Đặc điểm Ngược lại với hình thức thanh toán bằng tiền mặt, và xuất phát từ việc không sử dụng đến tiền mặt của nó, thanh toán không dùng tiền mặt có một số điểm khácbiệt sau: Thứ nhất, t
Trang 1NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN
tổ chức tài chính khác
1.1.2 Đặc điểm
Ngược lại với hình thức thanh toán bằng tiền mặt, và xuất phát từ việc không
sử dụng đến tiền mặt của nó, thanh toán không dùng tiền mặt có một số điểm khácbiệt sau:
Thứ nhất, thanh toán không dùng tiền mặt có sự tách biệt giữa không gian vàthời gian, giữa sự vận động của vật tư, hàng hoá và tiền tệ Nó được thực hiệnkhông chỉ trên cơ sở giữa bên mua và bên bán mà còn qua một chủ thể trung gian
là ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác Thực hiện thanh toán một thương vụ
có an toàn hay không không chỉ phụ thuộc vào người xuất khẩu, người nhập khẩu
mà còn phụ thuộc vào rất nhiều vấn đề như mã hoá thông tin, bảo mật, lọc thôngtin gây nhiễu, đối chiếu số liệu qua mạng máy tính
Thứ hai, khi thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, sẽ giảm thiểu đượccác công việc như vận chuyển, đếm, bảo quản tiền mặt Vì thế sẽ hạn chế đượcnhững mất mát, nhầm lẫn do việc sử dụng tiền mặt gây nên Do đó, ta có thể khẳngđịnh rằng: Độ an toàn trong thanh toán không dùng tiền mặt là cao Mặt khác, nó
sẽ giải quyết tình trạng bị ứ đọng vốn gây lãng phí vốn Từ đó, vốn được khai tháctriệt để đem lại lợi ích cho bản thân các doanh nghiệp, cho các ngân hàng (do việc
Trang 2thu phí đem lại) và đáp ứng được một phần vốn cho nền kinh tế (bởi vì khi sử dụngthanh toán không dùng tiền mặt sẽ rút ngắn thời gian thanh toán và tăng nhanhvòng quay của vốn).
Thứ ba, thanh toán không dùng tiền mặt tạo môi trường ứng dụng công nghệngân hàng Hệ thống ngân hàng trên thế giới dù phát triển đến mức nào thì cũngvẫn phải quan tâm đến mảng thanh toán, nhất là thanh toán không dùng tiền mặt.Cùng với sự phát triển của công nghệ điện tử, nhu cầu thanh toán ngày càng mởrộng, sự cạnh tranh ngày càng phát triển, các ngân hàng sẽ không ngừng hoàn thiệnmình bằng việc đầu tư vào công nghệ thông tin và xử lý dữ liệu
1.2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng, cùng với sự đổi mới nền kinh tế đã thực hiện quá trìnhhiện đại hoá, đặc biệt là trong việc thanh toán, nhờ áp dụng những thành tựu khoahọc kỹ thuật như áp dụng công nghệ tin học ngân hàng, công nghệ thông tin màthanh toán quốc tế được tổ chức thành một hệ thống nhất định Trong hệ thốngnày, ngân hàng là một trung tâm thanh toán, mọi hoạt động trao đổi hàng hoá dịch
vụ đều được kết thúc bằng thanh toán Quan hệ thanh toán liên quan đến mọi hoạtđộng trong xã hội Vì vậy, tổ chức tốt công tác thanh toán đặc biệt là thanh toánkhông dùng tiền mặt có ý nghĩa rất lớn Nó được thể hiện ở những mặt sau:
- Thanh toán không dùng tiền mặt là một quá trình thanh toán không có sựxuất hiện của tiền mặt mà bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người chi trảvào tài khoản của người thụ hưởng Do vậy nó góp phần tạo điều kiện cho quátrình thanh toán được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, an toàn từ đó sẽ góp phầnthúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa Thanh toán vừa là khâu mở đầu, vừa làkhâu kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh Do đó, nếu tổ chức tốt khâu thanhtoán sẽ làm tăng sự vận động của vật tư và tiền vốn, giúp cho các doanh nghiệp thu
Trang 3được vốn nhanh để phục vụ cho chu kỳ sản xuất sau cũng tức là phục vụ cho quátrình tái sản xuất không ngừng phát triển.
- Thanh toán không dùng tiền mặt tiết kiệm chi phí cho lưu thông tiền mặtnhư các chi phí: in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm Hơn nữa,thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm nhẹ khâu kế hoạch và điều hoà lưu thôngtiền tệ, tăng sức mua của đồng tiền, góp phần làm cho lưu thông tiền tệ ổn định.Mặt khác, ngày nay, trong khi nền kinh tế thương mại và đầu tư quốc tế làm chotình hình xuất nhập khẩu hàng hoá ngày càng tăng, thì quá trình thanh toán khôngchỉ giới hạn trong nước mà còn mở rộng ra khu vực thế giới Vì thế, thanh toánkhông dùng tiền mặt ngày càng hấp dẫn với các nhà đầu tư và các nhà xuất khẩu
Và qua đó, ngân hàng có cơ hội tiếp cận khách hàng ở nước ngoài, tạo cơ hội lậpmột hình ảnh và vị trí trên thị trường ngân hàng thế giới và đó là cơ sở đầu tiênvững chắc cho kế hoạch mở rộng thanh toán về lâu dài của ngân hàng Đối với mộtngân hàng, mỗi giao dịch thành công là một điểm cộng cho ngân hàng trong mắtthị trường quốc tế Điều này có lợi cho Việt Nam để hướng tới hoà nhập với thịtrường thế giới
- Thanh toán không dùng tiền mặt buộc các đơn vị sản xuất kinh doanh, cánhân muốn thực hiện thanh toán mở tài khoản tại ngân hàng phục vụ mình và trêntài khoản luôn phải có số dư để đảm bảo cho khả năng thanh toán, chi phí của mìnhkhi có nghiệp vụ phát sinh bất cứ lúc nào Qui định này, sẽ vừa đảm bảo cơ sở chocông tác thanh toán, vừa tạo được khả năng tập trung nguồn vốn tạm thời nhàn rỗivào ngân hàng, dùng làm nguồn vốn lưu động cho vay phục vụ phát triển sản xuất,đáp ứng mọi nhu cầu vốn cần thiết trong xã hội Đây là nguồn vốn lớn, nếu có kếhoạch sử dụng tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho ngân hàng nói riêng vàcho nền kinh tế nói chung Ngoài ra, nó còn đem lại lợi ích kinh tế cho chính kháchhàng vì khi khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán, ngân hàng sẽ trả chokhách hàng số lãi nhất định
Trang 4- Khi thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng phải mở tài khoản tạingân hàng và ký thác vốn của mình vào đó Điều này tạo tiền đề thuận lợi để chongân hàng kiểm soát được một phần lượng tiền trong nền kinh tế, từ đó tiến hànhcung ứng một lượng tiền thích hợp cho nền kinh tế Hơn nữa, nó còn đánh giá đượckhả năng tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp cũng nhưcủa tổng thể nền kinh tế.
- Thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho các ngân hàng thương mại thựchiện tốt vai trò làm trung gian thanh toán của mình bằng sản phẩm dịch vụ đadạng Qua đó ngân hàng sẽ thu được những khoản phí không nhỏ, góp phần làmtăng thu nhập ngân hàng
Như vậy, thanh toán không dùng tiền mặt tác động tới tất cả các hoạt độngkinh doanh của ngân hàng như: nghiệp vụ thanh toán quốc tế, nghiệp vụ tín dụng,nghiệp vụ huy động vốn… Mặt khác, đây còn là một trong những cơ sở cho sự ổnđịnh tiền tệ, giải quyết được vấn đề tiền mặt trong nền kinh tế, làm cho lưu thônghàng hoá được trôi chảy, từ đó thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.Đồng thời còn làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế và phát huy vai trò kiểm soátbằng đồng tiền của ngân hàng đối với nền kinh tế Do vậy, một trong những trọngtrách của ngân hàng là không ngừng phát huy vai trò to lớn của thanh toán khôngdùng tiền mặt đối với sản xuất kinh doanh
2 CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
2.1 Các phương tiện thanh toán quốc tế
Phương tiện thanh toán là công cụ giúp con người thực hiện việc trả tiền chonhau trong quan hệ buôn bán Tiền mặt là một phương tiện thanh toán nhưng trongthanh toán quốc tế nó giữ vai trò thứ yếu Phương tiện thanh toán chủ yếu trongthanh toán quốc tế là: Hối phiếu (Bill of Exchange), Séc (Cheque), Thẻ tín dụng(Credit card) và các phương tiện thanh toán khác Mỗi công cụ thanh toán đều có
Trang 5công dụng riêng của nó, thích hợp cho từng đối tượng và loại hình giao dịch thanhtoán của các chủ thể kinh tế.
2.1.1 Hối phiếu (Bill of Exchange)
a Khái niệm.
Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phátcho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu, hoặc đến một ngày cụthể nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định được trong tương lai phải trả một
số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho ngườikhác hoặc trả cho người cầm phiếu
- Luật hối phiếu của Anh 1882 (Bill of Exchange Act of 1882 - BEA)
- Luật thương mại thống nhất của Mỹ năm 1962 (Uniform Commercial Code
of 1962 - UCC)
c Các bên liên quan
- Người ký phát hối phiếu (Drawer): Người ký phát hối phiếu là người bán,người chủ nợ Người ký phát hối phiếu có trách nhiệm pháp lý chính đối với hốiphiếu cho đến khi nó được chấp nhận, có trách nhiệm thanh toán cho người giữ hốiphiếu, hoặc đền bù cho người ký hậu nếu hối phiếu bị từ chối thanh toán Trongngoại thương người ký phát hối phiếu là người xuất khẩu;
- Người trả tiền hối phiếu (Drawee): Người trả tiền hối phiếu là người mua,
là người thứ ba được sự chỉ định của người mua (thường là ngân hàng đóng vai tròngân hàng chấp nhận hoặc ngân hàng mở tín dụng thư);
Trang 6- Người thụ hưởng (Beneficiary): Là người nhận được số tiền ghi trên hốiphiếu, đó là người ký phát hoặc một người nào đó do người ký phát chỉ định;
- Người chuyển nhượng hối phiếu (Endorser): Là người đem quyền lợihưởng hối phiếu của mình chuyển cho người khác bằng thủ tục ký hậu;
- Người cầm phiếu (Bearer): Là người có quyền nhận tiền trên hối phiếu khihối phiếu được trả tiền
d Phân loại hối phiếu
Tuỳ theo từng căn cứ khác nhau mà người ta có thể chia hối phiếu theo từngloại khác nhau
- Căn cứ vào thời hạn trả tiền của hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành baloại: Hối phiếu trả tiền ngay (At sight bill), hối phiếu trả tiền sau một số ngày nhấtđịnh (At…days after sight bill) - thường là từ 5 đến 7 ngày, hối phiếu có kỳ hạn(Usance bill)
- Căn cứ vào hối phiếu có kèm chứng từ hay không, có thể chia hối phiếuthành hai loại: Hối phiếu trơn (Clean bill) và hối phiếu kèm chứng từ(Documentary bill)
- Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu, có thể chia hối phiếuthành hai loại: Hối phiếu đích danh (Nominal bill) và hối phiếu vô danh (Bill tobearer)
- Căn cứ vào người ký phát hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành hai loại:Hối phiếu thương mại (Trade bill) và hối phiếu ngân hàng (Bank bill)
2.1.2 Séc (Cheque, Check)
a Khái niệm
Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của người chủ tài khoản, ralệnh cho ngân hàng trích trả cho người có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh củangười ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằngchuyển khoản
Trang 7c Các bên liên quan
- Người phát séc để trả nợ gọi là người phát hành séc (Drawer);
- Người phát séc là ngân hàng thanh toán (Paying bank);
- Người nhận tiền là người hưởng lợi tờ séc (Beneficiary);
- Người cầm séc là người có quyền hưởng lợi tờ séc sau khi séc được pháthành (Drawee)
d Phân loại séc
- Đứng ở một góc độ, có thể chia thành: Séc ghi tên (Nominal cheque), séc
vô danh (Cheque to bearer), séc theo lệnh (Cheque to order)
- Đứng ở góc độ khác có thể chia thành: Séc gạch chéo (Crossed Gồm séc gạch chéo thường (Cheque crossed generally) và séc gạch chéo đặc biệt(cheque crossed specially), séc chuyển khoản (Cheque transfera -ble), séc du lịch(Traveller’s cheque), séc xác nhận (Certified cheque)
cheque)-Ở nước ta hiện nay đang sử dụng hai loại séc chủ yếu là séc bảo chi và sécchuyển khoản
2.1.3 Kỳ phiếu (Promissory note)
a Khái niệm
Kỳ phiếu là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập phiếuphát ra hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh cuả ngườinày trả cho người khác qui định trong kỳ phiếu đó
b Luật áp dụng
Trang 8- Luật hối phiếu và kỳ phiếu quốc tế của Uỷ ban Luật Thương mại quốc tếcủa Liên Hợp Quốc, kỳ họp thứ 15, New York ngày 26/07/1982 đến 06/08/1982,tài liệu số A/CN 9/211 ngày 18/02/1982.
c Các bên liên quan
- Người phát hành kỳ phiếu (Drawer): Là con nợ;
- Người hưởng lợi (Beneficiary, drawee): Là người có tên trên kỳ phiếu,
b Các bên liên quan
- Chủ thẻ (Card’s owner): Là người trực tiếp mua thẻ tại ngân hàng và dùngthẻ để mua hàng hoá và dịch vụ;
- Cơ sở chấp nhận thẻ (Card acceptable point) : Là các doanh nghiệp cungứng hàng hoá dịch vụ cho người sử dụng thẻ;
- Ngân hàng phát hành (Issuing bank): Là ngân hàng đã bán thẻ cho kháchhàng và chịu trách nhiệm thanh toán số tiền do người sử dụng thẻ trả cho người thụhưởng Ngân hàng phát hành thẻ có thể uỷ nhiệm cho một số chi nhánh ngân hàngphát hành và quản lý thẻ;
- Ngân hàng thanh toán (Paying bank): Là các chi nhánh ngân hàng do ngânhàng phát hành thẻ qui định Ngân hàng đại lý chi nhánh có trách nhiệm thanh toáncho người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ khi nhận được biên lai thanh toán
c Các loại thẻ hiện nay
- Thẻ rút tiền mặt (Payment card)
- Thẻ tín dụng (Credit card)
Trang 9- Thẻ ghi nợ (Debt card).
- Thẻ thông minh (Smart card)
Để rút tiền mặt, người ta có thể sử dụng các máy rút tiền tự động: DAB(Distributuers autinatiques de banque), CD’s (Cash dispense), ATM(Automatic teller machine)
2.2 Các phương thức thanh toán quốc tế
Phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất trong bất kỳ một hoạtđộng thanh toán nào, đặc biệt là trong Thanh toán quốc tế Phương thức thanh toánquốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bánngoại thương giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu Trong quan hệ ngoạithương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như chuyển tiền, ghi sổ,nhờ thu, tín dụng chứng từ…Mỗi phương thức đều có ưu và nhược điểm, thể hiệnthành mâu thuẫn về quyền lợi giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu; nhưng xétcho cùng, việc lựa chọn phương thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của ngườibán là thu tiền nhanh, đầy đủ, đúng và từ yêu cầu của người mua là nhập hàngđúng số lượng, chất lượng và đúng hạn
Ta có thể chia các phương thức thanh toán thành hai nhóm chính: Nhómphương thức thanh toán không phụ thuộc vào chứng từ và nhóm phương thứcthanh toán phụ thuộc vào chứng từ
- Nhóm phương thức thanh toán không phụ thuộc vào chứng từ (còn gọi lànhóm phương thức thực giao - thực thanh): Là nhóm phương thức mà việc đòi tiền
và trả tiền giữa người bán và người mua chỉ dựa trên cơ sở hàng hoá mà không phụthuộc vào chứng từ hàng hoá Ở đây, ngân hàng chỉ đóng vai trò thứ yếu Chính vìthế nhóm phương thức này chỉ được áp dụng khi quan hệ giữa người bán và ngườimua là thực sự tin cậy Nó bao gồm các phương thức thanh toán sau: Phương thức
Trang 10thanh toán chuyển tiền, phương thức thanh toán ghi sổ, phương thức thanh toánbảo lãnh.
- Nhóm phương thức thanh toán phụ thuộc vào chứng từ: Là nhóm phươngthức thanh toán căn cứ vào chứng từ hàng hoá để xác định việc đòi tiền và trả tiền.Với nhóm phương thức này, ngân hàng làm nhiệm vụ khống chế bộ chứng từ đốivới việc nhận hàng của người mua hoặc người trả tiền Đối với nhóm phương thứcnày, bao gồm các phương thức: Nhờ thu, tín dụng chứng từ, uỷ thác mua
Trong đề tài này, ta sẽ xem xét cụ thể một số phương thức thanh toán sau:
2.2.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)
a Định nghĩa
Chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầungân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (ngườihưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàngyêu cầu
b Các bên tham gia
- Người trả tiền (Payer) (người mua, người mắc nợ), người chuyển tiền(người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra ngoài nước)
là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài;
- Người hưởng lợi (Payee) là người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tưhoặc là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định;
- Ngân hàng chuyển tiền (Remmiting bank) là ngân hàng ở nước ngườichuyển tiền;
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền (Corresponding bank) là ngânhàng ở nước người hưởng lợi
c Qui trình thanh toán
(3)
Ngân hàng chuyển tiền
Ngân hàng đại lý
Trang 11(2) (4)
(1)
Chú thích:
(1) Giao dịch thương mại;
(2) Viết đơn yêu cầu chuyển tiền (Bằng thư hoặc bằng điện) cùng với uỷnhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại ngân hàng);
(3) Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng;
(4) Ngân hàng chuyển tiền cho người hưởng lợi
d Phân loại
Gồm hai loại:
- Chuyển tiền bằng thư M/T (Mail Transfer)
- Chuyển tiền bằng điện báo T/T (Telegraphic Transfer)
Ngày nay khi tham gia mạng SWIFT (Society for Worldwide InterbankFinancial Telecomunication – Hiệp hội truyền tin về tài chính liên ngân hàng toàncầu) thì hầu hết các chuyển tiền được thực hiện qua mạng này Từ năm 1997, cácngân hàng trên thế giới đều thông qua mạng lưới truyền thông liệu ngân hàng Quốc
tế (SWIFT) cho phép tự động hoá toàn việc sử dụng các lệnh thanh toán, sự chínhxác các thông tin đến và đi (dựa vào kỹ thuật mã số) và tốc độ chóng mặt củathông tin
đ Ưu, nhược điểm của phương thức chuyển tiền
Người chuyển tiền Người hưởng lợi
Trang 12Ưu điểm: Đây là phương thức đơn giản, nhanh chóng, việc chuyển tiềnkhông phải thông qua những thủ tục rườm rà, phức tạp Ngân hàng khi thực hiệnphương thức này không bị ràng buộc bởi bất kỳ trách nhiệm nào đối với cả bênmua và bên bán nên thường ít gặp rủi ro.
Nhược điểm: Phương thức thanh toán này không đảm bảo quyền lợi cho bênxuất khẩu vì theo phương thức này, việc giao hàng và thanh toán là tách rời nhau.Chính vì vậy, việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của bên mua, từ
đó nảy sinh trường hợp chậm thanh toán, đòi giảm giá, gây khó khăn cho bên bán(gây tình trạng ứ đọng vốn, giảm vòng quay của vốn) Bên cạnh đó, rủi ro cũng xảy
ra cho người mua khi họ chuyển tiền trước khi nhận hàng thì có thể không những
bị ứ đọng vốn mà còn đứng trước những rủi ro về hàng hóa
2.2.2 Phương thức ghi sổ (Open account)
a Định nghĩa
Người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua saukhi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ (tháng, quí,nửa năm) người mua trả tiền cho người bán
b Các bên tham gia:
Chỉ bao gồm người bán (Seller) và người mua (Buyer) tham gia vào hoạtđộng thanh toán
c Qui trình thanh toán
Ngân hàng bên mua
Ngân hàng bên bán
(2) (1)
(3) (3)
(3)
Trang 13b Luật áp dụng
Văn bản pháp lý thông dụng của nhờ thu là “Qui tắc thống nhất về nhờ thu”
số 522 của Phòng thương mại Quốc tế, bản sửa đổi năm 1995 (Uniform Rules forthe collection, 1995 Revision No 522, ICC) và bắt đầu có hiệu lực 01/01/1996
c Các bên tham gia phương thức nhờ thu gồm có :
- Người bán tức là người hưởng lợi (Principal) ;
- Ngân hàng bên bán là ngân hàng nhận được sự uỷ thác của người bán(Remmiting bank) ;
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng bên bán là ngân hàng ở nước người mua(Collecting bank and/ or presenting bank) ;
- Người mua tức người trả tiền (Drawee)
c Qui trình thanh toán bằng phương thức nhờ thu
*) Nhờ thu phiếu trơn
(2)
Ngân hàng chuyển
chứng từ Ngân hàng thu và xuất trình chứng từ
Gửi hàng và chứng từ
Trang 14(4)
Chú thích :
(1) Nhờ thu hối phiếu;
(2), (3) Đòi tiền người mua;
(4) Trả tiền cho người bán
từ nếu như người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu
d Ưu, nhược điểm của phương thức nhờ thu
Ngân hàng chuyển
chứng từ
NH thu và NH xuất trình chứng từ
Gửi hàng và chứng từ
Trang 15*) Nhờ thu hối phiếu trơn
- Người bán chủ động trong việc thanh toán nhưng nó lại không đảm bảoquyền lợi cho người bán vì việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏikhâu thanh toán, do đó người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậmtrả tiền
- Đối với người mua, phương thức này có nhiều bất lợi là nếu hối phiếu đếnsớm hơn chứng từ người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giaohàng của người bán có thực hiện đúng hay không
*) Nhờ thu kèm chứng từ
Người bán uỷ thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn có việc nhờngân hàng khống chế chứng từ vận tải cho người mua Do đó quyền lợi của ngườibán được đảm bảo hơn
Tuy nhiên, người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền địnhđoạt hàng hoá của người mua chứ chưa khống chế được quyền thanh toán củangười mua Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từhoặc có thể không trả tiền khi bất lợi cho họ
Việc trả tiền còn quá chậm chạp, từ lúc giao hàng đến lúc nhận tiền hàng cókhi kéo dài vài tháng hoặc nửa năm gây ảnh hưởng đến việc lưu chuyển vốn củangười bán
Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian thu hộ tiền,còn không chịu trách nhiệm đến việc trả tiền hay không của người mua Do đó,nhiều trường hợp sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ cũng như sự an toàn của việcthu tiền hàng
2.2.4 Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary credit)
a Khái niệm
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngânhàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở
Trang 16thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi số tiềntrên thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi sốtiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phùhợp với những qui định đề ra trong thư tín dụng.
b Luật áp dụng
Các qui tắc và cách thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ do phòngthương mại quốc tế ban hành 1933, 1957, 1962, 1983 (Uniform customs andpractice for documentary credits, revision 1983, ICC No 400 và mới đây córevision 1993, ICC 500
c Các bên liên quan
- Người xin mở thư tín dụng (Applicant for the credit): Là người mua, ngườinhập khẩu hàng hoá, hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác
- Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing bank): Là ngân hàng đại diện chongười nhập khẩu, cấp tín dụng cho người nhập khẩu
- Người hưởng lợi thư tín dụng (Beneficiary): Là người bán, người xuấtkhẩu hay bất cứ người nào khác mà người xuất khẩu chỉ định
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising bank): Là ngân hàng ở nước người hưởng lợi
d Qui trình thực hiện
(2)
(5)(6)
Trang 17(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng củamình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng;
(2) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lậpmột thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuấtkhẩu thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến cho ngườixuất khẩu;
(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo chongười xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, vàkhi nhận được bản gốc thư tín dụng, thì chuyển ngay đến cho người xuấtkhẩu;
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếukhông chấp nhận thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung thư tíndụng đó cho phù hợp với hợp đồng;
(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thưtín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở thư tíndụng xin thanh toán ;
(6) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp vớithư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu Nếu thấy không phùhợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ bộ chứng từ chongười xuất khẩu ;
(7) Ngân hàng xin mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộchứng từ cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền và chấp nhận thanhtoán ;
(8) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp với thư tín dụngthì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nếu không chấp nhận thì từ chối trả tiền
đ Phân loại
Các thư tín dụng thường thấy trong thanh toán quốc tế là :
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C)