Nghiên cứu tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nước sạch đô thị ở thành phố Huế theo hướng quản lý nhu cầu DSM Nghiên cứu tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nước sạch đô thị ở thành phố Huế theo hướng quản lý nhu cầu DSM luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
PHẠM QUỐC HUY
NGHIÊN CỨU TRỨNG CÁ, CÁ CON LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC BẢO VỆ NGUỒN GIỐNG
Ở VÙNG BIỂN VỊNH BẮC BỘ, VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Nguyễn Xuân Huấn
2 GS.TS Đỗ Công Thung
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi, Phạm Quốc Huy, là nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành Động vật học, mã số: 62.42.01.03 khóa 2014-2017 xin cam đoan: Đề tài Luận án Tiến sĩ Sinh học này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá do chính tôi thực hiện trên cơ sở nguồn số liệu đã được các cá nhân và Cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng Các tài liệu tham khảo với mục đích so sánh, phân tích và thảo luận đều được trích dẫn đầy đủ theo quy định Toàn bộ nội dung và kết quả nghiên cứu trong Luận án đều đảm bảo tính trung thực, tin cậy, không trùng lặp và đã được chính tác giả công bố trên các tạp chí chuyên ngành
Nghiên cứu sinh:
Phạm Quốc Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Xuân Huấn và PGS.TS Đỗ Công Thung là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt Luận án này
Tôi xin cảm ơn Bộ môn Động vật có xương và Bảo tồn; Ban lãnh đạo Khoa Sinh học; Phòng Sau đại học; Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội; Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản; Phòng Nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản và Trung tâm Dự báo Ngư trường Khai thác Hải sản đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Quang Hùng, ThS Nguyễn Viết Nghĩa, TS Nguyễn Khắc Bát, TS Đào Mạnh Sơn, ThS Phạm Huy Sơn, TS Vũ Việt
Hà, ThS Nguyễn Hoàng Minh, TS Lê Đức Giang là chủ nhiệm các Đề tài, Dự án
mà Nghiên cứu sinh sử dụng số liệu cho Luận án, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được tham gia trực tiếp các chuyến điều tra trên biển và phân tích mẫu trứng cá, cá con trong phòng thí nghiệm
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Văn Hướng, ThS Bùi Thanh Hùng, ThS Nguyễn Đức Linh, ThS Trần Văn Cường và các đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thiện Luận án này
Lời cảm ơn vô hạn tôi xin gửi tới các Thầy Cô, Gia đình và Bạn bè đã hướng dẫn, giảng dạy và động viên tôi trong thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Hải Phòng, ngày tháng năm 2018
Nghiên cứu sinh
Phạm Quốc Huy
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC HÌNH 5
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC 8
MỞ ĐẦU 10
LUẬN GIẢI TÍNH NGHIÊN CỨU MỚI CỦA LUẬN ÁN 14
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 15
1.1 Trên thế giới 15
1.1.1 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc bảo vệ nguồn giống 15
1.1.2 Nghiên cứu xác định khu vực tập trung của trứng cá, cá con 18
1.1.3 Nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn giống và các yếu tố môi trường 20
1.2 Ở Việt Nam 23
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, môi trường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 23
1.2.2 Nghiên cứu về giai đoạn phát triển sớm của cá ở vịnh Bắc Bộ 26
1.2.3 Hiện trạng nguồn lợi và hoạt động khai thác hải sản ở vịnh Bắc Bộ 31
1.3 Những tồn tại và hạn chế 34
CHƯƠNG 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Tài liệu nghiên cứu 37
2.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 40
2.3 Phương pháp nghiên cứu 42
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 42
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 44
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
3.1 Cấu trúc thành phần loài trứng cá, cá con 51
3.1.1 Theo không gian 54
3.1.2 Theo thời gian 57
3.1.3 Nhóm loài ưu thế theo không gian và thời gian 60
3.2 Sự phát tán và phân bố mật độ của trứng cá, cá con 73
Trang 63.2.1 Sự phát tán của trứng cá, cá con 73
3.2.2 Phân bố mật độ của trứng cá, cá con 79
3.3 Mối liên quan giữa trứng cá, cá con và một số yếu tố môi trường 87
3.3.1 Nhiệt độ và độ muối tầng mặt nước biển 87
3.3.2 Động - thực vật phù du 100
3.4 Mùa vụ sinh sản của một số nhóm cá ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 102
3.4.1 Cấu trúc giới tính 102
3.4.2 Độ chín muồi tuyến sinh dục 107
3.4.3 Chiều dài Lm50 109
3.4.4 Hệ số thành thục (GSI) 111
3.4.5 Mùa vụ sinh sản 112
3.5 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ nguồn giống cá ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 116 3.5.1 Cơ sở khoa học và pháp lý về việc bảo vệ nguồn lợi hải sản 116
3.5.2 Khu vực bảo vệ nguồn giống cá 119
3.5.3 Thời gian bảo vệ 125
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127
1 Kết luận 127
2 Kiến nghị 128
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
PHỤ LỤC 1
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
AIC : Akaike information criterion (Tiêu chuẩn thông tin Akaike)
ALMRV : Accessment Living Marine Resources Vietnam (Đánh giá nguồn
lợi sinh vật biển Việt Nam)
GEF : Global Environment Facility (Quỹ môi trường toàn cầu)
GIS : Geographic Information System (Hệ thống thông tin địa lý)
GSI : Gonado Somatic Index (Hệ số thành thục sinh dục)
Juv : Giai đoạn con non (Juvenile)
MOFI : Ministry of Fisheries (Bộ Thủy sản)
MOVIMAR : Chương trình giám sát tàu cá bằng công nghệ vệ tinh
NASA : National Aeronautics and Space Administration (Cơ quan hàng
không và Vũ trụ Quốc gia)
SD : Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)
SEAFDEC : Southeast Asian Fisheries Development Center (Trung tâm Phát
triển nghề cá Đông Nam Á)
TĐ : Thẳng đứng (tầng thẳng đứng)
UNEP : United Nations Environment Programme (Chương trình môi
trường Liên Hợp Quốc)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Nguồn số liệu sử dụng trong nghiên cứu ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 38 Bảng 2 2 Danh sách các đối tượng nghiên cứu sinh học ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 41 Bảng 3 1 Cấu trúc thành phần loài của trứng cá, cá con ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 51 Bảng 3 2 Giá trị trung bình của các yếu tố môi trường của nhóm tập hợp theo mùa 89 Bảng 3 3 Giá trị Lm50 của 8 loài cá nghiên cứu ở biển Việt Nam và khu vực 111 Bảng 3 4 Tần suất xuất hiện (%) cá bố mẹ của các đối tượng nghiên cứu theo thời gian ở vịnh Bắc Bộ 114 Bảng 3 5 Mô tả khu vực bảo vệ nguồn giống cá ở vịnh Bắc Bộ 122
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2 1 Phạm vi và mật độ trạm nghiên cứu ở vịnh Bắc Bộ, năm 2003-2016 40 Hình 2 2 Hình ảnh thiết bị thu mẫu và máy đo lượng nước qua lưới 42 Hình 3 1 Số lượng họ, giống, loài trứng cá, cá con ở vịnh Bắc Bộ theo tầng nước54 Hình 3 2 Số lượng họ, giống, loài trứng cá, cá con ở vịnh Bắc Bộ theo dải độ sâu 56 Hình 3 3 Tỷ lệ % trứng cá thu được vào các thời đểm khác nhau trong ngày 58 Hình 3 4 Tỷ lệ % cá con thu được vào các thời đểm khác nhau trong ngày 58 Hình 3 5 Số lượng họ, giống, loài của trứng cá, cá con ở vịnh Bắc Bộ theo mùa trong năm 59 Hình 3 6 Số lượng họ, giống, loài trứng cá, cá con ở vịnh Bắc Bộ theo năm 60 Hình 3 7 Các chỉ số ưu thế cho từng loài/nhóm loài trong mùa Xuân của các nhóm tập hợp theo phương pháp phân tích Eculidean (trong ngoặc là chỉ số ưu thế Yi) 62 Hình 3 8 Biểu đồ khoảng cách trung bình và sơ đồ các nhóm tập hợp của trứng cá,
cá con trong mùa Xuân ở vịnh Bắc Bộ 63 Hình 3 9 Các chỉ số ưu thế cho từng loài/nhóm loài trong mùa Hạ của các nhóm tập hợp theo phương pháp phân tích Eculidean (trong ngoặc là chỉ số ưu thế Yi) 65 Hình 3 10 Biểu đồ khoảng cách trung bình và sơ đồ các nhóm tập hợp của trứng
cá, cá con trong mùa Hạ ở vịnh Bắc Bộ 66 Hình 3 11 Các chỉ số ưu thế cho từng loài/nhóm loài trong mùa Thu của các nhóm tập hợp theo phương pháp phân tích Eculidean (trong ngoặc là chỉ số ưu thế Yi) 67 Hình 3 12 Biểu đồ khoảng cách trung bình và sơ đồ các nhóm tập hợp của trứng
cá, cá con trong mùa Thu ở vịnh Bắc Bộ 68 Hình 3 13 Chỉ số ưu thế cho từng loài/nhóm loài trong mùa Đông của các nhóm tập hợp theo phương pháp phân tích Eculidean (trong ngoặc là chỉ số ưu thế Yi) 70 Hình 3 14 Biểu đồ khoảng cách trung bình và sơ đồ các nhóm tập hợp của trứng
cá, cá con trong mùa Đông ở vịnh Bắc Bộ 71 Hình 3 15 Xu hướng phát tán của trứng cá, cá con vào mùa Xuân ở vịnh Bắc Bộ 74 Hình 3 16 Xu hướng phát tán của trứng cá, cá con vào mùa Hạ ở vịnh Bắc Bộ 75
Trang 10Hình 3 17 Xu hướng phát tán của trứng cá, cá con vào mùa Thu ở vịnh Bắc Bộ 76 Hình 3 18 Xu hướng phát tán của trứng cá, cá con vào mùa Đông ở vịnh Bắc Bộ 77 Hình 3 19 Phân bố mật độ trứng cá trong mùa Xuân (A) và mùa Hạ (B) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 80 Hình 3 20 Phân bố mật độ trứng cá trong mùa Thu (A) và mùa Đông (B) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 81 Hình 3 21 Phân bố mật độ cá con trong mùa Xuân (A) và mùa Hạ (B) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 82 Hình 3 22 Phân bố mật độ cá con trong mùa Thu (A) và mùa Đông (B) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 83 Hình 3 23 Mối liên quan giữa giá trị mật độ trứng cá với dải nhiệt độ (A), độ muối (B) ở vịnh Bắc Bộ vào mùa Xuân 90 Hình 3 24 Mối liên quan giữa giá trị các dải nhiệt độ (A), độ muối (B) và mật độ
cá con ở vịnh Bắc Bộ vào mùa Xuân 91 Hình 3 25 Mối liên quan giữa giá trị các dải nhiệt độ (A), độ muối (B) và mật độ trứng cá ở vịnh Bắc Bộ vào mùa Hạ 92 Hình 3 26 Mối liên quan giữa giá trị các dải nhiệt độ (A), độ muối (B) và mật độ
cá con ở vịnh Bắc Bộ vào mùa Hạ 93 Hình 3 27 Mối liên quan giữa giá trị các dải nhiệt độ (A), độ muối (B) và mật độ trứng cá ở vịnh Bắc Bộ vào mùa Thu 95 Hình 3 28 Mối liên quan giữa giá trị các dải nhiệt độ (A), độ muối (B) và mật độ
cá con ở vịnh Bắc Bộ vào mùa Thu 96 Hình 3 29 Mối liên quan giữa giá trị các dải nhiệt độ (A), độ muối (B) và mật độ trứng cá ở vịnh Bắc Bộ vào mùa Đông 97 Hình 3 30 Mối liên quan giữa giá trị các dải nhiệt độ (A), độ muối (B) và mật độ
cá con ở vịnh Bắc Bộ vào mùa Đông 98 Hình 3 31 Cấu trúc giới tính của một số loài thuộc nhóm cá nổi ở vịnh Bắc Bộ 103 Hình 3 32 Cấu trúc giới tính của một số loài thuộc nhóm cá rạn ở vịnh Bắc Bộ 105 Hình 3 33 Cấu trúc giới tính của một số loài thuộc nhóm cá đáy ở vịnh Bắc Bộ 106
Trang 11Hình 3 34 Độ chín muồi tuyến sinh dục của một số loài ở vùng biển vịnh Bắc Bộ theo nhóm sinh thái 108 Hình 3 35 Giá trị chiều dài Lm50 của một số loài ở vùng biển vịnh Bắc Bộ theo nhóm sinh thái 109 Hình 3 36 Hệ số GSI của một số loài bắt gặp ở vùng vịnh Bắc Bộ theo thời gian 112 Hình 3 37 Hệ số GSI theo nhóm sinh thái ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 115 Hình 3 38 Mật độ trứng cá, cá con/1000m3 nước biển theo thời gian ở vịnh Bắc Bộ 115 Hình 3 39 Sơ đồ khu vực tập trung của nguồn giống cá ở vịnh Bắc Bộ 121 Hình 3 40 Tần suất chiều dài khai thác so với chiều dài Lm50 theo thời gian của một số loài chủ yếu ở biển vịnh Bắc Bộ (màu đỏ: kích thước cơ thể cá <Lm50; màu xanh: kích thước cơ thể cá >Lm50) 126
Trang 12DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Sơ đồ tuyến phân vùng khai thác thủy sản trong vùng biển Việt Nam 1 Phụ lục 2 Thành phần loài trứng cá, cá con theo đối tượng và thời gian (mùa trong năm) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 1 Phụ lục 3 Thành phần loài trứng cá, cá con theo không gian (tầng nước và dải độ sâu) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 15 Phụ lục 4 Phân bố số lượng trung bình nhiều năm của thực vật phù du (bên phải) và động vật phù du (bên trái) vào mùa Xuân ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Việt Nam 29 Phụ lục 5 Phân bố số lượng trung bình nhiều năm của thực vật phù du (bên phải) và động vật phù du (bên trái) vào mùa Hạ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Việt Nam 29 Phụ lục 6 Phân bố số lượng trung bình nhiều năm của thực vật phù du (bên phải) và động vật phù du (bên trái) vào mùa Thu ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Việt Nam 30 Phụ lục 7 Phân bố số lượng trung bình nhiều năm của thực vật phù du (bên phải) và động vật phù du (bên trái) vào mùa Đông ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Việt Nam 30 Phụ lục 8 Chiều dài Lm50 của cá Nục sồ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 31 Phụ lục 9 Chiều dài Lm50 của cá Bạc má ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 31 Phụ lục 10 Chiều dài Lm50 của cá Cơm mõm nhọn ở vùng vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 32 Phụ lục 11 Chiều dài Lm50 của cá Bánh đường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 32 Phụ lục 12 Chiều dài Lm50 của cá Lượng Nhật ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 33 Phụ lục 13 Chiều dài Lm50 của cá Lượng meso ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 33 Phụ lục 14 Chiều dài Lm50 của cá Mối thường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 34 Phụ lục 15 Chiều dài Lm50 của cá Mối vạch ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam34 Phụ lục 16 Phân bố mật độ trứng cá (hình bên trái) và cá con (hình bên phải) mùa gió Đông Bắc, giai đoạn 2003-2006 35
Trang 13Phụ lục 17 Phân bố mật độ trứng cá (hình bên trái) và cá con (hình bên phải) mùa
gió Đông Bắc, giai đoạn 2003-2006 35
Phụ lục 18 Bãi đẻ (bên trái) và bãi giống (bên phải) của cá vào tháng 3 36
Phụ lục 19 Bãi đẻ (bên trái) và bãi giống (bên phải) của cá vào tháng 4 36
Phụ lục 20 Bãi đẻ (bên trái) và bãi giống (bên phải) của cá vào tháng 5 37
Phụ lục 21 Bãi đẻ (bên trái) và bãi giống (bên phải) của cá vào tháng 6 37
Phụ lục 22 Bãi đẻ (bên trái) và bãi giống (bên phải) của cá vào tháng 7 38
Phụ lục 23 Bãi đẻ (bên trái) và bãi giống (bên phải) của cá vào tháng 8 38
Phụ lục 24 Các giai đoạn phát triển của trứng cá và cá con 39
Phụ lục 25 Một số hình ảnh trứng cá bắt gặp ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 40 Phụ lục 26 Một số hình ảnh cá con bắt gặp ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam 41
Phụ lục 27 Hình ảnh các loài cá thu mẫu sinh học ở vùng biển vịnh Bắc Bộ 44
Trang 14MỞ ĐẦU
Biển có vai trò quan trọng không những trong lĩnh vực kinh tế như vận tải, công nghiệp và du lịch, mà còn là nơi thoát nước ra từ lục địa, chống ngập úng cho nông nghiệp [116, 168] Đồng thời, các hệ sinh thái biển còn cung cấp, bảo vệ, không chỉ đối với các loài cư trú mà còn cho cả những loài di cư và nhập cư [88,
144, 197, 198], chúng cung cấp sản lượng thủy sản cao và quan trọng [122] Vùng biển ven bờ, vịnh, đầm phá ven biển thể hiện các mức độ nhạy cảm với môi trường,
sự đa dạng về thành phần loài và các cấu trúc dinh dưỡng phong phú [172]
Môi trường sống ở vùng biển ven bờ phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển trong giai đoạn sớm của cá [158] Giai đoạn trứng cá, rất dễ bị tổn thương bởi các yếu tố ngoại cảnh Giai đoạn cá con, chúng đã có khả năng tự dịch chuyển, di
cư vào cửa sông để tận dụng nguồn thức ăn phong phú và ẩn náu tránh kẻ thù, với mục đích tối đa hóa sự sống còn [103, 129, 189] Bên cạnh đó, nghiên cứu về sinh vật phù du ở vùng biển ven bờ sẽ tạo điều kiện cho phát triển về chức năng của “bãi
đẻ và bãi giống” [165] Bãi đẻ của cá có sự khác nhau về thành phần loài và sự phân
bố Sự tập trung của trứng cá và cá con cũng thay đổi liên tục theo không gian và thời gian, theo mùa sinh sản của loài và theo các biến động về môi trường [204] [107, 112, 117] Tuy nhiên, khuynh hướng chung là trứng cá, cá con thường đạt mật
độ cao vào mùa Xuân và mùa Hạ [87, 113, 185, 203, 206]
Hiện nay, có nhiều mô hình quản lý nghề cá và bảo vệ nguồn lợi đã được áp dụng trên thế giới như: quản lý nghề cá dựa vào hạn ngạch khai thác; bảo vệ nguồn lợi bằng hình thức cấm hoặc hạn chế khai thác có thời hạn; xây dựng các khu bảo tồn biển; khu bảo vệ nguồn giống thủy sản Việc áp dụng các mô hình quản lý nghề
cá, các tiếp cận bảo vệ nguồn lợi vào thực tế ở từng khu vực cụ thể cần có hướng đi phù hợp Tiêu biểu như những nghiên cứu đưa ra hạn ngạch khai thác đối với cá Tuyết ở Châu Âu [84], cá Ngừ ở Nhật Bản [135]; khu vực cấm (hạn chế) khai thác theo thời gian ở Trung Quốc; Indonesia [5]; và hầu hết các nước có biển đã thiết lập các khu bảo tồn biển Tính đến năm 2003 trên thế giới có 4.526 khu bảo tồn biển và con số này vẫn không ngừng tăng lên [199] Đối với các nước nhiệt đới và cận nhiệt
Trang 15đới, cách tiếp cận phù hợp là xây dựng các khu bảo tồn biển, các khu bảo vệ nguồn giống thuỷ sản theo không gian và thời gian
Cơ sở khoa học cho việc xác định các khu vực bảo vệ nguồn giống hải sản là dựa trên các kết quả nghiên cứu về trứng cá, cá con Đây là nguồn số liệu đầu vào hết sức quan trọng để xác định bãi đẻ và bãi giống, giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách đưa ra các chiến lược kịp thời, phù hợp để bảo vệ nguồn lợi theo hướng bền vững
Việt Nam có vùng biển rộng lớn với diện tích trên 1 triệu km², đường bờ biển dài khoảng 3.260 km với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ nằm dọc chiều dài bờ biển từ Bắc tới Nam Đến nay, ở vùng biển Việt Nam đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật (6.000 loài động vật đáy; 2.435 loài cá với trên 100 loài có giá trị kinh tế; 653 loài rong biển; 657 loài động vật phù du; 537 loài thực vật phù du;
94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước) cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái biển điển hình Khu vực địa lý biển chủ yếu được chia làm 5 vùng: Vùng biển vịnh Bắc Bộ, vùng biển Trung Bộ, vùng biển Đông Nam Bộ, vùng biển Tây Nam
Bộ và vùng biển giữa Biển Đông Trong đó vịnh Bắc Bộ là một trong những vùng biển giàu tiềm năng về khai thác hải sản ở Việt Nam [37]
Với vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển về an ninh quốc phòng, hàng hải và kinh tế biển, vịnh Bắc Bộ là vùng biển nông, có nền đáy tương đối bằng phẳng và chịu ảnh hưởng của các hệ thống sông lớn nên giàu chất dinh dưỡng, tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao [15], trữ lượng ước tính khoảng 757 ngàn tấn, trong đó cá nổi nhỏ chiếm 82,7%, cá đáy và hải sản tầng đáy chiếm 17,3% [35] Những năm gần đây, trước áp lực khai thác của các loại nghề, nguồn lợi hải sản ở vịnh Bắc Bộ đang có xu hướng suy giảm, sự vắng mặt hầu như hoàn toàn của một
số đối tượng có giá trị kinh tế cao cần được xem xét và đánh giá [25]
Tuy nhiên, các nghiên cứu về giai đoạn sớm của cá, mùa vụ sinh sản, khoanh vùng bãi đẻ, bãi giống của một số loài có giá trị kinh tế ở vùng biển vịnh Bắc Bộ nói riêng và biển Việt Nam nói chung chưa được điều tra, đánh giá một cách đồng
Trang 16bộ Hệ thống thu mẫu sinh học tại các bến cá thực hiện không liên tục, nguồn số liệu rời rạc và thiếu, do đó việc tư vấn cho công tác quản lý nghề cá chưa sát với hiện tại, một số loài hải sản có giá trị kinh tế đã và đang bị suy giảm cả về chất lượng và số lượng Sự vắng mặt của một số loài đặc hữu ở vùng biển vịnh Bắc bộ cần được nghiên cứu và bảo vệ
Như vậy, có thể thấy rằng việc nghiên cứu giai đoạn sớm của cá là vấn đề cấp thiết, góp phần bảo vệ nguồn lợi hải sản theo hướng bền vững Từ nguồn số liệu nghiên cứu về trứng cá, cá con ở vùng biển vịnh Bắc Bộ giai đoạn 2003 - 2016,
nghiên cứu sinh đề xuất thực hiện Đề tài “Nghiên cứu trứng cá, cá con làm cơ sở khoa học cho việc bảo vệ nguồn giống ở vịnh Bắc Bộ, Việt Nam” Kết quả nghiên
cứu sẽ là cơ sở khoa học và cung cấp những thông tin cần thiết cho công tác bảo vệ nguồn lợi, trước áp lực của các loại hình khai thác hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam
Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
+ Xác định cấu trúc thành phần loài trứng cá, cá con ở vùng biển vịnh Bắc
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Trứng cá, cá con ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam;
+ Đặc điểm sinh sản của một số loài cá có giá trị kinh tế, đại diện cho các nhóm sinh thái (cá nổi, cá rạn và cá đáy) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần quan trọng cho việc quy hoạch và phát triển nghề cá bền vững Dựa trên hiện trạng và khu vực tập trung của trứng cá, cá con; mùa vụ sinh sản; mối liên quan của một số yếu tố môi trường tới
Trang 17chúng, làm cơ sở khoa học đề xuất phương thức bảo vệ hợp lý, có hiệu quả đối với nguồn giống cá ở vùng biển nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ bổ sung nguồn số liệu có hệ thống và đồng bộ về trứng cá, cá con ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, đóng góp những tiêu bản mẫu chuẩn, có giá trị cao về mặt khoa học và đào tạo Bước đầu Luận án sẽ tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu trứng cá, cá con tiên tiến trên thế giới
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thủy sản, Vụ Bảo tồn
và Phát triển nguồn lợi thủy sản, các Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trực thuộc các tỉnh ven biển vịnh Bắc bộ, các Cơ quan quản lý chuyên ngành về bảo
vệ nguồn lợi thủy sản của địa phương, sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của Luận án
và áp dụng vào thực tế công tác quản lý Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng sẽ gắn kết được việc áp dụng thông tin khoa học vào công tác quản lý và góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý của ngành
Trang 18LUẬN GIẢI TÍNH NGHIÊN CỨU MỚI CỦA LUẬN ÁN
Dựa trên số liệu điều tra, nghiên cứu từ năm 2003 đến 2016 của các đề tài,
dự án do Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện và có nội dung thu mẫu trứng cá, cá con Luận án đã có đầy đủ những dữ liệu cập nhật về hiện trạng trứng cá, cá con ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, cũng như các tài liệu làm cơ sở khoa học phục vụ cho công tác quy hoạch và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản, nên việc xác định khu vực cấm
và hạn chế khai thác theo không gian và thời gian có tính thực tiễn cao Việc đồng
bộ và chuẩn hóa về dữ liệu, phương pháp điều tra, đánh giá và cách sử dụng các mô hình phù hợp đã giúp Luận án đạt được một số tính mới như sau:
1/ Nguồn số liệu về giai đoạn sớm của cá được thống kê và tổng kết trong thời gian dài (13 năm) và bao phủ được toàn vùng biển vịnh Bắc Bộ cả về không gian và thời gian Lần đầu tiên, danh sách thành phần loài trứng cá, cá con bắt gặp ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam được tập hợp và chỉnh lý một cách có hệ thống
và thống nhất, với 212 loài thuộc 136 giống, 90 họ, trong đó, trứng cá xác định được taxa của 20 họ, 24 giống và 35 loài/nhóm loài; cá con bắt gặp 206 loài/nhóm loài thuộc 133 giống và 90 họ
2/ Đã xác định được nhóm loài ưu thế của trứng cá, cá con theo mùa trong năm, điều đó có ý nghĩa quan trọng cho việc xác định đối tượng có giá trị kinh tế cao, làm cơ sở khoa học cho công tác khoanh vùng bảo vệ nguồn giống cá ở vùng biển vịnh Bắc Bộ theo không gian và thời gian
3/ Đã xác định được mùa vụ sinh sản của một số đối tượng chính theo nhóm sinh thái, từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm; khu vực cấm và hạn chế khai thác được phân chia thành vùng lõi và vùng đệm với các điều kiện môi trường sống điển hình đặc trưng cho từng vùng ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam Điều này giúp cho kết quả nghiên cứu của Luận án mang ý nghĩa thực tiễn và khả năng thực thi cao
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc bảo vệ nguồn giống
Nghiên cứu giai đoạn phát triển sớm của cá có vị trí quan trọng trong ngư loại học, từ những tài liệu về thành phần và số lượng của chúng có thể tìm hiểu được thành phần khu hệ, xác định bãi đẻ, mùa vụ sinh sản và biến động số lượng đàn bổ sung Mặt khác nó còn là nhân tố quan trọng cho việc phát hiện nguồn giống, quy hoạch và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
Khá nhiều lĩnh vực liên quan đến giai đoạn phát triển sớm của cá đang được quan tâm nghiên cứu như đa dạng loài, đánh giá nguồn lợi, phân loại học, đa dạng nguồn gen; đặc điểm sinh thái học như vòng đời, các đặc điểm sinh sản, dinh dưỡng, sự di cư, sự phát triển của cá thể; cấu trúc quần thể, chuỗi thức ăn, mối quan
hệ giữa chúng với các quần xã khác; môi trường sống và sự ảnh hưởng của các yếu tối môi trường tới sự phát triển của chúng; nghiên cứu chuyên sâu về những loài đặc sản và sinh sản nhân tạo nhằm hỗ trợ cho việc khôi phục số lượng các loài thủy sản
có giá trị về khoa học và kinh tế
Ngay từ đầu thế kỷ XX các nước có biển ở châu Âu và Liên Xô (cũ) đã có nhiều công trình nghiên cứu về trứng cá, cá con Tiêu biểu là các công trình của Belyanina (1974) [79], Rass (1972) [167], Gorbunova (1965, 1972, 1974, 1977) [108, 109, 110, 111], Kovalevskaja (1964, 1965, 1972) [132, 133, 134], Parin (1964, 1972, 1974) [160, 161, 162], Mukhacheva (1964, 1972, 1974) [149, 150, 151]…
Ở vùng nước Ấn Độ Dương có nghiên cứu của Jones và cộng sự (1978) [128]; Gorbunova 1965) [108] Ở Nhật Bản có nghiên cứu của Mito (1960,1961) [146, 147]; Nakai (1962) [154]; Nishikawa và cộng sự (2007) [157] Ở Philippin có nghiên cứu của Wade (1949, 1950) [193, 194]; Duray (1990) [100] Ở Trung Quốc
có nghiên cứu của Trần Chân Nhiên và Trương Hiếu Uy (1965) [44]…
Công trình của Delsman (1922-1938) với các nghiên cứu về trứng cá, cá con
của một số giống ở biển Java (Indonesia) như Clupea, Dorosoma, Engraulis,
Trang 20Pellona, Stolephorus, Cybium, Septibinna… [91, 92, 93, 94, 95, 96, 97] Nhiều nhà
khoa học cũng tiến hành khảo sát ở vùng đại dương này Phần lớn các công trình mới chỉ tập trung mô tả đặc điểm hình thái trong các giai đoạn phát triển trứng cá,
cá con, điển hình là các nghiên cứu của Bensam (1971, 1981) [80, 81], với đối tượng là từng loài cá cụ thể Mặt khác, năm 1981, ông cũng công bố báo cáo mang tính chất tổng hợp “Những vấn đề về mặt phân loại học trong việc định dạng trứng
cá, cá con của cá Trích ở vùng biển Ấn Độ Dương” [80, 81]
Năm 1986, Victor [191] đã ước tính thời gian sinh trưởng của giai đoạn cá con của 100 loài thuộc họ cá Bàng chài - Labridae ở cả Thái Bình Dương và Đại Tây Dương dựa trên phương pháp đọc tuổi bằng nhĩ thạch Nghiên cứu cho thấy, thời kỳ tăng trưởng này khác nhau ngay cả trong cùng một loài, nhất là các loài có pha sinh trưởng kéo dài Thời kỳ này ở những cá thể sống trong vùng Hawaii và Đông Thái Bình Dương dài hơn so với các cá thể cùng loài khác sống ở biển Carribe và Tây Thái Bình Dương Ước tính tuổi bằng phương pháp nhĩ thạch tiếp tục được Victor sử dụng với đối tượng là họ cá Thia - Pomacentridae vào năm 1989, với kết quả rất khả quan
Phân loại cá con họ cá Mối (Synodontidae) đã được Norman (1935) nghiên cứu và xác định 6 loài hiện đang lưu giữ ở Viện Bảo tàng Tự nhiên Luân Đôn [159] Cũng với đối tượng cá Mối, Delsman (1938) đã mô tả trứng cá, cá con của hai loài
cá Mối thường (Saurida tumbil) và Mối vện (Synodus variegatus) thu được ở vùng
biển Java (Indonesia) [91]
Các nhà khoa học Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu trứng cá, cá con của các loài có giá trị kinh tế như cá Trích Nhật Từ năm 1962 đến 1966, Nakai đã công bố nhiều công trình về loài cá này như “Nghiên cứu các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sự thụ tinh và phát triển của trứng cá Trích - số liệu định lượng trứng” (1962);
“Biến động số lượng của trứng cá, cá con cá Trích từ 1949 - 1951” (1962); “Ảnh hưởng của độ muối tới giai đoạn phát triển sớm của cá Trích” (1966) [154] Việc nghiên cứu trứng cá, cá con để phục vụ cho việc sản xuất cá giống của các loài cá thương phẩm cũng rất phát triển ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan từ những năm
Trang 2170 của thế kỷ XX Đây được coi là cơ sở quan trọng cho việc phát triển nghề nuôi
cá biển cũng như hạn chế sự suy giảm nguồn lợi hải sản
Với đối tượng trứng cá, cá con ngoài khơi vùng biển nhiệt đới ở Đại Tây Dương, Kazanova (1974) [27] đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái và nhận dạng trứng cá, cá con của nhóm cá Ngừ Tác giả đã chia thành các nhóm đối tượng theo
kích thước cơ thể, trong đó ấu trùng cá Ngừ vằn - Katsuwonus pelamis, cá Ngừ chù
- Auxis tharazd, cá Ngừ ồ - Auxis rochei được xếp vào nhóm cá Ngừ nhỏ; ấu trùng
cá Ngừ vây vàng - Thunnus albaceres và cá Ngừ mắt to - Thunnus obesus được xếp
vào nhóm cá Ngừ đại dương
Nhìn chung, các nghiên cứu về trứng cá, cá con chủ yếu tập trung vào thành phần khu hệ, đặc điểm hình thái và các đặc trưng sinh thái của mỗi nhóm loài Điển hình là các nghiên cứu về đặc điểm phân loại và đặc trưng sinh thái của các loài cá trên các rạn san hô ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương của Leis và Rennis (1983) [139] Năm 1989, Leis và Trnski [138] đã nghiên cứu sự biến động, phân bố thành phần loài và số lượng cá con ở vùng biển ven bờ
Tại các vùng cửa sông ở Nam Phi, Whitfield (1989) [202] đã nghiên cứu sự biến động về số lượng của cá theo độ cao mực thuỷ triều của kỳ con nước Trong
đó, sự biến động số lượng cá liên quan chặt chẽ tới sự biến đổi của độ cao thuỷ triều, tốc độ dòng chảy, nhiệt độ và độ muối của khối nước triều… Không những thế, số lượng cá con thu được còn phụ thuộc vào thời gian ngày - đêm và mùa
Tổng kết từ nhiều công trình nghiên cứu về cá con, Campos (2005) [205], đã chia cá con thành 18 nhóm theo hình dạng cơ thể, độ dài ống ruột, đặc điểm vây lưng, độ cao thân, đầu, sắc tố trên cơ thể, số lượng đốt cơ Tác giả cũng đưa ra các hạn chế là có nhiều loài trong cùng một họ nhưng có đặc điểm hình thái khác nhau, hoặc trong cùng một loài khi chúng ở các giai đoạn phát triển khác nhau
Đánh giá hiện trạng trứng cá, cá con là lĩnh vực nghiên cứu mang tính thực tiễn và phục vụ trực tiếp nhất cho các nhà quản lý, làm cơ sở cho việc quy hoạch và phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản Để đánh giá đúng mức hiện trạng trứng cá,
cá con, các nước Úc, Thái Lan, Trung Quốc đã tổ chức điều tra nghiên cứu định kỳ
Trang 22về giai đoạn sớm của cá, giúp cho việc điều tiết nghề nuôi, tổ chức khai thác hợp lý
và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên sinh vật biển nói chung và nguồn giống thuỷ sản nói riêng
Tuy nhiên, việc ước tính lượng bổ sung và trữ lượng cá từ trứng cá, cá con hiện nay đang gặp khó khăn về số liệu và phương pháp nghiên cứu Thời gian gần đây, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc sử dụng các phần mềm và trang thiết bị phòng thí nghiệm trở nên thuận lợi và đáng tin cậy hơn Nhiều nước đã ứng dụng phương pháp ước tính trữ lượng trứng được sinh ra trong thời gian một ngày,
để ước tính sinh khối và giám sát xu hướng thay đổi mật độ của đàn cá như Anh, Na-uy, Nam Phi…
Hội nghị nghề cá khu vực Đông Nam Á do SEAFDEC và ASEAN phối hợp
tổ chức vào tháng 11 năm 2001 tại Bangkok đã nêu ra kết luận chung cho khu vực, trong đó giải pháp tăng cường thời gian cấm khai thác nhằm bảo vệ các đàn sinh sản
và chủng quần non của những loài có giá trị thương mại là một nội dung quan trọng Việc này được thực hiện với nguyên tắc “Quản lý nghề cá trên cơ sở bền vững”
(Right-based fisheries management) Từ đó tạo được sự ổn định, sức sản xuất cao
và sự đa dạng của hệ sinh thái thuỷ sinh vật
1.1.2 Nghiên cứu xác định khu vực tập trung của trứng cá, cá con
Theo UNEP (2007), khu duy trì nguồn giống thủy sản được hiểu là một khu vực biển được xác định về không gian và thời gian mà ở đó các giải pháp quản lý được triển khai nhằm duy trì, bảo vệ sự quần tụ sinh sản, các bãi giống và đường di
cư của sinh vật [188]
Những nghiên cứu đầu tiên về bãi đẻ của cá rạn san hô được thực hiện trong những năm 1970 ở vùng biển Bahamas, Cu Ba và khu vực trung tâm Châu Mỹ La tinh Smith (1972) [181] đã đưa ra báo cáo chi tiết về việc hình thành các bãi đẻ của nhóm cá Mú, với sự tăng đột biến về số lượng cá thể tại khu vực sườn dốc của rạn san hô, vào thời điểm trước và sau trăng tròn để phục vụ cho quá trình sinh sản
Một số kết quả nghiên cứu về bãi đẻ của cá rạn đã được tiến hành ở quần đảo
Marshall (Thái Bình Dương) đã xác định có bãi đẻ của loài cá Miền - Caesio teres
Trang 23của Bell và Colin (1986) [78]; ở quần đảo Cayman (biển Carribe) có khoảng từ 60 đến 80 bãi đẻ có tính chất lịch sử và thường xuyên, với loài chiếm ưu thế là cá Mú
vạch - Epinephelus striatus của Sadovy và Eklund (1999) [173]; ở đảo Ping Chau
(phía Đông Bắc của Hồng Kông) đã bắt gặp sự hình thành các bãi đẻ ngay trong rạn
san hô của loài cá Mú - Cephalopholis boenack của Liu và Sadovy (2005) [141]; ở
khu vực Ningaloo (Úc) thấy cá xuất hiện trong vòng 6 ngày trước và sau trăng tròn, hiện tượng này xảy ra theo chu kỳ hàng năm và ở một số tháng nhất định của Mackie (2007) [143]; ở đảo Virgin (Mỹ) hình thành các bãi đẻ theo hai mùa sinh sản trong năm với thời điểm cuối mùa Đông là mùa đẻ rộ của Nemeth và cộng sự (2007) [155] Ở khu vực Đông Nam Á như Vườn quốc gia Kodomo (Indonesia) và vùng biển phía Bắc đảo Palawan (Philipin) cũng thấy xuất hiện các bãi đẻ của nhóm
cá rạn san hô (thường có sự tập hợp đa loài) diễn ra quanh năm nhưng đạt đỉnh vào các tháng 4 - 7 hàng năm tại sườn dốc rạn vào các tuần trước và sau kì trăng tròn qua nghiên cứu của Donaldson (2005) [99] và Pet (2005) [164]
Loài cá Mó ở vùng biển phía Nam Carribe, khi còn non thường tập trung ở trong rừng ngập mặn và khi trưởng thành lại xuất hiện ở các rạn san hô Kết quả nghiên cứu của Nagelkerken (2000) [153] ở vùng Bonaire (Hà Lan) cho rằng, thảm
cỏ biển là nơi tập trung cá con của các loài Haemulon flavolineatum, H sciurus,
Ocyurus chrysurus, Acanthurus chirurgus và Sparisoma viride; ở trong rừng ngập
mặn là loài Lutjanus apodus, L griseus, Sphyraena barracuda, Chaetodon
capistratus và khu vực rạn san hô ở vùng nước nông lại ghi nhận được các loài là Haemulon chrysargyreum, Lutjanus mahogoni, Abudefduf bahianus và A saxatilis
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, nơi sinh cư trong các vùng nước nông ven
bờ nhiệt đới như thảm cỏ biển và rừng ngập mặn được xem là những nơi ương nuôi quan trọng đối với rất nhiều nguồn lợi sinh vật biển [77, 179] Sadovy (2003) [174]
đã ghi nhận các cá thể trưởng thành của loài cá Bàng chài - Cheilius undulatus sống
trên các rạn san hô, trong khi đó các cá thể con non thường sống trên các thảm cỏ và rạn san hô trong vùng nước nông
Trang 24Giai đoạn từ năm 2005 trở lại đây, khái niệm khu duy trì nguồn giống thủy sản được hiệu chỉnh và phát triển đầy đủ hơn trong khuôn khổ của dự án UNEP/GEF về “Ngăn ngừa xu hướng suy thoái môi trường Biển Đông và vịnh Thái Lan” Nhìn chung, các nghiên cứu liên quan đến nguồn giống thủy sản trên thế giới trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh điều tra, nghiên cứu nhằm khẳng định vai trò của các hệ sinh thái ven bờ (cửa sông, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô), các khu vực bãi đẻ, bãi ương nuôi tự nhiên đối với sinh vật biển Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các nơi sinh cư tự nhiên trong vùng nước nông ven bờ nhiệt đới như thảm cỏ biển và rừng ngập mặn được xem là những khu ương nuôi quan trọng đối với rất nhiều nguồn lợi sinh vật biển Tầm quan trọng và tính liên kết của các hệ sinh thái ven biển đối với giai đoạn sớm của các loài thủy sản cũng đã được nghiên cứu, đánh giá Các thảm cỏ biển ở vùng nước nông có mật độ phân bố nguồn giống
cá cao hơn rất nhiều so với ở rừng ngập mặn, các thảm cỏ biển vùng nước sâu, vùng triều giữa, thảm rong biển và rạn san hô Điều này cho thấy, thảm cỏ biển được xem
là bãi ương nuôi quan trọng đối với các loài cá biển ở giai đoạn sớm, đặc biệt là các loài cá nổi nhỏ, cá đáy và cá rạn
1.1.3 Nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn giống và các yếu tố môi trường
Nhìn chung mối liên quan của các yếu tố môi trường đến sự hình thành các bãi đẻ khá phức tạp, trong đó các yếu tố đóng vai trò chủ yếu là nhiệt độ nước biển, dòng chảy, thủy triều, các tập tính sinh thái đặc trưng khác của loài [86, 98, 163, 173]
Trong các nghiên cứu về trứng cá, cá con, tuy đa số hướng nghiên cứu là tập trung vào việc mô tả đặc điểm hình thái và đặc trưng phân bố, song vẫn có nhiều công trình đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của các giai đoạn phát triển sớm của cá Nhiều nhất phải kể đến các nghiên cứu về tác động của nhiệt độ
và độ muối, hai yếu tố được coi là quyết định với tỷ lệ tử vong của trứng cá, cá con Bên cạnh đó, các nhân tố môi trường khác như dòng chảy, hàm lượng chlorophyll, tia phóng xạ, mối quan hệ dinh dưỡng, thuỷ triều, thời gian ngày - đêm
Trang 25Thông thường khoảng nhiệt độ mà trứng cá (nhóm cá xương) có thể chịu đựng được phụ thuộc rất lớn vào sự biến động của các yếu tố môi trường khác như
độ muối hay hàm lượng oxy hòa tan Dưới điều kiện sinh thái tự nhiên, trứng cá vẫn phát triển ở ngưỡng trên của khoảng nhiệt độ tối ưu và có thể vẫn thụ tinh, nhưng phôi có xu hướng phát triển không bình thường [85] hoặc do các enzym bị phá hủy bởi nhiệt [170]
Dannevig (1985) [89] là người đầu tiên theo dõi trứng cá trong phòng thí nghiệm đã kết luận rằng thời gian phát triển của trứng ngắn hơn rất nhiều khi nhiệt
độ tăng lên ở giới hạn cho phép Tuy nhiên, từ thực nghiệm của Irvin (1974) [124]
và nghiên cứu ngoài tự nhiên ở vùng biển Bắc của Land (1991) [137] cho thấy, tỷ lệ
tử vong của trứng cá, cá con tăng cao khi nhiệt độ môi trường tăng lên
Phôi cá thường được coi là rất nhạy cảm với nhiệt độ môi trường thay đổi, đặc biệt là giai đoạn tế bào phân chia [187] và hình thành phôi vị [171] Kết quả nghiên cứu của Bonnet (1939) [82] cho thấy, tỷ lệ tử vong của trứng cá Tuyết ở vùng biển Đại Tây Dương giảm trong giai đoạn đóng lỗ phôi (giai đoạn II) ở các khoảng nhiệt độ nghiên cứu Tác giả cũng cho thấy, tỷ lệ chết đột ngột tăng cao khi trứng sắp nở
Cũng giống như nhiệt độ, độ muối có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ chết của trứng
cá thông qua tốc độ phát triển Chẳng hạn, độ muối thấp làm kéo dài giai đoạn ấp đối với cá Bơn [170] và cá Tuyết ở Thái Bình Dương [102] Tuy nhiên, những tác động này đến tỷ lệ chết ở một giai đoạn nào đó của trứng cá dưới điều kiện tự nhiên dường như không đáng kể Trứng cá thường nở ở khoảng độ muối mà bản thân chúng có thể chịu được Khả năng sống sót của trứng cá ở một khoảng rộng của độ muối trong môi trường thí nghiệm cho thấy, độ muối không phải là yếu tố giới hạn
sự thành công ấp nở của trứng Ngay cả đối với những quần thể phải di cư vào vùng nước lợ để đẻ trứng, trứng có thể sống sót được trong khoảng biến động cố định dựa vào đặc tính đẳng muối [170]
Ảnh hưởng của yếu tố môi trường tới giai đoạn sớm của cá Sòng Nhật
(Trachurus japonicus) ở vùng biển phía Đông Trung Quốc - đã được các nhà khoa
Trang 26học Nhật Bản nghiên cứu theo nhóm tuổi của cá Sự phân bố và biến động thành phần loài của trứng cá, cá con theo sự biến đổi của các yếu tố môi trường như nhiệt
độ, độ muối, độ đục, hàm lượng chlorophyll trong vùng nước ven bờ biển Andaman của Thái Lan đã được nghiên cứu bởi Janekarn Vudhichai [125] Từ gần 10.000 cá thể thu được, tác giả đã xác định chúng thuộc 62 họ Sự phong phú của số lượng cá con ở vùng biển này tương tự với các vùng biển khơi nhiệt đới khác Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, thành phần loài cá con của nhóm tầng sát đáy đa dạng hơn nhóm tầng mặt và tầng giữa
Nhiều nước đã sử dụng mô hình quan trắc các yếu tố hải dương học để dự
đoán hướng di chuyển của con non trong đại dương, như đối với loài Palunirus
marginatus ở Hawaii do Polovina thực hiện năm 1999 [126]; với loài Jasus edwardsii và Palunirus cygnus ở Australia do Bruce, Griffin và Bradford [75] thực
hiện năm 2002; trước đó năm 1999, với loài Jasus edwardsii ở Newzealand do Chriswell và Booth thực hiện [184]; và năm 2001 với loài Palunirus argus ở
Bahamas do Lipcius và Stockhausen thực hiện [140] Tuy nhiên kết quả nghiên cứu còn nhiều hạn chế, do có quá nhiều yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự di chuyển của con non
Đối với hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn, Haywood và cộng
sự (1998) [114] đã nghiên cứu về vai trò bảo vệ của các hệ sinh thái đối với trứng
cá, cá con khỏi sự tấn công của các loại cá dữ Rừng ngập mặn ven bờ có vai trò như một chiếc nôi ương ấp cho các nguồn giống, được thể hiện ở kết quả nghiên cứu của Singh (1995) [180] ở Trường Đại học Tổng hợp Malaya, Malaysia Theo các nghiên cứu của Laegdsgaard (1995) [136] và Kenyon (1997) [130] cho thấy, số lượng trứng cá, cá con tại các vị trí có cỏ biển cao gấp từ 2 đến 3 lần tại các vị trí không có cỏ biển Kết quả thí nghiệm về số lượng cá con cư trú tại các thảm cỏ nhân tạo và không có thảm cỏ của tác giả, cũng cho thấy sự chênh lệch mật độ từ 5-
10 lần Theo Vance (1999) [190], số lượng cá con thu được ở các khu vực trên vào ban ngày lại cao hơn so với thu mẫu vào ban đêm và ngược lại, số lượng trứng cá thu được vào ban đêm lại cao hơn ban ngày
Trang 271.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, môi trường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ
+ Điều kiện tự nhiên:
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, sự biến động về các yếu tố khí tượng, thuỷ văn và sinh vật của vịnh Bắc Bộ đều phụ thuộc vào sự biến đổi hoàn lưu khí quyển theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông
Vịnh Bắc Bộ phía Đông giáp đảo Hải Nam, phía Bắc giáp bờ biển Trung Quốc; phía Tây Bắc, Tây và Tây Nam là bờ biển Việt Nam Vịnh Bắc Bộ thông với biển Đông qua eo biển Quỳnh Châu ở phía Đông Bắc, còn ở phía Nam thông với biển Đông qua cửa vịnh Đường bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm, có nhiều sông lớn đổ
ra biển như: sông Bạch Đằng, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông Hồng, sông Đáy, sông Mã, sông Lam Phía Tây và Tây Bắc có nhiều đảo và quần đảo như: Bái Tử Long, Cô Tô, Cát Bà, Hòn Mê, Hòn Ngư, Hòn Mắt Nền đáy khá bằng phẳng, có hình lòng chảo, độ dốc đáy nhỏ và hơi chúc về cửa vịnh Các vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp sông biển và trở thành hệ sinh thái rất độc đáo và phức tạp, nhưng giầu có về tài nguyên thiên nhiên [62]
+ Trường gió:
Gió mùa Đông Bắc hoạt động từ tháng 10 đến hết tháng 3 năm sau, gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 4 đến hết tháng 9, thời kỳ chuyển tiếp giữa hai mùa gió là tháng 3 - 4 và tháng 9 - 10 Nhìn chung tốc độ gió trong mùa Đông Bắc mạnh hơn tốc độ gió trong mùa Tây Nam [4]
+ Sóng biển:
Chế độ sóng ở vịnh Bắc Bộ đặc biệt là ở ngoài vùng biển thoáng, phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ gió, do vậy sóng biển cũng có sự phân mùa rõ rệt Mùa gió Đông Bắc, sóng có hướng Đông Bắc chiếm ưu thế (40%) sau đó là hướng Bắc và hướng Đông, thời gian lặng sóng khoảng 10% Độ cao sóng trung bình khoảng 1,0-1,5m Mùa gió Tây Nam, sóng có hướng Đông Nam và Tây Nam luân phiên nhau chiếm ưu thế, tổng tần suất hai hướng khoảng 60%, thời gian lặng sóng khá lớn vào khoảng 20% Độ cao sóng trung bình đạt xấp xỉ 1m, độ cao sóng lớn nhất ghi nhận
Trang 28được ở vịnh Bắc Bộ có thể lên tới 6-7,5m khi có bão vào giai đoạn các tháng 9-10 [62]
+ Nhiệt độ nước biển:
- Mùa Xuân: Thông thường trong tháng 4, khi gió mùa Tây Nam đã xuất
hiện, kèm theo sự gia tăng bức xạ mặt trời, nhiệt độ nước mặt biển nửa sau tháng 4 cũng tăng lên khá nhanh (khoảng 2,5 - 3,5oC) so với thời kỳ các tháng mùa Đông trước đó Nhiệt độ nước trong toàn vịnh dao động trong khoảng từ 20,0oC đến 25,5oC ở lớp bề mặt và xấp xỉ 19,0oC đến 23,0oC ở tầng đáy Trên tầng mặt, nhiệt
độ phân bố theo xu thế tăng từ Bắc xuống Nam, từ bờ ra khơi và tạo thành dải front
rõ nét từ khơi vùng biển Thanh Hoá đến phía Đông đảo Bạch Long Vỹ Trong khi
đó nhiệt độ phân bố ở tầng đáy khu vực Bắc vĩ tuyến 18o30’N có xu thế tăng từ Bắc xuống Nam Riêng vùng ven bờ từ đảo Hòn Mê (Thanh Hóa) đến đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) và vùng cửa vịnh, do ảnh hưởng xâm nhập nước Biển Đông, nhiệt độ nước tầng đáy cao (22,0oC - 23,0oC) với xu thế giảm từ bờ ra khơi và từ cửa vịnh lên phía Bắc [62]
- Mùa Hạ: Trung bình nhiều năm nhiệt độ nước ở phần lớn vịnh khá cao, dao
động từ 27,5oC đến trên 29,5oC (tầng mặt) và 21,5oC đến 29,0oC (tầng đáy), cao nhất ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc, thấp nhất ở vùng cửa vịnh Những đặc điểm đáng chú ý là ngoài hình thế phân bố các đẳng nhiệt ngược lại hoàn toàn so với dạng hình thế mùa Đông và sự chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy đạt giá trị lớn nhất trong năm còn nhận thấy ở dải nước ven bờ từ vĩ độ 17o30’N đến
18o30’N tồn tại hiện tượng nước trồi, với gió mùa Hạ được tạo nên bởi hậu quả lùa - dâng, nguyên nhân là do sự không đồng nhất về hướng và tốc độ gió tại khu vực vào giai đoạn này Theo kết quả thống kê, nhiệt độ nước biển tầng đáy dao động trong khoảng 20,0oC ÷ 31,9oC, trung bình là 27,2oC [62]
- Mùa Thu: Hệ thống gió mùa Tây Nam đã suy yếu dần và gió mùa Đông
Bắc đã hoạt động trở lại, tuy nhiên cường độ hoạt động của hệ thống gió mùa Đông Bắc chưa mạnh Phân bố nhiệt độ trung bình nhiều năm ở tầng mặt và tầng đáy dao động trong khoảng 26,5 -30,5oC Nền nhiệt tầng mặt và tầng đáy vẫn bị chi phối bởi
Trang 29khối nước ấm ở phía Tây Bắc và khối nước có nhiệt độ thấp ở phía cửa vịnh Trong mùa Thu, khối nước ấm ở tầng đáy đã xuống sâu đến khu vực Quảng Trị và mở rộng ra đến khu vực giữa vịnh, khối nước có nhiệt độ thấp chiếm phần nhỏ diện tích khu vực cửa vịnh và chủ yếu ở vùng có độ sâu lớn hơn 80m Nhiệt độ toàn bộ lớp nước tầng đáy dao động trong khoảng 20,1÷29,8oC, trung bình là 27,3oC [62]
- Mùa Đông: Vùng nước lạnh có nhiệt độ dưới 22,5oC chiếm phần lớn vịnh với xu thế chung là phía Bắc lạnh, vùng ven bờ nhiệt độ tầng mặt khoảng 16,5oC - 19,5oC, càng xuống phía Nam càng ấm hơn Do ảnh hưởng của dòng chảy lạnh tầng mặt đi từ phía Bắc xuống phía Nam men theo bờ phía Tây vịnh, các đường đẳng nhiệt có hướng Đông Bắc - Tây Nam Vào khoảng tháng 2 - 3, dòng nước lạnh dọc
bờ phía Tây thâm nhập tới tận vùng biển ven bờ phía Nam vịnh Ngoài ra còn phải
kể đến vai trò tương tác giữa biển và lục địa làm cho nhiệt độ nước biển ở phía bờ Tây thấp hơn so với phía bờ Đông vịnh Trong thời kỳ này tại cửa chính phía Nam hình thành một khối nước ấm với nhiệt độ trên 24,0oC thâm nhập vào vịnh Bắc Bộ Vùng giữa vịnh, nhiệt độ tầng mặt nước biển thường dao động trong khoảng từ 19,5oC đến dưới 24,0oC [62]
+ Độ muối nước biển:
- Mùa Xuân: Xu thế phân bố độ muối ở tầng mặt và tầng đáy ít có sự khác
biệt, giá trị độ muối dao động trong khoảng 29,0 - 32,0‰ ở vùng ven bờ, và từ 32,5
- 34,0‰ ở vùng ngoài khơi [4, 62]
- Mùa Hạ: Trên tầng mặt, giá trị trung bình nhiều năm độ muối nước biển
giảm từ 33,5‰ xuống dưới 29,0‰ theo hướng Tây Bắc từ cửa vịnh vào bờ Tại tầng đáy xu thế phân bố độ muối cũng tương tự như tầng mặt [4, 62]
- Mùa Thu: Độ muối dao động trong khoảng từ 27,0‰ đến 33,5‰ ở tầng
mặt, từ 28,0‰ đến 34,0‰ ở tầng đáy và biến đổi nhanh trong phạm vi dải độ sâu 20 -30m [4, 62]
- Mùa Đông: Sang mùa đông, độ muối nước biển lên đến trên 33,5‰ ở ngoài
khơi thâm nhập vào vịnh Bắc Bộ Vùng giữa vịnh và cửa vịnh thường có độ muối cao hơn vùng khác trong vịnh [4, 62]
Trang 301.2.2 Nghiên cứu về giai đoạn phát triển sớm của cá ở vịnh Bắc Bộ
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về trứng cá, cá con ở Việt Nam chưa được điều tra trên diện rộng và còn rời rạc, chủ yếu tiến hành ở vùng cửa sông, cửa vịnh và một số khu vực nên kết quả chưa toàn diện Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân loại học, điều tra thành phần loài, phân bố, mô tả các giai đoạn phát triển của một số loài (hoặc nhóm loài)
Công trình đầu tiên nghiên cứu về trứng cá, cá con ở vịnh Nha Trang đã xác định nhịp điệu di cư thẳng đứng ngày đêm của cá bột do các chuyên gia Pháp tiến hành vào năm 1937, tuy nhiên số lượng mẫu thu được không nhiều [90] Năm 1959-
1960, trong khuôn khổ của Dự án điều tra tổng hợp vịnh Bắc Bộ của đội điều tra liên hợp Việt - Trung, khảo sát liên tục trong 13 tháng và đã xác định được 125.492 trứng cá và 17.131 cá con thuộc 38 họ, 27 giống và 44 loài Bước đầu đã đưa ra các dẫn liệu về sự phân bố của trứng cá, cá con, dự báo bãi đẻ, mùa đẻ của một số loài
cá ở vịnh Bắc Bộ Tiếp theo năm 1960-1961, đoàn hợp tác Việt - Xô đã bố trí thí nghiệm thụ tinh nhân tạo và nghiên cứu giai đoạn phát triển sớm của 20 loài cá có giá trị kinh tế
Trạm Nghiên cứu cá biển Hải Phòng (nay là Viện Nghiên cứu Hải sản) đã tổ chức khảo sát vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ từ Cát Bà đến Hà Tĩnh trong các năm 1962, 1963 và 1965, xác định được 3.806 trứng cá và 1.008 cá con Năm 1970-
1971, trạm đã tiến hành nghiên cứu trứng cá, cá con hàng tháng thu mẫu liên tục (một ngày đêm thu 6 lần, mỗi tháng điều tra 2 đợt) tại các cửa sông Ba Lạt, Ninh
Cơ, Cửa Đáy đã thu được 99.390 trứng cá và 10.979 cá con Sơ bộ đã xác định được mùa vụ và biến động của một số loài cá phổ biến ở vùng cửa sông ven bờ như: cá Trích, cá Trỏng, cá Đù, cá Vược… Năm 1971-1972, trạm đã tiến hành khảo sát vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng và thu được 35.150 trứng cá và 4.747 cá con Trong đó, đã xác định được một số loài cá là nguồn giống của các đối tượng khai thác ở vùng ven bờ, và các đối tượng này có thể trở thành giống nuôi trong các đầm nước lợ ven biển Kết quả cũng đã nêu sự liên quan của các điều kiện môi trường như: nhiệt độ, độ muối, dòng hải lưu… tới đối tượng trứng cá, cá con
Trang 31Nguyễn Bá Hùng (1962) [20], qua số liệu thống kê số lượng trứng cá, cá con vùng ven bờ vịnh Bắc Bộ, đã xác định mùa đẻ chính của cá từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm; và từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau là mùa đẻ phụ của cá
Một vài giai đoạn phát triển, sự sinh sản và phân bố của cá Ngừ con ở vịnh Bắc Bộ, đã được Nguyễn Anh (1963) [2] thể hiện tương đối rõ Tác giả đã đưa ra hình vẽ các loài cá Ngừ con, sơ đồ phân bố, sinh sản, sơ đồ các điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ muối, dòng chảy, mật độ sinh vật phù du… Song kết quả còn rất sơ sài và mang tính chất chung cho cả vùng rộng lớn
Năm 1976-1977, Đỗ Văn Nguyên [38] và Hồ Thanh Hải [42] đã tiến hành nghiên cứu trứng cá, cá con ở vùng biển ven bờ phía Tây vịnh Bắc Bộ, từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Cửa Sót (Hà Tĩnh), bước đầu đã đưa ra thành phần và biến động
số lượng của trứng cá, cá con trong vùng nghiên cứu Bên cạnh đó, các tác giả cũng
đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sự xuất hiện của trứng
cá, cá con, giúp cho việc dự đoán mùa đẻ của đàn cá bố mẹ
Nguồn giống tôm, cá vào đầm nước lợ Tràng Cát (Hải Phòng) đã được nghiên cứu bởi Nguyễn Mạnh Long, Đào Tất Kim và Nguyễn Văn Bé (1976) [31] Kết quả cho thấy, trong những ngày đầu con nước, số lượng con giống vào đầm phong phú hơn những ngày sau nhiều lần
Nguồn giống cá trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn, các đầm nuôi nước lợ ven bờ Hải Phòng - Quảng Ninh đã được nghiên cứu từ những năm 1980 -1985 trong các công trình của Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thị Thu và Lê Thị Thúy (1993) Kết quả cho thấy, ở vùng xung quanh rừng ngập mặn và các bãi có rừng ngập mặn số lượng nguồn giống cá cao gấp 3-5 lần nơi không có hay xa rừng ngập mặn; số lượng cá con thu được trong pha thuỷ triều lên cao hơn gấp nhiều lần pha thuỷ triều rút Đăc biệt, kết quả nghiên cứu về nguồn giống tôm, cua, cá ở vùng biển phía Đông Nam đảo Cát Bà cũng bước đầu được nghiên cứu để làm cơ sở khoa học cho khu bảo tồn biển Cát Bà, Hải Phòng [68]
Khi nghiên cứu về cá bột họ cá mối - Synodontidae ở vịnh Bắc Bộ, với nguồn số liệu thu được từ tháng 12 năm 1959 đến tháng 12 năm 1960 của 6 tàu điều
Trang 32tra (mỗi tháng sử dụng từ 2-3 tàu), Nguyễn Hữu Phụng (1985) đã tập trung nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của cá bột họ cá mối như sự phân bố, mùa vụ xuất hiện trong mối quan hệ của nó với các yếu tố môi trường biển Bên cạnh đó một số đặc điểm hình thái của 7 loài cá mối thường gặp ở vùng biển nghiên cứu cũng đã được
tác giả mô tả và so sánh Tác giả cũng đã xác định cá mối vạch - Saurida
undosquamis và cá mối thường - S Tumbil ở vùng biển vịnh Bắc Bộ là đối tượng
chiếm ưu thế
Năm 1991, các nghiên cứu về trứng cá, cá con ở vùng biển Việt Nam được tổng kết bởi Nguyễn Hữu Phụng [50] Kết quả cho thấy, ở vùng biển Việt Nam thành phần trứng cá, cá con rất phong phú Đã xác định được 102 họ cá thuộc 19 bộ Trứng cá, cá con xuất hiện quanh năm, nhiều loài có thời gian xuất hiện rất dài, nhưng phổ biển và tập trung chủ yếu từ tháng 4 - 6 và tháng 10 - 12, có khi cả năm
Số lượng trứng cá, cá con phong phú nhất là vùng biển vịnh Bắc Bộ (đặc biệt là ở ven bờ phía Tây Bắc vịnh, xung quanh đảo Bạch Long Vỹ và phía Tây Nam đảo Hải Nam), trung bình đạt 83 trứng cá và 95 cá con /100m3 nước biển, cao nhất vào tháng 5 với 282 trứng cá và 218 cá con/100m3 nước biển
Năm 1996-1997, cùng với việc nghiên cứu cấu trúc, chức năng hệ sinh thái
cỏ biển, kết quả nghiên cứu về trứng cá, cá con trong thảm cỏ biển lần đầu tiên được đề cập đến ở các thảm cỏ biển khu vực Gia Luận (Cát Bà, Hải Phòng) và đầm Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) [60] Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng trứng cá,
cá con ở những mặt cắt có cỏ biển cao hơn các vị trí không có cỏ khoảng 2-3 lần
Năm 1991, các nghiên cứu về trứng cá, cá con ở vùng biển Việt Nam đã được tổng hợp bởi Nguyễn Hữu Phụng [50] Kết quả cho thấy thành phần loài trứng
cá, cá con ở vùng biển vịnh Bắc Bộ phong phú nhất, với mật độ trung bình đạt 83 trứng cá và 85 cá con/100m3 nước, cao nhất xuất hiện vào tháng 5 với mật độ đạt
282 trứng cá và 218 cá con/100m3 nước và mùa vụ sinh sản tương đối rõ ràng
Năm 1999, tàu M.V SEAFDEC2 của Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á nghiên cứu ở vùng Biển Đông (Việt Nam) đã xác định trứng cá, cá con tập trung cao ở vùng biển ven bờ và khu vực quanh các đảo, vùng biển xa bờ xuất hiện
Trang 33với số lượng thấp hơn Vùng biển phía Bắc có số lượng trứng cá, cá con cao hơn vùng biển phía Nam Vùng biển miền Trung số lượng trứng cá, cá con thấp nhất Sự phân bố của trứng cá thường tập trung thành bãi và có mật độ cao hơn cá con ở các bãi đẻ [40]
Vai trò của đầm phá ven biển được xác định là nơi sinh cư tự nhiên (habitat) của nguồn giống Đề tài “Khảo sát điều tra bãi giống, bãi đẻ của các đối tượng cá kinh tế đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và đề xuất các biện pháp bảo vệ” của Nguyễn Văn Tiến (2001) [65] đã xác định, thành phần nguồn giống cá trong đầm phá khá đa dạng và phong phú với 54 họ cá thuộc 14 bộ Cấu trúc thành phần giống
cá trong đầm phá, tương tự như quần xã cá trưởng thành, cũng bao gồm 03 nhóm sinh thái: nước lợ, nước mặn và nước ngọt Khu vực tập trung trứng cá, cá con có thành phần đa dạng và số lượng phong phú là phá Tam Giang, Đầm Sam và Ba Cồn Bên cạnh đó, Đề tài cũng đánh giá sự biến động của mật độ nguồn giống cá theo mùa trong năm và cho rằng: Trứng cá, cá con chủ yếu tập trung với số lượng cao vào mùa khô (từ tháng 3 đến tháng 8)
Kết quả nghiên cứu của Chu Tiến Vĩnh và cộng sự (2001) [71] đã xác định, vùng biển ven bờ Thanh Hóa là bãi đẻ của hầu hết các loài cá, mực có giá trị kinh
tế Tiếp theo đó, kết quả điều tra về xu hướng phân bố của nguồn giống cá và tôm ở vùng biển Thanh Hóa cũng đã ghi nhận được 03 bãi đẻ trọng điểm là cửa Lạch Sung
- Hòn Nẹ, cửa Lạch Hới - Sầm Sơn và cửa Lạch Bạng - Hà Lẫm Trong đó, vùng cửa sông và xung quanh hòn Nẹ thường có mật độ trứng cá, cá con và ấu trùng tôm, tôm con tập trung cao hơn các vùng khác [24]
Nguyễn Khắc Bát và các chuyên gia Nga (2006) [3] đã xác định một số nguyên nhân chính gây tử vong đối với trứng cá và cá con ở vịnh Nha Trang (Khánh Hoà), Quảng Bình và đảo Cát Bà (Hải Phòng) chủ yếu là do nhiễm kí sinh, địch hại và chất lượng môi trường nước
Với mục tiêu nhằm cung cấp luận cứ và thiết lập thí điểm một số khu duy trì nguồn giống thủy sản thuộc các vùng biển ven bờ có các hệ sinh thái đặc thù như cửa sông, rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn ở Việt Nam, Viện Hải dương
Trang 34học (Nha Trang) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thiết lập một số khu duy trì nguồn giống thủy sản (Fisheries Refugia) ở Việt Nam” từ năm 2012-2015 Kết quả đã xác định được 21 khu vực có tiềm năng để thiết lập mạng lưới các khu duy trì nguồn giống thủy sản trong vùng biển ven bờ Việt Nam Trong đó, có 05 khu có tiềm năng rất cao gồm: đầm Đề Gi, Thị Nại (Bình Định), Bình Cang - Nha Phu (Khánh Hòa), Thạnh Phú (Bến Tre) và Phú Quốc (Kiên Giang); 06 khu có tiềm năng cao là vùng ven bờ phía Bắc Thanh Hóa, Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế), vùng ven bờ
Đà Nẵng, vùng ven bờ Ninh Hải (Ninh Thuận), Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) và Vườn Quốc gia Cà Mau; 10 khu vực ở mức trung bình gồm Quan Lạn (Quảng Ninh), Cát Bà, Bạch Long Vỹ (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hóa), cửa sông Thu Bồn, Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Khu bảo tồn Hòn Cau (Bình Thuận), vịnh Nha Trang, đầm Thủy Triều (Khánh Hòa) và Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu) [32]
Những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu về nguồn giống hải sản ở vùng biển Việt Nam đã được Viện Nghiên cứu Hải sản quan tâm thực hiện trong nội dung của các Đề tài/Dự án như Dự án “Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ” từ năm 2006 đến năm 2016; Dự án “Điều tra tổng thể hiện trạng và biến động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam” từ năm 2011 đến năm 2015; Dự án “Điều tra tổng thể hiện trạng và biến động nguồn lợi hải sản biển ven bờ Việt Nam” năm 2015 và 2016 Đặc biệt là Đề tài
“Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo vệ trứng cá, cá con và ấu trùng tôm, tôm con ở vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ” thực hiện năm 2010-2011, được xem là hoạt động đầu tiên theo hướng nghiên cứu chuyên sâu về giai đoạn sớm của
cá và tôm Tuy nhiên với số lượng trạm nghiên cứu còn hạn chế, các kết quả này cũng mới chỉ đưa ra các khu vực tập trung của trứng cá, cá con thuộc phạm vi của
Đề tài nghiên cứu và thời gian đánh giá tương đối rộng (theo mùa gió), nên độ chính xác còn hạn chế
Do ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết, khí hậu nên mùa vụ sinh sản của các loài hải sản chủ yếu có sự khác biệt giữa các vùng biển Khu vực tập trung của
Trang 35nguồn giống được xác định theo mùa gió Nhìn chung, phạm vi điều tra của các dự
án với quy mô khác nhau, mạng lưới trạm nghiên cứu cũng khác nhau Các kết quả phân tích trên cơ sở dữ liệu hiện có, nên không thể hạn chế được những bất cập đã
có ở các chương trình điều tra nghiên cứu trước Cách tiếp cận điều tra theo mùa gió với tần suất 1 chuyến điều tra đại diện cho một mùa gió là không phù hợp với nội dung điều tra nghiên cứu về nguồn giống và cơ sở khoa học cho bảo vệ nguồn lợi
Dữ liệu phân tích chưa tận dụng triệt để nguồn dữ liệu lịch sử Quá trình phân tích chưa tích hợp giữa dữ liệu về nguồn giống hải sản với dữ liệu mùa sinh sản để nhận định có cơ sở khoa học vững chắc hơn Kết quả nghiên cứu xác định vùng bảo vệ nguồn giống hải sản còn rộng, gây khó khăn cho công tác thực thi pháp luật Chưa thực hiện điều tra vùng phân bố tập trung để xác định và khu trú phạm vi vùng bảo
vệ Các đối tượng hải sản kinh tế mang đặc trưng cho các vùng biển chưa được quan tâm nghiên cứu
1.2.3 Hiện trạng nguồn lợi và hoạt động khai thác hải sản ở vịnh Bắc Bộ
+ Nguồn lợi hải sản:
- Thành phần loài: Số lượng các loài hải sản ở biển Việt Nam khá phong phú
và đa dạng Kết quả các chuyến điều tra nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam bằng lưới rê, câu vàng, lưới kéo đáy và lưới kéo trung tầng trong giai đoạn 2011-2015 đã bắt gặp 941 loài hải sản, thuộc 462 giống, 191 họ các loài hải sản, trong đó vùng biển vịnh Bắc Bộ có 430 loài, chiếm khoảng 46% tổng số Kết quả điều tra cho thấy, ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, mùa gió Đông Bắc bắt gặp số lượng họ, giống, loài nhiều hơn ở mùa gió Tây Nam Các loài chiếm ưu thế về sản lượng ở vùng biển này
bao gồm: cá Nục sồ (Decapterus maruadsi); cá Sòng nhật (Trachurus japonicus); Mực ống Trung Hoa (Loligo chinensis); cá Bánh đường (Evynnis cardinalis); cá Mối thường (Saurida tumbil) và cá Sơn phát sáng (Acropoma japonicum) [37]
- Năng suất khai thác: Năng suất khai thác hải sản bằng lưới kéo đáy ở vịnh
Bắc Bộ biến động khác nhau giữa các dải độ sâu Năng suất khai thác trong mùa gió Tây Nam thấp hơn so với ở mùa gió Đông Bắc
Trang 36Năng suất khai thác cao nhất ở dải độ sâu 50-100m trong mùa gió Đông Bắc năm 2012-2013, trung bình đạt 175 kg/giờ kéo lưới và thấp nhất là 37 kg/giờ kéo lưới ở mùa gió Tây Nam năm 2013 Tính chung cho toàn vùng biển thì năng suất khai thác trung bình đạt 100 kg/giờ ở mùa gió Đông Bắc và 61 kg/giờ ở mùa gió Tây Nam So sánh với kết quả kiểm tra giai đoạn 2001 - 2005 thì năng suất khai thác ở dải độ sâu 20-30m nước đang trong xu hướng suy giảm Các dải độ sâu khác không thể hiện rõ xu hướng, tuy nhiên biến động năng suất khai thác giữa các thời điểm điều tra là khá lớn [36]
- Trữ lượng: Trữ lượng nguồn lợi ở vùng biển vịnh Bắc Bộ ước tính khoảng
757 ngàn tấn (chiếm 17,3% tổng toàn vùng biển) Nhóm nguồn lợi cá nổi nhỏ chiếm
tỷ trọng lớn (82,7% tổng số) và có chiều hướng gia tăng so với giai đoạn
2000-2005 Trong khi đó, nhóm hải sản tầng đáy có chiều hướng giảm sút khá rõ rệt [17]
+ Tình hình khai thác:
- Số lượng tàu thuyền: Tổng số tàu thuyền khai thác hải sản của cả nước tính
đến tháng 5/2014 là 113.557 chiếc (theo thống kê của các tỉnh ven biển) Trong đó, vùng vịnh Bắc Bộ có 34.574 chiếc (chiếm 30,4% tổng số)
Vùng vịnh Bắc Bộ bao gồm các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình có tổng số tàu thuyền khai thác là 34.574 chiếc, trong đó, số lượng tàu khai thác xa bờ là 5.450 chiếc (chiếm 15,8% tổng số) Nghề lưới rê là nghề chủ đạo, chiếm 49,9% tổng số tàu thuyền; tiếp theo là nghề câu, chiếm 17,9% tổng số tàu thuyền Quảng Ninh là tỉnh có số lượng tàu thuyền lớn nhất, với tổng số 10.811 chiếc; tiếp theo là tỉnh Thanh Hóa có 6.800 chiếc [17]
- Cường lực khai thác: Tổng cường lực khai thác của các đội tàu trên toàn
quốc đạt khoảng 8,5 triệu ngày/tàu, trong đó vùng vịnh Bắc Bộ đạt 1,8 triệu ngày/tàu, với cường lực của các đội tàu khai thác ven bờ lớn hơn rất nhiều so với đội tàu khai thác ở vùng biển xa bờ [17, 36]
- Thành phần sản lượng khai thác: Sản lượng khai thác của nghề lưới kéo
chiếm ưu thế bởi nhóm cá lợn (hay còn gọi là cá tạp, cá phân, cá bè) Đây là nhóm thương phẩm gồm rất nhiều loài khác nhau, bao gồm các loài cá tạp và các loài cá
Trang 37kinh tế nhưng ở giai đoạn còn non Ngoài ra, các nhóm ưu thế trong sản lượng của nghề lưới kéo gồm nhóm cá xô, nhóm mực và nhóm cá rạn [36]
Nghề lưới vây gồm vây ánh sáng và vây thường Chiếm ưu thế trong sản lượng của nghề lưới vây ánh sáng ở vịnh Bắc Bộ là nhóm thương phẩm cá Nục Ngoài ra, một số nhóm ưu thế khác như cá Khế, cá Bạc má, cá Trích, tuy nhiên sản lượng khai thác của các nhóm này có sự biến động theo mùa gió
Chiếm ưu thế trong sản lượng khai thác của nghề lưới rê đáy là các loài cá Lượng, cá Đầu vuông và nhóm Cua, Ghẹ Các nhóm khác thường được xếp chung vào nhóm cá xô Tỉ lệ cá lợn trong sản lượng khai thác của nghề lưới rê đáy nhìn chung là thấp Đối với nghề lưới rê tầng mặt, thành phần sản lượng chiếm ưu thế là các nhóm cá Trích và cá Bạc má Nhóm cá xô, gồm nhiều loài khác nhau là nhóm thương phẩm thường gặp và có tỉ lệ sản lượng ít biến động nhất trong sản lượng khai thác của nghề lưới rê nói chung
Nghề chụp ở vịnh Bắc Bộ hoạt động kiêm nghề giữa câu tay và chụp mực hoặc chụp cá Sản lượng khai thác của nghề này chủ yếu là mực và cá nổi nhỏ
Nghề mành: Sản lượng khai thác của nghề mành chủ yếu là nhóm cá nổi nhỏ Thành phần loài trong sản lượng khai thác có sự thay đổi theo từng thời điểm khai thác nhưng chiếm ưu thế chủ yếu là các loài thuộc nhóm cá Nục, cá Khế và cá Cơm
- Năng suất khai thác: Các đội tàu khai thác nhóm nguồn lợi tầng đáy, gồm
lưới kéo đáy đôi, kéo đơn, lưới rê đáy và câu vàng đáy có năng suất khai thác cao vào mùa gió Tây Nam Các đội tàu khai thác nhóm cá nổi như lưới vây ánh sáng, lưới vây thường, lưới rê nổi, mành và chụp năng suất khai thác biến động khác nhau
và không thể hiện rõ chu kỳ biến động tăng cao hoặc giảm xuống giữa các tháng trong năm Kết quả phân tích dữ liệu nhật ký khai thác từ tháng 7/2014 đến hết tháng 6/2015 cho thấy có những thời điểm năng suất khai thác của nghề lưới vây ánh sáng tăng cao nhưng ở nghề mành năng suất khai thác lại rất thấp mặc dù đối tượng khai thác cùng là nhóm cá nổi
- Ngư trường khai thác: Ở vịnh Bắc Bộ, khu vực khai thác của nghề lưới kéo
với tần suất cao tập trung chủ yếu ở vùng biển ven bờ từ Hải Phòng đến Nghệ An
Trang 38Đây là khu vực có tần suất khai thác cao nhất ở vịnh Bắc Bộ Khu vực phía Nam vịnh Bắc Bộ và vùng đánh cá chung (Việt Nam - Trung Quốc) có tần suất khai thác thấp hơn
Nghề lưới rê, gồm cả rê đáy và rê nổi có ngư trường hoạt động rất rộng, đặc biệt là nghề lưới rê nổi Ngư trường khai thác với mật độ cao là khu vực Cát Bà - Long Châu (Hải Phòng), ven bờ Nghệ An và khu vực cửa vịnh Bắc Bộ
Nghề lưới vây có ngư trường khai thác tập trung chủ yếu diễn ra ở một số vùng nhất định như phía Nam vịnh và cửa vịnh Bắc Bộ
Các nghề khác chủ yếu tập trung khai thác ở vùng biển Cát Bà - Cô Tô đến Bạch Long Vỹ và khu vực cửa vịnh Bắc Bộ
- Sản lượng khai thác: Tổng sản lượng khai thác hải sản của nghề cá biển
Việt Nam (từ tháng 7/2014 đến tháng 6/2015) ước tính khoảng 3,72 triệu tấn, trong
đó ở vịnh Bắc Bộ đạt 652 ngàn tấn, chiếm khoảng 17,5% tổng sản lượng [17, 36]
Ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, sản lượng khai thác chủ yếu là của nghề chụp (279 ngàn tấn, chiếm 43% sản lượng), nghề lưới kéo đôi (113 ngàn tấn, chiếm 17% sản lượng) và nghề lưới kéo đơn (109 ngàn tấn, chiếm 17% sản lượng) Các họ nghề lưới vây, lưới rê và vó mành chiếm tỉ lệ tương đương nhau trong sản lượng khai thác ở vịnh Bắc Bộ, khoảng từ 6 đến 8% tổng sản lượng Sản lượng khai thác của nghề câu chỉ chiếm khoảng 2% trong tổng sản lượng khai thác ở vịnh Bắc Bộ, ước tính khoảng 16 ngàn tấn [36]
1.3 Những tồn tại và hạn chế
Nguồn lợi thủy hải sản không phải là vô tận Hiện nay, nguồn lợi đang ngày càng có xu hướng cạn kiệt dần bởi các hoạt động khai thác và tác động của môi trường Các nghiên cứu gần đây cho thấy, nguồn lợi đang có xu hướng suy giảm một cách nghiêm trọng, đặc biệt là nguồn lợi hải sản vùng gần bờ, cả về chất và lượng Năng suất đánh bắt cũng giảm từ 0,92 tấn/CV vào năm 1990 xuống 0,35 tấn/CV vào năm 2002 [53] Sản lượng và kích thước trung bình của cá có giá trị kinh tế cao đã bị suy giảm đáng kể
Do bị khai thác quá mức nên nhiều loài có giá trị kinh tế, quí hiếm ở vùng
Trang 39ven bờ đang bị đe doạ tuyệt chủng Ví dụ tỉ lệ đánh bắt cá Hồng giảm từ 11,6% (1965) xuống còn 3,4% (1990), cá Sạo từ 12% xuống còn 3,4%, cá Phèn từ 4,8% xuống còn 0,13%, cá Mối vạch từ 44,3% (1980) xuống còn 1,1% (1988) Danh sách các loài thủy sản bị đe dọa tăng từ 15 loài (1989) lên 135 loài (78 loài hải sản - năm 1996) Một số loài thủy đặc sản có nguy cơ cạn kiệt [35]
Do hầu hết các hoạt động khai thác chỉ tập trung tại các vùng ven bờ (độ sâu
<30m), nên tại một số khu vực đã bị khai thác quá mức cho phép từ 10% đến 12% Năng suất khai thác hải sản của một số nghề chính như lưới kéo tôm, lưới rê, mành đèn, chà, vó kết hợp với ánh sáng, lưới vây đã giảm từ 30 đến 60% so với những năm đầu thập kỷ 90 Trữ lượng cá đáy trong vòng 10 năm (1984-1994) đã giảm tới trên 30% Các bãi cá kinh tế suy giảm sản lượng, năng suất đánh bắt giảm 2-6 lần Việc sử dụng các công cụ đánh bắt mang tính chất huỷ diệt như độc tố cyanua, mìn, xung điện, mắt lưới quá nhỏ trong đánh bắt thủy sản ngày càng phổ biến; đồng thời
sự gia tăng số lượng tàu thuyền đánh bắt thủy sản đã và đang làm cho trữ lượng nguồn lợi thủy sản suy giảm nghiêm trọng [36]
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nguồn lợi ngày càng có xu hướng giảm dần là
do các bất cập trong quy hoạch, quản lý và khai thác nguồn lợi thủy hải sản, do thiếu các nguồn số liệu đầu vào cho quy hoạch như số liệu nghiên cứu giai đoạn sớm của cá Chúng ta chưa có các số liệu điều tra theo chuỗi thời gian, do đó các kết quả đánh giá còn nhiều hạn chế
Để có cơ sở khoanh vùng cấm (hạn chế) trong quản lý, khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững, chúng ta cần phải có các nguồn dữ liệu đầu vào đáng tin cậy Nguồn số liệu đầu vào này cần phải được cập nhật thường xuyên, liên tục theo một nguyên tắc, phương pháp chuẩn nhất định Thực tế quy hoạch hiện nay, chúng ta rất thiếu các nguồn số liệu đầu vào này và phần lớn phải sử dụng các nguồn số liệu cũ,
từ nhiều nguồn khác nhau, không phản ánh được đúng hiện trạng của nguồn lợi, dẫn đến các chính sách quản lý, chiến lược quy hoạch ít mang tính thực tiễn
Nhìn chung, công tác điều tra nghiên cứu giai đoạn sớm của cá ở biển Việt Nam được tiến hành từ rất sớm và đã có khá nhiều chương trình nghiên cứu đã được
Trang 40thực hiện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan nên các chương trình điều tra, nghiên cứu ở các giai đoạn trước đây còn có một số vấn đề tồn tại và hạn chế, như sau:
i) Hiện trạng trứng cá, cá con còn chưa được nghiên cứu đầy đủ: Hoạt
động điều tra, nghiên cứu đánh giá hiện trạng trứng cá, cá con ở vùng biển vịnh Bắc
Bộ còn thiếu, mang tính cục bộ, chưa có các chương trình nghiên cứu đồng bộ rộng khắp trên phạm vi toàn vùng biển, từ bờ ra khơi
ii) Kết quả điều tra về trứng cá, cá con còn hạn chế: Việc sử dụng các
công cụ nghiên cứu, tàu thuyền nghiên cứu cũng như các thiết bị nghiên cứu còn nhiều hạn chế Do kinh phí hạn hẹp ở một số đề tài nên số lượng các trạm nghiên cứu và số lần lặp lại ít, dẫn đến việc đánh giá và đưa ra các kết quả còn chậm, ảnh hưởng đến tính thời sự của kết quả
iii) Không liên tục: Công tác điều tra chưa mang tính hệ thống liên tục mà
bị ngắt quãng Các điều tra nghiên cứu thường được thực hiện riêng rẽ ở các đề tài/dự án khác nhau, tại các thời điểm khác nhau và còn mang tính tức thời, trước mắt mà chưa giải quyết được các vấn đề mang tính chiến lược lâu dài Điều này dẫn đến các kết quả đánh giá thiếu tính đồng bộ, chưa đảm bảo độ tin cậy
iv) Chưa đồng bộ: Các nghiên cứu chưa gắn kết được với các yếu tố môi
trường, hải dương học và động - thực vật phù du Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu sự liên quan mật thiết của các yếu tố này đến trứng cá, cá con, để
có thể đưa ra các đánh giá, dự báo dựa vào các cấu trúc hải dương học nghề cá Do vậy đã hạn chế các kết quả đầu ra để tư vấn cho việc quy hoạch, phát triển các đội tàu khai thác, đảm bảo phát triển bền vững nguồn lợi
v) Các kiến nghị, giải pháp còn hạn chế: Việc điều tra đánh giá đa dạng
sinh học nói chung và trứng cá, cá con nói riêng trong thời gian qua hầu hết đều dừng lại ở việc đưa ra các con số đánh giá về thành phần loài, vấn đề đề xuất các kiến nghị về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững còn hạn chế Khu vực đề xuất bảo vệ còn rộng và dàn trải, khả năng thực thi pháp luật còn gặp nhiều khó khăn và chưa sát với hiện tại