1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cấu trúc cảnh quan phục vụ tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Ninh Bình với sự trợ giúp của công nghệ viễn thám

119 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 9,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cấu trúc cảnh quan phục vụ tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Ninh Bình với sự trợ giúp của công nghệ viễn thám Nghiên cứu cấu trúc cảnh quan phục vụ tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Ninh Bình với sự trợ giúp của công nghệ viễn thám luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

_

TRẦN VĂN KHÁ

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC KIẾN TẠO KHU VỰC THỀM LỤC ĐỊA BẮC MIỀN TRUNG VIỆT NAM TRÊN

CƠ SỞ XỬ LÝ, PHÂN TÍCH MINH GIẢI TỔNG HỢP

TÀI LIỆU ĐỊA VẬT LÝ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VẬT LÝ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Chuyên ngành: Vật lý địa cầu

Trang 3

Lời cam đoan

Nghiên cứu sinh cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng nghiên cứu sinh Các kết quả, số liệu được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trần Văn Khá

Trang 4

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận án này nghiên cứu sinh xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS TS Đỗ Đức Thanh bộ môn Vật lý Địa cầu - Trường Đại học khoa học tự nhiên, TS Hoàng Văn Vượng phòng trọng lực - Viện Địa chất và Địa vật lý biển đã tận tình hướng dẫn nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án

Nghiên cứu sinh cũng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô bộ môn Vật lý Địa cầu – Khoa Vật lý đã tạo điều kiện cho nghiên cứu sinh được học tập và nghiên cứu tại bộ môn

Cũng qua đây cho nghiên cứu sinh được gửi lời cảm ơn tới các cán bộ phòng trọng lực biển, lãnh đạo Viện Địa chất và Địa vật lý biển đã hết sức tạo điều kiện cho nghiên cứu sinh có thể hoàn thiện được luận án này

Một lần nữa nghiên cứu sinh xin gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn đồng nghiệp, gia đình đã tạo điều kiện để nghiên cứu sinh hoàn thiện được luận án này

Hà Nội, Ngày 03 tháng 12 năm 2018

Nghiên cứu sinh

Trần Văn Khá

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục……… i

Danh mục các ký hiệu và các chữ viết tắt……… iv

Danh mục bảng biểu……… v

Danh mục các hình vẽ……… vi

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về địa chất-địa vật lý

trên khu vực thềm lục địa bắc Miền Trung Việt Nam

5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 6

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

1.2.2 Về các công trình nghiên cứu và dữ liệu địa chất – địa vật lý 21

Trang 6

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu – một số đề xuất cải tiến và kết quả tính toán thử nghiệm

27

2.1 Cơ sở lý thuyết các phương pháp nghiên cứu 27 2.1.1 Phương pháp gradient chuẩn hóa toàn phần (NFG) hai chiều 27

2.2.1 Đề xuất cải tiến phương pháp gradient chuẩn hóa toàn phần 41 2.2.2 Đề xuất cải tiến phương pháp gradient ngang cực đại 54

Chương 3 Đặc điểm cấu trúc kiến tạo khu vực thềm lục địa bắc

miền trung việt nam theo tài liệu địa vật lý

63

3.2 Kết quả áp dụng phương pháp gradient chuẩn hóa toàn phần cải tiến xác định các ranh giới cấu trúc sâu khu vực nghiên cứu

Trang 7

3.4.2 Độ sâu tới bề mặt Moho 87 3.5 Một số đặc điểm cấu trúc kiến tạo khu vực thềm lục địa bắc miền Trung Việt Nam theo tài liệu địa vật lý

91

Danh mục các công trình khoa học của nghiên cứu sinh liên quan đến luận án

96

Trang 8

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Ký hiệu, chữ viết

tắt

NFG Normal Full Gradient Gradient chuẩn hóa toàn

phần

Maxima

Gradient ngang cực đại

Atmospheric Administration

Cục quản lý đại dương

và khí quyển quốc gia

Production Corporation

Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí

Trang 9

Danh mục biểu bảng

Bảng 2.1 Các tham số vật lý của lăng trụ hình hộp với một chiều kéo dài vô

hạn………41

Bảng 2.2 Tham số của hai mô hình trọng lực……….43

Bảng 2.3 Tham số của mô hình 3 với khoảng cách Δx=0.5, số điểm M=200……… 46

Bảng 2.4 Tham số của mô hình 4 với khoảng cách Δx=0.5, số điểm M=200 47

Bảng 2.5 Tham số của mô hình 5 với khoảng cách Δx=0.5, số điểm M=200……… 47

Bảng 2.6 Các tham số đo trọng lực trên tuyến AA’……… 51

Bảng 2.7 Tham số mô hình trọng lực (dx=dy=1)………57

Bảng 2.8 Tham số mô hình trọng lực (dx=dy=1)………58

Bảng 3.1 Độ sâu đáy trầm tích và mật độ trầm tích được tính toán Từ vận tốc sóng theo tài liệu địa chấn……… 83

Bảng 3.2 Độ sâu đáy trầm tích và mật độ trầm tích được tính toán từ vận tốc sóng theo tài liệu địa chấn……… 84

Bảng 3.3 So sánh kết quả độ sâu Moho tính toán với điểm Moho địa chấn và nghiên cứu Trung.N.N……….90

Trang 10

Danh mục các hình vẽ

Hình 1.1.Các yếu tố kiến tạo bể Phú Khánh và lân cận Theo Trần Ngọc

Toản và Nguyễn Hồng Minh 1996 12

Hình 2.1 Vị trí các điểm trên lưới dùng để tính toán giá trị max H[∆𝑔]𝑖,𝑗(Blakely và Simpson ) 32

Hình 2.2 Vật thể hai chiều có tiết diện ngang bất kỳ……….34

Hình 2.3 - Xấp xỉ vật thể có tiết diện ngang bất kỳ bằng đa giác N cạnh … 35

Hình 2.4 - Việc phân chia mỗi cạnh đa giác thành các đoạn ………… … 35

Hình 2.5 Mô hình trọng lực lăng trụ 3 chiều……… 38

Hình 2.6 Mô hình dị thường trọng lực; a) dị thường trọng lực với các tham số như trên bảng 2.1 gây ra; b) Mô hình trọng lực với các tham số như trên bảng 2.1……… 41

Hình 2.7 NFG được tính toán từ dị thường trọng lực trên hình 2.6: a) Mối liên hệ giữa giá trị NFG cực đại và hệ số hài N; b) NFG với hệ số hài lựa chọn N=13; c) NFG với sự lựa chọn N là hai phần ba số điểm (N=67)………… 42

Hình 2.8 Dị thường trọng lực mô hình 1……….44

Hình 2.9 Dị thường trọng lực mô hình 2……….44

Hình 2.10 Mối liên hệ giữa N và NFG cực đại trên mô hình 1……… 44

Hình 2.11 Mối liên hệ giữa N và NFG cực đại trên mô hình 2……… 44

Hình 2.12 Gradient chuẩn hóa toàn phần tính trên mô hình 1 với các hệ số N được chọn ……… 45

Hình 2.13 Gradient chuẩn hóa toàn phần được tính trên mô hình 2 với các hệ số N được chọn ……… 45

Hình 2.14 Dị thường trọng lực mô hình 3……… 47

Trang 11

Hình 2.15 Dị thường trọng lực: b) đồ thị NFG cực đại và số hài; c) Gradient

chuẩn hóa toàn phần được tính trên mô hình 3 với các hệ số N được chọn

55……… 48

Hình 2.16 Dị thường trọng lực mô hình 4……… 48

Hình 2.17 a) Dị thường trọng lực: b) đồ thị NFG cực đại và số hài; c) Gradient chuẩn hóa toàn phần được tính trên mô hình 4 với các hệ số N được chọn … 49

Hình 2.18 Dị thường trọng lực mô hình 5……… 49

Hình 2.19 a) Dị thường trọng lực: b) đồ thị NFG cực đại và số hài; c) Gradient chuẩn hóa toàn phần được tính trên mô hình 5 với các hệ số N được chọn … 50

Hình 2.20 Vị trí tuyến AA’……….51

Hình 2.21 Sự thay đổi của NFG cực đại theo số hài N……… 52

Hình 2.22 Mặt cắt địa chấn tuyến AA’ (đẳng thời)………52

Hình 2.23 Mặt cắt NFG tuyến AA’ ứng với N=20……… 53

Hình 2.24 Hàm số y trong miền x thuộc [-2,2]……… 56

Hình 2.25 Mô hình 1: Hai vật thể lăng trụ chữ nhật nằm tách rời nhau: a) Mô hình 2 vật thể trọng lực lăng trụ đứng chữ nhật (bảng 2.7) trong không gian 3 chiều XYZ; b) Mô hình 2 vật thể trọng lăng trụ đứng chữ nhật trên mặt phẳng XY; c) trường trọng lực do 2 vật thể lăng trụ đứng tạo ra trên mặt quan sát; d) gradient ngang toàn phần do 2 vật thể lăng trụ đứng gây ra trên mặt quan sát; e) HGM theo Blakely và Simpson (2); f) HGM theo hệ điều kiện cải tiến (2.33)……… 57 Hình 2.26 Mô hình 2: Mô hình hai vật thể lăng trụ đứng chữ nhật nằm chồng lên nhau:a) Mô hình 2 vật thể dạng lăng trụ đứng chữ nhật (bảng 2.8) trong

không gian 3 chiều XYZ; b) Mô hình 2 vật thể trọng lăng trụ đứng chữ nhật trên mặt phẳng XY; c) trường trọng lực do 2 vật thể lăng trụ đứng tạo ra trên mặt quan sát; d) gradient ngang toàn phần do 2 vật thể lăng trụ đứng gây ra

Trang 12

trên mặt quan sát; e) HGM theo Blakely and Simpsonvới hệ điều kiện (2.10);

f) HGM với hệ điều kiện cải tiến (2.33)……… 59

Hình 2.27 a) Vùng nghiên cứu; b) Dị thường trọng lực Bouguer tại mức nâng trường 10km……… 60 Hình 2.28 a) Gradient ngang toàn phần được tính theo dị thường trọng lực

Bouguer mức nâng trường lên 10km ; b) HGM được tính theo hệ điều kiện (2.11); c) HGM được tính theo hệ điều kiện(2.10); d) HGM chồng chập kết quả của 2.20b và 2.20c (chấm màu xanh là HGM theo hệ điều kiện (2.10),

chấm màu đen là HGM theo hệ điều kiện (2.33), đường màu đỏ là các đứt gẫy theo tài liệu địa chất)……… 61 Hình 3.1 Bản đồ dị thường trọng lực Free-air nguồn Sandwell ……….64 Hình 3.2 Bản đồ độ sâu đáy biển nguồn GEBCO ……… 64 Hình 3.3 Bản đồ dị thường trọng lực Bouguer đầy đủ và các tuyến trọng lực

và địa chấn sâu được sử dụng trong luận án (tuyến màu đen là trọng lực thành tầu Gagarynsky, màu xanh nhạt, màu xanh thẫm địa chấn sâu dự án CSL07-08)………65 Hình 3.4 Bản đồ bề dầy trầm tích ……… 65 Hình 3.5 Mặt cắt NFG tuyến PKG09-09 với hệ số hài đựa lựa chọn hợp lý……… 66 Hình 3.6 Mặt cắt NFG tuyến PKG09_03 với hệ số hài đựa lựa chọn hợp

lý ……….66 Hình 3.7 Mặt cắt NFGtuyến PKBE08N37 với hệ số hài đựa lựa chọn hợp

lý ……….67 Hình 3.8.Mặt cắt NFG tuyến PKBE08N29 với hệ số hài đựa lựa chọn hợp

lý ……….67 Hình 3.9 Mặt cắt NFG tuyến 1 với hệ số hài đựa lựa chọn hợp lý …………67 Hình 3.10 Mặt cắt NFG tuyến 2 với hệ số hài đựa lựa chọn hợp lý ……… 68

Trang 13

Hình 3.11 Mặt cắt NFG tuyến 3 với hệ số hài đựa lựa chọn hợp lý ……… 68 Hình 3.12 Mặt cắt NFG tuyến 4 với hệ số hài đựa lựa chọn hợp lý ……….68 Hình 3.13 Mặt cắt NFG tuyến PKGE09-09 với mức nâng trường lên 20km với hệ số hài lựa chọn hợp lý N=16 (đường màu đen là độ sâu tới bề mặt Moho được tính toán từ địa chấn)………69 Hình 3.14 Mặt cắt cấu trúc địa chất tuyến PKGE09-09 theo tài liệu trọng lực trên cơ sở áp dụng phương pháp NFG để xác định các thông tin độ sâu tới đáy trầm tích và độ sâu tới bề mặt Moho………69 Hình 3.15 Gradient ngang cực đại tại mức 0km (màu xanh là theo phương pháp cải tiến, màu đen là theo Blakely) 72 Hình 3.16 Gradient ngang cực đại tại mức nâng trường lên 5km (màu xanh là theo phương pháp cải tiến, màu đen là theo Blakely) 73 Hình 3.17 Gradient ngang cực đại tại mức nâng trường lên 10km (màu xanh

là theo phương pháp cải tiến, màu đen là theo Blakely) 74 Hình 3.18 Gradient ngang cực đại tại mức nâng trường lên 15km (màu xanh

là theo phương pháp cải tiến, màu đen là theo Blakely) 75 Hình 3.19 Gradient ngang cực đại tại mức nâng trường lên 20km (màu xanh

là theo phương pháp cải tiến, màu đen là theo Blakely) 76 Hình 3.20 Gradient ngang cực đại tại mức nâng trường lên 25km (màu xanh

là theo phương pháp cải tiến, màu đen là theo Blakely) 77 Hình 3.21 Gradient ngang cực đại tại mức nâng trường lên 30km (màu xanh

là theo phương pháp cải tiến, màu đen là theo Blakely) 78 Hình 3.22 Sơ đồ đứt gẫy tổng hợp theo tài liệu địa chất và địa vật lý và các đứt gẫy được bổ sung theo HGM cải tiến 79 Hình 3.23 Tuyến địa chấn PKGE09-09, (đường màu xanh), vị trí đường màu đỏ chỉ điểmn giao nhau giữa PKGE09-09 và tuyến PKBE08N37 được sử dụng xác định độ sâu đến mặt Moho trong luận án này……… 82

Trang 14

Hình 3.24 Mặt cắt địa chấn PKBE08N37 (tuyến màu xanh) hình 3.24a (vị trí đường màu đỏ chỉ điểm giao tuyến 1 và PKGE09-09); Hình 3.24b mặt cắt AA’ được lấy từ hình3.24a, vị trí đường màu đỏ trong hình 3.24b để xác định

độ sâu tới mặt Moho………82 Hình 3.25 Tuyến địa chấn PKBE09-08, (đường màu xanh), vị trí đường màu đỏ chỉ điểmgiao nhau giữa PKGE09-09 và tuyến PKBE08N29 được sử dụng xác định độ sâu đến mặt Moho trên khu vực nghiên cứu……… 84 Hình 3.26 Mặt cắt địa chấn tuyến PKBE08N29 (tuyến màu xanh) hình 3.26a (vị trí đường màu đỏ chỉ điểm giao tuyến PKBE08N29 và PKBE09-08); Hình3.26b mặt cắt AA’ được lấy từ hình 3.26a, vị trí đường màu đỏ trong hình 3.26b để xác định độ sâu tới bề mặt Moho……… 84 Hình 3.27 Hàm phân bố mật độ theo bề dầy trầm tích trên cơ sở tài liệu Bảng 3.1, 3.2……… 85 Hình 3.28 Sơ đồ phân bố mật độ trung bình theo bề dầy trầm tích ……… 86 Hình 3.29 Dị thường trọng lực khu vực nghiên cứu: a) Dị thường trọng lực Free-air gf; b) dị thường trọng lực Bouguergf-gw; c) Dị thường trọng lực sau khi đã loại bỏ lớp trầm tích gcrust-mantle; d) Dị thường dư mantle……… 88 Hình 3.30 Bản đồ độ sâu tới bề mặt Moho trên cơ sở giải bài toán ngược trọng lựckhu vực nghiên cứu Tỷ lệ 1:200.000………89 Hình 3.31 Sơ đồ kiến tạo và hệ thống đứt gẫy khu vực nghiên cứu theo tài liệu địa vật lý ……… 92

Trang 15

Mở đầu

Biển Đông Việt Nam rộng lớn gấp nhiều lần so với phần lãnh thổ trên đất liền, bao gồm toàn bộ thềm lục địa pháp lý quy định theo công ước luật biển 1982 của Liên hợp quốc và các vùng quần đảo Trường Sa - Hoàng Sa

Đã có rất nhiều hoạt động khảo sát, tìm kiếm thăm dò, khai thác tài nguyên cũng như nghiên cứu trong nước để khẳng định chủ quyền Biển Đảo Việt Nam Từ những năm 50 đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về địa chất và địa vật lý do các nhà khoa học trong nước và ngoài nước công bố trên vùng thềm lục địa Bắc Miền Trung –Hoàng Sa thuộc Biển Đông Việt Nam Trong số này có những kết quả tổng hợp trong dạng các tập bản đồ địa chất,

địa vật lý vùng Biển Đông và lân cận như Atlats “Các điều kiện tự nhiên và môi trường vùng biển Việt Nam và vùng kế cận” tỷ lệ 1:1000.000 do TS Nguyễn Thế Tiệp làm chủ biên 2006-2010 Cho đến nay đây là các bản đồ địa chất - địa vật lý tỷ lệ lớn nhất được xuất bản chính thức cho Biển Đông Ngoài ra còn có các khảo sát địa chất – địa vật lý khác trên thềm lục địa Việt Nam Việc minh giải các tài liệu địa chất - địa vật lý trên vùng thềm lục địa Bắc Miền Trung –Hoàng Sa cũng đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện và công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước Tuy nhiên, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng vẫn còn tồn tại một vài vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng trong các nghiên cứu trước đây về việc xác định các hệ thống đứt gẫy theo tài liệu địa vật lý cũng như cấu trúc Moho khu vực thềm lục địa Việt Nam Về phương pháp phân tích số liệu cũng tồn tại một vài hạn chế trong việc xác định hệ số hài phù hợp khi áp dụng phương pháp NFG Trước đây các tác giả trong nước thường sử dụng hệ số hài bằng hai phần ba số điểm

để xác định độ sâu tới nguồn theo tài liệu trọng lực, tuy nhiên việc lựa chọn này chỉ đúng cho một số ít trường hợp Chính vì vậy, trong luận án này nghiên cứu sinh đi sâu vào nghiên cứu và áp dụng cách thức lựa chọn số hài

Trang 16

theo công trình của Aydin [26, 26] Việc lựa chọn hài này đã cho kết quả phù hợp hơn đối với mô hình lý thuyết và cũng đã được kiểm nghiệm trên số liệu thực tế Ngoài ra, việc xác định hệ thống đứt gẫy theo phương pháp gradient ngang cực đại Blakely và Simpson [29] cũng vẫn còn hạn chế Độ sâu bề mặt Moho trên khu vực nghiên cứu đã được nhiều nghiên cứu trong nước và thế giới công bố, tuy nhiên các kết quả này có sự khác nhau, điều này do không

có điểm tựa độ sâu bề mặt Moho trên khu vực nghiên cứu Nhằm khắc phục

những hạn chế đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu cấu trúc kiến tạo khu vực thềm lục địa Bắc Miền Trung Việt Nam trên cơ sở xử lý, phân tích minh giải tổng hợp tài liệu địa vật lý” cho luận án của mình

Mục đích nghiên cứu:

- Đề xuất cải tiến nhằm khắc phục hạn chế của một số phương pháp phân tích, xử lý tài liệu trường thế nhằm nâng cao khả năng áp dụng các phương pháp đó trong nghiên cứu cấu trúc sâu

- Bổ sung thêm một số thông tin mới về cấu trúc địa chất vỏ trái đất nói chung, cấu trúc mặt Moho nói riêng khu vực thềm lục địa bắc Miền Trung Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu luận án bao gồm: phân bố mật

độ trầm tích Kainozoi, hệ thống đứt gẫy và độ sâu tới bề mặt Moho khu vực thềm lục địa Bắc Miền Trung –Hoàng Sa

Nhiệm vụ của luận án: Với những đối tượng nghiên cứu kể trên, để đạt được

mục tiêu đề ra, luận án bao gồm những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết, từ đó đề xuất cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của một số phương pháp phân tích và xử lý số liệu trường thế

- Xây dựng hàm phân bố mật độ trung bình cho tầng trầm tích trên toàn khu vực nghiên cứu

Trang 17

- Xác định hệ thống đứt gẫy trên khu vực nghiên cứu theo tài liệu trọng lực

- Xác định độ sâu tới bề mặt Moho trên cơ sở các tài liệu địa chấn bổ sung trên khu vực nghiên cứu

- Phát hiện một số đặc điểm cấu trúc-kiến tạo khu vực thềm lục địa Bắc miền trung Việt Nam

Kết quả khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

- Đã đưa ra các đề xuất cải tiến đối với phương pháp NFG và HGM trong việc phân tích số liệu trọng lực

- Các kết quả đạt được của luận án trong việc nghiên cứu cấu trúc kiến tạo trên thềm lục địa Việt Nam và lân cận cho thấy tính ứng dụng và hiệu quả cao của hệ phương pháp và những đề xuất cải tiến đã lựa chọn Các kết quả này có thể góp phần phục vụ công tác xác định đường ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam, đặc biệt là vùng quần đảo Hoàng Sa

Những điểm mới luận án:

- Áp dụng thành công việc lựa chọn hệ số hài hợp lý đối với phương pháp NFG trong việc xây dựng mô hình cấu trúc địa chất theo tài liệu trọng lực Đề xuất cải tiến và nâng cao hiệu quả phương pháp HGM nhằm xác định biên cấu trúc và hệ thống đứt gẫy trong phân tích và xử lý số liệu trường thế

- Xây dựng được hàm phân bố mật độ tầng trầm tích Kainozoi trên khu vực thềm lục địa Bắc Miền Trung –Hoàng Sa

- Đã bổ sung thêm hai điểm độ sâu tới mặt Moho theo tài liệu địa chấn, qua đó đã xác định lại độ sâu tới Moho trên khu vực nghiên cứu có kết quả sát với thực tế hơn

Trang 18

- Bước đầu đã phân vùng cấu trúc kiến tạo trên cơ sở áp dụng các phương pháp cải tiến trên và kết quả độ sâu tới bề mặt Moho cho khu vực nghiên cứu

Cấu trúc luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận và các kiến nghị, luận án

gồm 3 chương

- Chương 1: Giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu địa chất-địa

vật lý từ những năm 1950 đến nay và các công trình công bố trong và ngoài nước liên quan trên khu vực nghiên cứu

- Chương 2: Giới thiệu về các phương pháp nghiên cứu: phương pháp

gradient chuẩn hóa toàn phần (NFG), gradient ngang cực đại (HGM), gradient ngang cực đại cải tiến, các phương pháp mô hình hóa cấu trúc trọng lực hai chiều và ba chiều

- Chương 3 Đưa ra các mặt cắt cấu trúc trên cơ sơ phương pháp NFG

với sự lựa chọn hài hợp lý, hệ thống đứt gẫy theo phương pháp HGM và HGM cải tiến, bản đồ phân bố mật độ trung bình tầng trầm tích, bản đồ độ sâu tới bề mặt Moho khu vực nghiên cứu và sơ đồ phân vùng cấu trúc kiến tạo trên khu vực nghiên cứu

Trang 19

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊA CHẤT - ĐỊA VẬT

LÝ TRÊN KHU VỰC THỀM LỤC ĐỊA BẮC MIỀN TRUNG

VIỆT NAM

Khu vực nghiên cứu nằm chồng lên một phần bể Sông Hồng ở phía Bắc, Phía Đông Bắc là toàn bộ bể Nam Hải Nam, Phía Đông Hoàng Sa giáp trũng sâu Biển Đông, phía Nam là bể Phú Khánh, phía Đông là lục địa Đã có những khảo sát đo đạc địa vật lý nhằm làm sang tỏ cấu trúc vỏ trên khu vực nghiên cứu, tuy nhiên các số liệu đo địa vật lý để nghiên cứu cấu trúc sâu ở đây còn rất hạn chế Đặc biệt, ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, vùng trũng sâu Biển Đông và bể Phú Khánh có ít số liệu, hoặc có nhưng thông tin cấu trúc sâu bị hạn chế bởi các thiết bị đo đạc địa chấn hay tài liệu khoan còn ít và chủ yếu khoan trong tầng trầm tích Kainozoi được một vài kilomet, điều này làm hạn chế khả năng sử dụng chúng trong việc làm tựa cho giải ngược với số liệu trọng lực Chính vì vậy cần thu thập thêm các thông tin tài liệu địa chấn, tài liệu khoan kết hợp các tài liệu địa chấn sâu phía Việt Nam đo được gần đây

để làm sang tỏ thêm cấu trúc vỏ khu vực nghiên cứu và lân cận

Vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông rộng lớn gấp nhiều lần so với phần lãnh thổ trên đất liền, bao gồm toàn bộ thềm lục địa pháp lý quy định theo Công ước luật biển 1982 của Liên hợp quốc và các vùng quần đảo Trường Sa - Hoàng Sa Từ hàng trăm năm qua và đặc biệt là mấy chục năm gần đây, các thế hệ người Việt Nam đã liên tiếp thực hiện hàng trăm hàng ngàn lượt điều tra, khảo sát, tìm kiếm thăm dò, nghiên cứu, khai thác tài nguyên để làm chủ thực sự vùng biển rộng lớn và giàu có này

Về lĩnh vực địa chất và địa vật lý, ngoài những công trình do các nhà nghiên cứu Việt Nam trực tiếp tiến hành trong 50 năm qua còn có nhiều công trình

Trang 20

của các nghiên cứu nước ngoài tiến hành độc lập hoặc hợp tác với Việt Nam trên vùng Biển Đông Có nhiều kết quả quan trọng đã được công bố về địa chất và địa vật lý trên Biển Đông nói chung và trên vùng biển Việt Nam nói riêng Trong số này có những kết quả tổng hợp trong dạng các tập bản đồ địa chất, địa vật lý các vùng biển Đông nam Á, trong đó có Biển Đông của các nhà nghiên cứu Mỹ (Hayes, Taylor, 1986) Đến năm 1987, Nhà xuất bản Quảng Đông (Trung Quốc) chính thức xuất bản tập atlas địa chất - địa vật lý Biển Đông gồm 11 bản đồ chuyên đề ở tỷ lệ 1:2.000.000 Trong khi đó, trên vùng biển của chúng ta, các kết quả điều tra khảo sát, nghiên cứu trong nhiều năm qua trên các khu vưc khác nhau và nhiều chuyên đề khác nhau đã đạt độ

chi tiết ở các tỷ lệ lớn hơn nhiều lần Có những vùng trên thềm lục địa chúng

ta đã có các bản đồ chuyên đề với mức độ chi tiết trong các tỷ lệ 1:50.000 và lớn hơn Trong khuôn khổ của các đề tài địa chất - địa vật lý thuộc chương trình nghiên cứu biển thực hiện từ những năm 1980 trở lại đây chúng ta đã hoàn thành xây dựng nhiều bản đồ chuyên đề với phạm vi phổ biến là trên toàn thềm lục địa cũng như một số vùng biển lân cận trên Biển Đông Trong

số này, có những bản đồ chuyên đề quan trọng như bản đồ địa mạo, bản đồ trầm tích đáy, bản đồ cấu trúc kiến tạo, các bản đồ các trường trọng lực và từ, bản đồ cấu trúc sâu, bản đồ cấu tạo các bể trầm tích, các thành tạo đệ tứ đều

đã đạt mức độ chính xác và độ chi tiết cao

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

Trên vùng thềm lục địa miền Trung Việt Nam và khu vực lân cận có rất nhiều nhà khoa học về địa chất, địa vật lý tiến hành nghiên cứu theo các hướng chuyên sâu khác nhau nhằm phục vụ công tác thăm dò tìm kiếm khoáng sản, làm sáng tỏ lịch sử phát triển địa chất, củng cố luận cứ khoa học

để khẳng định và mở rộng đường ranh giới trên biển, bảo vệ lãnh hải của Tổ quốc

Trang 21

1.1.1 Về địa vật lý

Có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà địa vật lý trong nước trên khu vực thềm lục địa bắc Miền Trung và lân cận, trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu sau đây: “Một số đặc trưng cơ bản của trường Địa vật lý trên thềm lục địa Việt Nam và khu vực kế cận” của tác giả Bùi Công Quế và cộng sự [7] , “Một số đặc trưng của các dị thường địa vật lý và cấu trúc vỏ Trái đất thềm lục địa Việt Nam và Biển Đông ” của tác giả Bùi Công Quế [14] trong đó đề cập tới hệ phương pháp xử lý và tổng hợp tài liệu trọng lực, địa chấn và động đất nhằm xác định đặc điểm các trường địa vật lý, đồng thời xác định đặc điểm cấu trúc các ranh giới cơ bản vỏ Trái đất, đặc điểm địa động lực và hệ thống đứt gẫy khu vực thềm lục địa Việt Nam, QĐTS và lân cận Bên cạnh đó, trong công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Công Quế và các cộng sự [8, 9, 10, 11,12, 13, 15] đã tiến hành thành lập các bản đồ dị thường trọng lực Free-air, bản đồ dị thường Bouguer, xây dựng cơ sở khoa học cho việc xác định ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam Ngoài ra phải

kể đến công trình nghiên cứu của Hoàng Văn Vượng, Đỗ Chiến Thắng (Viện Địa chất và Địa vật lý biển): “Về khả năng minh giải tổng hợp tài liệu trọng lực nghiên cứu móng trước Kainozoi thềm lục địa Việt Nam” Trong công trình này nhóm tác giả đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc móng trước Kainozoi

và mối liên quan đến triển vọng dầu khí thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở xử

lý tổng hợp tài liệu trọng lực-từ và các tài liệu địa vật lý địa chất kiến tạo có trong khu vực Trong công trình này các tác giả cũng tập trung nghiên cứu cấu trúc sâu, bề dầy trầm tích khu vực Vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa Tây Nam, xác định các ranh giới mật độ, các phá hủy kiến tạo, các hệ thống đứt gẫy trên khu vực thềm lục địa trên cơ sở các phương pháp NFG, HGM, mô hình hóa cấu trúc Đỗ chiến Thắng, Hoàng Văn Vượng [18] cũng đã xử lý và phân tích

Trang 22

các số liệu từ và trọng lực phục cho việc xác định bề dầy trầm tích Kainozoi cho việc xác định ranh giới ngoài thềm lục địa

Đáng chú ý nhất trên khu vực thềm lục địa Việt Nam và khu vực trũng sâu Biển Đông là vào tháng 4-5/2007, tháng 6-7/2008 việc đo trực tiếp trường trọng lực, địa từ và sóng địa chấn với hàng ngàn km tuyến đã đươc CHLB Nga thực hiện Sau đó trong năm 2009, PVEP đã chủ trì thực hiện đo bổ sung đồng bộ hơn 6000 km tuyến các số liệu trọng lực, địa chấn, độ sâu đáy biển

Có thể nói đây là nguồn số liệu địa vật lý đặc biệt quý giá trên vùng thềm lục địa miền Trung Việt Nam và lân cận Gần đây nhất Ủy Ban biên giới Bộ ngoại giao Việt Nam (Viện Địa chất và Địa Vật lý biển tham gia chủ trì chính) đã đệ trình lên Ủy Ban ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng Tuy nhiên, việc nghiên cứu và xây dựng các chứng cứ mới về địa chất, địa mạo và địa vật lý để có một cơ sở khoa học vững chắc về khu vực thềm lục địa Bắc Trung bộ - Hoàng Sa vẫn vô cùng cấp bách và cần thiết, đặc biệt trong trường hợp có thể cập nhật, bổ sung cho hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng phần phía bắc (VNM-N) và là

cơ sở cần thiết để hoàn thiện bổ sung hồ sơ cho khu vực giữa (VNM-C) của thềm lục địa Việt Nam sẽ đệ trình lên Liên hiệp quốc trong tương lai (2020), đây cũng là một phần mục tiêu mà luận án này muốn hướng đến Để làm được điều này, cần phải tiến hành xử lý và phân tích minh giải tổng hợp các tài liệu trọng lực, địa chấn và cung cấp những bằng chứng dưới sâu về cấu trúc vỏ Trái đất nhằm khẳng định cho sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ và thềm lục địa, phục vụ công tác xác định ranh giới ngoài thềm lục địa theo các khoản quy định trong Điều 76, UNCLOS 1982

Những công trình nghiên cứu, đề án được các nhà khoa học Việt nam thực hiện trên khu vực nghiên cứu của đề tài và các khu vực kế cận khá phong phú Tại Viện Địa chất và Địa vật lý biển có thể kể đến nguồn tư liệu từ

Trang 23

chuyên mục “Xây dựng bản đồ dị thường trọng lực 1:1.000.000 vùng biển Việt Nam và kế cận”, “Xây dựng bản đồ độ sâu đáy biển 1:1.000.000 vùng biển Việt Nam và kế cận” thuộc đề tài cấp Nhà nước KC-09-02 do GS.TS Bùi Công Quế chủ nhiệm; nguồn số liệu trọng lực thành tàu, độ sâu đáy biển được đo bởi tàu Gagarinsky, Attalante Các đề án được thực hiện tại Viện Địa chất và Địa vật lý biển trong những năm gần đây là một nguồn tư liệu trọng lực rất có giá trị Một số kết quả của chuyên mục “Thành lập bản đồ dị thường trọng lực tỷ lệ 1:1.000.000”, “Thành lập bản đồ độ sâu đáy biển tỷ lệ 1:1.000.000” thuộc đề tài cấp Nhà nước KC-09-02 do GS.TS Bùi Công Quế chủ nhiệm năm 2001-2005 có ý nghĩa rất lớn cho các nghiên cứu về trầm tích trên thềm lục địa Việt nam và lân cận theo tài liệu địa vật lý Các đề tài cấp Nhà nước nêu trên có qui mô nghiên cứu lớn nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực thành lập các bản đồ đặc điểm các trường địa vật lý trên biển, khối lượng tài liệu trọng lực thu thập qua đề tài này là rất lớn và khá đa dạng Vì vậy việc tiếp thu và kế thừa những kết quả mà đề tài đạt được trong giai đoạn trước đây sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho những lĩnh vực nghiên cứu có liên quan trong thời gian tiếp theo

Việc đo trọng lực biển, đo độ sâu của tàu Gagarinski trong hai chuyến khảo sát biển tổng hợp với sự hợp tác khoa học giữa Việt Nam và Viện Hải dương học Thái Bình Dương Liên bang Nga cũng đã được thực hiện vào các năm 1990 và 1992 Phạm vi của hai chuyến khảo sát này bao phủ hết vùng thềm lục địa và một phần biển sâu vùng biển Việt Nam với hàng ngàn kilomet tuyến đo địa vật lý, địa chất và đo độ sâu đáy biển Mật độ số liệu đo đạc trên tuyến được thực hiện ở tỷ lệ khá lớn đạt từ 1:100.000 đến 1:200.000 Toàn bộ

số liệu được lưu trữ dưới dạng số trên đĩa CD và bản photocopy tại Viện Địa chất và Địa vật lý biển

Trang 24

1.1.2 Về địa chất

Trên khu vực nghiên cứu và lân cận, về địa chất có thể nêu một số công trình nghiên cứu như: Bản đồ Địa chất và Khoáng sản (1/50.000) tờ Huế (Liên đoàn Bản đồ), Địa chất Đệ tứ và tiềm năng khoáng sản (KT03-05,

do Nguyễn Địch Dỹ chủ biên), Bản đồ địa chất Đệ tứ 1:500.000 (Nguyễn Đức Tâm và Đỗ Tuyết chủ biên, 1995), Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan (Nguyễn Địch Dỹ và nnk, 1995), vỏ phong hóa và trầm tích Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 (Ngô Quang Toàn và nnk, 1999), Thay đổi đường bờ biển Nam Trung Bộ (Saurin, 1960), Vũ Văn Phái (1996) Trong các công trình này các tác giả cũng đã có những nghiên cứu về đặc điểm địa chất, cấu trúc tầng trầm tích đệ tứ và biến đổi đường bờ trong đệ tứ, nhưng những đặc điểm cấu trúc trầm tích sâu hơn còn khá mờ nhạt Trong những năm từ 1992 đến nay, Trung tâm Địa chất khoáng sản biển (Cục Địa chất Việt Nam) đã triển khai đề án tìm kiếm khoáng sản trên vùng biển ven

bờ tới độ sâu 30m nước Đề án đã thực hiện một khối lượng khảo sát lớn về trầm tích đáy, địa chấn nông và nghiên cứu địa mạo đáy biển dải nước nông ven bờ Một số các sơ đồ, bản đồ địa chất mang tính chất khái quát như sơ đồ địa chất và tiềm năng khoáng sản tỷ lệ 1:1.000.000, bản đồ bề dày trầm tích Kainozoi tỷ lệ 1:1.000.000 cho toàn bộ Biển Đông và các bản đồ bề dày trầm tích Kainozoi tỷ lệ 1:500.000 khu vực Tư Chính và Hoàng Sa - Bắc Trung Bộ còn mang nặng tính chất ngoại suy, thiếu nhiều tài liệu thực tế Hệ thống các cột địa tầng tổng hợp được xây dựng trên cơ sở một số ít các lỗ khoan thăm

dò dầu khí hoàn toàn chưa đại diện cho khu vực

Tuy nhiên, trong khu vực nghiên cứu, việc nghiên cứu địa chất tầng sâu còn nhiều hạn chế Các giếng khoan thăm dò tại khu vực trũng Nam Côn Sơn, Vịnh Thái Lan, trũng Cửu Long, Bắc Bộ và Trung Bộ chỉ phản ánh đặc điểm địa tầng khu vực hoặc các cấu trúc mang tính địa phương chứ chưa đủ

Trang 25

khả năng phản ánh quang cảnh địa chất của vùng Biển Đông Năm

2006-2010, việc nghiên cứu cấu trúc địa chất cho vùng biển nước sâu (trên 200m nước) ở Nam Việt Nam đã được thực hiện (Đề tài KC.09/06-10, TS Nguyễn Thế Tiệp chủ trì) Trong đề tài này, nhóm tác giả đã đưa ra tập Atlast về điều kiện tự nhiên vùng Biển Việt Nam và kế cận rất có giá trị Cũng trong khoảng thời gian này, GS.TS Trần Nghi thực hiện đề tài KC.09.20/06-10 “Nghiên cứu địa tầng phân tập (sequence stratigraphy) các bể trầm tích Sông Hồng, Cửu Long, nam Côn Sơn” nhằm đánh giá tiềm năng khoáng sản

1.1.3 Về kiến tạo

Khu vực nghiên cứu bao gồm các cấu trúc lớn điển hình sau đây: nhóm

bể trầm tích Hoàng Sa, bể Phú Khánh, bể Sông Hồng Trong đó, với nhóm bể trầm tích Hoàng Sa, theo các nghiên cứu từ kết quả khoan giếng 115A-1X, 121CM-1X, đã dự đoán đá móng nhóm bể này gồm đá trầm tích bị biến chất, xâm nhập và phun trào tuổi Paleozoi, Mesozoi và được phân chia thành: Hệ Paleogen-Thống Eocen- Oligocen, Hệ Neogen – Thống Miocen dưới - giữa

Hệ Neogene – Thống Miocen trên, Thống Pliocen – Pleistocen Trong bể Phú Khánh việc phân chia địa tầng, xác định các mặt bất chỉnh hợp v.v đều dựa trên các kết quả minh giải và liên kết tài liệu địa vật lý, chủ yếu là địa chấn phản xạ với các giếng khoan ở bể Sông Hồng Ở bể Phú Khánh, móng âm học gồm chủ yếu là đá magma Mesozoi với thành phần chủ đạo là granit và granodiorit, phần còn lại là đá biếnchất tuổi Creta và đá núi lửa Mặt móng

âm học được xem là bất chỉnh hợp khu vực ở phần sâu nhất trong lát cắt địa chấn-địa chất

Trang 26

Tròng s©u Phó Kh¸nh

§íi c¾t tr-îtTuy Ho µ

§íic¾t tr-ît§µ n½ng

§Þa luü Tri T«n

Phô bÓ Qu¶ng Ng·i

Hình 1 Các yếu tố kiến tạo bể Phú Khánh và lân cận Theo Trần Ngọc Toản và Nguyễn Hồng Minh 1996 [19]

Nghiên cứu kiến tạo Biển Đông được đề cập khá sớm, tuy nhiên trước những năm 1980 nghiên cứu kiến tạo chưa có gì sâu sắc, ít các công trình mang tính khu vực chuyên sâu Những nghiên cứu kiến tạo thường được gắn liền với các nghiên lãnh thổ ở tầm cỡ châu lục Âu-Á hoặc sự vận động của vỏ Trái Đất giữa lục địa và đại dương Năm 1980, với việc ký kết hợp tác Việt Nga trong thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam, một loạt các khảo sát thăm dò các bồn trũng Kainoi được triến khai và trên cơ sở các tài liệu đó đã

có nhiều các công trình nghiên cứu kiến tạo nhằm xác định quy luật hình thành và phát triển các thành tạo dầu ở Biển Đông

Năm 1986, Hồ Đắc Hoài và Trần Lê Đông đã phân vùng kiến tạo mô tả các cấu trúc định hướng cho tìm kiếm dầu khí ở trũng Cửu Long và bể Nam Côn Sơn Cùng trong thời gian đó, nghiên cứu của Lê Trọng Cán về lịch sử

Trang 27

phát triển các bồn trũng và phân chia các đơn vị kiến tạo từ bậc II đến bậc III thềm lục địa Việt Nam đã được thực hiện Năm 1990, Hồ Đắc Hoài đã xác lập mô hình phân vùng kiến tạo với tỷ lệ bản đồ 1:1.000.000 thềm lục địa Việt Nam Tác giả Võ Năng Lạc (1996) đã chính xác hóa bản đồ kiến tạo toàn thềm lục địa Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 và cho các bồn trầm tích ở tỷ lệ 1:500.000 Lê Duy Bách và Ngô Gia Thắng (1990) [1] công bố công trình

“Về phân vùng kiến tạo Thềm lục địa Việt nam và các miền kế cận”

Năm 2001, Lê Như Lai, Phùng Văn Phách & nk [3] đã tập hợp các số liệu để thành lập bản đồ cấu trúc kiến tạo vùng biển Việt Nam và kế cận (Đề tài KHCN-06-12) Lê Như Lai, Phùng Văn Phách (2002, 2006) đã xây dựng bản đồ cấu trúc kiến tạo vùng biển Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1: 2.000.000 (Đề tài KC.09.24.) Vào năm 2003, Trần Hữu Thân, Ngọ Văn Hưng và nnk công

bố công trình “Lập lại lịch sử tiến hóa kiến tạo và nhận dạng các bẫy chứa dầu khí trong bể trầm tích Phú Khánh”

Năm 2008 Nguyễn Văn Vượng, Trần Nghi & nnk đã công bố công trình “Nghiên cứu cấu trúc kiến tạo và địa động lực khu vực Tây Nam Biển Đông” (Hội nghị địa chất biển toàn quốc lần 1, Hạ Long, 2008) Phùng Văn Phách trong các năm 2004 và 2008 đã liên tục thực hiện các đề tài “ Đánh giá tiềm năng tai biển địa chất vùng thềm lục địa phía tây vịnh bắc bộ trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc địa chất và hoạt động tân kiến tạo” và “ Nghiên cứu đặc điểm của pha nghịch đảo kiến tạo trũng Sông Hồng - Vịnh Bắc Bộ và vai trò của chúng trong việc hình thành và phá huỷ các cấu trúc có khả năng sinh và chứa dầu khí” Năm 2014 cũng tác giả Phùng Văn Phách và n.n.k [5] đã công

bố các nghiên cứu về “Một số đặc trưng địa chất - địa hình khu vực đới chuyển tiếp giữa vỏ lục địa và vỏ đại dương (COT) Biển đông” Phan Trọng Trịnh, Nguyễn Văn Hướng và n.n.k [20] công bố công trình “kiến tạo hiện đại và các tai biến địa chất liên quan ở vùng biển việt nam và lân cận” trên

Trang 28

các tạp chí các khoa học về Trái Đất Tuy nhiên những nghiên cứu này còn thiếu sự bổ sung, cập nhật các thông tin cấu trúc sâu theo tài liệu trọng lực

Ngoài ra trên khu vực nghiên cứu còn phải kể đến các công trình nghiên cứu về cấu trúc – kiến tạo của tác giả Phùng Văn Phách: “Nghiên cứu cấu trúc địa chất và tiến hóa Biển Đông phục vụ xác lập đường chủ quyền lãnh hải Việt Nam và dự báo tài nguyên năng lượng và khoáng sản”, mã số KC.09.02/11-15 Trong đề tài này hoàn toàn không có những tính toán định lượng về bề dày trầm tích theo tài liệu địa vật lý để chứng minh tính liền thổ

từ lục địa đến vùng quần đảo Hoàng Sa và lân cận Về cơ bản, các nghiên cứu này khá thống nhất về sự hoạt động có tính kế thừa của tân kiến tạo và phát triển mới so với bình đồ cấu trúc cổ, hoạt động tân kiến tạo phân dị theo thời gian (lúc mạnh, lúc yếu) dẫn đến hình thành tính phân bậc của địa hình và phân nhịp trầm tích trong các bồn trầm tích Các hoạt động uốn nếp dạng vòm, khối tảng với các biên độ khác nhau là yếu tố chính quyết định bình đồ hiện đại hoạt động tân kiến tạo gắn liền với hoạt động phun trào basalt và hoạt động động đất

1.1.4 Về địa hình - địa mạo

* Các công trình nghiên cứu về địa hình: Đã từ lâu, vùng Biển Đông của

Việt Nam đã thu hút được nhiều người nước ngoài quan tâm Với mục đích quân sự và tìm kiếm tài nguyên khoáng sản từ những năm 1930 người Pháp

đã tiến hành đo đạc độ sâu, khảo sát địa hình các khu vực biển nông ven bờ vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan và các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc Năm 1949 Bộ Quốc Phòng Pháp đã in và phát hành một số hải đồ

tỷ lệ nhỏ và trung bình thuộc vùng biển Việt Nam và kế cận

Sau khi Mỹ thế chân Pháp tại miền Nam Việt Nam, thì lực lượng hải quân bắt đầu triển khai đề án mang tên "NAGA" thuộc khu vực biển miền

Trang 29

Trung và phía Nam Việt Nam Đề án triển khai từ năm 1959 và kết thúc năm

1974, ngoài những nghiên cứu về môi trường, sóng âm, Các đo đạc độ sâu đáy biển rất được chú trọng Nhiều khu vực biển nông ven bờ như vịnh Nha

Trang, Cam Ranh, khảo sát và đo đạc thực hiện ở tỷ lệ lớn, số liệu đáp ứng

cho mục đích quốc phòng

Trên cơ sở sử dụng số liệu đo sâu của Pháp từ những năm 1930 đến những năm sau đó, Chính phủ Hoàng Gia Anh đã cho xuất bản hải đồ vùng biển Biển Đông tỷ lệ 1:500.000, 1:1.000.000 và 1:500.000 vào năm 1995 Loạt bản đồ độ sâu đáy biển này được xây dựng ở mức độ khái quát trên toàn vùng Biển Đông, tuy nhiên các số liệu đo sâu ở các vùng nước có độ sâu trên 200m còn hết sức thưa thớt và thiếu chính xác

Năm 1960 chương trình hợp tác Việt - Trung nghiên cứu vịnh Bắc Bộ

đã cung cấp nguồn số liệu độ sâu để thành lập các hải đồ tỷ lệ 1:100.000, 1:250.000 đối với khu vực biển nông ven bờ Những năm sau đó Bộ Tư lệnh Hải quân thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam đã cho tiến hành đo đạc bổ sung và xây dựng các loạt hải đồ không chỉ ở tỷ lệ 1:200.000 mà còn chi tiết hơn đến

cả tỷ lệ 1:50.000 ở các khu vực trọng điểm

Năm 1987 Bộ Địa chất và tài nguyên khoáng của Trung Quốc đã cho xuất bản tập "Atlas địa chất - địa vật lý Biển Đông", trong đó bản đồ độ sâu

đáy biển được vẽ ở tỷ lệ 1:2.000.000 làm nền cho bản đồ địa mạo ở cùng tỷ

lệ Ớ mức độ nào đó địa hình đáy Biển Đông được phản ánh khái quát về hình thái và lịch sử phát triển Biển Đông

Vào năm 1990 kết quả khảo sát đo đạc của đề án cáp ngầm viễn thông

SINHON2 đã bổ sung số liệu độ sâu ở khu vực trũng sâu Biển Đông và

những khu vực có tuyến cáp chạy qua như Vũng Tàu, vịnh Thái Lan Loạt

bản đồ độ sâu phục vụ cho công trình này được biên vẽ ở tỷ lệ 1:50.000 và

Trang 30

1:100.000 Tiếp theo đề án này, từ năm 1994 đến 1997, các tuyến khảo sát đặt cáp ngầm dưới biển thuộc đề án "cáp ngầm viễn thông TVH" đã cung cấp khá đầy đủ số liệu đo sâu khu vực nêu trên và các tuyến cắt ngang vào bờ thuộc lãnh thổ Việt Nam (Nam Đà Nẵng, Vũng Tàu, ) Trong khi đó đề tài 48B-03-01 thuộc chương trình nghiên cứu biển cũng chỉ mới có đủ số liệu độ sâu

để thành lập bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/2.000.000 cho toàn bộ khu vực Thềm lục địa và các vùng kế cận

Trong các năm 1977, 1980, 1982, 1990 Bộ tư lệnh Hải quân tiến hành

đo đạc bổ sung và tái xuất bản các loạt hải đồ tỷ lệ nhỏ 1:1.000.000, 1:500.000, 1:400.000 và các loại hải đồ tỷ lệ trung bình và lớn hơn từ 1:1.000.000 đến 1:25.000 ở một số khu vực trọng điểm Tuy nhiên do điều kiện kỹ thuật và phương tiện chưa cho phép nên các hải đồ bao trùm toàn bộ khu vực còn sơ sài và có nhiều sai lệch đáng kể

Sau nhiều năm khảo sát nghiên cứu vùng biển Việt Nam, năm 1995 Bộ Quốc phòng CHLB Nga đã xây dựng bộ hải đồ Biển Đông tỷ lệ 1:500.000

So với tất cả các nguồn số liệu khảo sát về độ sâu đáy biển đã được thực hiện trên vùng biển Việt Nam và Biển Đông từ trước đến nay thì đây là nguồn số liệu được thu thập với kỹ thuật hiện đại, đảm bảo độ chính xác tốt nhất, có độ chi tiết lớn nhất với mật độ điểm đo rất lớn và phân bố đồng đều trên toàn bộ các vùng, đặc biệt là những vùng nước có độ sâu trên 1000m Nguồn tài liệu này có giá trị cực kỳ quan trọng làm cơ sở để nghiên cứu chi tiết và mở rộng

vể địa hình - địa mạo trên toàn bộ Thềm lục địa Việt Nam và vùng biển kế cận

Liên tiếp các năm sau đó khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, các tàu nghiên cứu của nước ngoài vào vùng Biển Đông khá nhộn nhịp Bên cạnh các mục tiêu nghiên cứu của mình, hầu hết các tàu nghiên cứu đều tiến

Trang 31

hành đo sâu hồi âm và xây dựng các bản đồ địa hình ở các tỷ lệ khác nhau

theo các tuyến hoặc theo khu vực khảo sát, ví dụ tàu Atalante (Pháp) 1993 vẽ

bản đồ độ sâu tỷ lệ 1:100.000, 1:50.000 ở khu vực Bắc Trung bộ, tàu

Gagarinsky, Socalxky, Nhexmianop Godienko (Nga) đo vẽ Thềm lục địa và trũng sâu của Biển Đông Các công ty dầu khí cũng tiến hành thăm dò, đo vẽ

bản đồ độ sâu nước biển như Vietxopetro (1993) ở khu vực Tư Chính

1:500.000, PetroVietnam (1996) đã xây dựng bản đồ độ sâu nước biển tỷ lệ 1:500.000 khu vực Hoàng Sa và Bắc miền Trung,

Trong các năm 1995 - 1998 với mục đích hoạch định ranh giới của thềm lục địa Việt Nam, đề tài KHCN-06-04 đã tổng hợp các nguồn tài liệu

độ sâu hiên có ở trong nước và nước ngoài để thành lập bản đồ độ sâu đáy

biển tỷ lệ 1:1.000.000 với mức độ chi tiết khá cao

Bên cạnh đó kết quả của ba chuyến khảo sát thẩm định ở hai khu vực trọng điểm là Bãi ngầm Tư Chính - Thềm lục địa Đông nam (năm 1995) và khu vực Hoàng Sa - Bắc Trung Bộ (năm 1997 và 2000) đã khẳng định độ tin cậy cao của bản đồ và nâng cao giá trị sử dụng của các kết quả nghiên cứu

* Các công trình nghiên cứu về địa mạo: Trên cơ sở các số liệu thực tế

về độ sâu và địa chất tầng đáy biển, các cộng trình tổng hợp kết qủa khảo sát

đã tập trung làm rõ đặc điểm quy luật cấu trúc hình thái đáy biển bằng các loạt bản đồ địa mạo ở các tỷ lệ khác nhau Những năm gần đây các công trình

nghiên cứu địa mạo tập trung chủ yếu ở khu vực biển nông ven bờ Điều này

có thể thấy quá một số công trình sau đây: Bản đồ địa mạo dải ven bờ delta sông Hồng tỷ lệ 1:200.000 (Nguyễn Thế Tiệp 1993), loạt bản đồ địa mạo vùng biển nông ven bờ từ 0 - 50m nước từ Móng Cái đến Hà Tiên của các tác giả Phạm Khả Tùy, Nguyễn Thế Tiệp, Vũ Văn Phái thành lập vào các năm từ

1995 - 1998, bản đồ địa mạo ven biển miền Trung tỷ lệ 1:1.000.000 (Nguyễn

Trang 32

Thế Tiệp 1996), bản đồ địa mạo vùng Hải Phòng - Quảng Yên tỷ lệ 1:200.000 (Đinh Văn Huy 1996), Đối với vùng biển xa bờ có độ sâu lớn, các

bản đồ địa mạo chỉ mới thực hiện ở tỷ lệ trung bình và tỷ lệ bé, phản ánh địa

hình mang tính khái quát những đặc trưng chính của đáy biển, đó là Bản đồ kiến trúc hình thái Thềm lục địa Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 (Nguyễn Thế Tiệp 1990), bản đồ địa mạo khu vực bãi ngầm Tư Chính tỷ lệ 1:500.000 (Phân viện Hải dương học tại Hà Nội 1995), bản đồ địa mạo Thểm lục địa phía Nam tỷ lệ 1:1.000.000 (Nguyễn Văn Tạc 1996), bản đồ địa mạo khu vực Hoàng Sa và Bắc Trung bộ (Phân viện Hải dương học tại Hà Nội 1997) đã phản ánh tương đối đầy đủ đặc điểm địa hình các khu vực đáy biển thuộc Thềm lục địa và Sườn lục địa trên Biển Đông

Từ năm 1995 đến 1998, Phân viện Hải đương học tại Hà Nội đã tiến hành phân tích, xử lý và tổng hợp số liệu để xây dựng bản đồ độ sâu đáy biển

tỷ lệ 1:1.000.000 và bản đồ địa mạo đáy biển ở cùng tỷ lệ cho toàn khu vực Biển Đông và các vùng kế cận Với số liệu phong phú đã có và các kết qủa khảo sát thẩm định bổ sung, địa hình đáy Biển Đông gồm Thềm lục địa, Sườn lục địa và trũng sâu Biển Đông lần đầu tiên được nghiên cứu một cách đầy đủ

và chi tiết nhất từ trước tới nay Có thể thấy các công trình nghiên cứu về địa mạo ở khu vực bắc Trung Bộ - Hoàng Sa so với những khu vực khác là rất ít,

có thể kể ra một số nghiên cứu địa mạo về khu vực này đã được công bố:

“Địa mạo đáy biển bắc Trung Bộ - Hoàng Sa”( Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển) của Nguyễn Thế Tiệp và nnk.,2006 “Những đặc trưng cơ bản về địa mạo cấu trúc vùng quần đảo Hoàng Sa” (Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển) của Nguyễn Thế Tiệp và nnk, 2006 Đề tài nghiên cứu cơ bản “Đặc điểm phân dị địa hình đáy biển vùng quần đảo Hoàng Sa” (Nguyễn Thế Tiệp chủ nhiệm năm 2005-2006) Những kết quả nghiên cứu về địa mạo nêu trên

Trang 33

cũng là một trong những kênh thông tin góp phần vào việc giải một số bài toán nghiên cứu cấu trúc địa chất theo tài liệu địa vật lý

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước

Để tiến hành nghiên cứu những đặc điểm cấu trúc kiến tạo và địa vật lý khu vực bắc Miền Trung-Hoàng Sa chúng ta đang đứng trước một thực tế là: các nguồn số liệu, dữ liệu biển hiện có về địa vật lý, địa chất, địa mạo và độ sâu đáy biển trong khu vực nghiên cứu là rất phong phú, đa dạng với nhiều tỷ

lệ khác nhau Nguồn tài liệu này có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều nước và các

tổ chức nghiên cứu khoa học khác nhau và được lưu trữ dưới dạng bản đồ hoặc dạng số Dưới đây là một số kết quả khảo sát địa chất-địa vật lý, các công trình nghiên cứu và dữ liêu địa chất-địa vật lý của các tổ chức và nghiên cứu nước ngoài trên khu vực bắc Trung Bộ và lân cận:

1.2.1 Về công tác khảo sát:

Từ năm 1959 đến năm 1961 có chương trình NAGA “Điều tra Biển Đông” do Viện Hải dương học Scripps (Mỹ) kết hợp với Thái Lan thực hiện ở vùng biển Miền Nam (có Nam Trung Bộ), trong đó sử dụng tàu Stranger thực hiện 5 chuyến khảo sát trên biển từ 1960 đến 1973 Dựa vào kết quả này, Niino, Emery (1961, 1963) đã lập sơ đồ các kiểu trầm tích

Trong nhiều năm qua, cùng với việc nghiên cứu địa hình đáy biển, công tác nghiên cứu địa chất cũng được các nhà địa chất ở ngoài nước tiến hành ở nhiều mức độ khác nhau Trước hết đó là những khảo sát và nghiên cứu khái quát về đặc điểm kiến tạo của Biển Đông do các nhà địa chất phương Tây thực hiện

Những khảo sát địa chất đầu tiên chỉ được thực hiện ở ven bờ và trên

các hệ thống đảo thuộc Thềm lục địa Việt Nam Năm 1960 Saurin đã tiến hành khảo sát và lấy mẫu trầm tích đáy biển thuộc vùng biển Quảng Ngãi -

Trang 34

Khánh Hoà Độ sâu lấy mẫu trầm tích không chỉ dừng lại ở ven bờ mà vượt

ra ngoài phạm vi Thềm lục địa đến độ sâu 497m

Trước đó vào năm 1959, với mục đích quân sự và tìm kiếm tài nguyên khoáng sản, lực lượng hải quân Mỹ đã triển khai đề án có tên "NAGA" tại vùng biển Miền Trung Trong thời gian 15 năm khảo sát, nghiên cứu (đến năm 1974), các kết quả điều tra về địa chất tầng mặt và các lĩnh vực môi trường, được mô tả khá kỹ trong các báo cáo hàng năm hiện còn lưu trữ ở Mỹ

và Australia

Đối với khu vực vịnh Bắc Bộ, chương trình nghiên cứu phối hợp Việt - Trung (năm 1960) đã thu được một khối lượng lớn mẫu địa chất trầm tích đáy biển và bước đầu cho những kết qủa khái quát về địa chất đáy vịnh Bắc bộ

Cũng cần lưu ý rằng, trong nhiều năm, các nhà địa chất của Trung Quốc đã hợp tác với các nhà địa chất của Pháp, Đức và các nước khác tiến hành khảo sát, đo đạc độ sâu, nghiên cứu địa vật lý trên các vùng khác nhau của Biển Đông như vùng trung tâm Biển Đông, vùng thềm lục địa Đông Nam của Trung Quốc, vùng Tây nam và Đông nam Biển Đông và vùng quần đảo Trường Sa Những kết qủa khảo sát đó đã là cơ sở để Viện Khoa học Quảng Đông xuất bản tập Atlas địa chất địa vật lý đã kể ở trên Tuy nhiên, có thể thấy rõ trên các bản đồ này là ở các vùng thuộc thềm lục địa

Trong 2 năm 1965 và 1966, cơ quan Hải dương học (thuộc Hải quân Mỹ)

đã sử dụng tàu Serrano khảo sát vùng biển ven bờ nam Trung Bộ nhằm thu thập số liệu về dòng chảy ven bờ và trầm tích đáy biển để xây dựng bản đồ điều kiện thủy lý hóa học

Năm 1974, công ty Western Atlas của Mỹ đã hoàn thành đề án đo địa vật lý và bắt đầu khoan thăm dò dầu khí khu vực biển Bắc Trung bộ - Hoàng

Trang 35

Sa, các kết qủa địa tầng lỗ khoan và kết qủa đo địa chấn đã cho phép phân chia các đơn vị cấu trúc địa chất khu vực thềm và sườn lục địa Bắc Trung bộ

Từ năm 1990 đến nay nhiều tàu khảo sát nước ngoài vào vùng Biển Đông nghiên cứu và đã cung cấp một nguồn tài liệu phong phú về địa chất đặc biệt là địa chất trầm tích tầng mặt

Những chuyến khảo sát này không chỉ bó hẹp trong phạm vi Thềm lục địa mà bao gồm hầu hết diện tích Biển Đông Điều đáng chú ý nhất là bức tranh phân bố trầm tích đáy ở khu vực biển sâu của các tàu khảo sát phục vụ cho việc đặt tuyến cáp ngầm DGT/TVH-RSWS vào các năm 1994, 1995,

1996 Các chuyến khảo sát khu vực quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và bãi ngầm Tư Chính được thực hiện bắt đầu từ 1993 đến nay đã làm sáng rõ nhiều đặc điểm địa chất và kiến tạo khu vực

Trong những năm 1996 - 1999 Viện nghiên cứu Biển của các Đại học Kiel và Hamburg (CHLB Đức) đã đưa tàu Sonne đến khảo sát tại vùng Thềm lục địa Việt Nam và Biển Đông (các chuyến Sonne 115, 135 và 141) tiến hành đo địa hình, địa chấn nông và lấy mẫu trầm tích đáy với mục đích nghiên cứu đặc điểm môi trường trầm tích đáy biển trong Plioxen - hiện đại

1.2.2 Về các công trình nghiên cứu và dữ liệu địa chất – địa vật lý

Năm 1982, Holloway, đã nghiên cứu mối liên hệ giữa khối Bắc Palawan, Philipin với phần lãnh thổ đất liều của chúng với lịch sử tiến hóa Biển Đông (AAPG Bulletin 66, p 1355-1383) Hai nhà nghiên cứu Taylor và Hayer năm 1983 đã nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử hình thành Biến Đông (Tectonic and geology evolution of SE Asia seas and islands Part 2, Am

Geophysical Union)

Năm 1987, Bộ Địa chất và Tài nguyên khoáng của Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu địa chất và các trường địa vật lý vùng Biển Đông ở mức độ

Trang 36

khái quát Tập Atlas "Địa chất - địa vật lý Biển Đông" tỷ lệ 1:2.000.000, trong đó có các bản đồ phân bố trầm tích tầng mặt, bản đồ địa chất và bản đồ kiến tạo đã đưa ra một bức tranh tổng thể về các thành tạo địa chất và kiến tạo củà Biển Đông

Trên vùng thềm lục địa miền Trung Việt Nam và kế cận vào những năm 1986-1989 một nhóm các nhà khoa học về địa chất và địa vật lý mà đứng đầu là Kulinnic et.al (Phân viện Viễn Đông của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô) đã thực hiện một công trình nghiên cứu tổng hợp về cấu trúc địa chất Biển Đông Công trình này đã cho thấy những cấu trúc khác biệt của móng trầm tích trước Kainozoi, tuy nhiên cũng đã chỉ ra nhiều vấn đề còn chưa sáng tỏ phải tập trung nghiên cứu tiếp, đặc biệt là nghiên cứu bề dày trầm tích kéo dài từ thềm lục địa ra vùng nước sâu bao gồm cả vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cũng trong thời gian này các nhà khoa học Liên Bang Nga mà điển hình là Kulinich (1989) đã đưa ra sơ đồ cấu trúc và kiến tạo của Biển Đông phản ánh các đơn vị cấu trúc kiến tạo cơ bản hình thành biển rìa theo cơ chế tách giãn

Trong công trình của các nhà địa chất - địa vật lý Viễn Đông của Liên bang Nga về Biển Đông do Kulinhic chủ biên đã có những bổ sung dữ liệu mới và đầy đủ hơn của phần Thềm lục địa Việt Nam Tuy nhiên, mức độ thể

hiện cũng vẫn còn ở tỷ lệ nhỏ Điểm nổi bật trong công trình là các nghiên

cứu tổng hợp và luận giải, so sánh hàng loạt quan điểm và phương án khác nhau đã có về lịch sử tiến hoá và cơ chế địa động lực của vùng Biển Đông Quan điểm nổi bật và bao trùm của các tác giả Viễn Đông chính là kiến tạo tách giãn tạo riftơ phát triển phổ biến qua nhiều pha và bị phức tạp và biến dị qua nhiều giai đoạn sau này Vận động kiến tạo kiểu này diễn ra trên nhiều vùng, nhiều khu vực khác nhau của Biển Đông và cả trên Thềm lục địa Việt Nam

Trang 37

Năm 1993, Brias, Patriat & Tapponnier trên cơ sở minh giải dị thường

từ đã khôi phục lại tiến hóa của biển Đông Nam Á trong Đệ tam Nghiên cứu của Kulinhic (1994) đã công bố quá trình hình thành và phát triển vỏ Trái Đất Biển Đông và các biển Đông Nam Á (tiếng Nga- NXB KH, Mockova) Năm

1994, Wu đã tính toán và mô hình hóa quá trình lắng đọng trầm tích Kainozoi của Biển Đông (Tectonophysics 235, 77-98) Trong thời gian này nghiên cứu của Xia, Huang và nnk, 1994 đã so sánh kiến tạo địa vật lý của các dải cấu trúc chính giữa rìa lục địa phía Bắc và Nam của Biển Đông(Tectonophysics 235(1-2): 99-116) Năm 1996, Hall đã nghiên cứu kiến tạo mảng Kainozoi của biển Đông Nam Á (Petroleum Geology of SE Asia, Geological Society, Special Publication, N0 126 p.) Trong khi đó tiến hóa kiến tạo Đông Nam châu Á cũng được Robert Hall, Derek Blundell, nhắc đến (Geological Society, Special Publication, N0.106, London) Năm 1997, Robert Hall, không chỉ nghiên cứu kiến tạo Kainozoi của Đông Nam Á mà còn gắn với mảng Châu Úc (Procceding of the Petroleum Systems of Asia and Australasia Conference, May 1997)

Năm 2002, Hall đã nghiên cứu địa chất Kainozoi và tiến hóa kiến tạo mảng của châu Á và Tây Thái Bình Dương (J Asian Earth Science 20/4.) Năm 2008 Chun-Fen Li đã tiến hành nghiên cứu hệ thống các cấu trúc kiến tạo Biển Đông trên cơ sở từ và tài liệu địa chấn

Gần đây có công trình nghiên cứu “Tổng quan về đặc điểm sinh thành dầu khí trong các bể trầm tích đệ tam ở Đông Nam Á” của Harry Doust, Gerard Lijmbach (2007), trong đó các tác giả tập trung chủ yếu vào các cấu trúc và bể trầm tích đệ tam trên toàn khu vực Đông Nam Á, mà hoàn toàn không có những nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng chuyển tiếp Ngoài ra còn nhiều các công trình nghiên cứu khác trên thềm lục địa Việt Nam mà chủ yếu

là tập trung vào tìm kiếm các bẫy chứa dầu tại các bể trầm tích đơn lẻ có cấu

Trang 38

trúc rõ nét trên các băng thu địa chấn Trong đó phải kể đến công trình của các tác giả như: Chris P Sladen với: “Thăm dò các bể dạng hồ ở khu vực Đông Nam Á” Martin F.J.Flower với: “Xâm nhập macma trong trầm tích Kainozoi ở vùng Biển Đông” và Hutchison với “Tiến hóa địa chất của khu vực Đông Nam Á năm 1992” Công trình “Biển rìa Đông Nam Á: đặc điểm trường địa vật lý và cấu trúc, lịch sử phát triển biển rìa và biển nội lục” của tác giả Xeic, 1984 Tập đoàn C-map của Na Uy, năm 1999 đã xây dựng hệ thống bản đồ điện tử C-map (C-MAP Electronic Chart System) và là hệ thống bản đồ sử dụng cho công tác hàng hải Tập đoàn C-map được thành lập từ năm 1985 và hiện là một trong những đơn vị hàng đầu thế giới trong ngành công nghiệp bản đồ điện tử về năng lực sản xuất, cũng như đóng góp khoa học và đổi mới kỹ thuật trong ngành công nghiệp này Viện Địa chất và Địa vật lý biển đã nhiều năm sử dụng hệ thống bản đồ này trong công tác khảo sát tại các vùng biển Việt Nam và cho thấy độ chính xác rất tốt Với độ chính xác

đã được kiểm chứng qua các chuyến khảo sát thực tế cho thấy đây là nguồn

dữ liệu quan trọng và cần thiết cho việc nghiên cứu Cũng từ năm 1953 đến nay Trung tâm Dữ liệu địa vật lý quốc gia Mỹ (NGDC - National Geophysical Data Center) đã tiến hành xây dựng và liên tục hoàn thiện bộ dữ liệu GEODAS (Geophysical Data System) từ Đây là một bộ cơ sở dữ liệu bao gồm độ sâu đáy biển, trọng lực, địa chấn được thu thập trong các chuyến khảo sát biển trên toàn thế giới Nguồn dữ liệu bao gồm của cả Mỹ và các cơ quan chính phủ khác cũng như các viện nghiên cứu về hải dương học trên toàn thế giới Trong nguồn dữ liệu này có dữ liệu của Walter H F Smith và David T Sandwell thu được từ sự kết hợp giữa các dữ liệu đo sâu âm học trên tàu khảo sát và dữ liệu trọng lực vệ tinh được thể hiện ở dạng grid với độ phân giải 1 phút Các dữ liệu độ sâu đã được thu được bằng cách sàng lọc 6.905 cuộc điều tra khảo sát từ NGDC (National Geophysical Data Center),

Trang 39

Viện Hải dương học Scripps (the Scripps Institution of Oceanography) và Ngân hàng dữ liệu quan sát Trái đất Lamont-Doherty (Lamont-Doherty Earth Observatory databanks) và dữ liệu khác Trường trọng lực vệ tinh kết hợp tất

cả các dữ liệu từ các vệ tinh ERS-1 và GEOSAT bao gồm cả các dữ liệu được công bố vào năm 1995

Các tác giả Sandwell, Walter Smith, và Joseph J Becker thuộc Viện Hải dương học Scripps đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng bộ dữ liệu topo30 Về cơ bản nguồn dữ liệu này dựa trên dữ liệu độ phân giải 1 phút, lưới có độ phân giải cao hơn do đã được bổ sung dữ liệu từ dự án LDEO Ridge Multibeam Synthesis, JAMSTEC Data Site for Research Cruises và the NGDC Coastal Relief Model Vùng Bắc Cực dữ liệu được bổ sung từ Bản đồ

độ sâu đại dương quốc tế IBCAO (International Bathymetric Chart of the Oceans) Jakobsson et al (2003)

Tổ chức GEBCO (General Bathymetric Chart of the Oceans) bao gồm một nhóm các chuyên gia quốc tế làm việc cho mục đích phát triển các sản phẩm dữ liệu và các bộ dữ liệu độ sâu Họ đã xây dựng nguồn dữ liệu GEBCO-08, đây là nguồn dữ liệu có độ phân giải 30 giây, tương ứng với 1km Bộ dữ liệu này phần lớn được tạo ra từ sự kết hợp giữa các giá trị đo sâu

âm học từ tàu khảo sát với sự nội suy các điểm độ sâu dẫn suất từ các dữ liệu trọng lực vệ tinh Tại một số khu vực cần được chính xác hơn GEBCO-08 hiện có thì dữ liệu được tạo ra từ những phương pháp khác

Ngoài ra trên khu vực nghiên cứu còn có nhiều nguồn dữ liệu quan trọng khác trong khu vực nghiên cứu bao gồm: Các hải đồ của Hải quân Nga

tỷ lệ 1:500.000, xuất bản năm 1985, bổ sung, tái bản năm 1992; Bản đồ độ sâu phía tây Thái Bình Dương do IOC/UNESCO xuất bản năm 2003 tỷ lệ 1:500.000 và địa hình một số khu vực đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa Cũng

Trang 40

trong thời gian này có một số công trình nghiên cứu có sự tham gia của một

số nhà nghiên cứu Việt Nam: “Kiểm soát tiến trình dòng vật liệu ở biển Miền Trung Việt Nam” do Trường Đại học Hamburg chủ trì (1997-1998); “Nghiên cứu quá trình dao động mực nước biển thời kỳ Pleistocene – Holocene và địa tầng phân giải cao thời kỳ biển tiến hậu Pleistocene ở biển Việt Nam” (1999)

do Trường Đại học Kiel (CHLB Đức) thực hiện

Như vậy có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả nước ngoài hầu như chưa đề cập tới các nghiên cứu chi tiết về phân bố mật độ tầng trầm tích Kainozoi, hệ thống đứt gẫy, đặc điểm kiến tạo trên khu vực nghiên cứu Tuy nhiên các số liệu và tư liệu về địa chất và địa vật lý đã công bố từ nhiều nguồn khác nhau lại rất phong phú về chủng loại, có thể sử dụng chúng trong xử lý phân tích phục vụ cho mục tiêu của luận án

Ngày đăng: 20/02/2021, 08:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w