Nghiên cứu xác định đồng thời uran và thori bằng một số phương pháp phân tích hoá lý hiện đại Nghiên cứu xác định đồng thời uran và thori bằng một số phương pháp phân tích hoá lý hiện đại Nghiên cứu xác định đồng thời uran và thori bằng một số phương pháp phân tích hoá lý hiện đại luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 GS.TS Trương Quang Hải
2 PGS.TS Trần Văn Ý
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án do tác giả tự nghiên cứu một cách trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Ngô Đăng Trí
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, tâm huyết và tận
tình của GS.TS Trương Quang Hải và PGS.TS Trần Văn Ý NCS xin bày tỏ lòng
kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy - những người đã luôn tận tâm dạy bảo,
động viên, khích lệ NCS trong suốt thời gian thực hiện luận án
Trong quá trình hoàn thiện luận án, NCS nhận được những chỉ bảo quý báu của
các thầy, cô, các nhà khoa học trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội NCS xin cảm ơn quý
thầy, cô đã chỉ bảo và góp ý cho luận án
Tác giả xin chân thành cảm ơn đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu xây dựng bộ
chỉ tiêu phát triển bền vững về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh Tây
Nguyên” do PGS TS Trần Văn Ý làm chủ nhiệm đã cho phép tác giả được sử dụng
nguồn số liệu hết sức quý báu của đề tài
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới cán bộ Cục Thống kê, Sở Kế hoạch
và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở
Khoa học và Công nghệ, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã tạo điều
kiện và tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với các nhà
khoa học, đồng nghiệp ở Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam - cơ quan tác giả công tác, đã
gắn bó, động viên, khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành nhiệm
vụ Sự giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè trong quá trình học tập,
nghiên cứu và thực hiện luận án là động lực để tác giả hoàn thành luận án này
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu 8
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 9
4 Những điểm mới của luận án 10
5 Luận điểm bảo vệ 10
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 10
7 Cấu trúc luận án 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG
Chương 1 BỘ CHỈ THỊ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 12
Tổng quan các vấn đề và công trình nghiên cứu liên quan tới luận án 12
1.1. Bộ chỉ thị phát triển bền vững 12
1.1.1 Tổng quan các vấn đề xây dựng bộ chỉ thị PTBV 15
1.1.2 Phân tích các bộ chỉ thị PTBV tại Việt Nam 27
1.1.3 Các nghiên cứu về tỉnh Gia Lai có liên quan đến luận án 34
1.1.4 Cơ sở lý luận xây dựng bộ chỉ thị PTBV tỉnh Gia Lai 37
1.2. Một số khái niệm sử dụng trong luận án 38
1.2.1 Cơ sở lý luận xây dựng danh sách chỉ thị 39
1.2.2 Cơ sở lý luận xây dựng chỉ số tổng hợp 42
1.2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 43
1.3. Cách tiếp cận nghiên cứu 43
1.3.1 Phương pháp nghiên cứu 46
1.3.2 Quy trình nghiên cứu 55
1.3.3 Tiểu kết chương 1 57
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG VÀ Chương 2 XÂY DỰNG DANH SÁCH CHỈ THỊ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TỈNH GIA LAI 58
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường tỉnh Gia Lai 58
2.1. Các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường trong mối liên hệ 2.1.1 với khung mô hình PTBV UNCSD 2007 58
Trang 6Điều kiện tự nhiên và tài nguyên 59
2.1.2 Các yếu tố Kinh tế 69
2.1.3 Các yếu tố Xã hội 73
2.1.4 Chất lượng môi trường và tai biến thiên nhiên 80
2.1.5 Xây dựng danh sách chỉ thị phát triển bền vững tỉnh Gia Lai 88
2.2 Tiểu kết chương 2 99
CHUẨN HÓA CHỈ THỊ, TỔNG HỢP CHỈ SỐ VÀ ĐÁNH GIÁ Chương 3 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TỈNH GIA LAI 100
Chuẩn hóa chỉ thị và tổng hợp các chỉ số PTBV tỉnh Gia Lai 100
3.1. Chuẩn hóa giá trị chỉ thị 100
3.1.1 Tổng hợp chỉ số PTBV tổng thể, theo chủ đề và theo phụ chủ đề 101
3.1.2 Đánh giá và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững tỉnh Gia Lai 101
3.2. Đánh giá và đề xuất giải pháp theo các chủ đề 101
3.2.1 Đánh giá chung về phát triển bền vững tỉnh Gia Lai 129
3.2.2 Tiểu kết chương 3 134
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 135
1 Kết luận 135
2 Khuyến nghị 137
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
PHỤ LỤC 151
Phụ lục 1 Bộ chỉ thị phát triển bền vững của SDI-GM 2001 152
Phụ lục 2 Bộ chỉ thị phát triển bền vững của SDI-GM 2007 154
Phụ lục 3 Bộ chỉ thị PTBV địa phương Châu Âu 157
Phụ lục 4 Bộ chỉ thị giám sát PTBV ở Việt Nam (dự án VIE/01/021) 162
Phụ lục 5 Bộ chỉ thị giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 164
Phụ lục 6 Bộ chỉ thị giám sát, đánh giá phát triển bền vững địa phương
giai đoạn 2013 - 2020 167
Phụ lục 7 Phiếu xin ý kiến chuyên gia 171
Phụ lục 8 Kết quả tính toán giá trị chỉ thị 174
Phụ lục 9 Phần mềm quản lý bộ chỉ thị PTBV tỉnh Gia Lai 178
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7CCN - Cụm công nghiệp
CSDI - Composite Sustainable Development Index
(Chỉ số tổng hợp phát triển bền vững) CTNH - Chất thải nguy hại
CTR - Chất thải rắn
DoS - Dashboard of Sustainability
(Bảng chỉ số mức độ bền vững) DPSIR - Driving Forces – Pressure – State – Impact – Response
(Động lực – Áp lực – Hiện trạng – Tác động – Đáp ứng ) ESI - Environmental Sustainability Index
(Chỉ số bền vững môi trường) GDI - Gender development index
(Chỉ số phát triển giới ) GRDP - Gross Domestic Product
(Tổng sản phẩm trong nước) GNI - Gross National Income
(Tổng thu nhập quốc dân) GRDP - Gross Regional Domestic Product
(Tổng sản phẩm vùng, tỉnh) HDI - Human Development Index
(Chỉ số phát triển con người) IUCN - International Union for Conservation of Nature
(Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên) KCN - Khu công nghiệp
(Mục tiêu thiên niên kỷ) NCS - Nghiên cứu sinh
NNPTNT - Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
OECD - Organization for Economic Cooperation and Development
(Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế)
Trang 8PAPI - The Viet Nam Provincial Governance and Public Administration
Performance Index (Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh Việt Nam) PCI - Provincial Competitiveness Index
(Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) PPTB - Phương pháp trung bình
PSR - Presure – State – Response
(Áp lực – Hiện trạng – Đáp ứng) PTBV - Phát triển bền vững
SDG - Sustainable Development Goals
(Mục tiêu phát triển bền vững) SDI - Sustainable Development Index
(Chỉ số phát triển bền vững) SDI-GM - Sustainable Development Indicators: Guidelines and Methodologies
(Hướng dẫn và phương pháp luận xây dựng bộ chỉ thị PTBV) SOE - State of Environment
(Báo cáo thực trạng môi trường) TNMT - Tài nguyên và Môi trường
UBND - Ủy ban nhân dân
UBPTBV - Ủy ban phát triển bền vững
UNCED - United Nations Conference on Environment and Development
(Hội nghị liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển) UNCSD - United Nations Commission on Sustainable Development
(Ủy ban phát triển bền vững Liên Hợp Quốc) UNDP - United Nations Development Programme
(Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc) VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
WI - Wellbeing Index
(Chỉ số thịnh vượng) WSC - Watershed Classification
(Phân loại đầu nguồn)
Trang 9Bảng 2.12
Tổng hợp tình hình thiệt hại do mưa lũ và hạn hán tỉnh Gia Lai
Bảng 2.13
giai đoạn 2005-2012 85Danh sách chỉ thị sơ bộ (bước 3) và kết quả thực hiện phương pháp
Bảng 2.14
Delphi (bước 4) 90Danh sách chỉ thị PTBV tỉnh Gia Lai 95
Trang 10Hình 3.6
quản lý rác thải 115
Trang 11Sơ đồ chỉ số mức sống Gia Lai trong vùng Tây Nguyên 116
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu
Gia Lai nằm ở Bắc Tây Nguyên, có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng Tỉnh thuộc tam giác phát triển khu vực biên giới ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, có hệ thống giao thông kết nối với các
đô thị lớn như Buôn Ma Thuột, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Tuy Hòa, có sân bay, có cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển, giao lưu kinh tế như xuất nhập khẩu, du lịch, phát triển thương mại biên giới v.v Mặt khác, Gia Lai ở vị trí đầu nguồn nhiều hệ thống sông, có ý nghĩa quan trọng trong cung cấp nước sản xuất, gìn giữ môi trường và phòng tránh thiên tai không chỉ trong phạm vi tỉnh mà còn đối với khu vực hạ lưu
Kinh tế Gia Lai thời gian qua đã có những bước tiến, các hoạt động thương mại
- dịch vụ phát triển nhanh, đời sống của nhân dân được nâng cao Tuy nhiên so với cả nước, GRDP bình quân đầu người, doanh thu du lịch, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng thông tin truyền thông phát triển chậm [72] Ngành y tế đã đạt những thành tựu cơ bản, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân; Biến động dân số đã được từng bước được kiểm soát nhưng tỉnh đang phải đối mặt với các vấn đề bảo tồn văn hóa, chênh lệch thu nhập [61] Chất lượng môi trường Gia Lai nhìn chung còn tốt, tuy nhiên tỷ lệ che phủ vùng đầu nguồn còn thấp, thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan như:
lũ lụt, hạn hán, dông, lốc,… đã gây ra nhiều thiệt hại cho tỉnh [47] Điển hình là đợt lũ lịch sử năm 2009 hay đợt hạn kỷ lục đầu năm 2016 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân Bên cạnh đó, tỉnh còn gặp nhiều thách thức trong sử dụng đất nông nghiệp, đất rừng như tỷ lệ đất sản xuất nông nghiệp được tưới thấp, xói mòn đất còn cao Nhận thức được vấn đề trên, chính quyền địa phương đang tiến hành nhiều chính sách và chương trình hành động hướng tới phát triển một cách bền vững và cân bằng giữa các yếu tố phát triển [74]
Theo Ủy ban phát triển bền vững Liên Hợp Quốc (UNCSD), việc theo dõi, đánh giá phát triển bền vững (PTBV) cần được tiến hành cùng lúc, hỗ trợ việc thực thi các hành động phát triển [176] Vấn đề cấp thiết được đặt ra là cần có những nghiên cứu khoa học về các công cụ theo dõi và đánh giá PTBV
UNCSD (1996) đã khẳng định bộ chỉ thị PTBV là một công cụ quan trọng để theo dõi, đánh giá PTBV và điều chỉnh chiến lược phát triển hướng tới bền vững của một lãnh thổ [177] Bộ chỉ thị PTBV như là những hệ thống cảnh báo sớm và khi được thiết kế tốt, cân nhắc kỹ lưỡng thì chúng không những chỉ ra được hiện trạng phát triển
Trang 13kinh tế, xã hội và môi trường của một lãnh thổ mà còn hỗ trợ cho quá trình ra quyết định và giám sát có hiệu quả của việc thực hiện các chính sách hướng tới PTBV [180]
Bộ chỉ thị PTBV được sử dụng rộng rãi trong theo dõi, đo lường và đánh giá sự biến đổi (tích cực hay tiêu cực) hướng tới PTBV và cũng là cách để liên kết thông tin với các bên liên quan [93, 107]
Như vậy, xây dựng bộ chỉ thị theo dõi, đánh giá PTBV là việc làm cần thiết phục vụ lập và điều chỉnh chính sách, kế hoạch phát triển, nâng cao hiệu quả các chương trình hành động hướng tới PTBV của tỉnh Gia Lai
Đã có nhiều bộ chỉ thị PTBV được xây dựng trên thế giới và ở Việt Nam Theo Tri Ngo Dang và cs (2018), các bộ chỉ thị PTBV tại Việt Nam còn tồn tại những vấn
đề trong xây dựng danh sách chỉ thị và xây dựng chỉ số tổng hợp [171] Trong luận án này, NCS nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị PTBV Gia Lai dựa trên việc kế thừa các bộ chỉ thị đã xây dựng và khắc phục những hạn chế còn tồn tại
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Xác lập cơ sở khoa học xây dựng bộ chỉ thị PTBV phục vụ theo dõi
và đánh giá phát triển bền vững tỉnh Gia Lai
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án thực hiện các
Tính toán, chuẩn hóa chỉ thị và tổng hợp chỉ số phụ chủ đề, chỉ số chủ đề và chỉ (3)
số PTBV tổng thể tỉnh Gia Lai;
Đánh giá thử nghiệm mức độ PTBV tỉnh Gia Lai trong phạm vi số liệu cho phép, (4)
đề xuất giải pháp hướng tới PTBV
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Bộ chỉ thị PTBV tỉnh Gia Lai được luận án xây dựng cho cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh Gia Lai Bộ chỉ thị kết quả không áp dụng cho cấp huyện vì theo dõi và đánh giá PTBV ở các cấp hành chính khác nhau cần các bộ chỉ thị PTBV khác nhau
Trang 14- Phạm vi khoa học: Bộ chỉ thị PTBV được xây dựng phục vụ theo dõi, đánh giá quá trình phát triển bền vững, ngoài ra còn nhận dạng vấn đề cần quan tâm Số liệu nghiên cứu đặc điểm tỉnh Gia Lai phục vụ xây dựng danh sách chỉ thị được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2005 – 2016 Mức độ PTBV tỉnh Gia Lai được đánh giá trong phạm vi số liệu cho phép, đó là giai đoạn 2005 – 2015 đối với 2 chủ đề phát triển kinh tế, biến động dân số và giai đoạn 2008 – 2012 cho
11 chủ đề khác
4 Những điểm mới của luận án
- Đã bổ sung cơ sở lý luận xây dựng danh sách bộ chỉ thị phát triển bền vững, phương pháp xác định ngưỡng giá trị phát triển bền vững và xây dựng được các chỉ số tổng hợp theo phụ chủ đề, chủ đề và chỉ số phát triển bền vững tổng thể phục vụ giám sát và đánh giá phát triển bền vững
- Đã xác định được mức độ phát triển bền vững tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005-2015 đối với các chủ đề phát triển kinh tế, dân số và giai đoạn 2008-2012 theo 11 chủ
đề khác
5 Luận điểm bảo vệ
- Bộ chỉ thị PTBV tỉnh Gia Lai gồm 13 chủ đề, được xây dựng mang tính kế thừa, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện cụ thể của tỉnh Gia Lai;
- Kết quả đánh giá và phân tích mức độ PTBV tỉnh Gia Lai phản ánh sự phát triển chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, trong đó đa số lĩnh vực còn phát triển chưa bền vững
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Gia Lai là tỉnh có kinh tế còn khó khăn nhưng đang ở thời kỳ phát triển nhanh, sức ép tới xã hội và môi trường rất lớn Việc xây dựng bộ chỉ thị PTBV tỉnh Gia lai phục vụ theo dõi, đánh giá tiến trình PTBV có nhiều ý nghĩa:
Về mặt khoa học, luận án góp phần hướng tới hoàn thiện phương pháp luận xây
(1)
dựng bộ chỉ thị PTBV tại Việt Nam:
- Việc nghiên cứu, hướng tới hoàn thiện quy trình xây dựng danh sách chỉ thị là
cơ sở khoa học phục vụ xây dựng danh sách chỉ thị đáp ứng được các nguyên tắc đặt ra
- Việc nghiên cứu, hướng tới hoàn thiện phương pháp luận chuẩn hóa chỉ thị và tổng hợp chỉ số (theo các cấp độ phụ chủ đề, chủ đề và chỉ số PTBV tổng thể)
là cơ sở để đánh giá mức độ PTBV theo các cấp khái quát khác nhau
Trang 15Về ý nghĩa thực tiễn:
(2)
- Cơ sở lý luận xây dựng bộ chỉ thị PTBV đã được luận án phát triển có thể được
sử dụng để xây dựng các bộ chỉ thị PTBV cho các địa phương khác
- Việc đánh giá PTBV tỉnh Gia Lai 2005 – 2015 đối với các chủ đề phát triển kinh tế, dân số và giai đoạn 2008 – 2012 đối với 11 chủ đề khác là cơ sở cho công tác quản lý phát triển kinh tế, xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường theo hướng bền vững ở tỉnh Gia Lai
7 Cấu trúc luận án
Luận án được trình bày trong 150 trang A4 với 22 bảng số liệu; 45 hình, bản đồ,
sơ đồ Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục 195 tài liệu tham khảo (89 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và 116 tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh) và phụ lục, luận án gồm 3 chương nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp xây dựng bộ chỉ thị phát triển bền vững Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường và xây dựng danh sách bộ chỉ thị phát triển bền vững tỉnh Gia Lai
Chương 3: Chuẩn hóa chỉ thị, tổng hợp chỉ số và đánh giá phát triển bền vững tỉnh Gia Lai
Trang 16CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG
Chương 1.
BỘ CHỈ THỊ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Tổng quan các vấn đề và công trình nghiên cứu liên quan tới luận án 1.1
Bộ chỉ thị phát triển bền vững
1.1.1.
Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh Rio đã kêu gọi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phát triển và sử dụng bộ chỉ thị phát triển bền vững (SDI’s) Để đáp lại lời kêu gọi, rất nhiều tổ chức đa quốc gia, phi chính phủ và chính quyền nhiều nước đã có những nỗ lực xây dựng các bộ chỉ thị phát triển bền vững và chúng nhanh chóng trở thành một công cụ hữu hiệu theo dõi và đánh giá tiến trình hướng tới PTBV [153]
Bộ chỉ thị PTBV được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau tùy vào từng nghiên cứu Bộ chỉ thị PTBV thường được sử dụng để: i) theo dõi quá trình phát triển [110, 114, 151, 176]; ii) đánh giá quá trình phát triển hướng tới PTBV [123, 176, 195]; iii) cảnh báo sớm và giúp nhận dạng vấn đề cần quan tâm [110, 114, 151]; iv) thiết kế giải pháp sơ bộ và điều chỉnh chính sách [176, 195] Trong luận án này, bộ chỉ thị PTBV được xây dựng để theo dõi, đánh giá PTBV và nhận dạng các vấn đề cần quan tâm, từ đó đề xuất các giải pháp sơ bộ hướng tới PTBV tỉnh Gia Lai
Hiện có khá nhiều bộ chỉ thị PTBV được xây dựng, đa phần ở cấp quốc gia và cấp tỉnh Website Trích yếu các nỗ lực xây dựng chỉ thị PTBV (Compendium of sustainable development indicator initiatives) [128] đã liệt kê khoảng 900 công trình liên quan tới các chỉ thị PTBV Trong đó có 94 công trình ở cấp toàn cầu, 262 ở cấp quốc gia và 170 ở địa phương (bao gồm 136 công trình cấp tỉnh và 34 công trình cấp vùng) Website trên không thống kê các công trình nghiên cứu cấp huyện, xã
Các cấp hành chính khác nhau có những đặc thù khác nhau về PTBV và có hệ
thống thống kê riêng Vì vậy, bộ chỉ thị PTBV ở các cấp hành chính khác nhau thường
khác nhau về số lượng chỉ thị và cách thức phản ánh vấn đề của chỉ thị Ở cấp quốc gia, nhiều vấn đề được phản ánh do sự đa dạng hơn về tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường Ở cấp tỉnh, các nội dung PTBV cần theo dõi, đánh giá ít hơn nhưng có các chỉ thị mang đặc thù của tỉnh Ví dụ, ở cấp quốc gia Việt Nam, các chỉ thị phản ánh vấn đề
về quản lý bảo tồn rừng, quản lý đới bờ, biển và hải đảo nhất thiết phải được tích hợp trong bộ chỉ thị (trên thực tế, bộ chỉ thị giám sát và đánh giá PTBV Việt Nam được chính phủ Việt Nam ban hành đã không đề xuất các chỉ thị liên quan tới biển và hải đảo Đây là một hạn chế đáng tiếc của bộ chỉ thị này (Phụ lục 5)) Trong khi đó, bộ chỉ thị của các tỉnh đồng bằng không có chỉ thị về quản lý bảo tồn rừng, các tỉnh không có biển
sẽ không có chỉ thị phản ánh các vấn đề đới bờ, biển và hải đảo
Trang 17Bên cạnh đó, những vấn đề mang tính liên vùng (transboundary) chỉ có thể theo dõi, đánh giá ở cấp toàn cầu hay quốc gia và ít được quan tâm phản ánh hơn, số liệu cho các chỉ thị phản ánh những vấn đề này cũng không có sẵn ở mức độ chi tiết Ví dụ, các vấn đề về biến đổi khí hậu, thay đổi tầng Ozon cần được phản ánh trong bộ chỉ thị PTBV cấp quốc gia và quốc tế nhưng rất khó thu thập các số liệu này ở mức độ cấp tỉnh
Bảng 1.1 thể hiện sự khác nhau về số lượng chỉ thị giữa 2 bộ chỉ thị PTBV được chính phủ Việt Nam ban hành Một ví dụ khác, dự án VIE/01/021 [183] đề xuất 55 chỉ thị ở cấp quốc gia, trong khi chỉ đề xuất 32 chỉ thị cấp tỉnh; Trong nghiên cứu của Trương Quang Học và Võ Thanh Sơn (2010) [28], số lượng chỉ thị cấp quốc gia là 51, các chỉ thị cấp tỉnh là 27 Nghiên cứu của Trần Văn Ý và cs (2015) [88] đã đề xuất 77 chỉ tiêu cấp vùng, 60 chỉ tiêu cấp tỉnh và 49 chỉ tiêu cấp huyện
Sự khác nhau giữa 2 bộ chỉ thị giám sát và đánh giá PTBV cấp quốc gia và
Bảng 1.1
cấp địa phương được chính phủ Việt Nam ban hành
Loại chỉ thị Số lượng chỉ thị cấp quốc gia (1) Số lượng chỉ thị cấp
Các bước xây dựng bộ chỉ thị PTBV
Hình 1.1
Bộ chỉ thị có tổng hợp và không tổng hợp chỉ số đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Bộ chỉ thị không tổng hợp chỉ số thường được xây dựng hai bộ danh sách chỉ thị con gồm i) danh sách chỉ thị chính được sử dụng cho các chính khách và truyền thông cộng đồng, và ii) danh sách chỉ thị bổ sung gồm nhiều chỉ thị, chi tiết hơn dành cho các chuyên gia, nhà nghiên cứu Trong một số trường hợp riêng, bộ chỉ thị
Trang 18được xây dựng với một danh sách chỉ thị duy nhất Khi này bộ chỉ chỉ thị trở nên quá đơn giản (chỉ gồm danh sách chỉ thị chính), không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu hoặc quá cồng kềnh (gộp cả danh sách chỉ thị chính và chỉ thị bổ sung vào một danh sách chỉ thị), không phù hợp cho truyền thông cộng đồng Cách tiếp cận này đã được
sử dụng để xây dựng bộ chỉ thị PTBV của một số nước Anh, Đan Mạch, Úc, Aixơlen, Bộ chỉ thị xây dựng theo cách này thường không xây dựng thang đo PTBV cho các chỉ thị nên việc đánh giá mức độ phát triển bền vững khó khăn và thường chỉ
sử dụng tốt cho việc theo dõi sự thay đổi của từng chỉ thị riêng biệt
Đối với bộ chỉ thị có tổng hợp chỉ số, các chỉ thị sẽ được tổng hợp lại thành các chỉ số đại diện cho các chỉ thị thành phần Năm 2001, trong một nghiên cứu đề xuất xây dựng chỉ số tổng hợp cho bộ chỉ thị PTBV [179], UNCSD đã phân tích, đánh giá 9
bộ chỉ thị có tổng hợp chỉ số Nghiên cứu của Singh và cs (2012) đã tổng quan các phương pháp xây dựng của 41 bộ chỉ thị có chỉ số tổng hợp [164] Trong một nghiên cứu khác, Petrosyan (2014) đã tổng quan, phân tích 12 bộ chỉ thị xây dựng chỉ số [154] Các bộ chỉ thị được tổng quan trong các nghiên cứu trên đã được ứng dụng cho nhiều địa phương trên thế giới như chỉ số mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) [173], chỉ số bền vững môi trường (ESI) [106], chỉ số phát triển con người (HDI) [102], chỉ số thịnh vượng (WI) [158], chỉ số tổng hợp phát triển bền vững (CSDI) [134], bảng chỉ số mức
độ bền vững (DoS) [122], chỉ số phát triển bền vững (SDI) [160]
Bộ chỉ thị không tổng hợp chỉ số có ưu điểm dễ nhận thấy là sự đơn giản trong quá trình xây dựng và sự thay đổi của các khía cạnh PTBV có thể được phân tích độc lập Bộ chỉ thị không chỉ số có thể cung cấp thông tin so sánh theo thời gian và không gian phục vụ mục tiêu theo dõi xu hướng biến động của từng chỉ thị Do vậy, khó có thể đánh giá PTBV dựa trên các bộ chỉ thị này do không có thông tin so sánh với ngưỡng giá trị PTBV Hơn nữa, đánh giá mức độ PTBV không thể chỉ dựa vào từng chỉ thị riêng lẻ mà phải có cái nhìn tổng thể, đa chiều, đa lĩnh vực [157] và các chỉ thị PTBV có chiều hướng biến động không theo một xu hướng nhất định [124] Vì thế, để đánh giá mức độ PTBV, bên cạnh việc đánh giá sự phát triển theo từng chỉ thị, cần phải có chỉ số, đại diện cho cả các nhân tố cấu thành, phản ánh vấn đề một cách khái quát và đầy đủ hơn
Đối với cách xây dựng bộ chỉ thị có chỉ số thì khi tổng hợp chỉ số thường kèm với việc xây dựng một thước đo để đánh giá Do đó ưu điểm rõ ràng của những bộ chỉ thị này là việc có thể sử dụng đánh giá mức độ thay đổi một cách tổng thể bởi sự tổng hợp của các chỉ thị thành phần và có thể đánh giá được mức độ PTBV của địa phương dựa trên từng chỉ thị và chỉ số Tuy nhiên, nhược điểm của nó nằm ở sự phức tạp trong xây dựng và tính toán Bên cạnh đó, theo Hass và cs (2002), chỉ số có thể là sự đơn giản hóa quá mức một hệ thống phức tạp và có khả năng dẫn tới những dấu hiệu chỉ báo sai
Trang 19Tổng quan các vấn đề xây dựng bộ chỉ thị PTBV
1.1.2.
Qua Hình 1.1 có thể thấy rằng bộ chỉ thị PTBV thường cấu thành bởi 3 hợp phần cơ bản là i) bộ danh sách chỉ thị (là kết quả của bước xây dựng danh sách chỉ thị); ii) Định nghĩa và cách tính giá trị chỉ thị; và iii) Phương pháp tổng hợp chỉ số Các bộ chỉ thị PTBV tại Việt Nam còn tồn tại những vấn đề trong “xây dựng danh sách chỉ thị” và “xây dựng chỉ số tổng hợp” [171] (là các bước 1 và 3 trong Hình 1.1)
Luận án tiến hành tổng quan các vấn đề về i) xây dựng danh sách chỉ thị và ii) xây dựng chỉ số tổng hợp, làm cơ sở xây dựng bộ chỉ thị PTBV tỉnh Gia Lai
1.1.2.1 Xây dựng danh sách chỉ thị
a) Quy trình xây dựng danh sách chỉ thị
Các nghiên cứu trên thế giới thường không mô tả cụ thể quy trình xây dựng danh sách chỉ thị nhưng nhìn chung các công việc cơ bản thường được thực hiện là i)
đề xuất một bộ nguyên tắc (tiêu chí hay yêu cầu), và ii) đề xuất danh sách chỉ thị theo một khung cấu trúc phù hợp với mục tiêu nghiên cứu [28, 88, 117, 119, 183, 107, 108,
132, 141, 176, 178, 180] Một số nghiên cứu có thực hiện thêm phương pháp chuyên gia để chọn lọc chỉ thị và xem xét tới mức độ phù hợp địa phương và tính khả thi của
Phù hợp nhưng còn thiếu
Không phù hợp
Nguồn: UNCSD (2007)
Hướng dẫn xây dựng bộ chỉ thị PTBV của LHQ (SDI-GM) [180] đã đề xuất xem xét tính khả thi của dữ liệu và nghiên cứu điều kiện của địa phương bên cạnh việc đặt ra các nguyên tắc và xác định khung cấu trúc chủ đề theo lĩnh vực làm khung chung đề xuất chỉ thị Theo tài liệu này, sau khi đưa ra danh sách sơ bộ các chỉ thị từ các bộ chỉ thị đã có và hệ thống thống kê địa phương dựa trên khung cấu trúc đề xuất,
Trang 20cần tiến hành chọn lọc các chỉ thị này dựa trên bảng ma trận mức độ phù hợp/khả thi (Bảng 1.2) Bảng ma trận được cấu thành bởi 2 chiều: tính khả thi của dữ liệu và mức
độ phù hợp của chỉ thị mẫu đối với địa phương
Trong hai nghiên cứu của Hai Le Trinh và cs (2009 và 2013) [117, 119], danh sách chỉ thị PTBV được đề xuất dựa trên 3 bước: i) đề xuất danh sách các nguyên tắc; ii) đề xuất danh sách chỉ thị sơ bộ dựa trên sự kết hợp các bộ chỉ thị đã có; iii) sử dụng phương pháp chuyên gia Delphi để chọn lọc các chỉ thị phù hợp, loại bỏ các chỉ thị không phù hợp
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã đề xuất chi tiết quy trình xây dựng bộ chỉ thị [28, 88, 183] (các nghiên cứu này sẽ được tổng quan và phân tích kỹ hơn ở mục 1.1.3) Nhìn chung, quy trình của các công trình này đã kế thừa bước đề xuất nguyên tắc, đề xuất danh sách chỉ thị sơ bộ dựa trên một khung cấu trúc xác định và nghiên cứu điều kiện địa phương Nghiên cứu của Trần Văn Ý và cs (2015) [88] có sử dụng bước sử dụng phương pháp chuyên gia Delphi để hoàn thiện danh sách chỉ thị
Các nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị PTBV tại Việt Nam chưa thực hiện bước sàng lọc, thay thế các chỉ thị không có sẵn số liệu nên chưa đáp ứng được nguyên tắc
về tính khả thi của dữ liệu nên bộ chỉ thị kết quả còn có nhiều chỉ thị không thể thu thập, tính toán được
b) Nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị PTBV
Các nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị thường là bước thực hiện đầu tiên
trong các nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị PTBV Từ năm 1997, Hardi và Peter đã đề
xuất 8 nguyên tắc xây dựng bộ chỉ thị [123] Theo Hass (2002), nhiều quốc gia thuộc OECD đã tham khảo tập hợp nguyên tắc trên trong việc xây dựng bộ chỉ thị môi trường của mình [124] Hướng dẫn xây dựng bộ chỉ thị của UNCSD trong các phiên bản 1996, 2001 và 2007 cũng đề xuất danh sách các nguyên tắc chung để lựa chọn chỉ thị [176, 178, 180] Các nguyên tắc thường được sử dụng gồm: Phù hợp theo thông lệ quốc tế; phù hợp với chính sách; phù hợp với địa phương; phù hợp để đánh giá tiến trình PTBV; dễ hiểu và rõ ràng cụ thể; có tính khả thi và hiệu quả chi phí Amélie Côté
và cs (2007) đã tổng hợp và liệt kê tới 22 nguyên tắc mà các bộ chỉ thị PTBV đã sử dụng Nghiên cứu cũng chỉ ra các nguyên tắc nói trên trong hướng dẫn xây dựng bộ chỉ thị của UNCSD thường được nhiều bộ chỉ thị sử dụng hơn cả [100]
Các nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị PTBV tại Việt Nam cũng đã đặt ra các nguyên tắc [28, 88, 183] Về cơ bản, các nguyên tắc này đã được đề xuất dựa trên hướng dẫn xây dựng bộ chỉ thị của LHQ Các nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị PTBV trên thế giới và Việt Nam có phần tương đồng và thống nhất (Bảng 1.3)
Trang 21
Tổng hợp các nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị
Bảng 1.3
nguyên tắc Nguyên tắc
Côté
và cs [100]
UN CSD
2007 [180]
UNDP và MPI Việt Nam [183]
Trương Quang Học và
cs [28]
Trần Văn Ý
và cs [88]
4 Phù hợp để đánh giá tiến trình PTBV
6 Giới hạn về số lượng nhưng phải có
đề - một chỉ thị”, bộ chỉ thị PTBV phải được phát triển dựa trên một khung cấu trúc (conceptual framework, một số nghiên cứu dịch là mô hình khái niệm) nhằm thể hiện đầy đủ, cân đối các yếu tố, quá trình phát triển kinh tế – xã hội – môi trường và mối liên kết giữa chúng một cách logic, dễ hiểu [151] Nếu không được phát triển dựa trên một khung cấu trúc, bộ chỉ thị sẽ luôn là một hệ thống không hoàn thiện và sẽ tập trung hơn về chuyên ngành của tác giả, đặt nặng về một vài lĩnh vực, sơ lược hoặc thậm chí bỏ sót nhiều lĩnh vực quan trọng khác [127]
Như vậy, khung cấu trúc giúp cho hệ thống chỉ thị đáp ứng được các nguyên tắc như có cấu trúc rõ ràng, đầy đủ, không trùng lặp về ý nghĩa và cân bằng tương đối giữa các khía cạnh PTBV Bộ chỉ thị sẽ đáp ứng được nguyên tắc về tương thích với thông lệ quốc tế, có khả năng so sánh với trình độ PTBV của các địa phương khác nếu
sử dụng khung cấu trúc theo các hướng dẫn của tổ chức quốc tế như LHQ
Có nhiều khung cấu trúc được sử dụng để xây dựng danh sách chỉ thị PTBV Sự khác nhau cơ bản giữa các khung cấu trúc là cách mà chúng cấu trúc các khía cạnh của PTBV, sự thể hiện mối liên kết giữa các khía cạnh này và cách nhóm các vấn đề để theo dõi [129] Mỗi khung cấu trúc đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp cho từng mục đích sử dụng Trong số đó, ba khung cấu trúc được sử dụng rộng rãi
Trang 22hơn cả là: Khung nhân quả (Causal based/Linkage based), Khung mục đích (Goal based) và Khung chủ đề (Theme/subtheme based) [97, 114, 142, 152, 161]
Ba khung cấu trúc trên đã được LHQ phát triển và sử dụng để xây dựng các khung danh sách chỉ thị PTBV chung cho các quốc gia và địa phương Trong đó, LHQ
sử dụng khung mục tiêu xây dựng các bộ chỉ thị mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) và mục tiêu PTBV (SDG) để theo dõi việc thực hiện các mục tiêu chung của các quốc gia trên thế giới (Hình 1.2) Song song với việc phát triển các bộ chỉ thị MDG và SDG, LHQ
đã phát triển các bộ chỉ thị theo dõi PTBV các địa phương thông qua hướng dẫn và phương pháp luận xây dựng bộ chỉ thị (SDI-GM) Các bộ chỉ thị SDI-GM mang tính đặc thù địa phương nhiều hơn (so với các bộ chỉ thị MDG, SDG), nhằm theo dõi, đánh giá và cảnh báo sớm các vấn đề trong PTBV Ban đầu, SDI-GM dựa trên khung nhân quả (năm 1996), sau đó thay thế bởi khung chủ đề trụ cột (năm 2001) và phiên bản mới nhất dựa trên khung chủ đề theo lĩnh vực (2007) (Hình 1.3)
Tiến trình phát triển của bộ chỉ thị mục tiêu phát triển bền vững
SDI-GM (2007)
• Khung chủ đề lĩnh vực
• 14 chủ đề, 44 phụ chủ đề và
96 chỉ thị
Trang 23c1) Khung nhân quả
Khung nhân quả được xây dựng dựa trên mối liên hệ ảnh hưởng nhân quả giữa các chỉ thị trong hệ thống Khung nhân quả giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng tìm hiểu vấn đề và đưa ra các chính sách phù hợp PSR (áp lực, hiện trạng, đáp ứng) là một trường hợp cụ thể của khung nhân quả, được OECD phát triển từ năm
1991 đáp ứng yêu cầu của hội nghị G7 năm 1989 [147] Đây là một nỗ lực tiên phong trong việc phát triển bộ chỉ thị tập trung tới khía cạnh môi trường và PTBV
Khung cấu trúc này đã được phát triển để đánh giá các nỗ lực cải thiện môi trường từ trước khi thuật ngữ PTBV được sử dụng Năm 1996, UNCSD đã xây dựng
bộ khung danh sách bao gồm 134 chỉ thị PTBV dựa trên khung nhân quả Đây là bộ chỉ thị PTBV xây dựng theo khung nhân quả được sử dụng rộng rãi nhất Bộ chỉ thị này là một danh sách mẫu, ít nhất 22 quốc gia tự nguyện áp dụng bộ mẫu này để xây dựng bộ chỉ thị nước mình như mô hình thí điểm, kiểm nghiệm các chỉ thị đã đề xuất
Năm 2000, dựa trên việc đánh giá quá trình thực hiện thí điểm các bộ chỉ thị của các nước tình nguyện, UNCSD đã nhận thấy khung nhân quả không phù hợp khi
đề cập đến các mối liên hệ phức tạp giữa các vấn đề Về lý thuyết, các hợp phần của khung là một chuỗi nhân quả của các chỉ thị Tuy nhiên trong thực tế, việc xác định mối quan hệ nhân quả trong các vấn đề kinh tế, xã hội phức tạp hơn rất nhiều so với các vấn đề trong lĩnh vực môi trường [141] Nhiều trường hợp khó phân biệt chỉ thị nào thuộc nhóm động lực, áp lực, tình trạng, tác động hay đáp ứng bởi vì tùy thuộc vào đối tượng xem xét và cách nhìn mà các chỉ thị sẽ bị thay đổi theo các nhóm khác nhau Một chỉ thị có thể là áp lực theo quan điểm này nhưng lại là tình trạng khi nhìn theo quan điểm khác và có thể lại là đáp ứng trong một cách nhìn thứ 3 [180] Nhiều phân tích chỉ ra rằng khung cấu trúc này rất thích hợp cho việc xây dựng các chỉ thị thuộc lĩnh vực môi trường, nhưng không thích hợp với lĩnh vực kinh tế xã hội và thể chế [178] Một số nước đã kết luận rằng mặc dù khung nhân quả phù hợp cho các chỉ thị môi trường, nó không thích hợp làm khung phát triển cho các lĩnh vực kinh tế, xã hội và thể chế Hơn nữa, danh sách chỉ thị quá dài cũng gây khó khăn cho việc áp dụng tất cả các chỉ thị cho quốc gia của họ [178] Từ thời điểm này, khung nhân quả ít được
áp dụng xây dựng bộ chỉ thị PTBV mà thường được sử dụng để xây dựng các bộ chỉ thị bền vững môi trường
c2) Khung mục tiêu/mục đích
Khung cấu trúc này thường tập trung vào các vấn đề cần giải quyết và gắn với những mục tiêu cụ thể Bằng cách này, khung mục tiêu nhấn mạnh tầm quan trọng của kết quả cuối cùng (mục tiêu) Khung sử dụng các chỉ thị đo đạc trực tiếp khả năng hướng tới các mục tiêu bền vững cụ thể Khung cấu trúc này cho phép xây dựng một
Trang 24tập hợp cân bằng các chỉ thị liên quan tới các mục đích đặt ra [152] Bộ chỉ thị được áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới sử dụng khung mục đích là bộ chỉ thị mục tiêu thiên niên kỷ (MDG), nay là mục tiêu phát triển bền vững (SDG) (Hình 1.2)
Năm 2000, phòng thống kê LHQ xây dựng bộ chỉ thị MDG nhằm theo dõi tiến trình cam kết thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ ở tất cả các quốc gia thành viên với mốc thời gian tham chiếu để hoàn thành các mục tiêu là năm 2015 Đây
là bộ chỉ thị điển hình được phát triển dựa trên khung mục đích Bộ chỉ thị này nhóm các chỉ thị theo 8 mục tiêu chung, 18 mục tiêu cụ thể được đặt ra bởi chương trình mục tiêu thiên niên kỷ
Năm 2007, bộ chỉ thị này được cập nhật, bổ sung thêm 4 mục tiêu cụ thể và 10 chỉ thị để phù hợp hơn với tiến trình phát triển của các quốc gia 8 mục tiêu chung vẫn được giữ nguyên gồm i) xóa đói giảm nghèo; ii) phổ cập giáo dục; iii) bình đẳng giới; giảm tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng trẻ em; iv) nâng cao sức khỏe bà mẹ; v) phòng chống HIV; vi) sốt rét và bệnh truyền nhiễm; vii) đảm bảo bền vững môi trường sống;
và viii) quan hệ toàn cầu
Năm 2015, LHQ tổng kết việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của các quốc gia trong giai đoạn 2000 – 2015 và đồng thời đề xuất xây dựng phiên bản mới của bộ chỉ thị này - bộ chỉ thị mục tiêu phát triển bền vững (SDG) Từ 2015 cho tới nay, bộ chỉ thị SDG đã được chỉnh sửa nhiều lần, và phiên bản cập nhật nhất là phiên bản E/CN.3/2017/2 công bố tháng 3 năm 2017 với tổng số 232 chỉ thị Bộ chỉ thị SDG
sẽ được sử dụng để theo dõi, đánh giá việc thực hiện 17 mục tiêu chung của các quốc gia thành viên LHQ cho tới năm 2030 theo chương trình nghị sự 2030 Các mục tiêu gồm i) xóa nghèo, ii) xóa đói, iii) sức khỏe tốt, iv) giáo dục chất lượng cao, v) bình đẳng giới, vi) nước sạch và vệ sinh, vii) năng lượng tái tạo và có giá cả hợp lý, viii) nhiều việc làm và nền kinh tế phát triển tốt, ix) đổi mới và phát triển tốt cơ sở hạ tầng, x) giảm bất bình đẳng, xi) các thành phố và các cộng đồng bền vững, xii) sử dụng các nguồn tài nguyên một cách có trách nhiệm, xiii) hành động vì khí hậu, xiv) các đại dương bền vững, xv) sử dụng đất bền vững, xvi) hòa bình và công lý, xvii) các quan hệ đối tác cho phát triển bền vững [174]
Ngoài việc bổ sung thêm các mục tiêu và chỉ thị, các mục tiêu đặt ra của bộ chỉ thị SDG cũng chi tiết và khắt khe hơn so với bộ chỉ thị MDG Ví dụ mục tiêu giảm nghèo xuống còn 50% năm 2015 của MDGIs đã được thay thế bởi mục tiêu xóa hoàn toàn nghèo đói tới năm 2030 [194] SDG đã được xây dựng bởi sự tham gia đóng góp của cả các quốc gia đang phát triển và đã phát triển chứ không chỉ giới hạn chủ yếu bởi các quốc gia OECD và các tổ chức tài trợ như khi xây dựng bộ chỉ thị MDG nữa [111] Bên cạnh đó, các mục tiêu của SDG đã được xây dựng áp dụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới, không tập trung chủ yếu vào các quốc gia đang phát triển [159]
Trang 25Các bộ chỉ thị MDG và SDG được xây dựng theo hướng có xây dựng chỉ số tổng hợp Các chỉ số được phân chia theo 2 cấp, chỉ số mục tiêu chung và chỉ số theo các mục tiêu cụ thể Các chỉ số được xây dựng dựa trên phương pháp trung bình cộng không trọng số Phân tích trong báo cáo xây dựng chỉ số SDG của LHQ [167] chỉ ra rằng phương pháp trung bình nhân có nhiều ưu điểm so với trung bình cộng do sự đề cao tính cân bằng của các giá trị thành phần Song do kết quả xếp hạng các quốc gia không khác biệt giữa 2 phương pháp và phương pháp trung bình cộng đã được sử dụng cho MDG nên trước mắt, SDG vẫn sẽ sử dụng phương pháp trung bình cộng để tổng hợp chỉ số Quá trình chuẩn hóa chỉ thị sử dụng phương pháp chuẩn hóa Min - Max
- Khung chủ đề theo trụ cột
Ban đầu, các bộ chỉ thị PTBV xây dựng theo khung chủ đề thường nhóm các chỉ thị theo các phụ chủ đề thuộc 3 trụ cột chính của PTBV (kinh tế, xã hội và môi trường) hoặc 4 trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế) do đó được gọi là khung chủ đề theo trụ cột
Khung chủ đề theo trụ cột đã được UNCSD sử dụng trong bản hướng dẫn
SDI-GM 2001 (Phụ lục 1) Bộ chỉ thị này được chia theo 4 trụ cột chính (kinh tế - xã hội – môi trường – và thể chế) với 15 chủ đề và 58 chỉ thị [178] Các bộ chỉ thị điển hình xây dựng dựa trên khung chủ đề theo trụ cột có thể kể đến như bộ chỉ thị PTBV của Pháp (khoảng 15 chỉ thị/1 trụ cột), Luxembourge (9 chỉ thị/1 trụ cột), Alberta (từ 12 –
22 chỉ thị/1 trụ cột), Nhật bản (5 chỉ thị/1 trụ cột và có thêm 1 trụ cột thứ 4 là hạnh phúc - well-being), Mỹ (58 chỉ thị phân vào 4 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường - và thể chế)
- Khung chủ đề theo lĩnh vực
Khung chủ đề theo trụ cột có ưu điểm trong việc tạo ra một sự cân bằng về chỉ thị giữa các trụ cột Tuy nhiên, khung chủ đề còn có những nhược điểm như chưa thể hiện được mối quan hệ giữa các trụ cột và khó cho việc đề xuất các chỉ thị liên ngành [100, 108, 168] Ví dụ như các chỉ thị phản ánh vấn đề về tiếp cận nhà ở, năng lượng điện (mức sống) hay vấn đề thiên tai đã không thể đưa ra trong khung chủ đề theo trụ cột do không thể phân các chỉ thị này vào các trụ cột kinh tế, xã hội hay môi trường
Trang 26Vì vậy, khung chủ đề đã được tiếp cận theo một hướng khác, đó là phân cấp bậc
1 được chia theo các lĩnh vực (domains hay sectors) chứ không phải theo các trụ cột (kinh tế - xã hội - môi trường hay có thêm thể chế) Côté và cs (2007) trích dẫn từ [136] cho rằng cách tiếp cận khung chủ đề lĩnh vực giúp các bên liên quan dễ dàng nắm bắt vấn đề, và hỗ trợ hiệu quả hơn cho việc ra chính sách về PTBV Bên cạnh đó,
nó không cản trở việc đề xuất các chỉ thị liên ngành cũng như mối liên hệ của các chỉ thị vào các trụ cột khác nhau của PTBV
Năm 2007, LHQ đã sử dụng khung chủ đề lĩnh vực thay thế cho khung chủ đề trụ cột (được sử dụng trong hướng dẫn của LHQ năm 2001) Khung cấu trúc này đã được sử dụng để xây dựng các bộ chỉ thị PTBV cho nhiều địa phương như Iraq 2008, Oregon 2009, Hensinki 2009, Vancouver 2011, Ba Lan 2011, Đan Mạch 2012, Nam Phi 2014, Phần Lan 2014, Triều tiên 2014
1.1.2.2 Xây dựng chỉ số tổng hợp
a) Chuẩn hóa chỉ thị
Chuẩn hóa giá trị chỉ thị hay phi thứ nguyên hóa các chỉ thị là việc loại bỏ đơn
vị đo của chỉ thị Chuẩn hóa giá trị chỉ thị là yêu cầu bắt buộc trước khi tiến hành bất
kỳ phương pháp tổng hợp chỉ số nào vì chỉ thị trong cơ sở dữ liệu sử dụng các đơn vị
đo khác nhau [149] Do các chỉ thị sử dụng các đơn vị đo lường khác nhau nên việc chuẩn hóa giá trị chỉ thị là rất cần thiết cho việc tổng hợp các chỉ số tổng hợp từ các chỉ thị này
Cho đến nay, có khá nhiều các phương pháp được dùng để chuẩn hóa các chỉ thị Freudenberg (2003) liệt kê và phân tích 5 phương pháp chuẩn hóa thường được sử dụng gồm chuẩn hóa Z-score, chuẩn hóa khoảng cách với giá trị dẫn đầu (distance from the group leader), chuẩn hóa khoảng cách với giá trị trung bình (distance from the mean), chuẩn hóa khoảng cách tới tốt nhất và xấu nhất (Distance from the best and worst performers), và chuẩn hóa phân nhóm (Categorical scale) [113] Theo tài liệu này mỗi phương pháp chuẩn hóa có ưu và nhược điểm riêng, chuẩn hóa Z-score được
sử dụng nhiều nhất vì không bị ảnh hưởng bởi các số liệu cực trị như các phương pháp còn lại Chuẩn hóa phân nhóm mang nhiều tính chủ quan khi phân nhóm Phương pháp này cũng làm mất đi thông tin về độ chênh lệch giữa các quốc gia (địa phương)
Nghiên cứu của Jacobs R và cs (2004) [131] đã bổ sung thêm các phương pháp chuẩn hóa chỉ thị khác như chuẩn hóa phân hạng (Ranking), số chỉ thị trên – dưới mức trung bình (Indicators above or below the mean), tỷ số theo thời gian (Percentage of annual differences over consecutive years) Chủ yếu dựa vào 2 nghiên cứu trên, OECD (2008) đã tổng hợp thành 8 phương pháp chuẩn hóa [150] Trong tài liệu này, OECD
Trang 27đã gộp 2 phương pháp chuẩn hóa khoảng cách với giá trị dẫn đầu và chuẩn hóa khoảng cách với giá trị trung bình thành phương pháp chuẩn hóa khoảng cách tới giá trị tham chiếu (distance to a reference), đồng thời gọi chuẩn hóa khoảng cách tới giá trị lớn nhất và nhỏ nhất là chuẩn hóa Min - Max Nghiên cứu cho rằng, cũng như chuẩn hóa phân nhóm, chuẩn hóa phân hạng và chuẩn hóa số chỉ thị trên – dưới mức trung bình làm mất đi thông tin về giá trị tuyệt đối (mức độ khác nhau), chỉ có thể giữ lại giá trị tương đối để so sánh hơn kém theo thời gian hoặc phân hạng giữa các địa phương với nhau Trong khi đó phương pháp tỷ số theo thời gian chỉ có thể sử dụng để theo dõi diễn biến theo thời gian của chỉ thị [131]
Theo Blanc và cs (2008), 3 phương pháp chuẩn hóa thường được sử dụng nhất
là i) chuẩn hóa Z-score; ii) chuẩn hóa khoảng cách tới giá trị tham chiếu; và iii) chuẩn hóa Min - Max Hai phương pháp chuẩn hóa đầu tiên không đưa ra một miền giá trị sau chuẩn hóa, các giá trị sau chuẩn hóa của các chỉ thị khác nhau có miền giá trị là khác nhau Sẽ không vấn đề gì nếu chỉ quan tâm tới 1 chỉ thị, vì việc chuẩn hóa các chỉ thị đơn lẻ không làm thay đổi sự xếp hạng giữa các chỉ thị Tuy nhiên nó trở nên phức tạp trong trường hợp tổng hợp các chỉ thị đơn lẻ thành chỉ số vì sự khác nhau về miền giá trị sẽ trở thành những trọng số ngầm trong quá trình tổng hợp Lợi thế của hai phương pháp này là không bị ảnh hưởng nhiều bởi các giá trị cực đoan, trong khi phương pháp còn lại (Min-Max) chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các giá trị cực đoan và
có thể các giá trị đó là giá trị sai của dữ liệu
Trong một nghiên cứu tổng hợp, Singh và cs (2012) đã tổng hợp đến 41 bộ chỉ
số [164], trong đó 8 bộ chỉ số sử dụng phương pháp chuẩn hóa Min - Max, 7 chỉ số sử dụng phương pháp chuẩn hóa Z-score, 5 chỉ số sử dụng phương pháp chuẩn hóa khoảng cách tới điểm tham chiếu, 4 chỉ số sử dụng phương pháp tỷ số theo thời gian, 4 chỉ số sử dụng phương pháp phân nhóm, 3 chỉ số sử dụng phương pháp phân hạng Các chỉ số còn lại sử dụng các phương pháp khác, chỉ có một chỉ số không sử dụng phương pháp chuẩn hóa nào do chỉ số chỉ gồm 3 chỉ thị
Hudrlíková và Jana Kramulová (2013) đã sử dụng 5 phương pháp chuẩn hóa được cho là sử dụng phổ biến nhất gồm chuẩn hóa phân hạng, chuẩn hóa phân nhóm, chuẩn hóa khoảng cách tới giá trị tham chiếu, chuẩn hóa z-score và chuẩn hóa Min - Max một cách độc lập để tìm ra một phương pháp chuẩn hóa phù hợp nhất cho nghiên cứu của mình Trong nghiên cứu của này, tác giả đã lập luận và xếp phương pháp chuẩn hóa số chỉ thị trên – dưới mức trung bình là một trường hợp cụ thể, đơn giản của phương pháp phân nhóm Nghiên cứu đã kết luận rằng mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng Việc lựa chọn phương pháp chuẩn hóa phụ thuộc nhiều vào mục đích đặt ra của thiết kế chỉ thị [125]
Trang 28Luận án tổng hợp, phân tích ưu nhược điểm của 5 phương pháp chuẩn hóa thường được sử dụng nhất Các phân tích này là cơ sở lý luận cho việc đề xuất lựa chọn và sử dụng phương pháp chuẩn hóa chỉ thị Bộ chỉ thị PTBV Gia Lai Cụ thể: (1) Đơn giản nhất là phương pháp chuẩn hóa phân hạng (Ranking), trong đó, sự xếp hạng của các quốc gia (các địa phương) có thể được theo dõi theo thời gian dựa trên vị trí so sánh giữa chúng Giá trị các chỉ thị sau chuẩn hóa giúp quan sát sự biến đổi vị trí qua các năm hay so sánh sự khác nhau về vị trí giữa các địa phương Tuy nhiên không thể sử dụng phương pháp này nếu muốn đánh giá mức độ khác biệt giữa các địa phương vì phương pháp không đưa ra thông tin về mức độ mà chỉ đưa ra vị trí
so sánh tương đối
(2) Phương pháp phân nhóm (Catogery) sẽ phân giá trị chỉ thị thành các nhóm khác nhau Thông thường nhất là chia thành 3 hoặc 5 nhóm, chẳng hạn rất kém, kém, trung bình, tốt, rất tốt Mỗi nhóm thường được gắn điểm từ 1 – 5 hoặc 0%, 25%, 50%, 75%
và 100% Trong phương pháp này, mỗi nhóm sẽ cần có một ngưỡng giá trị riêng ví dụ:
{
(1)
Hạn chế của phương pháp này là việc xác định các ngưỡng giá trị cho mỗi nhóm Bên cạnh đó, việc phân nhóm khiến cho các địa phương có giá trị chỉ thị khác nhau sẽ không có sự phân biệt khi đã được gộp vào một nhóm Nói cách khác, việc phân nhóm chỉ thị làm mất đi thông tin về mức độ so sánh
(3) Khoảng cách tới giá trị tham chiếu (Distance to a reference) là phương pháp chuẩn hóa dựa trên tỷ số giữa giá trị thực tế với một giá trị được tham chiếu Giá trị tham chiếu có thể là giá trị lớn nhất hoặc giá trị trung bình của số liệu Khoảng cách tới giá trị tham chiếu được tính theo công thức (4)
Đối với các chỉ thị có giá trị biến thiên nhỏ (giữa các địa phương hoặc theo năm) thì giá trị sau chuẩn hóa thường ít chênh lệch Trong khi đó nếu các chỉ thị có giá trị biến thiên nhiều, giá trị sau chuẩn hóa cũng chênh lệch lớn
Bên cạnh đó, các chỉ thị khác nhau sẽ có các miền giá trị sau chuẩn hóa khác nhau Sự khác nhau bởi các miền giá trị đóng vai trò như một trọng số ngầm Điều này dẫn đến sự mất cân đối giữa các chỉ thị và việc tổng hợp chỉ số trở nên khó khăn phức tạp hơn Một hạn chế khác, nếu sử dụng giá trị lớn nhất làm đối tượng tham chiếu sẽ dẫn đến sự phụ thuộc vào các giá trị cực trị Một khi các giá trị cực trị này có vấn đề thì sẽ làm ảnh hưởng tới tính chính xác của kết quả
Trang 29(4) Trong phương pháp chuẩn hóa Z-scores, chỉ thị được phi thứ nguyên bằng cách lấy hiệu số của giá trị thực tế và giá trị trung bình/độ lệch chuẩn của số liệu Chuẩn hóa theo phương pháp này sẽ giữ được thông tin về mức độ so sánh tuyệt đối Do đó
có thể đánh giá được mức độ của từng chỉ thị riêng lẻ là cao hay thấp Một ưu điểm khác của phương pháp là không chịu ảnh hưởng bởi các giá trị biên (giá trị cực trị)
có thể áp dụng để so sánh giữa các địa phương trong một năm mà không thể so sánh, đánh giá theo thời gian [155]
(5) Cũng giữ được thông tin về mức độ so sánh như phương pháp khoảng cách tới giá trị tham chiếu và chuẩn hóa Z-score, nhưng chuẩn hóa Min - Max chuyển đổi giá trị tất cả các chỉ thị vào một miền giá trị chung ([0 1], [0 10], [0 100] ) Trong phương pháp chuẩn hóa này, người ta sử dụng giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất của tập hợp số liệu các địa phương trong năm làm giá trị cận trên (Max) và cận dưới (Min)
và được tính dựa trên công thức (4)
(4)
Chuẩn hóa Min - Max được sử dụng phổ biến không chỉ do cách tính chỉ thị và quá trình tổng hợp chỉ số đơn giản mà còn dựa trên việc đưa tất cả các chỉ thị về một miền giá trị Do các chỉ thị sau chuẩn hóa có chung một miền giá trị nên việc tổng hợp chỉ số từ các chỉ thị trở nên đơn giản và thuận lợi hơn so với các phương pháp chuẩn hóa khác Bên cạnh đó, do giữ được thông tin về mức độ nên người ta có thể đánh giá được mức độ của chỉ thị theo miền giá trị đã đặt ra (giả sử miền giá trị [0 1])
Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này chính là việc các giá trị Min - Max sẽ thay đổi theo thời gian Vì vậy, trong một biến thể của phương pháp này, người ta sử dụng giá trị lớn nhất và nhỏ nhất trong chuỗi thời gian từ (t0 – t1) của tập hợp số liệu các địa phương làm giá trị cận trên (Max) và cận dưới (Min) [149]
Một hạn chế khác của phương pháp đó là việc phụ thuộc vào các giá trị cực trị Đôi khi các giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của chuỗi số liệu là các giá trị cực đoan, hoặc đơn giản hơn là do nhập liệu sai hoặc lỗi số liệu Vì vậy, cần chú ý vấn đề này trong quá trình xử lý dữ liệu
Trang 30Tại Việt Nam, ngoài những bộ chỉ thị (có tổng hợp chỉ số) mang tính quốc tế như bộ chỉ thị phát triển con người (HDI) hay bộ chỉ thị phát triển liên quan đến giới (GDI), cũng có một số nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị có tổng hợp chỉ số Trong số đó
có một số bộ chỉ thị không đề cập đến phương pháp chuẩn hóa như chỉ thị môi trường lưu vực sông [36], chỉ thị dễ tổn thương lũ lụt lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn [82] và
bộ chỉ thị PTBV của Nguyễn Văn Vượng và cs [85] Các bộ chỉ thị khác tại Việt Nam như bộ chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), chỉ số tổng hợp phát triển kinh tế [32], chỉ số chất lượng dân số [18],
bộ chỉ thị PTBV dự án VIE/01/021 [183], bộ chỉ thị PTBV về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Tây Nguyên [88] đều sử dụng phương pháp chuẩn hóa Min - Max b) Xây dựng chỉ số tổng hợp
Để xây dựng chỉ số tổng hợp, người ta sử dụng các phương pháp tổng hợp chỉ
số (aggregation methods) Theo tổng hợp của NCS, hiện chưa có một hướng dẫn cụ thể nào cho việc xây dựng chỉ số phục vụ đánh giá PTBV được công bố Nhìn chung, các chỉ số hiện có trên thế giới được xây dựng dựa trên sự tổng hợp các chỉ thị thành phần thông qua: (i) trung bình không trọng số (bình quân giản đơn); hay (ii) trung bình
có trọng số (bình quân gia quyền) của các chỉ thị đã chuẩn hóa Trung bình không trọng số (i) là cách tính đơn giản, dễ tính và có thể áp dụng một cách thuận tiện Trong cách tính này, vai trò mỗi chỉ thị là ngang nhau Khác với trung bình không trọng số, trung bình có trọng số (ii) có cách tính toán phức tạp hơn, mỗi chỉ thị phải có trọng số riêng, đóng vai trò biểu thị tầm quan trọng của mỗi chỉ thị đối với giá trị tổng hợp
Giữa các bộ chỉ thị có tổng hợp chỉ số trên thế giới, không có ưu thế trong việc
sử dụng phương pháp trung bình (PPTB) có trọng số hay không có trọng số Một số bộ chỉ thị sử dụng PPTB có trọng số như: EPI, WI, CSDI , một số khác sử dụng PPTB không trọng số: ESI, HDI, LPI, MDG (nay là SDG)
Các phương pháp tính trung bình lại được chia ra thành trung bình cộng và trung bình nhân Để tính trung bình cộng và trung bình nhân người ta sử dụng 2 công thức (5) và (6), trong đó A (chỉ số tổng hợp); n (số chỉ thị); và Ii (chỉ thị thứ i)
Trước năm 2010, đa số các bộ chỉ thị sử dụng PPTB cộng Trong các bộ chỉ số
kể trên, chỉ có LPI đã sử dụng PPTB nhân Năm 2010, phân tích các ưu thế của PPTB nhân trong việc đề cao sự cân bằng giữa các thành phần, HDI đã chuyển từ PPTB cộng sang trung bình nhân trong việc tính toán tổng hợp chỉ số [165] Bộ chỉ thị mục tiêu thiên niên kỷ MDG (nay là mục tiêu PTBV - SDG) đã tổng hợp chỉ số dựa trên PPTB cộng Nhưng năm 2017, nghiên cứu xây dựng chỉ số SDG [167] cũng đã chỉ ra những
ưu thế của PPTB nhân so với phương pháp trung bình cộng
Trang 31Các nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị PTBV (có tổng hợp chỉ số) tại Việt Nam không sử dụng PPTB nhân trong quá trình tổng hợp chỉ số hoặc không đề cập tới phương pháp tổng hợp chỉ số Để tổng hợp chỉ số, nghiên cứu của UNDP và MPI (2006) [183] đã tổng hợp chỉ số dựa trên PPTB cộng có trọng số, nghiên cứu của Trần Văn Ý và cs (2015) [88] sử dụng PPTB cộng không trọng số Nghiên cứu của Nguyễn Văn Vượng và cs (2015) không đề cập tới phương pháp tổng hợp chỉ số [85]
Phân tích các bộ chỉ thị PTBV tại Việt Nam
1.1.3.
Bộ chỉ thị về phát triển bền vững đã được các nhà khoa học nước ta quan tâm nghiên cứu từ những năm cuối 1990 Luận án nhóm các bộ chỉ thị PTBV tiêu biểu tại Việt Nam theo cấp lãnh thổ (cấp quốc gia và cấp tỉnh) và tiến hành phân tích làm cơ sở đúc rút kinh nghiệm xây dựng bộ chỉ thị PTBV tỉnh Gia Lai
1.1.3.1 Các bộ chỉ thị cấp quốc gia
a) Các bộ chỉ thị sử dụng khung cấu trúc nhân quả:
Năm 1998, bộ chỉ thị phát triển bền vững đầu tiên của Việt Nam được Cục môi trường ban hành thử nghiệm dựa trên khung nhân quả DPSIR gồm 80 chỉ thị, được phân thành 9 nhóm chủ đề của 3 lĩnh vực [183]: Kinh tế - xã hội (20 chỉ thị): 3 chỉ thị kinh tế và 17 chỉ thị xã hội; Môi trường (44 chỉ thị): 7 chỉ thị môi trường đất; 5 chỉ thị môi trường nước trên lục địa; 4 chỉ thị môi trường biển; 6 chỉ thị môi trường không khí; 3 chỉ thị chất thải rắn; 11 chỉ thị đa dạng sinh học; 8 chỉ thị sự cố môi trường; Quản lý môi trường: 16 chỉ thị
Trong báo cáo không đề cập tới các quy trình xây dựng danh sách, nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị cũng như phương pháp chuẩn hóa và xây dựng chỉ số Được xây dựng dựa trên khung cấu trúc nhân quả, rõ ràng bộ chỉ thị này quá thiên về lĩnh vực môi trường và quản lý môi trường (60/80 chỉ thị) mà không quan tâm nhiều tới khía cạnh phát triển kinh tế - xã hội (20/80 chỉ thị)
Năm 2003, trong khuôn khổ đề tài khoa học của Liên hiệp các Hội Khoa học
Kỹ thuật Việt Nam, Lê Thành và cs [56] đã đề xuất bộ chỉ thị PTBV dựa trên khung nhân quả gồm 42 chỉ thị của 4 lĩnh vực: Kinh tế (5 chỉ thị), xã hội (16 chỉ thị), môi trường (17 chỉ thị) và Đáp ứng đảm bảo phát triển bền vững (4 chỉ thị) Cũng trong tài liệu này, bộ chỉ thị rút gọn đã được đề xuất với 25 chỉ thị gồm 4 chỉ thị kinh tế, 9 chỉ thị xã hội, 10 chỉ thị môi trường và 3 chỉ thị đáp ứng đảm bảo PTBV Báo cáo này cũng không đề cập tới các nguyên tắc và quy trình đề xuất chỉ thị
Mặc dù tỷ lệ về số lượng chỉ thị môi trường trên tổng số chỉ thị đã giảm xuống nhưng các chỉ thị về lĩnh vực kinh tế còn chiếm tỷ lệ rất thấp (5/42 ở bộ chỉ thị đầy đủ
và 4/26 của bộ chỉ thị chính), và do đó, bộ chỉ thị này cũng chưa có được sự cân bằng, hài hòa tương đối giữa các lĩnh vực phát triển
Trang 32b) Các bộ chỉ thị sử dụng khung cấu trúc theo mục đích:
Hai bộ chỉ thị xây dựng dựa trên khung cấu trúc theo mục đích được sử dụng rộng rãi trên thế giới là MDG và SDG Hai bộ chỉ thị trên được xây dựng để theo dõi việc thực hiện các mục tiêu chung của các quốc gia trên thế giới Các bộ chỉ thị này có xây dựng chỉ số tổng hợp dựa trên PPTB cộng không trọng số và chuẩn hóa bằng phương pháp chuẩn hóa Min - Max Bộ chỉ thị MDG của Việt Nam đã kế thừa khung cấu trúc và các phương pháp chuẩn hóa, tổng hợp chỉ số LHQ đã đề xuất
Thực hiện cam kết theo dõi tiến trình thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, năm
2005, Việt Nam bắt đầu thực hiện xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu mục tiêu thiên niên
kỷ (MDGs) và đề xuất các mục tiêu phát triển của Việt Nam (VDGs) Cơ sở dữ liệu bao gồm 48 chỉ thị MDGs và 35 chỉ thị VDGs (theo 8 mục tiêu chung và 18 mục tiêu
cụ thể) Từ năm 2010, hàng năm, Việt Nam thực hiện lập báo cáo tiến trình thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam và gửi tới LHQ Trong báo cáo nêu rõ các mục tiêu/chỉ thị nào đã đạt hoặc chưa đạt được mục tiêu đề ra của LHQ
Kết thúc giai đoạn theo dõi tiến trình thực hiện MDG (năm 2015), LHQ bắt đầu
đề xuất bộ chỉ thị SDG để theo dõi quá trình thực hiện chương trình nghị sự 2030 của các quốc gia thành viên Bản chỉnh sửa cập nhật nhất của bộ chỉ thị SDG được công bố tháng 3 năm 2017 Để thực hiện các cam kết trong chương trình nghị sự 2030, thủ tướng chính phủ phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia QĐ 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 Trong Quyết định có đề cập tới việc xây dựng và ban hành hệ thống chỉ thị SDG Việt Nam Hiện nay, chính phủ vẫn chưa ban hành bộ chỉ thị này
c) Các bộ chỉ thị sử dụng khung cấu trúc theo chủ đề:
Năm 2006, trên cơ sở hướng dẫn và phương pháp luận 2001 của Ủy ban PTBV LHQ [178], Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với UNDP tại Việt Nam triển khai dự
án “Xác định Bộ chỉ thị PTBV và xây dựng một CSDL giám sát PTBV ở Việt Nam” (Dự án VIE/01/021) Để xây dựng danh sách chỉ thị, nghiên cứu đã đặt ra 4 nguyên tắc gồm: i) phù hợp với các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 đã được Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua; Thích hợp với các ưu tiên của Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo; và tuân theo những định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam); ii) phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam;
bộ chỉ thị được xây dựng phải đảm bảo tính cân đối tương đối giữa các chủ đề; có tính
mở để cập nhật khi có những thông tin mới; iii) bộ chỉ thị phải tương thích theo thông
lệ quốc tế, có khả năng so sánh với trình độ phát triển bền vững của các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới; iv) bộ chỉ thị được lựa chọn phải đảm bảo tính khả thi
và lượng hoá trên cơ sở hệ thống thống kê hiện hành của CHXHCN Việt Nam
Trang 33Sau khi đề ra các nguyên tắc, dự án này đã kiến nghị lựa chọn chỉ thị dựa trên các bước sau: i) sử dụng khung chủ đề theo trụ cột SDI-GM 2001 làm khung cơ sở, đề xuất một bộ chỉ thị khởi đầu dựa trên các chỉ thị SDI-GM 2001 và các bộ chỉ thị đã tồn tại; ii) xây dựng bộ chỉ thị mang tính khả thi bằng cách tra soát bộ chỉ thị khởi đầu bên trên với các chỉ thị dự kiến ban hành của Tổng cục Thống kê (để đảm bảo tính thống
kê được); iii) cuối cùng dự án tham khảo ý kiến chuyên gia để loại trừ những chỉ thị không đại diện và bổ sung những chỉ thị mới theo nguyên tắc cân đối các khía cạnh phát triển Bộ chỉ thị trong nghiên cứu được xây dựng theo hướng có tổng hợp chỉ số
Để tổng hợp chỉ số, các chỉ thị được chuẩn hóa theo phương pháp Min - Max Phương pháp tổng hợp chỉ số được đề xuất là phương pháp trung bình cộng có trọng số và các chỉ số được tính theo 2 mức độ, chỉ số theo trụ cột và chỉ số PTBV chung
Kết quả, bộ chỉ thị PTBV đã được xây dựng dựa trên cấu trúc chủ đề theo hướng dẫn của UNCSD (2001) với 4 trụ cột (KT-XH-MT và thể chế), 55 chỉ thị cấp quốc gia, trong đó có 14 chỉ thị kinh tế; 23 chỉ thị xã hội; 13 chỉ thị tài nguyên-môi trường; và 5 chỉ thị thể chế
Năm 2010, trong nghiên cứu “đánh giá tình hình xây dựng và sử dụng các chỉ thị PTBV và đề xuất khung cấu trúc bộ chỉ thị phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam”
do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt hàng, Trương Quang Học và Võ Thanh Sơn đã kế thừa
có cập nhật và bổ sung các nguyên tắc của dự án VIE/01/021 Các nguyên tắc gồm: i) các chỉ thị phải tiên tiến, phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác kế hoạch hóa hiện nay
và có khả năng áp dụng vào thực tiễn; ii) phù hợp với các mục tiêu và nội dung của Định hướng chiến lược và phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 – 2015, Chiến lược Bảo vệ môi trường đến 2010 và định hướng đến 2020 và mục tiêu thiên niên kỷ, đồng thời phải thích hợp với ưu tiên của Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, phù hợp với nội dung của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia của tổng cục thống kê; iii) phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam; bộ chỉ thị được xây dựng phải đảm bảo tính cân đối tương đối giữa các chủ đề; có tính mở để cập nhật khi có những thông tin mới, đặc biệt theo SDI-GM 2007; iv) bộ chỉ thị phải tương thích theo thông lệ quốc tế, có khả năng so sánh với trình độ PTBV của các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới; v) bộ chỉ thị được lựa chọn phải đảm bảo tính khả thi và lượng hóa được trên cơ sở hệ thống thống kê hiện hành của Việt Nam; vi) hơn nữa, khi áp dụng bộ chỉ thị PTBV của LHQ vào bộ chỉ thị quốc gia, cần chú ý đến tính thích hợp của Bộ chỉ thị quốc gia cũng như sự sẵn có cơ sở dữ liệu để xây dựng và thực hiện những chỉ thị đó [28]
Trang 34Để xác định danh sách chỉ thị đáp ứng được các nguyên tắc đặt ra, nghiên cứu cũng đã đề xuất quy trình lựa chọn chỉ thị Quy trình này cơ bản dựa trên quy trình đã
áp dụng trong nghiên cứu dự án VIE/01/021 nhưng sử dụng khung cấu trúc trong phiên bản SDI-GM năm 2007 thay cho phiên bản năm 2001, cập nhật thêm chỉ thị mới được ban hành, đề xuất các chỉ thị tổng hợp và cho phép đề xuất thêm các chỉ thị có tính đặc thù địa phương Quy trình cụ thể gồm các bước: i) đưa ra các nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị; ii) lựa chọn khung chủ đề theo cách tiếp cận lĩnh vực SDI-GM 2007 làm khung xây dựng chỉ thị thay cho khung chủ đề theo trụ cột; iii) cập nhật những chỉ thị theo kế hoạch phát triển KTXH 2010 – 2015, cập nhật những chỉ thị của Tổng cục thống kê và những bộ chỉ thị có liên quan khác trong các chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động để đảm bảo các nguyên tắc về tính kế thừa các bộ chỉ thị sẵn
có tại Việt Nam và mang tính cập nhật; iv) Đề xuất những chỉ thị mới theo nguyên tắc tích hợp nhiều chỉ thị sẵn có mang tính liên ngành dựa trên những nghiên cứu hệ thống
và lồng ghép vào mạng lưới Tổng cục thống kê để đảm bảo nguyên tắc khả thi của số liệu; v) Đề xuất những chỉ thị phát triển bền vững cho địa phương phải xét đến nguyên tắc về điều kiện đặc thù của địa phương đó Kết quả, nghiên cứu đã đề xuất 2 bộ chỉ thị PTBV ở các cấp Quốc gia và địa phương Bộ chỉ thị PTBV cấp quốc gia bao gồm
10 chỉ thị tổng hợp, 6 chỉ thị kinh tế, 20 chỉ thị xã hội, 15 chỉ thị môi trường
Như vậy, mặc dù trong quá trình tổng quan, các tác giả đã đề cập đến SDI-GM
2007 và có cập nhật khung chỉ thị của SDI-GM 2007 vào các nguyên tắc và quy trình
đề xuất chỉ thị nhưng bộ chỉ thị kết quả lại được phân chia theo 3 trụ cột Kinh tế - Xã hội - Môi trường
Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 về Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 kèm bộ chỉ thị giám sát và đánh giá PTBV Việt Nam giai đoạn 2011–2020, gồm 3 chỉ thị tổng hợp, 10 chỉ thị kinh tế, 10 chỉ thị xã hội và 7 chỉ thị về tài nguyên và môi trường (Phụ lục 5) Đây là một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng bộ chỉ thị PTBV khi lần đầu tiên một bộ chỉ thị PTBV được đưa vào hệ thống văn bản pháp luật của chính phủ
Cũng như bộ chỉ thị do Trương Quang Học (2010) đề xuất, bộ chỉ thị này cũng
đề xuất thêm các chỉ thị tổng hợp Việc xuất hiện các chỉ thị tổng hợp (GRDP xanh, chỉ số phát triển con người và chỉ số bền vững môi trường) sẽ giúp giảm bớt số lượng chỉ thị của bộ chỉ thị đề xuất Tuy nhiên, để tính toán các chỉ thị tổng hợp này, nhiều chỉ thị đầu vào (các chỉ thị về chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường, mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ, và 21 chỉ thị bền vững môi trường) cần được thu thập, tính toán Việc ẩn đi các chỉ thị đầu vào này vô tình làm mất các thông số chỉ báo
để theo dõi, đánh giá PTBV một cách chi tiết
Trang 351.1.3.2 Các bộ chỉ thị cấp tỉnh
Trong các bộ chỉ thị PTBV đã tổng quan, dự án VIE/01/021 (2006) và nghiên cứu của Trương Quang Học (2010) đã đề xuất các bộ chỉ thị PTBV riêng biệt cho cấp quốc gia và cấp tỉnh Trong khi dự án VIE/01/021 đề xuất 55 chỉ thị ở cấp quốc gia thì
ở cấp tỉnh, dự án đề xuất 32 chỉ thị Đối với nghiên cứu của Trương Quang Học và Võ Thanh Sơn (2010), số lượng chỉ thị cấp quốc gia là 51, cấp tỉnh là 27 chỉ thị Quy trình xây dựng danh sách chỉ thị, nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị và khung cấu trúc chỉ thị của 2 nghiên cứu này đã được đề cập cụ thể trong mục 1.1.3.1 ở trên
Các bộ chỉ thị PTBV cấp tỉnh ở Việt Nam đều được xây dựng dựa trên khung cấu trúc chủ đề Đa số các bộ chỉ thị được xây dựng dựa trên khung cấu trúc chủ đề theo trụ cột trong hướng dẫn SDI-GM 2001, chỉ có 2 nghiên cứu gần đây sử dụng khung cấu trúc chủ đề theo lĩnh vực (SDI- GM 2007) là nghiên cứu của Hai Le Trinh
và cs (2013) [117], và Trần Văn Ý và cs (2015) [88]
Năm 2006, một số tỉnh tại Việt Nam (Bến Tre, Lâm Đồng, Ninh Bình, Quảng Nam, Thái Nguyên, Yên Bái) đã xây dựng báo cáo định hướng chiến lược PTBV của tỉnh phục vụ thực hiện chương trình Agenda 21 Trong các báo cáo đều có nội dung theo dõi quá trình thực hiện chiến lược PTBV dựa trên danh sách các chỉ thị chủ yếu
và mục tiêu cần đạt trong giai đoạn 2006 – 2010 [70, 75-79] Các chỉ thị được sử dụng trong báo cáo chủ yếu dựa trên danh sách các chỉ thị PTBV của chương trình nghị sự Agenda 21 và thường được nhóm theo các trụ cột Kinh tế – Xã hội – Môi trường Số lượng các thị này có sự chênh lệch khá lớn giữa các tỉnh, từ 17 chỉ thị (Ninh Bình) cho tới 61 chỉ thị (Yên Bái) Trong phần “Tổ chức thực hiện chiến lược phát triển bền vững”, các báo cáo đều có khuyến nghị xây dựng bộ chỉ thị PTBV Tuy vậy, trên thực
tế các bộ chỉ thị PTBV đã chưa được xây dựng và thực hiện thu thập, tính toán số liệu
Năm 2009, nghiên cứu của Hai Le Trinh và cs đã đề xuất bộ chỉ thị PTBV tỉnh Quảng Trị dựa trên quy trình 2 bước gồm: (i) đề xuất danh sách chỉ thị sơ bộ theo khung cấu trúc chủ đề trụ cột dựa trên việc tổng hợp các bộ chỉ thị PTBV của Indonesia, Vương quốc Anh, của dự án Dự án VIE/01/021 [183], danh sách chỉ thị trong báo cáo định hướng chiến lược PTBV các tỉnh Lâm Đồng, Quảng Nam, Thái Nguyên [75, 77, 78]; (ii) Sử dụng phương pháp chuyên gia Delphi để chốt danh sách cuối cùng Sau 2 vòng lặp Delphi, từ 72 chỉ thị sơ bộ, danh sách chỉ thị PTBV tỉnh Quảng Trị được đề xuất gồm 39 chỉ thị, trong đó có 17 chỉ thị xã hội, 12 chỉ thị môi trường, 3 chỉ thị kinh tế và 5 chỉ thị thể chế [119]
Năm 2013, Hai Le Trinh và cs đề xuất bộ chỉ thị PTBV tỉnh Thái Bình dựa trên quy trình 2 bước i) đề xuất danh sách chỉ thị sơ bộ theo khung cấu trúc chủ đề lĩnh vực dựa trên việc tổng hợp các bộ chỉ thị PTBV của Việt Nam, Indonesia, Vương quốc
Trang 36Anh, Trung Quốc, Thái Lan, Thụy Điển; (ii) Sử dụng phương pháp chuyên gia Delphi
để chốt danh sách cuối cùng Sau 2 vòng lặp Delphi, từ 98 chỉ thị sơ bộ, danh sách chỉ thị PTBV tỉnh Thái Bình được đề xuất gồm 69 chỉ thị, trong đó có 15 chỉ thị phát triển kinh tế, 5 chỉ thị về biển và đới bờ, 1 chỉ thị quan hệ kinh tế quốc tế, 4 chỉ thị phương thức sản xuất và tiêu dùng, 7 chỉ thị nghèo đói, 3 chỉ thị quản trị, 9 chỉ thị sức khỏe, 4 chỉ thị giáo dục, 3 chỉ thị dân số, 2 chỉ thị thiên tai, 5 chỉ thị không khí, 7 chỉ thị quản
lý và sử dụng đất đai, 3 chỉ thị về tài nguyên nước ngọt [117]
Như vậy, trong quy trình đề xuất danh sách chỉ thị PTBV tỉnh Quảng Trị và Thái Bình, Hai Le Trinh và cs đã sử dụng phương pháp chuyên gia Delphi để lựa chọn chỉ thị Trong khi nghiên cứu năm 2009, bộ chỉ thị được cấu trúc theo khung chủ đề trụ cột (bộ chỉ thị PTBV Quảng Trị) thì nghiên cứu năm 2013, bộ chỉ thị đã được đề xuất dựa trên khung cấu trúc chủ đề lĩnh vực Hai nghiên cứu trên đã đề xuất danh sách chỉ thị nhưng không thực hiện tính toán và đánh giá thử nghiệm PTBV cho các tỉnh đã xây dựng bộ chỉ thị
Cuối năm 2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng bộ chỉ thị giám sát, đánh giá PTBV địa phương cho giai đoạn 2013-2020 nhằm tạo căn cứ pháp lý để thống nhất quản lý, giám sát và đánh giá việc triển khai thực hiện chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011-2020 ở cấp địa phương, đồng thời từng bước tạo ra hệ thống thông tin thống nhất, minh bạch từ Trung ương tới địa phương để giám sát và đánh giá tiến trình thực hiện Chiến lược PTBV
Bộ chỉ thị này được xây dựng trên cơ sở các chỉ thị giám sát, đánh giá PTBV quốc gia và hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, bảo đảm bám sát các mục tiêu, định hướng ưu tiên phát triển của Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và được áp dụng cho các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương Các nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị được đưa ra gồm: i) phù hợp với mục tiêu, định hướng ưu tiên của Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 432/QĐ-TTg, ngày 15/4/2012; ii) phù hợp với bộ chỉ thị giám sát
và đánh giá PTBV ban hành kèm theo Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2020; iii) phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam; iv) kế thừa có chọn lọc bộ chỉ thị PTBV đã xây dựng trong các nghiên cứu trước; v) có khái niệm và phương pháp tính rõ ràng
2011-Bộ chỉ thị giám sát, đánh giá PTBV địa phương giai đoạn 2013-2020 (Phụ lục 6) được chia thành 2 loại, chỉ thị chung và chỉ thị đặc thù địa phương Bộ chỉ thị chung gồm 29 chỉ thị trong đó có 1 chỉ thị tổng hợp, 7 chỉ thị kinh tế, 11 chỉ thị xã hội và 10 chỉ thị về lĩnh vực tài nguyên và môi trường Đối với các vùng sẽ áp dụng thêm các chỉ thị đặc thù: Vùng Trung du và Miền núi 1 chỉ thị, Vùng Đồng bằng 2 chỉ thị, Vùng ven biển 2 chỉ thị, Đô thị trực thuộc Trung ương 5 chỉ thị và Vùng Nông thôn 5 chỉ thị
Trang 37Cũng như đa số bộ chỉ thị PTBV của Việt Nam, danh sách chỉ thị giám sát, đánh giá PTBV địa phương giai đoạn 2013-2020 được đề xuất không qua quá trình rà soát với tình hình số liệu thực tế Vì vậy, tính khả thi trong thu thập và tính toán số liệu chỉ thị là tương đối thấp
Năm 2015, đề tài “Nghiên cứu, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc” [85] thuộc chương trình Tây Bắc đã tiến hành thu thập và tính toán 35 chỉ thị (29 chỉ thị chung, 6 chỉ thị đặc thù) của bộ chỉ thị giám sát và đánh giá PTBV địa phương cho các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc (12 tỉnh theo ranh giới quản lý của Ban chỉ đạo Tây Bắc) cho các năm từ 2010 - 2013 Kết quả, 19/35 chỉ thị không thu thập được số liệu đối với tất cả 12 tỉnh Tây Bắc Tỉnh thu thập đầy đủ số liệu nhất là Cao Bằng với 16/35 chỉ thị có số liệu (năm 2013) Tỉnh Phú Thọ, năm 2010 đã thu thập tính toán được ít chỉ thị nhất (10/35 chỉ thị) Đề tài cũng tiến hành tính toán các chỉ số kinh tế, xã hội, môi trường và chỉ số PTBV chung cho các tỉnh Tây Bắc Tuy vậy, trong báo cáo tổng hợp của đề tài không nêu rõ phương pháp chuẩn hóa cũng như phương pháp tổng hợp chỉ số
Cũng năm 2015, đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị phát triển bền vững về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh Tây Nguyên” [88] đã xây dựng danh sách chỉ thị, tính toán giá trị, chuẩn hóa chỉ thị và tính toán tổng hợp chỉ số phục
vụ theo dõi và đánh giá lãnh thổ Tây Nguyên Nghiên cứu này vừa xây dựng danh sách vừa tiến hành thu thập số liệu và tính toán các giá trị các chỉ thị
Để xây dựng danh sách chỉ thị, đề tài đưa ra các nguyên tắc như sau: i) phù hợp với quan điểm của “Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”; ii) phù hợp với thông lệ quốc tế, bộ chỉ thị phải bao quát được các vấn đề về PTBV; các chỉ thị đảm bảo tính độc lập, tính cân đối tương đối giữa các chủ đề; iii) phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển Tây Nguyên; iv) kế thừa có chọn lọc bộ chỉ thị giám sát, đánh giá PTVB địa phương giai đoạn 2013-2020; v) bộ chỉ thị được lựa chọn phải đảm bảo tính khả thi và lượng hoá trên cơ sở hệ thống thống kê hiện hành và những phương pháp tính toán khả thi
Để thực hiện đề xuất chỉ thị đáp ứng các nguyên tắc đặt ra, đề tài đã tiến hành 3 bước: i) đề xuất các nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị; ii) trên cơ sở hướng dẫn của LHQ [180], dự án VIE/01/021 [183], quyết định phê duyệt Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 [58] và hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia [4] đề xuất một danh sách các chỉ thị mang tính “phổ quát” về mặt quốc tế và quốc gia; iii) tiến hành tham vấn các chuyên gia chuyên sâu về PTBV bằng các phiếu hỏi sử dụng kỹ thuật Delphi
Trang 38Mặc dù trong quá trình xây dựng danh sách chỉ thị, đề tài sử dụng khung chủ đề lĩnh vực nhưng danh sách chỉ thị kết quả lại được nhóm theo 3 trụ cột kinh tế, xã hội
và môi trường Việc nhóm các chỉ thị/chủ đề theo 3 trụ cột chỉ mang tính tương đối vì
có nhiều chỉ thị/chủ đề vừa phản ánh các vấn đề kinh tế, xã hội hay môi trường như các chủ đề mức sống, thiên tai Do đó, các chỉ số theo trụ cột (được tổng hợp từ các chủ đề) phản ánh có phần chưa chính xác về các trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường Bên cạnh đó, việc tổng hợp chỉ số chủ đề trực tiếp từ các chỉ thị mà bỏ qua cấp chỉ số phụ chủ đề cũng là một thiếu sót của nghiên cứu này
Để phục vụ quá trình tổng hợp chỉ số, đề tài trên đã sử dụng phương pháp chuẩn hóa Min - Max chuẩn hóa chỉ thị Tuy nhiên đề tài chưa xây dựng được cơ sở lý luận
rõ ràng cho việc xác định các ngưỡng giá trị Phương pháp tổng hợp chỉ số được đề tài
sử dụng là phương pháp trung bình cộng không trọng số
Các nghiên cứu về tỉnh Gia Lai có liên quan đến luận án
1.1.4.
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tỉnh Gia Lai Có những nghiên cứu chung cho cả vùng Tây Nguyên, có những nghiên cứu riêng cho địa bàn tỉnh Nhìn chung có thể chia thành 4 nhóm nghiên cứu chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu khoa học xã hội: Nhóm này chủ yếu là các
công trình nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế trang trại, du lịch, phát triển kinh tế
xã hội cộng đồng dân tộc, như các công trình Điều tra tình hình kinh tế trang trại tỉnh Gia Lai (Sở NN&PTNT 1999); Kinh tế trang trại Gia Lai, thực trạng và giải pháp (Sở NN&PTNT 1999), Điều tra thực trạng cây ăn quả lâu năm, đề xuất 1 số loại cây ăn qua thích hợp cho vùng Đông và Tây Trường Sơn của tỉnh Gia Lai (Sở NN&PTNT Gia Lai, 2002); Điều tra bình tuyển các dòng điều tốt có triển vọng và xây dựng mô hình thâm canh cây điều (Sở NN&PTNT Gia Lai, 2006); Nghiên cứu phát triển tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Gia Lai đến năm 2020 (Nguyễn Tấn Thành, 2009), Mô hình phát triển KT-XH làng đồng bào dân tộc Jrai ở tỉnh Gia Lai; điều tra, phân loại cồng chiêng địa bàn tỉnh Gia Lai (Sở VH,TT&DL, 2008); Xây dựng mô hình quản lý rừng
và đất rừng dựa vào cộng đồng dân tộc thiểu số Jrai và Bahnar, tỉnh Gia Lai; Địa danh
và di tích Gia Lai từ góc nhìn lịch sử - văn hoá (Nguyễn Thị Kim Vân, 2010) Một số công trình nghiên cứu thuộc chương trình Tây Nguyên 3 như Nghiên cứu đánh giá thực trạng sức khoẻ, cơ cấu bệnh tật, đề xuất các giải pháp và mô hình nâng cao sức khoẻ cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên; Dân số và di dân trong phát triển bền vững Tây Nguyên; Phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại gắn với xóa đói giảm nghèo bền vững ở Tây Nguyên
Trang 39Nhóm các công trình nghiên cứu khoa học tự nhiên: Nhóm này chủ yếu là các
công trình nghiên cứu điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường như Đặc điểm khí hậu và khí hậu nông nghiệp tỉnh Gia Lai (Sở KH CN&MT tỉnh Gia Lai, 2001) [41]; Hiện trạng nguồn tài nguyên khoáng sản tỉnh Gia Lai (Sở Công nghiệp, 2001) [40]; Điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng và đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng và môi trường địa chất tỉnh Gia Lai (UBND Gia Lai, 2003) [71]; Số mỏ và điểm quặng (thuộc khuôn khổ dự án: Điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng và đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng và môi địa chất tỉnh Gia Lai, 2003); Các công trình nghiên cứu thuộc chương trình Tây nguyên 3 như:Nghiên cứu tổng hợp thoái hoá đất, hoang mạc hoá ở Tây Nguyên và đề xuất giải pháp sử dụng đất bền vững; Nghiên cứu cơ sở khoa học cho giải pháp tổng thể giải quyết các mâu thuẫn lợi ích trong việc khai thác sử dụng tài nguyên nước lãnh thổ Tây Nguyên; Nghiên cứu đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, biến động sử dụng tài nguyên và xác lập các mô hình kinh tế sinh thái bền vững cho một số vùng địa lý trọng điểm khu vực Tây Nguyên; Nghiên cứu đánh giá xói mòn đất và ô nhiễm môi trường trên cơ sở ứng dụng phương pháp đồng vị dãy uran - thori trong các lưu vực sông chính Tây Nguyên; Nghiên cứu điều kiện khí hậu, khí hậu nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phòng tránh thiên tai vùng Tây Nguyên; Nghiên cứu xác định các đới dập vỡ kiến tạo trong các thành tạo địa chất và khả năng lưu trữ nước nhằm giải quyết nước mùa khô cho các tỉnh Tây Nguyên
Nhóm các điều tra toàn quốc và của tỉnh, các báo cáo quy hoạch ngành, quy hoạch tổng thể gồm các báo cáo tổng điều tra dân số và nhà ở; Tổng điều tra nông
thôn, nông nghiệp và thủy sản; Tổng điều tra kinh tế; Điều tra giá tiêu dùng; Điều tra kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; Điều tra biến động dân số
và kế hoạch hóa gia đình; Điều tra lao động và việc làm; Điều tra kiểm kê rừng; Điều tra cơ sở và nhân lực ngành y tế; Điều tra dinh dưỡng; Điều tra cơ sở giáo dục; Khảo sát mức sống dân cư hộ gia đình Báo cáo quy hoạch phát triển du lịch tỉnh đến năm 2020; Báo cáo quy hoạch ngành bưu chính viễn thông đến năm 2020; Niên giám thống
kê tỉnh các năm; Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Gia Lai đến năm 2020
Nhóm nghiên cứu về xây dựng bộ chỉ thị PTBV: Hiện tại mới chỉ có một công
trình nghiên cứu về xây dựng bộ chỉ thị PTBV các tỉnh Tây Nguyên trong đó có tỉnh Gia Lai là đề tài cấp nhà nước thuộc chương trình Tây Nguyên 3 do PGS TS Trần Văn Ý làm chủ nhiệm “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển bền vững về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh Tây Nguyên”
Trang 40Bộ chỉ thị PTBV mang tính liên ngành, do đó, các công trình nghiên cứu kể trên
là những tài liệu cần thiết cho nghiên cứu của luận án, đặc biệt là đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển bền vững về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh Tây Nguyên” NCS đã kế thừa số liệu gốc của đề tài trên để tính toán chuẩn hóa giá trị các chỉ thị, tổng hợp các chỉ số theo phụ chủ đề, chủ đề và chỉ số PTBV tổng thể dựa trên cơ sở lý luận xây dựng bởi luận án Những tồn tại của đề tài trên đã được phân tích cụ thể tại mục 1.1.3 Phân tích các bộ chỉ thị PTBV tại Việt Nam
Nhận xét:
- Quy trình xây dựng bộ chỉ thị cơ bản gồm 2 bước: i) đề xuất một bộ nguyên tắc xây dựng danh sách, và ii) đề xuất danh sách chỉ thị dựa trên sự kết hợp khung cấu trúc phù hợp với các bộ chỉ thị đã có Một số nghiên cứu thực hiện thêm bước nghiên cứu điều kiện địa phương để đề xuất các chỉ thị phù hợp hơn với địa phương Nhiều nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chuyên gia và xem xét tính khả thi của số liệu để hoàn thiện danh sách chỉ thị
- Nguyên tắc xây dựng danh sách chỉ thị không khác nhau nhiều giữa các nghiên cứu Các nguyên tắc thường được sử dụng gồm: Phù hợp theo thông lệ quốc tế; phù hợp với chính sách; phù hợp với địa phương; phù hợp để đánh giá tiến trình PTBV; dễ hiểu và rõ ràng cụ thể; có tính khả thi và hiệu quả chi phí
- Khung cấu trúc chủ đề theo lĩnh vực (SDI-GM 2007) được sử dụng rộng rãi trên thế giới, thay thế cho khung cấu trúc chủ đề theo 3 hoặc 4 trụ cột (SDI-GM 2001) trong xây dựng các bộ chỉ thị theo dõi PTBV các địa phương Tuy nhiên, ở Việt Nam mới chỉ có nghiên cứu của Hai Le Trinh và cs (2013) [117], và Trần Văn Ý và cs (2015) [88] sử dụng khung cấu trúc này
- Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường địa phương là bước thực hiện cần thiết, là cơ sở địa lý học giúp đề xuất các chỉ thị phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Bộ chỉ được đề xuất đáp ứng được nguyên tắc phù hợp với địa phương Đây là một nguyên tắc quan trọng, được sử dụng cho nhiều bộ chỉ thị PTBV trên thế giới và Việt Nam
- Phương pháp chuyên gia đã được nhiều nghiên cứu áp dụng trong quá trình hoàn thiện danh sách chỉ thị Trong các phương pháp chuyên gia, phương pháp Delphi
có ưu điểm rõ ràng trong việc hạn chế tính chủ quan của phương pháp chuyên gia nói chung Phương pháp này được một số nghiên cứu áp dụng như Hai Le Trinh và cs (2009, 2013) [117, 119] và Trần Văn Ý và cs (2015) [88] và tỏ ra khá hữu hiệu trong quá trình xây dựng danh sách chỉ thị