỉ thấy ở miền Nam Việt Nam như

Macrobrachium pilimanus, M equidens, M secamanense, M lanchesteri, Caridina weberi sumatrensis Các loài tôm, cua đặc trưng cho vùng phía Nam

đều là các loài có vùng phân bố rộng trong vùng nhiệt đới Đông Nam Á hoặc riêng cho miền Nam Việt Nam [46]

Đối với khu vực Mã Đà, có nghiên cứu của Trần Anh Đức và cộng sự

(2010) về giống Hydrometra Latreille, 1796 (Insecta: Heteroptera:

Hydrometridae), đã đưa ra dữ liệu phân bố của 9 loài thuộc giống này ở Việt Nam và đảo Hải Nam Trong đó có 3 loài mới cho Việt Nam, các loài này chủ yếu tìm được tại khu vực Mã Đà và Nam Cát Tiên; 4 loài cho đảo Hải Nam [128] Nghiên cứu của Papäcek và Zettel (2005) tại khu vực Mã Đà đã công

bố một loài mới cho khoa học (Tiphotrephes immaculatus (Heteroptera:

Helotrephidae: Limnotrephini)) và ghi nhận một loài mới cho Việt Nam

(Tiphotrephes indicus (Distant, 1911)) tại đây [116] Zettel và Trần Anh Đức

(2006) đã ghi nhận 9 loài thuộc phân họ Haloveliinae cho Việt Nam Tác giả

đã mô tả 5 loài mới và 3 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam Trong số

5 loài mới, loài Strongylovelia albopicta thu được tại khu vực Mã Đà [140]

Kết quả nghiên cứu từ năm 2002-2005 của đề tài độc lập cấp Nhà nước

“Đánh giá ảnh hưởng của chất độc hóa học đối với ĐDSH và quá trình biến đổi các hệ sinh thái khu vực Mã Đà (Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương) và

hồ Biên Hùng (thành phố Biên Hòa)” thuộc Chương trình Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, đã xác định được 242 loài thuộc 109 họ, 9 nhóm ĐVKXS Riêng khu vực Hồ Biên Hùng đã xác định được 68 loài thuộc 38 họ, 6 lớp ĐVKXS, đa số các họ ĐVKXS sống đáy đã thu được đều là những họ sống trong môi trường nước

Trang 39

bẩn Kết quả cho thấy, chỉ số ASPT của hồ Biên Hùng vào mùa khô (tháng 5)

là 4,11, vào mùa mưa (tháng 11) là 3,88, tính chung cho cả năm 2003 là 4,13 Các chỉ số ASPT này cho thấy chất lượng nước hồ Biên Hùng thuộc loại khá bẩn (-mesosaprobe) [27, 110]

Kết quả nghiên cứu từ năm 2007-2010 của đề tài độc lập cấp Nhà nước

“Nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin lên quá trình diễn thế các

hệ sinh thái và sự biến đổi cấu trúc gen, protein của một số loài sinh vật tại khu vực Mã Đà” thuộc Chương trình Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, đã xác định tại khu vực

Mã Đà có 259 loài thuộc 102 họ, 25 bộ, 9 lớp, 5 ngành ĐVKXS Tại Cát Tiên thu được 273 loài thuộc 103 họ, 25 bộ, 9 lớp, 5 ngành, trong đó có 62 loài ĐVN và 211 loài ĐVĐ Nhóm phong phú và đa dạng nhất vẫn là Insecta với

164 loài, chiếm 60% Nhìn chung, các loài ĐVKXS đã gặp ở đây đều là những loài thường gặp trong các thủy vực vùng núi, vùng trung du giáp núi Thành phần loài ở đây kém phong phú hay nói cách khác là tương đối nghèo Chủ yếu là các loài ưa sống trong điều kiện nước chảy, nghèo chất hữu cơ và

có hàm lượng oxy cao [29]

Cấu trúc thành phần loài là không cân đối, kém đa dạng: Tập trung chủ yếu ở nhóm côn trùng thủy sinh, giáp xác, thân mềm chân bụng Ở các thủy vực dạng hồ có thêm nhóm Trùng bánh xe nhưng cũng không nhiều Các nhóm khác hoặc không có hoặc nếu có cũng chỉ có từ 1-2 loài Đa số các loài ĐVKXS đã gặp chủ yếu sống quanh các bụi cây thủy sinh, ven bờ, rất ít các loài sống đáy [29]

Cho đến thời gian thực hiện đề tài luận án, các tài liệu nghiên cứu về ĐVKXS ở nước tại tỉnh Đồng Nai còn chưa nhiều Một số nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các thủy vực lớn là hồ Trị An, sông Đồng Nai, sông Thị Vải và bầu Sấu Riêng khu vực Mã Đà ngoài kết quả nghiên cứu của đề tài

Trang 40

độc lập cấp Nhà nước do PGS.TS Nguyễn Xuân Quýnh chủ trì thực hiện từ năm 2002-2005 và từ năm 2007-2010, chỉ có một số ít nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu cơ bản về một số bộ côn trùng nước và trùng bánh xe

1.4 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ

XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.4.1 Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Khu vực nghiên cứu trước đây gồm 3 lâm trường Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An Đến năm 2003, ba lâm trường được hợp nhất thành Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu theo Quyết định số 4679/2003/QĐ.UBT ngày 03/12/2003 của UBND tỉnh Đồng Nai Sau đó tiếp tục sáp nhập Trung tâm Quản lý di tích chiến khu Đ và đổi tên thành Khu BTTN và Di tích Vĩnh Cửu theo Quyết định số 09/2006/QĐ-UBND ngày 20/02/2006 Ngày 16/7/2009, tiếp tục sáp nhập Trung tâm Thuỷ sản Đồng Nai vào Khu BTTN và Di tích Vĩnh Cửu theo Quyết định số 1977/QĐ-UBND Đến ngày 28/8/2010, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai ký Quyết định số 2208/QĐ-UBND về việc đổi tên Khu BTTN và Di tích Vĩnh Cửu thành Khu BTTN - Văn hoá Đồng Nai [49, 51, 52]

1.4.1.1 Vị trí địa lý

Khu vực nghiên cứu nằm về phía Bắc tỉnh Đồng Nai, thuộc địa giới hành chính các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An - huyện Vĩnh Cửu; xã Thanh Sơn, La Ngà, Phú Cường, Phú Ngọc, Ngọc Định, Túc Trưng -huyện Định Quán; xã Đắc Lua - huyện Tân Phú; xã Thanh Bình - huyện Trảng Bom và xã Gia Tân - huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Phạm vi ranh giới [52]:

- Phía Bắc giáp ranh giới huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước với ranh giới sông Mã Đà và huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

- Phía Nam giáp sông Đồng Nai, huyện Vĩnh Cửu, huyện Trảng Bom

và huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

- Phía Đông giáp ranh VQG Cát Tiên, huyện Tân Phú và huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Ngày đăng: 20/02/2021, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w