Nghiên cứu hành vi xã hội trí nhớ học tập trên động vật thực nghiệm được tiêm ketamin và đánh giá tác dụng của một số thuốc chống loạn thần Nghiên cứu hành vi xã hội trí nhớ học tập trên động vật thực nghiệm được tiêm ketamin và đánh giá tác dụng của một số thuốc chống loạn thần luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÊ THỊ MINH PHƯƠNG
NGHI£N CøU H×NH TH¸I §¤ THÞ Hµ NéI PHôC Vô §ÞNH H¦íNG QUI HO¹CH D¦íI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Phạm Văn Cự
2 TS Đinh Thị Bảo Hoa
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án “Nghiên cứu hình thái đô thị Hà Nội phục vụ định hướng qui hoạch dưới sự trợ giúp của viễn thám
và hệ thông tin địa lý” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014
Tác giả luận án
Lê Thị Minh Phương
Lê Thị Minh Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Phạm Văn Cự và TS Đinh Thị Bảo Hoa, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận án Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Thầy Cô
đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, Khoa Địa
lý, Bộ môn Bản đồ Viễn thám và Trung tâm ICARGC đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm NCS Tôi xin cảm ơn trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội đã tạo điều kiện về thời gian cho tôi học NCS
Luận án được thực hiện trong khuôn khổ đề tài " Tiếp cận không gian và các phương pháp định lượng áp dụng vào nghiên cứu hình thái phát triển đô thị Hà Nội"
do NAFOSTED tài trợ và do PGS.TS Phạm Văn Cự chủ trì
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Bản đồ Viễn thám, các bạn đồng nghiệp đã đóng góp những ý kiến để luận án được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày … tháng … năm
Tác giả luận án
Lê Thị Minh Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận án 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những điểm mới của Luận án 4
5 Luận điểm bảo vệ 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5
7 Cơ sở tài liệu 5
8 Cấu trúc của luận án 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI ĐÔ THỊ 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu hình thái đô thị 7
1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 24
1.3 Đất đô thị trong nghiên cứu hình thái khu vực Hà Nội 29
1.4 Qui hoạch đô thị, định hướng qui hoạch đô thị Hà Nội qua các thời kì 31
1.5 Vai trò của hình thái đô thị trong định hướng qui hoạch và quản lí đô thị 44
1.6 Viễn thám, GIS và các chỉ số không gian trong nghiên cứu hình thái đô thị 46
1.7 Phương pháp và qui trình nghiên cứu 53
Chương 2: SỬ DỤNG VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI ĐÔ THỊ HÀ NỘI 58
2.1 Tiếp cận phân loại định hướng đối tượng 58
2.2 Phân loại định hướng đối tượng 59
2.3 Phân loại đất đô thị khu vực Hà Nội theo phương pháp phân loại định hướng đối tượng 66
2.4 Đánh giá độ chính xác kết quả phân loại 78
Chương 3: TÍNH TOÁN CÁC CHỈ SỐ KHÔNG GIAN HÌNH THÁI ĐÔ THỊ HÀ NỘI 88
3.1 Lựa chọn chỉ số không gian phân tích hình thái đô thị 88
Trang 53.2 Nhóm chỉ số không gian trong nghiên cứu hình thái đô thị Hà Nội 943.3 Xử lí tính toán các chỉ số không gian trên kết quả phân loại ảnh 102Chương 4: HÌNH THÁI ĐÔ THỊ HÀ NỘI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
ĐÔ THỊ HÓA HÀ NỘI 1154.1 Ảnh hưởng của vành đai giao thông và các trục giao thông chính đến quá trình
đô thị hóa Hà Nội 1154.2 Ảnh hưởng của khoảng cách đến trung tâm thành phố lên quá trình đô thị hóa
Hà Nội 1204.3 Ảnh hưởng của việc chuyển đổi ranh giới và nâng cấp hành chính đến quá trình
đô thị hóa Hà Nội 1244.4 Hình thái và qui luật phát triển hình thái đô thị Hà Nội 1374.5 Dự báo xu hướng phát triển hình thái đô thị Hà Nội đến năm 2030 phục vụ công tác định hướng qui hoạch 143KẾT LUẬN………146 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 149 TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 6%LAND : Phần trăm cảnh quan
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 So sánh các thông số khi phân loại dựa trên pixel và định hướng đối tượng 49
Bảng 1.2 Các nhóm chỉ số Fragstats 53
Bảng 2.1 Dữ liệu ảnh vệ tinh khu vực Hà Nội 66
Bảng 2.2 Các lớp trong phân loại ảnh vệ tinh khu vực Hà Nội 69
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát tại các khu vực nghiên cứu 71
Bảng 2.4 Các chỉ số tham gia vào quá trình phân loại 74
Bảng 2.5 Các yếu tố kỹ thuật và bộ qui tắc khi phân loại định hướng đối tượng ảnh vệ tinh 76
Bảng 2.6 Ma trận sai lẫn 81
Bảng 2.7 Giá trị số Kappa 84
Bảng 2.8 Hệ số Kappa kết quả phân loại ảnh đô thị Hà Nội 86
Bảng 3.1 Bảng so sánh các chỉ số không gian 100
Bảng 3.2 Nhóm các quận huyện có cùng trạng thái 111
Bảng 3.3 Thông tin các quận mới thành lập trong giai đoạn nghiên cứu 112
Bảng 4.1 Chỉ số không gian của vành đai giao thông và các trục giao thông chính 118
Bảng 4.2 Các chỉ số không gian khu vực cách điểm trung tâm 1km 121
Bảng 4.3.Các chỉ số không gian tại khu vực cách điểm trung tâm 3 km 122
Bảng 4.4 Các chỉ số không gian khu vực cách điểm trung tâm 8km 123
Bảng 4.5 Các chỉ số không gian (CA,NP,LPI)ccủa các quận Hà Nội các quận năm 1993 125
Bảng 4.6 Các chỉ số IIJ,ED,PD của các quận không có thay đổi 127
Bảng 4.7 Chỉ số CA, NP, LPI của các quận có thay đổi chức năng hành chính 128
Bảng 4.8 Chỉ số IJI,ED,PD của các quận có sự thay đổi chức năng hành chính 133
Bảng 4.9 Chỉ số CA, NP, LPI tại các huyện Hà Nội 135
Bảng 4.10 Chỉ số IJI, ED, PD các huyện Hà Nội 136
Bảng 4.11 Các chỉ số không gian khu vực Hà Nội 139
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1 Khu vực nghiên cứu 4
Hình 1.1.(a) Thành phố Mile - Hy Lạp mang đặc điểm thế kỉ V- TCN; (b) Thành phố Timgad truyền thống của đô thị cổ La Mã 10
Hình 1.1.c Mô hình thành phố Milano, Christinopolis, Neufbrisach theo dạng hình tròn 10
Hình 1.3.(a) Quy hoạch thành phố Brasillia, (b) Quy hoạch thành phố Chandigarh, (c) Mô hình thành phố tuyến tính 11
Hình 1.4 Thuyết vùng đồng tâm 12
Hình 1.5 Thuyết khu vực 13
Hình 1.6 Thuyết đa nhân 14
Hình 1.7 Vành đai Luân Đôn của Patrick Abercrombie (1994) 15
Hình 1.8 Phương án Luân Đôn và các thành phố vệ tinh (1946) 15
Hình 1.9 Phương án phát triển không gian thành phố Mátxcơvacủa G.Bkrasin (1930) 16
Hình 1.10 Phương án phát triển không gian thành phố Mátxcơva của V.V.Kratju 16 Hình 1.11 Mặt bằng phát triển Mátxcơva của G.E.Misenko 17
Hình 1.12 Sơ đồ các mô hình phát triển hệ thống dân cư đô thị 18
Hình 1.13 Các giai đoạn phát triển đô thị hóa tương ứng với các bước tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng GDP/người 19
Hình 1.14 Sơ đồ quy hoạch Hà Nội thời kỳ 1956-1960 36
Hình 1.15 Sơ đồ quy hoạch chung thủ đô Hà Nội thời kỳ 1960-1964 38
Hình 1.16 Sơ đồ quy hoạch chung thủ đô Hà Nội thời kỳ 1968-1974 39
Hình 1.17 Sơ đồ quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2000 40
Hình 1.18 Sơ đồ quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2010 42
Hình 1.19 Sơ đồ quy hoạch chung Hà Nội đến năm 2020 43
Hình 1.20 Sơ đồ nghiên cứu chi tiết (1) 56
Hình 2.1 Phân cấp đối tượng và các mức liên kết 60
Hình 2.2 Lựa chọn tỉ lệ khi phân mảnh ảnh (segment) 61
Hình 2.3 Bối cảnh xác định phân loại đối tượng ảnh 62
Trang 9Hình 2.4 Sự lẫn phổ và thông tin chưa trong một pixel (MicroImage Inc 2004) 63
Hình 2.5 Quan hệ topo và khái niệm khoảng cách 65
Hình 2.6 Sơ đồ qui trình phân loại ảnh vệ tinh theo phương pháp phân loại định hướng đối tượng 67
Hình 2.7 Tăng cường chất lượng ảnh khu vực Hà Nội (chế độ Histogram) 68
Hình 2.8 Vị trí các khu vực khảo sát 70
Hình 2.9 Kết quả phân mảnh khi thay đổi các tham số 71
Hình 2.10 Qui trình phân loại đất đô thị 72
Hình 2.11 Qui trình phân loại đất nông nghiệp, thực vật; mặt nước 73
Hình 2.12 Dùng chỉ số khoảng cách để tăng cường hỗ trợ việc lập bộ qui tắcvà giải đoán ảnh 75
Hình 2.13 Thiết lập bộ qui tắc trong phân loại ảnh Landsat 1993 77
Hình 2.14 Kết quả phân loại đất đô thị trên ảnh viễn thám khu vực Hà Nội 78
Hình 2.15a Mẫu ngẫu nhiên 80
Hình 2.15b Mẫu có hệ thống 80
Hình 2.15c Mẫu phân tầng ngẫu nhiên 80
Hình 2.15d Mẫu phân tầng hệ thống không sắp xếp 80
Hình 2.15e Mẫu theo cụm 81
Hình 2.16 Một số hình ảnh trong quá trình kiểm định 85
Hình 2.17 Các tuyến khảo sát thực địa 86
Hình 3.1 Mối liên hệ và mô hình hóa các không gian đô thị 89
Hình 3.2 Khảo sát lựa chọn chỉ số không gian trên kết quả phân loại 93
Hình 3.3 Chỉ số tổng diện tích đất đô thị (CA) 94
Hình 3.4 Số lượng mảnh đô thị 95
Hình 3.5 Chỉ số mật độ mảnh 96
Hình 3.6 Chỉ số mảnh lớn nhất 97
Hình 3.7 Chỉ số thể hiện mức độ liền kề 98
Hình 3.8 Chỉ số mật độ cạnh 99
Hình 3.9 Tính toán các chỉ số không gian tại các qui mô nghiên cứu 103
Trang 10Hình 3.10 Sơ đồ tính toán trong phần mềm Fragstats 104
Hình 3.11 Vành đai giao thông và các trục giao thông chính 107
Hình 3.12 Khoảng cách đến điểm trung tâm Hồ Gươm 108
Hình 3.13 Mối quan hệ giữa hình thái đô thị hóa và thay đổi chức năng hành chính 111
Hình 3.14 Các quận huyện của Hà Nội 113
Hình 4.1 Đất đô thị mở rộng theo đường giao thông 115
Hình 4.2 Chỉ số CA quanh vành đai giao thông và các trục giao thông chính 118
Hình 4.4.a Thay đổi chỉ số LPI, ED, IJI quanh vành đai giao thông 119
và các trục giao thông chính 119
Hình 4.4.b Biến đổi hình thái tại các quận (phường - phường) tại Hà Nội 125
Hình 4.5 Chỉ số CA tại các quận có trạng thái phường-phường 126
Hình 4.6 Biến đổi hình thái tại các quận mới (xã - phường) tại Hà Nội 129
Hình 4.7.Thay đổi diện tích đất đô thị tại các quận, huyện Hà Nội 130
Hình 4.8 Chỉ số LPI tại các quận, huyện có trạng thái xã - phường 132
Hình 4.9 Biến đổi hình thái tại các huyện (xã - xã) tại Hà Nội 134
Hình 4.10 Thay đổi diện tích đất đô thị tại các huyện Hà Nội 135
Hình 4.11 Chỉ số CA khu vực Hà Nội 138
Hình 4.12 Thay đổi số lượng mảnh đô thị khu vực Hà Nội 139
Hình 4.13 Sơ đồ lan tỏa đất đô thị Hà Nội giai đoạn 1993-2012 140 Hình 4.14 Bản đồ hình thái đô thị thành phố Hà Nội 1993
Hình 4.15 Bản đồ hình thái đô thị thành phố Hà Nội 2000
Hình 4.16 Bản đồ hình thái đô thị thành phố Hà Nội 2007
Hình 4.17 Bản đồ hình thái đô thị thành phố Hà Nội 2012
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong hai thập kỉ qua tại khu vực Đông Nam Á [49], đặc biệt là tại các khu đô thị lớn [8] Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình này, đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ từ thời kì đổi mới (1986), quá trình đó càng ngày càng mạnh theo hướng bám vào khu trung tâm và các trục giao thông đặc biệt là trong giai đoạn 1990 đến nay, cụ thể đến năm 2012 tỉ lệ đô thị hóa là 32% Quá trình đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ nhất tại hai thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ chí Minh
Hà Nội có quá trình hình thành và phát triển lâu đời hơn 1000 năm lịch sử, trải qua rất nhiều giai đoạn đô thị hóa khác nhau, đặc biệt là trong hai thập kỉ gần đây Hà Nội trải qua rất nhiều sự thay đổi về lớp đất phủ, cụ thể là đất đô thị do quá trình đô thị hóa [9] Giai đoạn 1990 đến nay quá trình đô thị hóa mạnh nhất
là do Hà Nội trải qua rất nhiều sự thay đổi như: thay đổi về ranh giới hành chính, mở rộng đô thị, các thời điểm qui hoạch chính Các thay đổi này chính là một trong những yếu tố chính tạo nên quá trình đô thị hóa, trong đó đô thị hóa
là yếu tố quan trọng của quá trình hình thành và phát triển hình thái không gian
đô thị Hà Nội
Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra nhanh chóng như vậy, công tác định hướng qui hoạch đóng một vai trò rất quan trọng Có rất nhiều góc nhìn để đánh giá một quá trình đô thị hóa, trong đó, góc nhìn từ khía cạnh hình thái có
ý nghĩa chỉ báo rất quan trọng Nhiều nghiên cứu thống nhất rằng phương pháp trắc lượng cho phép đánh giá không những sự thay đổi về các khía cạnh hình học (diện tích, chu vi) của đối tượng đô thị mà còn về quan hệ của các đối tượng không gian Đây là các thông tin mà nhà quy hoạch rất quan tâm vì nhờ
đó, người ta có thể đánh giá được mức độ phù hợp của quá trình đô thị hóa với quy hoạch được xây dựng trước đó Có thể xác định được hình thái không gian
đô thị tại một giai đoạn nào đó phục vụ cho công tác định hướng qui hoạch
Trang 12Với vai trò của việc nghiên cứu hình thái trong công tác định hướng qui hoạch, Chính phủ và Bộ Xây Dựng cũng đã có các qui định về công tác qui hoạch trong đó công tác nghiên cứu về hình thái đô thị là một trong những yếu tố hàng đầu
Để theo dõi hình thái, có rất nhiều phương pháp khác nhau Trong bối cảnh hiện nay thì việc theo dõi bằng dữ liệu vệ tinh đã được chứng minh là rất hữu hiệu Hiện có nhiều hệ thống vệ tinh quan sát Trái Đất đã và đang hoạt động trên quỹ đạo cho phép quan sát được quá trình đô thị hóa trong một khoảng thời gian khá dài Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích sự hình thành
và phát triển hình thái đô thị
Kết quả đánh giá lớp phủ trong đó có đất đô thị có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Hiện có rất nhiều phương pháp theo dõi quá trình đô thị hóa, thay đổi về lớp đất đô thị, quá trình hình thành hình thái và phần lớn đều theo hướng định lượng cấu trúc không gian của đô thị [30] Trong các nghiên cứu này, các tác giả thường sử dụng kết quả phân loại ảnh viễn thám đa thời gian
để đo và đánh giá biến động các chỉ số không gian [39] Chỉ số không gian là một góc nhìn khác về đối tượng, chỉ ra các quan hệ của đối tượng đó trên không gian và thời gian Việc phân tích các mối quan hệ nói trên sẽ cho phép nhà quy hoạch và hoạch định chính sách có cơ sở về mặt định lượng về sự phát triển hình thái một đô thị trên quy mô không gian và thời gian, phục vụ việc ra quyết định trong quy hoạch đô thị
Với các lý do như trình bày ở trên NCS đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hình thái đô thị phục vụ định hướng qui hoạch dưới sự trợ giúp của viễn thám
và GIS”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Xác định đặc điểm và sự thay đổi mang tính qui luật của hình
thái đô thị Hà Nội giai đoạn 1993-2012 dựa trên việc tích hợp viễn thám, hệ thông tin địa lý và phương pháp trắc lượng hình thái
Trang 13Nhiệm vụ:
- Tổng quan các vấn đề: Đô thị và hình thái không gian đô thị; thống kê, phân tíc các giai đoạn qui hoạch hình thái không gian của Hà Nội; Các ứng dụng của viễn thám, GIS, các ứng dụng của chỉ số không gian trong nghiên cứu hình thái
đô thị
- Lựa chọn công cụ phân loại ảnh viễn thám và phân tích không gian làm tối
ưu hóa độ chính xác
- Phân loại ảnh vệ tinh để thành lập bản đồ đất đô thị theo các năm là cơ sở
để nghiên cứu sự hình thành hình thái đô thị trong giai đoạn 1990 đến 2012
- Lựa chọn bộ chỉ số không gian phù hợp với đặc điểm phát triển hình thái của Hà Nội dựa trên kết quả phân loại ảnh vệ tinh Sau đó dựa trên sự biến thiên của nhóm chỉ số để xác định quá trình hình thành hình thái đô thi Hà Nội
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa và xác định sự hình thành hình thái đô thị tại khu vực nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích không gian xác định các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến biến đổi hình thái đô thị Hà Nội Luận án xem xét trên các qui mô sau:
+ Toàn khu vực nghiên cứu
+ Theo quận, huyện
+ Theo vành đai giao thông và trục đường giao thông chính
+ Theo khoảng cách đến điểm trung tâm
- Lượng hóa sự phát triển đô thị sử dụng các chỉ số không gian
- Phân tích biến động các chỉ số, xác định qui luật phát triển hình thái đô thị
Hà Nội trong giai đoạn 1993 đến 2012
3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Khu vực nghiên cứu gồm 13 quận huyện của Hà Nội theo quyết định mở rộng thành phố năm 1991 và 2008 Cụ thể gồm 9 quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Cầu Giấy, Tây Hồ, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên và 4 huyện: Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh
- Về thời gian: 1993-2012
Trang 14Hình 1 Khu vực nghiên cứu
4 Những điểm mới của Luận án
- Xác lập được cơ sở khoa học và phương pháp luận ứng dụng phương pháp phân loại định hướng đối tượng ảnh dộ phân giải trung bình để xác định đặc điểm hìnhthành và quá trình phát triển hình thái đô thị nói chung và Hà Nội nói riêng
- Chứng minh tính hiệu quả của phương pháp tích hợp viễn thám, GIS với phương pháp trắc lượng hình thái để xác định, phân tích các đặc điểm hình thành
và phát triển hình thái đô thị Hà Nội giai đoạn 1993 - 2012
- Lựa chọn và xác lập được bộ thông số trắc lượng hình thái phù hợp với đặc điểm hình thành và phát triển không gian đô thị của Hà Nội, giai đoạn 1993 -2012
- Xác định được đặc điểm hình thái đô thị Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển hình thái không gian đô thị Hà Nội
5 Luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Tích hợp viễn thám, GIS và phương pháp trắc lượng hình
thái thông qua các chỉ số không gian cho phép phân tích rõ biến động hình thái
đô thị Hà Nội
Luận điểm 2: Sự hình thành và phát triển hình thái không gian đô thị Hà Nội
trong giai đoạn nghiên cứu (1993-2012) đã chịu tác động của: a) việc chuyển đổi
Trang 15ranh giới hành chính, b) sự phát triển hệ thống giao thông và c) khoảng cách đến trung tâm Hà Nội Chính vì thế không gian đô thị Hà Nội mở rộng theo bán kính vòng tròn trung tâm với tia nan quạt của mạng lưới nhà ở phát triển theo các trục giao thông chính
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học: Góp phần chỉ ra ứng dụng của việc tích hợp viễn thám và GIS
và trắc lượng không gian thông qua bộ chỉ số trong nghiên cứu hình thái không gian đô thị Hà Nội Bộ chỉ số không gian trong luận án có thể dùng để khảo sát các khu vực đô thị và những thay đổi về mặt không gian của đô thị
Về mặt thực tiễn: Khẳng định hướng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
có độ tin cậy cao trong nghiên cứu hình thái đô thị bằng công nghệ viễn thám,GIS
và các chỉ số không gian đô thị Ứng dụng phương pháp trắc lượng hình thái cho phép hỗ trợ công tác qui hoạch trong việc đánh giá phân bố không gian đối tượng qui hoạch một cách có định lượng Việc đo đạc các chỉ số có thể áp dụng để đánh giá biến động hình thái đô thị ở giai đoạn trước qui hoạch và kiểm soát qui hoạch
7 Cơ sở tài liệu
Luận án sử dụng những tư liệu sau:
- Bản đồ địa hình Hà Nội 1/25.000 năm 2000, bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Hà Nội 2005, 2010 của Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội
- Bản đồ hành chính Hà Nội 2005, 2010
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Hà Nội
- Thuyết minh qui hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
- Dữ liệu vệ tinh: Ảnh vệ tinh Landsat năm 1993, 2000, 2007, Spot 2012
- Một số tài liệu nghiên cứu khác có liên quan; các bài báo trong nước và quốc tế
8 Cấu trúc của luận án
Toàn bộ luận án được trình bày trong 159 trang A4, trong đó có 24 bảng
số liệu, 72 hình vẽ, sơ đồ, bản đồ, kèm theo danh mục tài liệu tham khảo, trang phụ lục
Trang 16Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Sử dụng viễn thám trong nghiên cứu hình thái đô thị
Chương 3: Tính toán các chỉ số không gian hình thái đô thị Hà Nội
Chương 4: Hình thái đô thị và các yếu tố ảnh hưởng đến đô thị hóa Hà Nội
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
HÌNH THÁI ĐÔ THỊ 1.1 Tổng quan nghiên cứu hình thái đô thị
1.1.1 Lịch sử phát triển hình thái đô thị
Hình thái đô thị là khoa học nghiên cứu hình dạng các yếu tố cấu thành không gian đô thị Hay nói cách khác, hình thái đô thị liên quan đến hình dạng đô thị như việc bố trí, sắp xếp các công trình trong đô thị, kiểu sắp xếp bố trí các đối tượng đô thị tạo ra quá trình hình thành đô thị về mặt không gian với các kiểu khác nhau Như vậy, hình thái đô thị liên quan đến những nội dung như: hình dạng tổng thể đô thị, dạng hình học của các tuyến đường giao thông, kích thước các lô đất, hình dạng và khối tích của công trình
Trong ngôn ngữ hình thái học, các đô thị được xem như là sự tổ hợp của một số thành tố quan trọng: các loại sử dụng đất, cấu trúc công trình, hình dạng các lô đất, mạng lưới đường giao thông [17] Kiến thức hình thái học giúp các nhà thiết kế đô thị hiểu các hình dạng, hình thức không gian khu vực, các quá trình biến đổi không gian trong lịch sử Khi vận dụng những hiểu biết về hình thái vào thiết kế kiến trúc, qui hoạch sẽ tạo ra các khu vực đô thị gắn kết giữa
cũ và mới, duy trì được tính liên tục trong quá trình phát triển
Hình thái đô thị nghiên cứu các kiểu định cư của con người, quá trình hình thành và sự chuyển đổi của họ Nghiên cứu để tìm và hiểu cấu trúc không gian và đặc điểm của một siêu đô thị, một thành phố, thị trấn, hay một làng nào đó Bằng cách xét các mẫu dạng của các hợp phần và tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của đô thị đó Điều này liên quan đến việc phân tích cấu trúc vật lý ở các tỉ lệ khác nhau cũng như các mẫu dạng của sự chuyển đổi sử dụng đất, sở hữu và định cư Gần đây, khái niệm hình thái được sử dụng nhiều hơn trong địa lý, địa chất và nhiều ngành nghề khác Các nước trên thế giới rất quan tâm đến vấn đề nghiên cứu hình thái như trong ngành địa lý ở Mỹ, thì hình thái đô thị được coi là một lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt Rất nhiều yếu tố liên quan đến hình thái, có thể chia thành các nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành hình thái như sau [41]
Trang 18- Phát triển công nghệ (nông nghiệp, công nghiệp, thông tin)
- Công nghệ xây dựng (đá, bùn, gạch, đá hoa, thép, xi măng)
- Chính trị (thành phố độc lập, vương quốc, đế chế, chế độ phong kiến, quốc gia chủ quyền, thuộc địa, cộng hòa, dân chủ)
- Kinh tế (thời phong kiến, mậu dịch, tư bản, tập trung, toàn cầu hóa)
- Giao thông (đi bộ, dùng sức ngựa, động cơ hơi nước, ô tô, máy bay)
- Văn hóa (tôn giáo, thói quen)
Hình thái đô thị đã được hình thành từ rất lâu đời, những gì chúng ta biết về các hình thức định cư của con người ngày nay là do những kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học và nhân chủng học Ba triệu năm trước đây, loài người đã xuất hiện, dần dần trong quá trình tiến hóa, lao động, con người đã từng bước cải thiện cuộc sống cũng như tổ chức xã hội Ban đầu, người nguyên thủy sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, sống trong hang động và sử dụng các công cụ lao động thô
sơ nhất Đến khi tìm ra lửa, các công cụ lao động được cải tiến, nơi cư trú và hình thức tổ chức xã hội cũng thay đổi
+ Sự hiện hữu của thợ thủ công chuyên nghiệp, bằng chứng về sự phân công lao động
+ Sự hiện hữu của tường thành bảo vệ quần cư Điều này phân biệt đô thị với quần cư nông nghiệp thường không có tường thành bảo vệ
+ Sự hiện hữu của một số lượng cư dân đông đảo ở với mật độ cao
+ Sự hiện hữu của một kiểu nhà ở đô thị, thường xây dựng bằng vật liệu kiên
cố và được xếp đặt để tạo thành phố
+ Các quần cư đều cố định, đối lập với quần cư du mục
Sự phối kết của 5 điều kiện nói trên là hết sức cần thiết cho sự xuất hiện của một đô thị Tuy nhiên, đô thị hình thành có hình thái, cấu trúc ra sao, biến đổi như thế nào lại phụ thuộc vào tính chất, cũng như chức năng của đô thị Hay nói cách khác, chính chức năng của đô thị là lý do tồn tại của đô thị Đô thị hình thành, phát triển là để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Ở các đô thị cổ nổi bật 3 chức năng chính:
Trang 19 Chức năng quân sự - chính trị - tôn giáo: Đây có lẽ là chức năng xuất hiện đầu tiên của đô thị từ khi còn là những thành lũy với nhiệm vụ phòng thủ là chính Chức năng chính trị thường đi kèm với chức năng quân sự, chức năng bảo vệ cho cơ quan chính trị, phụ trách việc cai quản một vùng lãnh thổ Một chức năng khác nữa cũng được đi kèm với chức năng chính trị và quân sự là tôn giáo tín ngưỡng Trong tất cả các nền văn minh, 3 chức năng này được xem như là nguyên tắc phân chia không gian đô thị
Chức năng sản xuất - thương mại dịch vụ: Sự tập trung sản xuất, các xưởng thủ công được hình thành, việc trao đổi hàng hóa, buôn bán thương mại tạo nên chợ và các trung tâm giao thương đã tạo nên một không gian đô thị
Chức năng trung tâm văn hóa: Đô thị có chức năng tập hợp các cách thức
ăn ở, ứng xử của xã hội, tạo ra khung cảnh sống và lối sống chung
Sau này trong quá trình phát triển, đô thị hình thành thêm nhiều chức năng đơn lẻ khác: du lịch, khoa học - đào tạo, công nghiệp v.v
Tuy nhiên, đô thị nào cũng vậy, tính chất hay quy mô có khác nhau cũng đều dàn trải trên những diện tích đất đai nhất định Nói cách khác, hình thái của đô thị biểu thị sự phát triển đặc thù của từng đô thị do những điều kiện tự nhiên, các yếu tố lịch sử phát triển và do cả sự tác động chủ định của con người
Thường khi mới hình thành, đô thị thường có dạng tập trung, càng về sau mới phân tán ra ở dạng liên tục tạo thành sao, tuyến, hoặc ở dạng không gian liên tục tạo thành chuỗi chùm, hoặc mạng
Thời kỳ cổ, trung đại: do điều kiện địa hình phức tạp, chế độ xã hội là các đại thành bang, bố cục mặt bằng thường có 2 dạng phổ biến :
Phát triển theo bố cục tự do: hệ thống quảng trường công cộng, hệ thống đường phố cùng với các công trình kiến trúc được hình thành với sự kết hợp hài hòa với cảnh quan tự nhiên, do đó các đô thị loại này có hình dáng không gian rất phong phú Dạng hình thái không gian này phát triển rực rỡ vào giai đoạn 460TCN
Phát triển theo nguyên tắc hình học trật tự: hình thái không gian có dạng hình vuông, chữ nhật được tạo bởi hệ thống các đường phố giao nhau
Trang 20(a) (b)
Hình 1.1.(a) Thành phố Mile - Hy Lạp mang đặc điểm thế kỉ V- TCN; (b) Thành phố
Timgad truyền thống của đô thị cổ La Mã [12]
Đến thời kỳ Phục Hưng, hình thái đô thị lại được phản ánh thông qua đường bao mặt bằng và hình thức bên trong mặt bằng, bao gồm 3 dạng chính:
Trang 21Thời kỳ Cận đại, hiện đại, hình thái đô thị cũng đã có nhiều sự thay đổi Với rất nhiều mô hình và học thuyết mới, từ các lý luận không tưởng của mô hình đô thị
lý tưởng, học thuyết thành phố vườn và thành phố vệ tinh đến đô thị vệ tinh, đô thị tuyến tính, thành phố dải, thành phố công nghiệp
Hình 1.3.(a) Quy hoạch thành phố Brasillia, (b) Quy hoạch thành phố Chandigarh,
(c) Mô hình thành phố tuyến tính [12]
Trang 22Tất cả sự thay đổi về hình thái đô thị đều phải đáp ứng phù hợp với quy luật vận động phát triển của xã hội
Đô thị có quy mô dù lớn hay nhỏ, cấu trúc, hình thái thế nào cũng chỉ là:
Một không gian vật thể, nghĩa là một tập hợp các công trình xây dựng, được bố trí tại một địa điểm nhất định
Một không gian kinh tế: tập hợp các cơ sở sản xuất
Một không gian văn hóa xã hội
Dù đô thị hình thành như thế nào thì mỗi một đô thị đều có hình thái riêng, quá trình hình thành hình thái phụ thuộc vào nhiều yếu tố và hình thái chính là mối quan hệ không gian của các đối tượng đô thị Hình thái của đô thị phát triển có bố cục
và có dạng hình học cụ thể, quá trình phát triển kinh tế xã hội, hạ tầng cơ sở, chuyển đổi hành chính là một trong những nguyên nhân hình thành hình thái đô thị
1.1.2 Các thuyết nghiên cứu hình thái đô thị
Trước năm 1960 các thuyết nghiên cứu về hình thái đô thị như thuyết vùng đồng tâm, thuyết khu vực và thuyết đa nhân [45]:
- Thuyết vùng đồng tâm
Dựa trên thuyết nhân sinh học của E W Burgess (1926) và đã được sử dụng tại Chicago, lần đầu tiên đã giải thích được sự phân bố các các nhóm xã hội với các khu vực đô thị, mẫu vòng đồng tâm này mô tả việc sử dụng đất đô thị trong các vòng đồng tâm, là vùng nằm ở giữa các vòng đồng tâm đô thị đã được mở rộng theo
các vành đai với các việc sử dụng đất khác nhau
Hình 1.4 Thuyết vùng đồng tâm [45]
Trang 23- Thuyết khu vực
Mẫu khu vực nổi tiếng được biết đến là của Hoyt, giống như thuyết đa nhân
và thuyết vùng tập trung, thuyết khu vực cũng miêu tả các mẫu của việc sử dụng đất Thuyết này được nhà kinh tế học Homer Hoyt đưa ra năm 1939, được dựa trên thuyết vùng tập trung khi nghiên cứu phát triển của một thành phố Khi sử dụng thuyết này trong phát triển đô thị sẽ cho phép các khu vực ở bên ngoài tăng trưởng
Lý thuyết này công nhận vai trò lớn của hệ thống kỹ thuật hạ tầng và giao thông đô thi, đô thị được mở rộng thì các yếu tố về kỹ thuật hạ tầng và giao thông đô thị chắc
chắn sẽ hình thành và phát triển
Hình 1.5 Thuyết khu vực [45]
- Thuyết đa nhân
Thuyết đa nhân là một mô hình sinh học được đưa ra do Chauncy Harris và Edward Ullman năm 1945 trong bài báo mang tựa đề bản chất của các đô thị [15]
Mô hình này mô tả cách bố trí của một thành phố Thuyết này mô tả cách thức bố trí của một thành phố, thành phố có thể bắt đầu từ CBD, như vậy việc sử dụng đất cho ngành công nghiệp, các hoạt động về tài chính sẽ được thành lập gần các khu trung tâm Các nhóm trong CBD này ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực xung quanh, ví dụ: các khách sạn hay nhà hàng sẽ mọc lên xung quanh khu vực sân bay Lý thuyết này dựa trên ý tưởng là người dân sẽ di chuyển nhiều hơn do lượng sử dụng xe hơi nhiều hơn Việc di chuyển tăng này làm cho các trung tâm phát triển mạnh Không có khu trung tâm hành chính và thương mại rõ rệt trong thuyết đa nhân
Trang 24Hình 1.6 Thuyết đa nhân [45]
Sau những năm 1960 có nhiều thuyết mới và phương pháp mới đã được sử dụng và miêu tả kiểu và sự hình thành hệ thống đô thị Những thuyết đó bao gồm [45]:
a Thuyết tai biến - Catastrophe theory (Wilson 1976) [71]
b Thuyết hỗn độn - Chaos theory (Wilson 1981, Wong và Fotheringham 1990)
c Thuyết cấu trúc phân tán (Alen và Sanglier 1979)
d Hình học Fractal (Batty và Longley 1989)
e Thuyết tự nhân (Tobler 1979; Coucleslis 1985; Batty 1997)
f Thuyết tự tổ chức (có qui hoạch) (Schweitzer 1997, Portugali 2000) Hiện nay, một trong những phương pháp nghiên cứu hình thái đô thị được dùng chủ yếu trên thế giới là kết hợp ảnh viễn thám, GIS và trắc lượng không gian thông qua các chỉ số Fragstat Sau đó, thông qua phân tích biến đổi của các chỉ số này để tìm hiểu các đặc trưng về hình thái
1.1.3 Một số qui luật phát triển hình thái không gian đô thị
Hình thái đô thị là hình dáng phân bố không gian của đô thị Sự phát triển hình thái không gian đô thị tuân theo một số quy luật chính như sau [7]:
Quy luật thứ nhất: Không gian đô thị được phát triển theo các vành đai, lấy vành đai cây xanh ở giữa để hạn chế sự phát triển “quá tải” không đảm bảo môi trường sống bền vững Cụ thể như hình 1.7 và hình 1.8
Trang 25Hình 1.7 Vành đai Luân Đôn của Patrick Abercrombie (1994) [7]
Phương án bố cục không gian đô thị theo đường tròn đồng tâm Nằm trong cùng là trung tâm hạt nhân đô thị (1), tiếp theo là Vòng trong (2) Bao bọc xung quanh là vòng giữa (3) và dải cây xanh (4) Ngoài cùng là vòng ngoài (5)
Hình 1.8 Phương án Luân Đôn và các thành phố vệ tinh (1946) [7]
Vành đai cây xanh nhằm giới hạn thành phố phát triển đồng thời phát triển các thành phố vệ tinh xung quanh.Theo sự phát triển này, đô thị phát triển theo dạng hướng tâm, mở rộng ra ngoài theo bán kính tăng dần và liên kết với các thành phố vệ tinh xung quanh Điều đó sẽ là động lực phát triển cho
đô thị trung tâm
Trang 26Quy luật thứ hai: Đô thị phát triển dọc các trục giao thông lớn (hình 1.9) Không gian thành phố mở rộng theo bán kính vòng tròn trung tâm với tia nan quạt của mạng lưới nhà ở phát triển theo các trục giao thông chính
Hình 1.9 Phương án phát triển không gian thành phố Mátxcơva
của G.Bkrasin (1930) [7]
Quy luật thứ thứ ba: Đô thị phát triển trung tâm hạt nhân cũ
Có thể thấy rằng thành phố giống như một quần thể của từng khu chức năng bao gồm: 1 Công nghiệp; 2 Đất ở; 3 Hướng phát triển trung tâm mặt bằng cơ động tạo ra các khả năng phát triển tiếp theo các giai đoạn sau
Hình 1.10 Phương án phát triển không gian thành phố Mátxcơva của V.V.Kratju
Trang 27Quy luật thứ tư: Phát triển hệ thống đô thị vệ tinh trong vùng thành phố lớn nhằm điều tiết tốc độ tăng trưởng dân số của các thành phố trung tâm và tạo
ra nhiều hướng “Giao thông con lắc” để giảm mật độ giao thông quá tập trung tại trung tâm, đồng thời tổ chức các “nêm cây xanh” ăn sâu vào “trung tâm hạt nhân” (hình 1.11)
Hình 1.11 Mặt bằng phát triển Mátxcơva của G.E.Misenko [7]
Tuân theo các quy luật phát triển hình thái không gian đô thị, các đô thị với quy mô và điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ phát triển theo một số dạng sau đây theo hình 1.12
Dạng tuyến và dải, đô thị phát triển các trục giao thông
Dạng tập trung và mở rộng ra nhiều nhánh hình sao
Dạng hướng tâm vành đai, đô thị phát triển theo hướng tâm và mở rộng ra nhiều hướng có các vành đai theo trung tâm nối liền các tuyến giao thông với nhau
Dạng hỗn hợp xen kẽ nhau bởi nhiều loại đơn vị đô thị khác nhau gắn với
hệ giao thông kiểu hình sao và vành đai xen kẽ ở khu vực gần trung tâm
Dạng hình học (tam giác, lục giác hay đa giác)
Dạng ô bàn cờ và dạng tự do
Trang 28Hình 1.12 Sơ đồ các mô hình phát triển hệ thống dân cư đô thị [7]
Sự phát triển không gian đô thị, ngoài việc tuân theo các quy luật chính nêu trên, bản thân đô thị cũng thay đổi theo các giai đoạn phát triển đô thị hoá
- Vào thời kỳ văn minh nông nghiệp gồm hai giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Đô thị phát sinh hình thành hoà đồng với nông thôn, không thấy
có sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn
Giai đoạn 2: Đô thị phát triển tương đối độc lập ban đầu, có sự phát triển chênh lệch giữa các vùng Đô thị có hình dạng manh mún
Trang 29- Vào thời kỳ văn minh công nghiệp gồm hai giai đoạn chính:
Giai đoạn 3: Phát triển tập trung vào một số đô thị hạt nhân lớn, hình thành một vài vùng cực tăng trưởng trọng điểm ưu tiên đầu tư Tồn tại sự phát triển chênh lệch giữa các vùng, nhưng hết sức tránh độc cực
Giai đoạn 4: Phát triển các cực tăng trưởng đối trọng “equilibratory”, tức
là phân cực “polarization” sức hút trên một không gian rộng của nhiều vùng, giảm dần sự cách biệt giữa các vùng và hình thành một hệ thống đô thị quốc gia
Giai đoạn 6: Các đô thị phát triển đa công năng với mức độ dịch vụ cao theo
hệ thống quốc gia, quốc tế, khu vực của cơ chế thị trường
Hình 1.13 Các giai đoạn phát triển đô thị hóa tương ứng với các bước tăng trưởng
kinh tế, tăng trưởng GDP/người
Trang 30Có thể thấy rằng, từ lúc đô thị còn hoà đồng với nông thôn đến lúc đô thị phát triển đa công năng, nền kinh tế đã phát triển theo hướng mở, du lịch phát triển giao lưu với các nước trên thế giới để mở rộng thị trường Sự phát triển đó ngày càng làm mở rộng diện tích của đất đô thị Tuy nhiên đô thị phát triển theo hướng nào tuỳ thuộc rất nhiều vào các chính sách quy hoạch đất đai, chính sách phát triển kinh tế của nhà nước Để nghiên cứu hình thái không gian của sự phát triển đô thị, viễn thám và hệ thông tin địa lý là một phần không thể thiếu được
1.1.4 Tình hình nghiên cứu hình thái đô thị trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
Các thuyết nghiên cứu về hình thái đô thị được hình thành từ lâu và được ứng dụng trong nhiều ngành nghề khác nhau Trên thế giới, vấn đề hình thái đô thị được quan tâm từ nhiều góc độ và từ cuối những năm 80, vấn đề này không còn là của riêng ngành quy hoạch, nó còn là mối quan tâm của các ngành khác như viễn thám, GIS, khoa học máy tính v.v
Ngoài các phương pháp thông dụng trong viễn thám như chiết xuất thông tin hoặc bằng phương pháp phân loại hoặc bằng các phương pháp phân mảnh (segmentation), nhị phân hóa (binarization) v.v giới nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp đánh giá đặc điểm đo đạc được (metric characteristics) của phân bố không gian đô thị Rất nhiều phương pháp có xuất xứ từ ngành toán và được ứng dụng vào các lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan trước khi được ứng dụng vào nghiên cứu đô thị Đó là các phương pháp hình học fractal, phương pháp Cellular Automata hoặc phân tích kiến trúc của cảnh quan
Kể từ sau khi cuốn sách của Mandenbrot về hình học fractal ra đời năm
1977, đã có hàng trăm công trình về lĩnh vực này Việc tận dụng các thành quả này vào phân tích dữ liệu viễn thám vẫn là vấn đề còn mới Điều này càng làm cho nhu cầu nghiên cứu ứng dụng toán fractal vào phân tích dữ liệu viễn thám trở nên cần thiết trong bối cảnh tư liệu viễn thám đã trở thành một trong các nguồn dữ liệu chủ yếu trong nghiên cứu đô thị và đặc biệt là biến đổi hình thái không gian của đô thị
Trang 31Các nước trên thế giới bắt đầu nghiên cứu hình thái ở một số siêu đô thị như New York (USA) Tại Pháp hình thái đô thị và các vấn đề về kiểu đô thị, đặc điểm mẫu dạng đô thị hiện đại đã được nghiên cứu năm 1999 [38] Năm
2010, tại Trung Quốc đã nghiên cứu sự thay đổi của hình thái đô thị và xác định hướng mở rộng của các thành phố cửa sông Một số các nghiên cứu điển hình trên thế giới sử dụng viễn thám và các chỉ số cảnh quan như FD, %LAND, PD, PSSD, AWMPFD, ED để miêu tả cấu trúc và sự thay đổi đô thị trong việc sử dụng đất đô thị [56, 73] Các nghiên cứu động lực về không gian và thời gian của không gian xanh đô thị để đáp ứng quá trình đô thị hóa nhanh chóng và các chính sách xanh tại thành phố Kumming, Trung Quốc [68], chỉ số sử dụng trong nghiên cứu này như là PD, LPI, LSI Sử dụng hình học fractal để nghiên cứu sự phát triển đô thị các khu ngoại ô của thành phố dựa trên mô hình, đo đạc thông qua chỉ số chiều fractal (FD) Chỉ số này được sử dụng như là thông số để thể hiện sự mở rộng đô thị Đây là chỉ số rất có lợi khi nghiên cứu cấu trúc không gian đô thị [13] Các chỉ số NP, LPI, Shannon…cũng được sử dụng khi nghiên cứu động lực mở rộng đô thị về mặt không gian và thời gian trong trường hợp nghiên cứu tại Quảng Châu, Trung Quốc [76]
Như vậy, nghiên cứu hình thái là một vấn đề quan trọng và được các nước trên thế giới rất quan tâm và tiến hành nghiên cứu từ lâu để sử dụng vào các mục đích khác nhau Trong đó, việc sử dụng tư liệu viễn thám để nghiên cứu hình thái
đô thị phục vụ cho định hướng qui hoạch thì mới được sử dụng gần đây, đặc biệt là kết hợp tính toán với các chỉ số không gian Sử dụng kết hợp giữa viễn thám, GIS
và các chỉ số không gian là một công cụ hữu ích và sản phẩm của nó là tư liệu không thể thiếu đối với các nhà quản lí và qui hoạch đô thị
Ở Việt Nam
Ở Việt nam vấn đề hình thái vẫn còn rất ít được quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt là sử dụng viễn thám, hệ thông tin địa lý, các chỉ số không gian để tìm hiểu quá trình đô thị hóa và quá trình hình thành hình thái đô thị Lượng hoá quá trình hình thành hình thái đô thị thông qua các chỉ số này như CA, IJI, ED, NP….thì chưa thấy
có tài liệu nào nghiên cứu
Trang 32Trong những năm gần đây, mới chỉ có rất ít công trình nghiên cứu về hình thái không gian của đô thị trong đó có luận án của TS Trần Thị Đông Bình ở trường tổng hợp Strasbourg nghiên cứu về Đà Nẵng và một số công trình khác liên quan đến Hà Nội Vấn đề biến động về hình thái cũng đã được xem xét từ góc độ quy hoạch đô thị trong trường hợp Đà Nẵng và cũng là lần đầu tiên phương pháp phân loại định hướng đối tượng đã được đưa vào thử nghiệm trong các nghiên cứu ở Hà Nội Việc tích hợp các vấn đề phát triển không gian đô thị ven đô với các vấn đề xã hội là đề tài gần đây được cộng đồng nghiên cứu ở trong nước đăc biệt quan tâm tại hai đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Như đã trình bày, các nghiên cứu trong nước có cả sự tham gia của một số tác giả nước ngoài còn rất ít đề cập đến tiếp cận không gian và định lượng hóa các đặc trưng hình thái của đô thị Việt Nam Sự kết nối liên ngành giữa các nghiên cứu này mới chỉ tập trung lĩnh vực khoa học về Trái Đất và chưa tận dụng được lợi thế của đo đạc hình thái (Morphology Metric) trong nghiên cứu đô thị Để nghiên cứu hình thái đô thị các nhà nghiên cứu thường sử dụng các tư liệu là bản
đồ, ảnh viễn thám đa thời gian, đa độ phân giải Đô thị Hà Nội bước đầu cũng đã
có các nghiên cứu để đánh giá về qui hoạch thông qua các chỉ số CA, NP…., tìm hiểu sự mở rộng về mặt không gian của đô thị thông qua chỉ số như CA, IJI, NP Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn chưa diễn tả hết mối quan hệ về mặt không gian của đối tượng đô thị
Trong các thuyết nghiên cứu trên, NCS muốn đề cập và đã sử dụng viễn thám, GIS và các chỉ số không gian để nghiên cứu sự hình thành hình thái đô thị Hà Nội, mẫu dạng đối tượng đô thị Sử dụng các chỉ số không gian để tìm hiểu các yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa, tốc độ đô thị hóa đô thị và qui luật phát triển hình thái không gian đô thị Hà Nội qua từng thời kỳ Thay đổi về diện tích đất đô thị, mức độ lan tỏa đất đô thị, mức độ liền kề của các mảnh đô thị hay sự phân mảnh trong đất đô thị cũng được thể hiện thông qua giá trị của các chỉ số không gian Kết quả đo đạc mối quan hệ không gian của các đối tượng đô thị thông qua các chỉ số này sẽ là một thông tin rất hữu ích đối với các nhà qui hoạch, quản lí đô thị
Trang 331.1.5 Các công trình nghiên cứu hình thái đô thị trên khu vực Hà Nội
Hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu hình thái cho khu vực Hà Nội, có một vài nghiên cứu phát triển tại đô thị Hà Nội thông qua các chỉ số không gian nhưng chưa
đi sâu vào quá trình hình thành hình thái, đặc biệt là phân tích mối quan hệ không gian thông qua các chỉ số đo đạc để theo dõi quá trình đô thị hóa, mở rộng đô thị, quá trình hình thành hình thái đô thị Hà Nội đặc biệt sử dụng viễn thám GIS và các chỉ số Fragstats thì gần như không có, mới có nghiên cứu tính toán chỉ số cho khu vực Hà Nội
và có kết luận về mối liên hệ giữa sự phát triển đô thị với các chỉ số không gian, nhưng chưa đi sâu vào phân tích hình thái và chưa tìm được qui luật hình thái đô thị Hà Nội
Các nhà qui hoạch cũng có các nghiên cứu về hình thái của Hà Nội nhưng mới chỉ không gian khu vực hẹp, các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc thống kê chứ chưa có phân tích hay định lượng sự thay đổi Nghiên cứu của PGS.TS Phạm Thúy Loan - Khoa Qui hoạch, Đại học Xây dựng Hà Nội cũng đã có nghiên cứu về hình thái đô thị Hà Nội, nghiên cứu này chỉ ra những biến đổi về không gian đô thị Hà Nội trong tiến trình toàn cầu hóa, đưa ra những bức tranh biến đổi về không gian của Hà Nội dựa trên cơ sở tài liệu là thu thập thông tin Nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu khía cạnh hình thái khác (các mẫu dạng đô thị) chứ không phải hình thái không gian tổng thể, khu vực nghiên cứu vẫn còn thu hẹp trong khu phố cổ [10]
Các nghiên cứu về hình thái Hà Nội không nhiều, các nghiên cứu này mới chỉ đưa ra một vài khía cạnh của hình thái đô thị chứ chưa có nghiên cứu hình thái không gian tổng thể Việc tích hợp viễn thám, GIS và các chỉ số không gian để nghiên cứu hình thái cho toàn Hà Nội là chưa có Ngoài ra, trắc lượng thay đổi hình thái không gian của Hà Nội thông qua các chỉ số không gian, dưới quan điểm của các nhà địa lý thì vẫn còn là vấn đề mới, chưa có nghiên cứu cho toàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 1990 đến nay Việc tìm ra bộ chỉ số không gian phù hợp cho nghiên cứu hình thái đô thị Hà Nội kết hợp với dữ liệu viễn thám để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa và sự hình thành hình thái không gian tổng thể đô thị Hà Nội nhằm phát hiện qui luật phát triển đô thị dưới dạng định tính và định lượng là cần thiết
Trang 341.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Hà Nội có tọa độ địa lý từ 20034’ đến 21025’ vĩ độ bắc và từ
105017’50’’ đến 106001’50’’ kinh độ đông nằm trong phạm vi đồng bằng Bắc Bộ
Sau lần mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.348,5 km2 (theo số liệu thống kê năm 2008), nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng
nhưng tập trung chủ yếu ở hữu ngạn
Trong đó, phần lớn diện tích của Thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng [54] Địa hình đồng bằng là phù hợp cho các hoạt dộng sản xuất nông nghiệp và phát triển đô thị
Vị trí và địa thế của Hà Nội thuận lợi để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi, tại khu vực nghiên cứu thì đa phần là đồng bằng Ðịa hình Hà Nội có ảnh huởng nhiều tới việc
bố trí và phát triển mạng luới giao thông
Theo nghị quyết số 15/2008/QH – 12 ngày 29/5/2008, thủ đô Hà Nội ngày nay có 29 đơn vị hành chính cấp huyện, quận và tương đương, bao gồm 10 quận (Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa, Hà Đông, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Tây Hồ và Thanh Xuân), 18 huyện (Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất, Thanh Oai, Thanh Trì, Thường Tín, Từ Liêm và Ứng Hòa) và một thị xã (Sơn Tây)
Thành phố Hà Nội nằm cạnh sông Hồng và sông Ðà, hai con sông lớn của miền Bắc, lớn nhất là sông Hồng Trong phạm vi Hà Nội, mạng lưới dòng chảy tự nhiên khá dày đặc, mật độ khoảng 0,5 – 1,0 km/km2 Ngoài ra, Hà Nội còn có rất nhiều sông ngòi, ao hồ nhu sông Nhuệ, sông Ðáy, sông Tô Lịch, sông Lù, sông Sét, sông Bùi, sông Ðuống, sông Cà Lồ, v.v và hệ thống hồ ao chằng chịt Tại khu vực nghiên cứu có nhiều hồ đầm như Hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Bảy Mẫu Hàng chục hồ đầm thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim Liên, hồ Liên Đàm, đầm Vân Trì…Hệ thống sông ngòi, hồ đầm là những điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế xã hội
Trang 351.2.2 Kinh tế xã hội
Là khu vực chính trị quan trọng, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; đây còn là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường sông tỏa đi các vùng khác trong cả nước và
đi quốc tế
Thành phố Hà Nội có thể chia thành ba vùng theo phân vùng địa lý với các đặc điểm kinh tế - xã hội như sau:
- Các quận nội thành: Cơ cấu kinh tế chủ yếu là thương mại và công nghiệp;
hạ tầng cơ sở đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, cơ cấu sử dụng đất ít có thay đổi; thu nhập bình quân đầu người cao
- Các huyện ven đô: Cơ cấu kinh tế đan xen cả thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; hạ tầng cơ sở đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện; quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh dẫn đến cơ cấu sử dụng đất biến đổi lớn qua các kỳ kiểm kê đất đai; mức sống và trình độ dân trí thấp hơn các quận nội thành
- Các huyện ngoại thành: Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và một phần nhỏ tiểu thủ công nghiệp và lâm nghiệp; hạ tầng cơ sở còn yếu kém, đang trong quá trình xây dựng; tốc độ đô thị hóa chậm, cơ cấu sử dụng đất có thay đổi nhưng không nhiều; thu nhập bình quân đầu người do vậy cũng còn thấp
Thành phố Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hóa cao nhất
cả nước Tăng trưởng kinh tế và gia tăng cơ học về dân số dẫn tới sức ép phải nâng cấp và mở rộng quy mô của hệ thống hạ tầng cơ sở Trong thời gian qua, Thành phố
Hà Nội đã và đang thực hiện nhiều dự án phát triển hạ tầng cơ sở trọng điểm, cụ thể:
- Hệ thống giao thông: dự án quốc lộ 32 mở rộng, quốc lộ 3b Hà Nội – Thái Nguyên, đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đường 5 kéo dài, cầu Nhật Tân và đường
đi sân bay Nội Bài, trục đường kinh tế xã hội Bắc Nam, đường Lê Trọng Tấn, Sơn Đồng – Vân Canh, đường Lê Văn Lương kéo dài, đường Láng Hòa Lạc kéo dài, đường 308, 312…
- Rất nhiều các dự án khu đô thị đã và đang được xây dựng như khu đô thị An Khánh, An Thượng, La Phù, Vân Canh, Kim Chung, Di Trạch – Hoài Đức, Tây Đô,
Trang 36Việt Hưng, Long Biên…và nhiều công trình văn hóa thể thao, các khu, cụm, điểm công nghiệp được hình thành
Dân số Hà Nội là 6,452 triệu người (kết quả điều tra năm 2009), phân bố không đồng đều Mật độ dân số cao ở các quận nội thành, giảm dần ở các huyện ven nội và các huyện ngoại thành Mật độ dân số năm 2007 toàn TP Hà Nội cũ cao: 3.740 nguời/ km2 Mật dộ dân số trung bình của Hà Nội mới năm 2008 là 1.901 nguời/km2 Mật dộ dân số tại nội thành cũ gấp gần 4 lần toàn TP dồn nén vào lõi trung tâm Hà Nội và tại các khu vực ngoại thành của Hà Nội cũ
Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm
2020, định hướng đến năm 2030 với quan điểm xây dựng và phát triển Thủ đô thành động lực thúc đẩy phát triển đất nước Hà Nội đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2011-2015 đạt 12-13%/năm, thời kỳ 2016-2020 đạt khoảng 11-12%/năm và khoảng 9,5-10%/năm thời kỳ 2021-2030 Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người của Hà Nội đạt 4.100 - 4.300 USD, đến năm 2020 đạt khoảng 7.100 - 7.500 USD và phấn đấu tăng lên 16.000-17.000 USD vào năm 2030 (tính theo giá thực tế) Quy mô dân số Hà Nội đến năm 2015 đạt 7,2 - 7,3 triệu người, năm 2020 khoảng 7,9 - 8 triệu người và năm 2030 khoảng 9,2 triệu người Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 55% vào năm 2015 và 70 - 75% vào năm 2020, đưa Thủ đô trở thành trung tâm đào tạo chất lượng cao của cả nước và có tầm cỡ khu vực
Nhằm phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực dịch vụ, khuyến khích phát triển các lĩnh vực dịch vụ: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, bưu chính - viễn thông, khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục-đào tạo, tư vấn, vận tải công cộng
Xây dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính - ngân hàng hàng đầu ở khu vực phía Bắc và có vai trò quan trọng trong cả nước, đồng thời Hà Nội tiếp tục giữ vai trò là một trong những trung tâm du lịch, là nguồn phân phối du khách lớn của khu vực phía Bắc
Bên cạnh dịch vụ, Hà Nội cũng sẽ tập trung phát triển nhanh một số ngành, sản phẩm công nghiệp có tính chất dẫn đường như: công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghiệp điện tử, cơ khí chính xác, công nghiệp dược, hóa mỹ phẩm
Trang 37Trong giai đoạn đến năm 2015, tiếp tục triển khai 9 khu công nghiệp (KCN)
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 dự kiến xây dựng mới và mở rộng 15 KCN; phát triển các cụm công nghiệp ở ngoại thành, chú trọng thu hút các ngành công nghiệp không gây ô nhiễm môi trường Tiếp tục triển khai phát triển các làng nghề truyền thống theo hướng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ cao; kết hợp giữa phát triển các làng nghề với phát triển du lịch
Song song với phát triển kinh tế, Hà Nội cũng tập trung giải quyết vấn đề lao động, việc làm, phấn đấu trung bình mỗi năm giải quyết việc làm mới cho 135
- 140 nghìn người giai đoạn 2011-2015 và tăng lên 155 - 160 nghìn người giai đoạn 2016 -2020
Đồng thời, phát triển văn hóa xứng tầm với truyền thống ngàn năm văn hiến, với danh hiệu cao quý Thủ đô anh hùng, Thành phố vì Hòa bình, tiêu biểu cho cả nước Giữ vững và nâng cao vị thế hàng đầu của giáo dục - đào tạo, là nòng cốt cho xây dựng văn hóa người Hà Nội, xây dựng xã hội học tập và tạo tiền đề phát triển kinh tế tri thức
Cũng theo Quy hoạch tổng thể này, vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đặt ra là giải quyết ách tắc giao thông gắn với xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại; đầu tư xây dựng các tuyến vận tải công cộng lớn như đường sắt trên cao, tàu điện ngầm, các công trình ngầm,
Thành phố Hà Nội sẽ phối hợp với Bộ Giao thông vận tải hoàn thành xây dựng các quốc lộ và cao tốc hướng tâm, vành đai giao thông đô thị 2 và 3 (kể cả đường trên cao), xây dựng các vành đại giao thông liên vùng (vành đai 4 và 5)
Giao thông thành phố được mở rộng, kết hợp xây dựng mới các trục chính đô thị nhằm tạo thành các luồng hành khách chủ yếu trong đô thị Hà Nội, kết nối trung tâm Thủ đô với các khu đô thị mới, các trục của khu vực phía Tây thành phố
Theo kế hoạch, sẽ hoàn thành nâng cấp mạng lưới đường bộ khu vực, mở rộng trục Đông - Tây (đường vành đai 1 cũ) Nâng cấp, tăng cường quản lý, khai thác các đường phố chính, đường khu vực Xây dựng hệ thống bãi đỗ xe ngầm, cao tầng tại khu vực nội thành
Trang 38Với định hướng chung là xây dựng thành phố Hà Nội trở thành một đô thị xanh, văn hiến, văn minh, hiện đại, có bản sắc trên nền tảng phát triển bền vững, tổ chức không gian đô thị Hà Nội sẽ theo mô hình chùm đô thị, bao gồm đô thị trung tâm, các đô thị vệ tinh, các thị trấn và vùng nông thôn, được kết nối bằng hệ thống giao thông đường vành đai kết hợp các trục hướng tâm, có mối liên kết với mạng lưới giao thông vùng và quốc gia
Đô thị trung tâm được phân cách với các đô thị vệ tinh, các thị trấn bằng hành lang xanh Trong đô thị trung tâm có khu nội đô lịch sử (giới hạn từ phía Nam sông Hồng đến đường vành đai 2), khu nội đô mở rộng (giới hạn từ đường vành đai 2 đến sông Nhuệ), khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng (từ sông Nhuệ đến đường vành đai 4), khu vực mở rộng phía Bắc sông Hồng (đến Nam sông Cà Lồ)
Tại đô thị trung tâm là bố trí trụ sở, cơ quan Trung ương, cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể của quốc gia và Thành phố, trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; các cơ sở thương mại, giao dịch, dịch vụ tài chính - ngân hàng - bảo hiểm - chứng khoán, các viện nghiên cứu đầu ngành; trụ sở chính của các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp lớn; các cơ sở đào tạo chất lượng cao với quy
mô phù hợp
Đô thị trung tâm được phát triển mở rộng từ khu vực nội đô về phía Tây, Nam đến đường vành đai 4 và về phía Bắc đến khu vực Mê Linh, Đông Anh; phía Đông đến khu vực Gia Lâm và Long Biên
Các đô thị vệ tinh như: đô thị Hòa Lạc, đô thị Sơn Tây, đô thị Xuân Mai, đô thị Phú Xuyên, đô thị Sóc Sơn Việc hình thành và phát triển nhanh các đô thị vệ tinh
có chức năng hỗn hợp và đặc thù riêng, hoạt động tương đối độc lập để hỗ trợ và chia
sẻ với đô thị trung tâm các chức năng về đào tạo, công nghiệp, dịch vụ, nhà ở,
Khu vực ngoại thành sẽ hình thành các vành đai cây xanh gắn với phát triển các công viên sinh thái quy mô lớn Phát triển các vùng rau, hoa cây cảnh cao cấp, thực phẩm sạch Nhân rộng các mô hình các khu nông nghiệp công nghệ cao đã và đang hình thành tại Gia Lâm, Đông Anh, Mê Linh
Hà Nội đã và sẽ giữ vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất ở Bắc Bộ, trung tâm kinh tế lớn có sức hút và khả năng lan tỏa rộng lớn, tác động trực tiếp tới quá trình
Trang 39phát triển của vùng Bắc Bộ và cả nước Với điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, kinh tế xã hội phát triển nên các hoạt động kinh tế xã hội đã ảnh hưởng đến quá trình hình thành phát triển hình thái không gian đô thị Hà Nội Các điều kiện thuận lợi về địa hình, điều kiện tự nhiên cũng hỗ trợ cho công tác khảo sát không gian, định hướng qui hoạch đạt hiệu quả cao
1.3 Đất đô thị trong nghiên cứu hình thái khu vực Hà Nội
Đất đô thị, theo nghĩa hẹp, được định nghĩa tại điều 55 luật đất đai là đất nội thành, nội thị xã và nội thị trấn Theo nghĩa rộng, đất đô thị bao gồm một bộ phận đất ngoại thành, ngoại thị Nghị định 88/CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định thêm đất ngoại thành, ngoại thị nếu đã có quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị cũng được quản lý như đất đô thị
Theo cơ cấu quy hoạch đô thị, đất đô thị gồm 2 loại, đất dân dụng (đất phục
vụ công cộng, đất cây xanh, đất giao thông và đất các công trình hạ tầng kỹ thuật)
và đất ngoài khu dân dụng (đất nông nghiệp, đất kho bãi, đất các trung tâm chuyên ngành, đất cơ quan ngoài đô thị, đất quốc phòng an ninh, đất chuyên dùng khác, đất chưa sử dụng)
So với đất đai nói chung, đất đô thị có những đặc trưng riêng, trong đó có thể
kể tới: Nguồn gốc của đất đô thị từ tự nhiên hoặc đất nông lâm nghiệp, được trang
bị kết cấu hạ tầng kỹ thuật khi chuyển đổi mục đích sử dụng Đất đô thị vừa là tư liệu sinh hoạt, vừa là tư liệu sản xuất; đất đô thị có tính cố định vị trí, không thuần nhất, mỗi vị trí có đặc thù riêng, không giống bất kỳ một vị trí nào, có tính cố định
về lượng cung cấp nhưng các chức năng sử dụng lại biến đổi Trên một mảnh đất đô thị, các chức năng sử dụng cùng cạnh tranh nhau như sự cạnh tranh giữa khu công nghiệp và trung tâm thương nghiệp ở trung tâm đô thị
Đặc trưng riêng của đất đô thị so với đất đai nói chung được nhận biết thông qua chức năng và hình thức quản lý đất đô thị
Theo viện nghiên cứu thế giới, urban area (khu đô thị) đồng nghĩa với thuật ngữ city (thành phố) nhưng thực ra chúng không phải là một Đô thị là một khái niệm nặng về thống kê và do cơ quan hành chính xác định Một thành phố không
Trang 40chỉ là nơi tập hợp của các khu dân cư nằm sát nhau mà là một thực thể tổng hợp về mặt chính trị, kinh tế và xã hội Các thành phố trên thế giới là biểu tượng của quốc gia và của quyền lực chính trị Đây cũng chính là trung tâm kinh tế, tôn giáo, giáo dục và văn hoá
Theo quan điểm của các nhà quy hoạch đô thị, mục đích qui hoạch đô thị đất
đô thị được phân thành 5 loại đất như sau:
a Khu đất công nghiệp: Khu đất công nghiệp trong đô thị bao gồm đất xây dựng các xí nghiệp công nghiệp và thủ công nghiệp được bố trí tập trung thành từng khu vực, trong đó tính cả đất giao thông nội bộ, các bến bãi hoặc công trình quản lý phục vụ cho các nhà máy Khu đất công nghiệp là thành phần quan trọng của cơ cấu đô thị đồng thời là một yếu tố quan trọng của sự hình thành và phát triển đô thị
b Khu đất kho tàng: Khu đất kho tàng thành phố bao gồm đất xây dựng các kho trực thuộc và không trực thuộc thành phố, kể cả đất đai xây dựng các trang thiết
bị kỹ thuật hành chính phục vụ, cách ly, bảo vệ.v.v của các kho tàng
c Khu đất giao thông đối ngoại: Bao gồm các loại đất phục vụ cho yêu cầu hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải của thành phố liên hệ với bên ngoài, cụ thể là:
- Đất giao thông đường sắt: Gồm đất sử dụng cho các tuyến đường sắt (không kể đường sắt dùng riêng theo yêu cầu của công nghiệp), nhà ga các loại, kho tàng, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho yêu cầu hoạt động của giao thông đường sắt
- Đất giao thông đường bộ: Là các loại đất xây dựng tuyến đường, bến xe, các trạm tiếp xăng dầu, bãi để xe, ga ra thành phố và cơ sở phục vụ cho giao thông đường bộ
- Đất giao thông đường thuỷ: Bao gồm đất xây dựng các bến cảng hành khách và hàng hoá, kể các các kho tàng, bến bãi, công trình phục vụ và trang thiết bị
kỹ thuật phục vụ yêu cầu hoạt động vận chuyển hành khách và hàng hoá của thành phố với bên ngoài