TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA KINH TẾ VIỆT NAM VÀ NHỮNG CƠ HỘI THÁCH THỨC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂNChủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được đề ra trong bối cảnh chúng ta đang ở t
Trang 1TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA KINH TẾ VIỆT NAM VÀ NHỮNG CƠ HỘI THÁCH THỨC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được đề ra trong bối cảnh chúng ta đang
ở trong nền kinh tế thị trường với sự can thiệp của Nhà nước Cách mạng khoahọc - kỹ thuật tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng cao, đặc biệt là công nghệthông tin Cả thế giới và khu vực đang rộ lên những vấn đề bức xúc và nóng bỏngnhư toàn cầu hoá và kinh tế tri thức
Các nước lớn nhỏ đều dành quyền ưu tiên cho phát triển kinh tế, theo đuổichính sách kinh tế mở, tìm kiếm lợi ích của mình bằng những chính sách và giảipháp riêng biệt
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là quá trình cạnh tranh giữa các nước
có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển sản xuất khác nhau, diễn ra trong khu vực và trên toàn thế giới, nhằm tranh giành thị trường, phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá, hiện đại hoá tạo ra sự năng động và tăng trưởng cho nền kinh tế thông qua các quan hệ hợp tác, hiểu biết lẫn nhau và cùng có lợi (Trích bài thuyết trình của Tiến sỹ Nguyễn Trọng
Điều, Phó trưởng ban tổ chức Chính phủ tại hội thảo quán triệt nghị quyết TW 07
về hội nhập kinh tế quốc tế 08/2002) Đây là một quá trình vừa hợp tác vừa đấutranh, vừa hội nhập vừa cạnh tranh vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức,
Trang 2muốn chủ động hội nhập một cách hiệu quả thì Việt Nam cần có sự chuẩn bị đầy
đủ những điều kiện cần thiết về kinh tế, thể chế và nhân lực
Vận hội thì lớn lao, nhưng trở lại với thực trạng của mình, chúng ta cũngkhông thể không nhận thấy là nguy cơ, thách thức cũng không nhỏ bé Lợi ích củahội nhập kinh tế quốc tế là rất lớn nếu chúng ta có cách thức quản lý đúng Đồngthời chúng ta cũng phải thừa nhận là hội nhập kinh tế quốc tế là gia tăng rủi ro.Thực tế của tất cả các nước, kể cả các nước đang phát triển cho thấy: Trong lĩnhvực kinh tế, hội nhập không phải chỉ toàn “được” mà không có “thiệt” Điều quantrọng là xét về tổng thể nền kinh tế thì cái “được” phải nhiều hơn cái “thua thiệt”
Đó chính là cái mà chúng ta phải bàn phải tính và trong cái bàn, cái tính đó phải rấtthực tế, không mơ hồ cũng không quá lạc quan, song tình thế đã rõ ràng: chúng ta
đã và sẽ là một chủ thể trong cuộc chơi đó Với AFTA chúng ta đã có cả một lộtrình giảm thuế từ nay đến hết năm 2006; Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ đã ký; chúng ta đang trong tiến trình gia nhập WTO và hàng loạt vấn đề hộinhập khác từ khu vực đến toàn cầu
Xu thế khách quan của toàn cầu hoá kinh tế và chủ trương Việt Nam hộinhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định rõ trong nhiều nghị quyết của Đảng và đãđược triển khai trên thực tế
Gần đây nhất Đại hội IX của Đảng đã xác định Đường lối phát triển kinh tếtrong thời kỳ mới là: “phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bênngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả, bềnvững’’ Nghị quyết 07 - NQ/TW được Bộ chính trị thông qua chính là sự kế thừa,
cụ thể hoá và triển khai các đường lối của Đảng ta đề ra từ trước đến nay, đáp ứngkịp thời những yêu cầu khách quan của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ViệtNam Theo đó, mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm mở rộng thị trường,tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá theo hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
Trang 3dân chủ, văn minh Trước mắt là thực hiện những nhiệm vụ nêu ra trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội năm 2001-2010 và kế hoạch 5 năm 2001-2005.
Hội nhập kinh tế là sự nghiệp của toàn dân, trong qúa trình hội nhập cầnphát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn xã hộitrong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Bên cạnh đó, Thủ tướng chính phủcũng đã ký Quyết định số 37/2002/TTg ngày 14 tháng 3 năm 2002 về Chươngtrình hành động của Chính phủ thực hiện hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ Các chương trình này là một bước triển khai định hướng của Bộ chính trị đểnước ta tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới Các chươngtrình hành động cũng nêu rõ những nhiệm vụ cụ thể của Chính phủ giao cho các bộngành địa phương
2 TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Vài nét về quá trình hội nhập của Việt nam.
Quá trình Việt nam hội nhập kinh tế quốc tế có lẽ đã được bắt đầu từ xa xưa,khi những đoàn thuyền Đại Việt vượt biển tới các cảng Trung quốc, Chiêm thành,Xiêm , để buôn bán, trao đổi hàng hoá Các thương cảng phố Hiến, Hội An đãtừng là những trung tâm buôn bán sầm uất mang hình hài của các khu kinh tế mởthời hiện đại
Gần hơn, trong lời kêu gọi Liên hợp quốc tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ ChíMinh nêu ra chính sách đối ngoại của Việt nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó cónhững điểm hết sức tương đồng với những gì mà chúng ta đang làm trong tiếntrình hội nhập kinh tế :
“ Đối với nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa
và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
Trang 4a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, cácnhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình;
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay, và đường sá giao thôngcho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế;
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sựlãnh đạo của Liên hợp quốc ”
Vào những năm 70, Việt Nam đã trở thành thành viên của một tổ chức kinh tế
đa phương là Hội đồng tương trợ kinh tế (khối SEV) Hợp tác với các nứơc xã hộichủ nghĩa trong khuôn khổ SEV đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước trong thời kỳ khôi phục và kinh tế sau chiến tranh và quá độ lênCNXH Tuy nhiên, trong cơ chế kế hoạch hoá, hợp tác trong SEV mang nặng tínhhình thức và bao cấp Quan hệ thương mại về phía Việt Nam chủ yếu mang tính trợgiúp hoặc dưới hình thức hàng đổi hàng
Sau khi hệ thống XHCN Đông Âu sụp đổ, chúng ta tích cực đẩy mạnh quátrình đổi mới trong nước và thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phươnghoá Quan hệ thương mại quốc tế được đẩy mạnh theo cơ chế mới: Cơ chế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
Từng bước phá bỏ thế bao vây, cô lập , Việt Nam đã trở thành thành viên củaHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Châu Á - TháiBình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác kinh tế Á - Âu (ASEM ), và tích cựctham gia đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 170 nước, quan hệ thươngmại với trên 140 nước, quan hệ đầu tư với 70 nước, đã ký 81 hiệp định thương mạitrong đó có 3 thoả thuận được coi là quan trọng, có những yêu cầu, đòi hỏi cao,mang tầm cỡ khu vực và quốc tế, đó là Hiệp định Thương mại (HĐTM) Việt - Mỹ,yêu cầu gia nhập WTO, và cam kết theo AFTA
Trang 5Tiến trình hội nhập của Việt nam:
ngoài
1992 Các nước nối lại viện trợ cho
Việt nam 7/1993 Các tổ chức tài chính quốc tế
tiếp tục tài trợ cho Việt nam 2/1994 Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với
Việt nam 1/1995 Nộp đơn gia nhập WTO Hiện nay là quan sát viên, đang
hoàn tất các vòng đàm phán để trở thành hội viên chính thức 7/1995 Gia nhập ASEAN Thực hiện các cam kết theo lộ
trình AFTA, CEPT 3/1996 Tham gia diễn đàn hợp tác Á-
Âu(ASEM) 11/1998 Tham gia diễn đàn hợp tác
Kinh tế châu Á -TBD(APEC) 7/2000 Ký kết HĐTM Việt -Mỹ
12/2000 Quốc hội 2 nước chính thức
thông qua HĐTM Việt- Mỹ
Theo lộ trình
2.2 Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, cam kết gia nhập WTO, cam kết theo AFTA và những cam kết cụ thể của Việt nam liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân hàng.
2.2.1 Hiệp định thương mại Việt - Mỹ.
Ngày 13/07/2000 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam, đó là sự ra đời của Hiệp định thương mại (HĐTM)
Trang 6Việt - Mỹ tại Washington, Hoa kỳ Hiệp định này đã được Quốc hội hai nước phêchuẩn và có giá trị thi hành từ ngày 11/12/2001 Đây là kết quả của hơn 4 năm đàmphán, đấu tranh giữa ta và Mỹ, là hiệp định song phương đồ sộ nhất, toàn diện nhất
và cụ thể nhất trên cơ sở các tiêu chuẩn và nguyên tắc của tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) HĐTM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với Việt Nam, nó không chỉ
mở ra quan hệ thương mại bình thường giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà còn là mốcquan trọng để Việt Nam thực hiện đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giớiWTO
HĐTM Việt nam - Hoa Kỳ gồm 7 chương
Việt Nam có những cam kết trong lĩnh vực tài chính ngân hàng theo chươngIII: Thương mại dịch vụ Dịch vụ tài chính - ngân hàng được coi là một bộ phậntrong Thương mại dịch vụ Trong mọi trường hợp, các cam kết mang tính nguyêntắc chung của HĐTM sẽ được áp dụng trừ một số quy định cụ thể được nêu tại phụlục G Chương III HĐTM định nghĩa các hình thức cung ứng dịch vụ:
1) Cung cấp qua biên giới
Sử dụng ở nước ngoài
Hiện diện thương mại
Hiện diện thể nhân Có hai hình thức đối xử là Đối xử Tối huệ quốc và Đối xửquốc gia
Liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân hàng, HĐTM nêu 6 biện pháp được
cam kết bao gồm:
1) Không hạn chế số lượng người cung cấp dịch vụ
2) Không hạn chế về tổng giá trị các giao dịch dịch vụ hay giá trị tài sản
3) Không hạn chế về tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lượng dịch vụthể hiện theo đơn vị số lượng
4) Không hạn chế về tổng số thể nhân được tuyển dụng trong một ngành dịchvụ
Trang 75) Không áp dụng các biện pháp hạn chế hoặc đòi hỏi phải có những hình thứcpháp lý cụ thể hay liên doanh để một nhà cung cấp dịch vụ được cung ứngdịch vụ.
6) Không hạn chế sự tham gia vốn nước ngoài dưới hình thức hạn chế tỷ lệ tối
đa với cổ phần nước ngoài, hoặc tổng giá trị từng khoản đầu tư hoặc tổng sốđầu tư
Theo các cam kết của HĐTM, các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể đượcphép kinh doanh đầy đủ các sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng thương mại nhưtiền gửi, tín dụng các loại, thuê mua tài chính, bảo lãnh, thanh toán, môi giới tiền
tệ, quản lý tài sản và giấy tờ có giá, v.v Ngoài ra, các nhà cung cấp dịch vụ Hoa
Kỳ có thể thực hiện các dịch vụ liên quan đến chứng khoán như thanh toán, kinhdoanh chứng khoán (kể cả các sản phẩm tài chính phái sinh như Futures, Options,Swaps, Forward), tham gia phát hành mọi loại chứng khoán
Các hình thức pháp lý nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể hoạt động kinhdoanh bao gồm :
1) Chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ
2) Ngân hàng liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ
3) Ngân hàng con 100% vốn Hoa Kỳ
4) Công ty thuê mua tài chính 100% vốn Hoa Kỳ
5) Công ty thuê mua tài chính liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ
Các định chế tài chính Hoa Kỳ phải tuân thủ các quy định sau:
1) Đối với chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ, phải có vốn do ngân hàng mẹ cấp tốithiểu 15 triệu USD, và ngân hàng mẹ có văn bản cam kết chịu mọi tráchnhiệm tại thị trường Việt Nam ;
2) Đối với Ngân hàng liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ, hay ngân hàng con vốn100% Hoa Kỳ, cần có vốn điều lệ tối thiểu 10 triệu USD;
Trang 83) Đối với công ty thuê mua tài chính 100% Hoa Kỳ hay liên doanh Việt Nam
- Hoa Kỳ cần có vốn điều lệ tối thiểu 5 triệu USD
Về lộ trình thực hiện có 7 mốc cho việc triển khai thực hiện các dịch vụ tàichính Ngân hàng phía Hoa Kỳ được phép kinh doanh tại Việt Nam :
1 Trong vòng 3 năm (kể từ khi HĐTM có hiệu lực), hình thức pháp lý duy nhấtcác nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ được phép hoạt động là liên doanh với đốitác Việt Nam
2 Sau 3 năm kể từ khi HĐTM có hiệu lực, Việt nam dành đối xử quốc gia đầy
đủ với quyền tiếp cận NHTW trong các hoạt động tái chiết khấu, swap,forward
3 Trong vòng 8 năm đầu, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi nhánh
NH Hoa Kỳ nhận tiền gửi từ các pháp nhân Việt Nam mà ngân hàng không
có quan hệ tín dụng Mức vốn của chi nhánh quy định như sau:
a) Năm thứ 1: 50% vốn pháp định được chuyển vào;
h) Năm thứ 8: Đối xử quốc gia đầy đủ
4 Sau 8 năm các định chế tài chính có vốn đầu tư Hoa Kỳ có thể phát hành thẻtín dụng trên cơ sở đối xử quốc gia
5 Các chi nhánh Ngân hàng Hoa kỳ không được đặt ATM tại các địa điểmngoài văn phòng của họ đến khi các Ngân hàng Việt Nam được phép làmnhư vậy
Trang 96 Sau 9 năm, các ngân hàng Hoa Kỳ được phép thành lập ngân hàng con 100%vốn Hoa Kỳ Trong thời gian này các ngân hàng Hoa Kỳ liên doanh cần cóvốn góp không thấp hơn 30% và không vượt quá 49% vốn pháp định củaliên doanh.
7 Trong vòng 10 năm đầu, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi nhánh
NH Hoa Kỳ nhận tiền gửi từ các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam mà ngânhàng không có quan hệ tín dụng theo mức vốn của chi nhánh phù hợp vớibiểu sau Mức vốn của chi nhánh quy định như sau:
a) Năm thứ 1: 50% vốn pháp định được chuyển vào;
j) Năm thứ 10: Đối xử quốc gia đầy đủ
2.2.2 Các cam kết cơ bản khi gia nhập WTO
Việt Nam đang khởi động quá trình đàm phán gia nhập tổ chức thương mạithế giới (WTO) Một yêu cầu quan trọng nhất để trở thành thành viên của WTO làcông bố và thực hiện một lộ trình gỡ bỏ những hạn chế thương mại đối với hànghoá nhập khẩu từ nước ngoài dưới dạng hàng rào phi thuế quan
Sau khi vòng đàm phán Uruguay kết thúc tháng 12/1997, đã có những camkết mở cửa thị trường được 102 quốc gia thành viên nhất trí; và các cam kết nàyđược quy định trong GATTS và Nghị định số 5 (có hiệu lực 1999) Điều này cũng
Trang 10có nghĩa là Việt Nam sẽ có những cam kết ràng buộc nhất định chiếu theo các điềukhoản của GATTS; tuy nhiên, mức độ các cam kết này có thể khác với (ít hơn)những cam kết giữa các thành viên.
Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, Việt Nam sẽ có những cam kết mở
cửa dịch vụ ngân hàng và sẽ không ban hành thêm hay áp dụng những biện pháphạn chế nêu dưới đây theo bất cứ hình thức hạn chế về lượng (quota) nào, trên bất
cứ quy mô địa phương hay quốc gia, hoặc phải đáp ứng các nhu cầu kinh tế, cụ thểnhư sau:
1) Không hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng;
2) Không hạn chế tổng giá trị các giao dịch về dịch vụ ngân hàng và tài sản;3) Không hạn chế tổng số các hoạt động tác nghiệp hay tổng số lượng dịch vụngân hàng đầu ra tính theo số lượng đơn vị;
4) Không áp dụng các biện pháp hạn chế và yêu cầu phải mang một hình thứcpháp nhân nào cụ thể như liên doanh đối với các nhà cung cấp dịch vụ ngânhàng;
5) Không hạn chế tham gia đóng góp vốn của bên nước ngoài dưới hình thức tỷ
lệ phần trăm tối đa, hạn mức cổ phiếu, tổng giá trị đầu tư;
Thêm vào đó là các yêu cầu sau:
6) Mỗi thành viên sẽ dành cho dịch vụ ngân hàng hay nhà cung cấp dịch vụngân hàng của bất kỳ thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém phần thuậnlợi hơn sự đãi ngộ vớí những điều kiện, điều khoản đã được thoả thuận vàquy định theo danh mục cam kết;
7) Trừ khi gặp tình huống bảo vệ cán cân thanh toán, một thành viên sẽ khônghạn chế thanh toán và chuyển tiền quốc tế cho các dịch vụ vãng lai theo camkết;
8) Mỗi thành viên cần cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng của cácthành viên khác được đưa ra dịch vụ ngân hàng mới trên lãnh thổ mình;
Trang 119) Cho phép nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng tiếp cận hệ thống thanh toán bùtrừ do Nhà nước điều hành và tiếp cận các hình thức tái cấp vốn;
10) Mỗi nước thành viên cho phép người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thànhviên nào quyền được thành lập và mở rộng hoạt động trên lãnh thổ mình(kể cả mua lại các doanh nghiệp hiện thời);
11) Mỗi thành viên không trả lời chậm trễ khi có yêu cầu của bất kỳ thành viênnào về các biện pháp được áp dụng chung
2.2.3 Các cam kết theo AFTA
Theo AFTA, Việt nam đã có một số cam kết mở cửa cho giai đoạn
1996-2006 Tuy nhiên, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, mức độ cam kết theo AFTAthấp hơn nhiều so với những cam kết trong HĐTM Việt - Mỹ và gia nhập WTO.Các nước thành viên được hưởng chế độ ưu đãi theo các nguyên tắc chung,tạo điều kiện thuận lợi cho nhau trong việc chuyển vốn đầu tư ra thị trường quốc
tế, dần dần dỡ bỏ các hạn chế về số lượng các dịch vụ cung cấp, các thành viên sẽdành cho nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng của bất kỳ một thành viên nào sự đãingộ không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ theo những điều kiện hay điềukhoản đã được thoả thuận trong cam kết
3 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG CHÂM CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
Trước những bức xúc về đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế, những camkết trong HĐT Việt - Mỹ, các cam kết theo AFTA và WTO, các ngân hàng ViệtNam cần có những mục tiêu và chiến lược rõ ràng để chuẩn bị cho quá trình hộinhập
3.1 Mục tiêu.