Với các em lớp 2, việc sử dụng từ ngữ trong bài tập làm văn còn nhiều hạn chế. Hầu hết các em còn sử dụng từ chưa phù hợp, chính xác, chưa biết chọn từ hay để dùng. Vì vậy giáo viên cầ[r]
Trang 1DÀN Ý TÓM TẮT PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
II Cơ sở thực tiễn
III Biện pháp thực hiện
1 Vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
1.1 Phương pháp quan sát
1.2 Phương pháp thực hành giao tiếp
1.3 Phương pháp sử dụng từ ngữ trong câu
1.4 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
2 Giúp học sinh nắm chắc các dạng bài tập miêu tả
2.1 Dạng bài quan sát tranh và trả lời câu hỏi
2.2 Dạng bài tập đọc văn bản- trả lời câu hỏi
2.3 Dạng bài tả ngắn
3 Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn miêu tả
3.1 Hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng
3.2 Giúp học sinh nắm chắc trình tự các bước khi viết một đoạn văn
4 Dạy văn miêu tả tích hợp trong phân môn khác của môn Tiếng Việt
4.1 Dạy văn miêu tả tích hợp với Tập đọc
4.2 Dạy văn miêu tả trong những tiết Luyện từ và câu
5 Tạo hứng thú cho học sinh
5.1 Tạo hứng thú bằng trò chơi học tập
5.2 Tạo hứng thú bằng nghệ thuật lên lớp của giáo viên
6 Làm giàu vốn từ thông qua hoạt động tại thư viện
IV Kết quả
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Khuyến nghị
Trang 2PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở khoa học
Bước vào kỉ nguyên mới đất nước ta có có nhiều đổi mới từng ngày, từng giờ ở mọi mặt đời sống xã hội Đáp ứng nhu cầu đó, sự nghiệp giáo dục đào tạo đang đi sau vào cải cách, điều chỉnh Đặc biệt hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học đang cuốn hút mọi sự cố gắng sáng tạo và làm nức lòng tầng tầng lớp lớp đội ngũ cán bộ giáo viên ở mọi ngành học
Dạy Tiếng Việt là dạy tiếng mẹ đẻ Dạy văn là dạy chữ dạy người Dạy học văn nói chung đã quan trọng song đối với học sinh tiểu học lại càng quan trọng hơn Các em sẽ không thể phát triển tự nhiên, không có nhân cách hài hòa nếu trong cuộc sống không có những cuốn sách hay, những bài thơ, lời ru của
mẹ của bà, những bài hát dân ca thắm đượm tình yêu
Mặt khác, kĩ năng “ viết văn” của học sinh là sản phẩm tổng hợp vận
dụng thực hành kiến thức của các phân môn khác trong môn Tiếng Việt
Đối với học sinh lớp 2 thì đây là một phân môn khó, việc học văn của các em mới thực sự ở bước đầu Vốn sống của các em còn hạn hẹp, vốn từ của các em còn chưa phong phú
Trong chương trình lớp 2, việc học văn miêu tả mới chỉ thông qua các dạng: Quan sát tranh- trả lời câu hỏi, Đọc văn bản- trả lời câu hỏi, Tả ngắn Nếu các em học tốt được loại văn miêu tả này chính là tiền đề cơ sở cho các em học tốt văn miêu tả ở các lớp trên
Vậy mà thực trạng hiện nay việc giảng dạy phân môn Tập làm văn( nhất
là văn miêu tả) cho các em chưa thực sự được chú trọng Sự sáng tạo đổi mới của giáo viên còn chưa nhiều dẫn đến bài làm ( câu trả lời) của các em còn gò
bó, dập khuôn, thiếu tính phong phú, đa dạng về sự cảm nhận cái hay, cái đẹp rong đời sống thực tế Trong quá trình dạy, tôi nhận thấy các em làm bài còn lặp lại câu đã viết, dùng từ còn sai, có em viết( hay trả lời) còn không đúng theo yêu cầu của đề bài hoặc bài làm đảm bảo về số câu nhưng bài làm( câu trả lời) không
đủ ý, không rõ ràng
Là một giáo viên giảng dạy lớp 2, tôi luôn băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để các em học tốt phân môn Tập làm văn, làm thế nào để thổi vào tâm hồn các em niềm yêu thích học văn miêu tả Bản thân tôi luôn cố gắng tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học phân môn Tập làm văn ( đặc biệt là văn miêu tả) cho học sinh lớp mình Đây cũng là lí do tôi chọn và đưa ra “ Một số
Trang 3biện pháp giúp học sinh học tốt văn miêu tả lớp 2” mà tôi đã giảng dạy trong thời gian qua
2 Mục đích nghiên cứu
- Biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập Làm văn ( văn miêu tả)
- Giúp học sinh nói và viết thành câu đủ ý, rõ ràng, mạch lạc
- Nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt và các môn học khác
3 Đối tượng áp dụng
Áp dụng cho học sinh lớp 2D trường Tiểu Học Nam Hồng
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Ở bậc Tiểu học, Tiếng Việt vừa là môn học chính, vừa là công cụ giúp học sinh tiếp thu các môn học khác được tốt hơn.Trong môn Tiếng Việt lớp 2 thì phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao, bao gồm các dạng bài tập: Nghe- trả lời câu hỏi, Quan sát tranh và trả lời câu hỏi, Đọc văn bản- trả lời câu hỏi, Tả ngắn, Phân môn Tập làm văn( văn miêu tả) nhằm mục đích:
- Hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy cho các em
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng sơ giản về Tiếng Việt, những hiểu biết đơn giản về thiên nhiên, đất nước, con người và cuộc sống xã hội
- Giúp học sinh nghe và hiểu những văn bản ngắn, biết cách đối đáp trong giao tiếp Nói rõ ràng, mạch lạc biết tự giới thiệu về mình, biết cách cảm ơn, xin lỗi Sử dụng các tình huống giao tiếp cụ thể đó trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội
- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
Phần đông học sinh khi được hỏi có yêu thích môn Tập làm văn thì trả lời
là rất thích nhưng cũng có em trả lời là không thích vì khó học Ở lớp 2, việc dạy môn Tiếng Việt nói chung và việc dạy văn miêu tả nói riêng là một việc làm khó, không đơn giản mà nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kĩ năng truyền đạt của giáo viên, khả năng tiếp thu bài của học sinh Chính vì vậy việc dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 2 còn nhiều hạn chế
- Về phía giáo viên:
Khi dạy văn miêu tả, thời gian để giáo viên hướng dẫn quan sát thực tế còn rất ít hoặc nếu có thì giáo viên cũng chưa định hướng được cho các em những điều cần thiết khi viết văn Trong giờ dạy, giáo viên chưa chú ý hướng dẫn các em kĩ năng viết, vẫn còn phụ thuộc, áp đặt, gò ép vào những bài có sẵn, chưa phát huy tính sáng tạo của học sinh Thời gian luyện tập cho học sinh cách
sử dụng từ ngữ còn hạn hẹp khiến bài làm của học sinh nghèo ý, câu văn lủng củng, thiếu hình ảnh
- Về phía học sinh:
Học sinh lớp 2 còn nhỏ, vốn từ của các em còn chưa phong phú, sự sáng tạo sử dụng ngôn từ của các em còn hạn hẹp, diễn đạt chưa rõ ý, câu văn chưa sáng tạo, còn hay bắt chước, làm theo bài mẫu của bạn Mặt khác do học sinh mới được làm quen với phân môn Tập làm văn nên học sinh còn bỡ ngỡ, chưa
có phương pháp học tập bộ môn một cách khoa học
Trang 5- Về đồ dùng dạy học:
Phương tiện chủ yếu là tranh ảnh trong sách giáo khoa, hạn chế sử dụng các phương tiện hiện đại như máy chiếu, máy đa vật thể, băng hình làm cho chất lượng giờ học văn miêu tả còn chưa cao
III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1 Vận dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
1.1 Phương pháp quan sát
Đối với học sinh lớp 2, việc hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát là rất quan trọng Quan sát để tìm ra hình dạng, màu sắc, âm thanh, mùi vị tiêu biểu của đối tượng mình tả Khi hướng dẫn quan sát, tôi khai thác kĩ tranh, ảnh, hướng dẫn học sinh chú ý đến các đặc điểm nổi bật của đối tượng mục đích là tránh để các em liệt kê các sự việc.Tôi hướng dẫn các em quan sát tổng thể bức tranh hay sự vật để biết mình đang quan sát cái gì? cảnh gì? Sau đó quan sát từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, từ xa đến gần, để tìm được đặc điểm riêng của đối tượng Bên cạnh đó tôi cũng khuyến khích để học sinh sử dụng linh hoạt các giác quan: mắt nhìn để thấy được sự vật, tai nghe để cảm nhận âm thanh, tay sờ, mũi ngửi để cảm nhận hương vị để cảm nhận một cách
có cảm xúc bằng cả tấm lòng đối với sự vật Sau khi các em quan sát cảm nhận đặc điểm của sự vật, kết hợp các câu hỏi để giúp học sinh trình bày các đặc điểm vừa quan sát được, nhờ đó mà học sinh ghi nhớ lâu hơn
* Ví dụ: Bài quan sát tranh, trả lời câu hỏi( Tuần 25 SGK trang, tập
d Trên bầu trời có những gì?
- Mục đích bài giúp học sinh dựa vào tranh ảnh trả lời đúng các câu hỏi tả cảnh biển vào buổi sáng sớm
- Giáo viên treo tranh ảnh hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung tranh dựa vào câu hỏi trong sách giáo khoa để tìm ra đặc điểm sự vật cần miêu tả
+ Bức tranh vẽ cảnh gì?( Cảnh biển buổi sáng sớm)
+ Con thấy có những cảnh vật gì?( Sóng biển, thuyền buồm, )
+ Giúp học sinh lựa chọn từ ngữ hay, giàu hình ảnh để miêu tả chi tiết bức tranh
+ Gọi học sinh trả lời miệng Học sinh khác nhận xét, chỉnh sửa giúp bạn + Khen ngợi những câu trả lời hay, sáng tạo
Trang 6Qua cách làm trên học sinh đã nêu được một số hình ảnh đẹp về cảnh biển
vào buổi sáng sớm Em Dương Linh Hương đã trả lời như sau: Tranh vẽ cảnh
biển buổi bình minh thật tuyệt vời! Từng con sóng đuổi theo nhau xô vào bờ cát trắng.Trên mặt biển có những chiếc thuyền buồm như những chiếc quạt khủng
lồ đầy màu sắc, những bác ngư dân miệt mài kéo lưới Trên bầu trời, ông mặt trời đỏ như quả cà chua đang từ từ nhô lên, tỏa những tia nắng ban mai ấm áp Những đám mây hồng hồng, tim tím bồng bềnh trôi theo gió Xa xa, những chú hải âu dang rộng đôi cánh chao liệng trên bầu trời xanh thẳm ”
2.2 Phương pháp thực hành giao tiếp
Thông qua phương pháp quan sát, giáo viên rèn cho học sinh kĩ năng nói, trình bày miệng( hay bài nói) trước khi làm bài viết Trên cơ sở này, giáo viên điều chỉnh học sinh hoàn thiện bài viết Với phương pháp này, tôi thường tổ chức cho học sinh luyện nói cá nhân, nói trong nhóm, nói trước lớp Học sinh có thể chọn nhóm nói theo ý thích để có sự thoải mái, tự nhiên, tự tin khi tham gia
là việc trong nhóm Phương pháp này giúp các em nâng cao kĩ năng giao tiếp, giúp các em tự tin hơn, bạo dạn hơn trong học tập
* Ví dụ: Bài quan sát tranh, trả lời câu hỏi ( Tuần 14 SGK, tập 1- trang 118)
Với hệ thống câu hỏi:
+ Bạn nhỏ đang làm gì?
+ Mắt bạn nhỏ nhìn búp bê như thế nào?
+ Tóc bạn như thế nào?
+ Bạn mặc áo màu gì?
- Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 4
- Gọi học sinh trình bày nội dung thành một đoạn văn( Đối với học sinh khá, giỏi)
- Gọi học sinh nhận xét, bổ sung( nếu có)
- Giáo viên nhận xét, chỉnh sửa cách dùng từ để bài văn sinh động( nếu có), khen những học sinh trình bày hay, sáng tạo
Qua việc thực hành nói miệng cá nhân, nói trong nhóm, học sinh lớp tôi
kể về bức tranh tự tin, rõ ràng, đúng trọng tâm Nhiều em còn nhút nhát như Văn Chung, Mạnh Hùng, Mạnh Dũng đã bạo dạn hơn, hứng thú trong việc nói trước lớp
2.3 Phương pháp sử dụng từ ngữ trong câu:
Với các em lớp 2, việc sử dụng từ ngữ trong bài tập làm văn còn nhiều hạn chế Hầu hết các em còn sử dụng từ chưa phù hợp, chính xác, chưa biết chọn từ hay để dùng Vì vậy giáo viên cần giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ hợp lí Bên cạnh đó giáo viên cần cung cấp cho các em một số từ cùng nghĩa phù hợp với nội dung bài, tăng tính sinh động, hấp dẫn cho bài nói của các em
Trang 7* Ví dụ: Khi viết đoạn văn ngắn kể về mùa hè, tôi giúp học sinh lựa chọn
những từ ngữ phù hợp: mặt trời như một quả cầu lửa, chói chang, rực rỡ cây trái mùa hè: Cây hoa phượng vĩ nở đỏ rực, như chùm hoa lửa, đốm lửa hồng, như mâm xôi gấc khổng lồ Chùm vải: chín đỏ, sai trĩu cành, căng tròn, ai lúc lỉu Quả ổi: chín vàng, căng mọng, cánh đồng lúa: trĩu hạt, vàng óng
Trước mỗi giờ lên lớp, tôi chuẩn bị kĩ bài để hướng dẫn cho học sinh vận dụng các từ ngữ thích hợp vào bài viết bằng các câu hỏi gợi mở như:
+ Tia nắng mùa hè chiếu xuyên qua những đám lá cây lúc ẩn, lúc hiện, con sẽ so sánh chúng với hình ảnh gì?
Em Phương linh đã cảm nhận tia nắng mùa hè nhảy nhót như những chú
bé tinh nghịch; Em Văn Chiến nói tia nắng le lói xuyên qua tán lá lúc ẩn, lúc hiện như chêu đùa chú mèo đang nằm phơi nắng )
+ Ve là những ca sĩ của mùa hè, vậy khi nói về những chú ve, con sẽ nói
như thế nào cho sinh động?( ve kêu râm ran, như một dàn đồng ca mùa hạ, ngân
da diết )
Khi vừa được thực hành nói miệng bài văn của mình, lại được lựa chọn, phát hiện từ ngữ hay, được cảm nhận theo cách của riêng mình, học sinh hứng thú hơn, nhớ lâu và khắc sâu thêm kiến thức
2 4 Phương pháp phân tích ngôn ngữ:
Ở lớp 2, các em chưa được học về lí thuyết câu mà các khái niệm về câu được hình thành thông qua thực hành luyện tập Chính vì vậy, việc tăng cường
sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ rất cần thiết trong học tập làm văn Sử dụng phương pháp này để giáo viên có cơ sở giúp học sinh nhận ra cấu tạo câu nhằm giúp học sinh viết đúng câu, đủ bộ phận
* Ví dụ: Dựa vào những kiểu câu đã học như: “ Ai – là gì?” , “ Ai – làm gì?” “ Ai – như thế nào” Giáo viên có thể giúp học sinh hiểu và nhận biết: Câu văn con viết đã đủ hai bộ phận chưa? Bộ phận nào trả lời cho câu hỏi Ai? Bộ phận nào trả lời cho câu hỏi Là gì? ( Hoặc làm gì? Như thế nào?)( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo câu)
Người đọc người nghe đã hiểu nội dung chưa? ( Đảm bảo về mặt nghĩa)
Ví dụ: Khi dạy bài tả ngắn về loài chim ( Tuần 21, SGK, tập 2- trang 30) có yêu cầu: Viết 2, 3 câu về một loài chim mà em thích Sau khi Hoàng
Phúc trình bày bài nói:
Nhà em có nuôi một chú vẹt tên là Ki Ki Chú khoác lên mình bộ lông
xanh lạ mắt Mỏ chú màu đỏ, quặp lại như cái móc câu Ki Ki thông minh lắm, chú có thể bắt chước tiếng người Mỗi khi bắt chước đúng lại khoái chí quẹt quẹt mỏ vào cành cây trong lồng Em rất thích chăm sóc Ki Ki và coi Ki Ki là người bạn thân của em
Để giúp em sử dụng câu đúng ngữ pháp, tôi giúp em phát hiện ra câu sai:
Mỗi khi bắt chước đúng lại khoái chí quẹt quẹt mỏ vào cành cây trong lồng Tôi
Trang 8hướng dẫn bằng câu hỏi: Câu trên thuộc loại kiểu câu gì? Bộ phận nào trả lời cho câu hỏi con gì? Bộ phận câu nào trả lời cho câu hỏi làm gì? để giúp HS
nhận ra câu vừa dùng thiếu bộ phận trả lời cho câu hỏi con gì? Người nghe đã hiểu nghĩa của câu đó chưa?
Sau khi được cô giáo hướng dẫn, em đã tự phát hiện ra lỗi sai và sửa lại:
Mỗi khi bắt chước đúng, chú ta lại khoái chí, quẹt quẹt cái mỏ vào cành cây
trong lồng
Qua việc phân tích ngôn ngữ, học sinh lớp tôi đã có ý thức tự đặt các câu hỏi tương tự như cách làm vừa rồi, tự phát hiện ra lỗi sai hoặc giúp bạn phát hiện lỗi sai để đảm bảo câu văn rõ nghĩa, đúng ngữ pháp
2 Phân loại các dạng bài tập miêu tả và lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng dạng bài
Bên cạnh việc giáo viên sử dụng kết hợp tốt các phương pháp dạy học thì yếu tố không thể thiếu khi giúp các em học tốt là việc giúp các em nắm chắc các dạng bài tập miêu tả Trong chương trình tập làm văn lớp 2 có nhiều dạng bài tập khác nhau nhưng đối với dạng bài tập làm văn miêu tả thì giáo viên cần phân biệt được các dạng bài tập để giúp các em làm đúng và hay Đây cũng là tiền đề
để các em học tốt môn Tập làm văn ở các lớp trên
2.1 Dạng bài tập Quan sát tranh- trả lời câu hỏi:
Trong giờ Tập làm văn, học sinh được kể sáng tạo qua tranh vẽ qua dạng bài quan sát tranh- trả lời câu hỏi Dạng bài này giúp học sinh luyện tập một kĩ năng rất quan trọng, đặc trưng của văn miêu tả đó là kĩ năng quan sát Ngoài ra dạng bài tập này rèn luyện kĩ năng nghe và nói cho học sinh Tranh quan sát có thể về người hoặc về cảnh, trả lời đúng nội dung câu hỏi trong sách giáo khoa Qua quan sát tranh, học sinh được phát huy khả năng quan sát, vốn sống, trí tưởng tượng, khả năng diễn đạt của mình để hình dung về người hoặc cảnh mà tranh muốn thể hiện rồi tả lại nội dung tranh theo cách cảm nhận riêng của mỗi em
Với dạng bài này tôi tiến hành như sau:
+ Gọi học sinh đọc to yêu cầu cầu bài tập (Quan sát tranh, trả lời câu hỏi), giáo viên nhấn mạnh lại yêu cầu
+ Treo tranh và hướng dẫn học sinh quan sát tranh (toàn cảnh và từng chi tiết) Dựa vào tranh và vốn hiểu biết thực tế, học sinh tưởng tượng các màu sắc, hình dạng, âm thanh, mùi vị để khi viết câu trả lời được một ý trọn vẹn, gắn bó với nhau và câu văn sinh động Sau đó yêu cầu học sinh đọc kĩ câu hỏi gợi ý, nắm chắc yêu cầu từ đó suy nghĩ hình ảnh đã được quan sát được và trả lời sao cho gọn ý, hay, chính xác và sắp xếp các ý theo một trình tự, nối với nhau cho liền mạch thành đoạn văn hoàn chỉnh.( Lưu ý khuyến khích học sinh trả lời theo nhiều cách khác nhau)
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh trả lời miệng trong nhóm
+ Giáo viên tổ chức cho đại diện nhóm trả lời miệng trước lớp và chuẩn hóa cách diễn đạt trong câu trả lời, giới thiệu cách sử dụng từ ngữ, phân tích câu
Trang 9trả lời tốt Ghi các từ ngữ làm điểm tựa cho từng câu trả lời lên bảng( từ nối ý, từ ngữ gợi hình ảnh) HS khác bổ sung, sửa chữa câu trả lời của bạn
+ Bình chọn những học sinh có câu trả lời hay, sáng tạo
Miêu tả không phải là sao chép, kể lại một cách máy móc mà kể bằng sự tinh tế, nhạy cảm của mình, bằng những ngôn ngữ sinh động đã khắc họa lên bức tranh đó Vì vậy khi hướng dẫn quan sát, tôi luôn chú ý gợi mở ở mỗi em những nhận xét, những từ ngữ diễn tả đúng những điều quan sát được, tiến tới tìm từ ngữ hay, có hình ảnh, gợi cảm Muốn vậy, giáo viên có thể nêu câu hỏi gợi ý thêm, phụ trợ đặc biệt là những câu hỏi khó mà học sinh còn lúng túng, những câu cần gợi mở mang tính định hướng cho học sinh quan sát
* Ví dụ: Bài Quan sát tranh, trả lời câu hỏi( Tuần 14 SGK trang 118–tập 1)
Với hệ thống câu hỏi:
a Tranh vẽ bạn nhỏ đang bón cháo cho búp bê
b Mắt bạn nhỏ nhìn búp bê đầy trìu mến
c Tóc bạn màu đen, ngắn, cặp nơ màu hồng
d Bạn mặc áo màu xanh lam
Những câu trả lời của các em mang tính liệt kê, còn khô khan, chưa có hình ảnh, chưa sinh động Giáo viên cần hướng dẫn các em đến những câu trả
lời mở rộng hơn, sử dụng từ ngữ phong phú hơn như: Con thấy chiếc nơ của bạn
nhỏ giống cái gì? Con có nhìn thấy con vật gì ngồi cạnh bạn nhỏ không? Nếu thêm chi tiết đó vào bài miêu tả con sẽ nói như thế nào? Con thấy bạn nhỏ như thế nào?
Em Thùy Dương trả lời như sau:
Tranh vẽ bạn Lan đang chơi với búp bê Bạn khéo léo xúc từng thìa bột bón cho búp bê ăn Mắt bạn nhìn búp bê âu yếm Mái tóc đen gọn gàng được cặp chiếc nơ màu hồng như nàng bướm xinh rực rỡ Chiếc áo xanh lam làm nổi lên làn da trắng hồng Trông Lan thật ra dáng một người chị đảm đang
GV khuyến khích, khen ngợi và giới thiệu những câu văn hay, hình ảnh đẹp để động viên học sinh
Như vậy, qua việc hướng dẫn HS quan sát tranh, giáo viên đã bước đầu hình thành cho học sinh năng lực quan sát ở mức độ đơn giản, cách quan sát có
Trang 10thứ tự đi đôi với việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng nghe- nói để có những câu miêu tả gãy gọn, sinh động Nhiều em diễn đạt lưu loát, trôi chảy, giàu cảm xúc
Tóm lại, để làm tốt bài tập làm văn Quan sát tranh- trả lời câu hỏi, GV hướng dẫn các em quan sát kĩ, có tưởng tượng thêm và bộc lộ nhận xét, cảm nghĩ của bản thân về nội dung bức tranh nói và viết phải thành câu rõ ý, đúng ngữ pháp Trả lời xong các câu, phải đọc lại toàn bộ, gắn bó các câu để ý sau, ý trước nối tiếp thành đoạn văn đúng nghĩa
2.2 Dạng bài đọc văn bản, trả lời câu hỏi:
Dạng bài tập đọc văn bản trả lời câu hỏi giúp học sinh biết cách trả lời câu hỏi về cảnh vật, loài vật dựa trên văn bản đã đọc- hiểu Qua đó hình thành cho học sinh một số hiểu biết về văn miêu tả Hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa ngắn gọn, dễ hiểu, hướng đến nội dung miêu tả có trong văn bản Văn bản miêu
tả trong sách giáo khoa đều là những văn bản hay, mẫu mực
Với dạng bài này, tôi tiến hành những bước như sau:
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập( bằng cách gọi 1, 2 học sinh đọc to yêu cầu, cả lớp đọc thầm theo)
- GV giới thiệu tranh ảnh, xem video clip, vật thật về đối tượng miêu tả
- GV yêu cầu học sinh đọc thật kĩ văn bản và đọc kĩ câu hỏi để hiểu đúng,
đủ ý cần thiết
- Gọi HS trả lời theo cặp( một em hỏi, một em trả lời) GV lưu ý học sinh bám sát câu hỏi và nói theo cách hiểu của mình để rèn luyện cho các em nói những câu văn miêu tả hoàn chỉnh
- Gọi học sinh khác nhận xét
- GV nhận xét, chốt câu trả lời đúng, khen ngợi những học sinh có câu trả lời hay
Ví dụ: Đọc và trả lời câu hỏi: Quả măng cụt ( TV2, tập 2- trang 90)
Yêu cầu của bài tập là: Đọc đoạn văn tả về quả măng cụt và trả lời các câu hỏi:
a Nói về hình dáng bên ngoài quả măng cụt:
+ Quả hình gì?
+ Quả to bằng chừng nào?
+ Quả màu gì?
+ Cuống nó như thế nào?
b Nói về ruột quả và mùi vị quả măng cụt:
+ Ruột quả măng cụt màu gì?
+ Các múi như thế nào?
+Mùi vị măng cụt ra sao?
Trang 11Đối với bài tập này, trước tiên giáo viên có thể hỏi khái quát về nội dung đoạn văn: Đoạn văn trên tả loại quả gì?
- Cho học sinh quan sát quả măng cụt thật và giới thiệu: Măng cụt là một loại quả đặc sản của Nam Bộ
- Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh tập trung tìm những chi tiết nói về đặc điểm hình dáng bên ngoài và các đặc điểm bên trong của quả măng cụt để trả lời các câu hỏi yêu cầu
- Sau khi học sinh trả lời các câu hỏi, cả lớp và giáo viên nhận xét, góp ý GV nhắc lại những câu trả lời đúng
Như vậy qua việc trả lời câu hỏi, học sinh đã bước đầu nắm được một số hiểu biết về đoạn văn miêu tả về cây cối Cuối bài tập, giáo viên có thể bình luận thêm: Để tả được quả măng cụt, một loại quả đặc trưng của Nam Bộ, tác giả Phạm Hữu Tùng đã quan sát tinh tế, sử dụng rất nhiều giác quan để quan sát: Dùng thị giác để nhận biết hình dạng, màu sắc, dùng khứu giác để cảm nhận mùi hương thoang thoảng, dùng vị giác để thưởng thức vị ngọt Ngoài ra tác giả còn dùng những hình ảnh so sánh sinh động Nhờ vậy ông đã viết được một đoạn văn ngắn gọn mà độc đáo khiến người đọc có thể tưởng tượng ra vẻ đẹp của nó khác lạ so với loại quả khác và muốn thưởng thức loại quả măng cụt đầy hấp dẫn này Các em muốn tả được cây trái xung quanh mình cũng phải quan sát thật
kĩ để tìm ra những đặc điểm nổi bật của đối tượng tả
Từ cách làm trên, học sinh đã bước đầu nắm được cách miêu tả một loại quả Nhiều học sinh khá, giỏi đã biết tả quả măng cụt theo cách của riêng mình Em
Duy Đông đã tả như sau: “ Măng Cụt là loại trái cây đặc biệt của miền Nam
Nhìn vỏ ngoài tím sẫm, thô ráp nhưng ruột bên trong mới ngọt ngào làm sao Những múi nhỏ căng mọng, trắng như hoa bưởi, tỏa ra một mùi thơm dịu dàng ”
2.3 Dạng bài tả ngắn:
Đối với học sinh lớp 2 yêu cầu tả ở mức độ đơn giản, học sinh không phải viết thành một bài văn miêu tả có bố cục hoàn chỉnh song dù ở mức độ nào cũng phải hướng tới mục tiêu cuối cùng của việc dạy học Tập làm văn là giúp học sinh biết cách sản sinh (tạo lập) một văn bản Nhờ một số hiểu biết qua việc quan sát tranh, đọc và tìm hiểu đoạn văn miêu tả, vốn kiến thức thực tế của bản thân học sinh sẽ có khả năng sử dụng từ ngữ tạo thành câu văn, đoạn văn miêu
tả với những yêu cầu riêng biệt
Dạng bài yêu cầu học sinh bước đầu tả ngắn theo một đề tài tự chọn hoặc cho trước Yêu cầu học sinh viết đủ ý, đúng ngữ pháp, chính tả, diễn đạt hay, sinh động
Mặc dù yêu cầu viết văn miêu tả đối với các em chỉ là tả sơ lược, tả về các
sự vật đơn giản nhưng do các em thiếu quá nhiều kiến thức thực tế để cảm nhận cái hay trong cách tả mẫu để có cách viết riêng của mình nên việc hướng dẫn, gợi mở của giáo viên là rất cần thiết
Với dạng bài này, tôi tiến hành như sau:
Trang 12+ Hướng dẫn học sinh nắm đúng yêu cầu bài tập ( bằng cách gọi 1 hoặc 2 học sinh đọc yêu cầu của đề bài và các câu hỏi gợi ý ( nếu có); cả lớp đọc thầm theo) Giáo viên gạch chân những từ ngữ quan trọng
+ Hướng dẫn học sinh có thể viết đoạn văn tả ngắn với số lượng câu nhiều hơn yêu cầu trong đề bài Khi viết, cần viết một cách chân thực, đủ ý, đặt câu đúng, biết nối kết các câu thành một đoạn văn ngắn Nếu bài tập có câu hỏi gợi
ý, lưu ý học sinh bám sát câu hỏi, có thể bổ sung những ý mới Nếu bài không
có câu hỏi gợi ý, GV cần gợi cho học sinh về đối tượng miêu tả mà đề bài yêu cầu Tuy nhiên hướng dẫn của giáo viên chỉ mang tính gợi mở chứ không bắt ép học sinh tuân theo một cách máy móc
+ Tổ chức cho học sinh làm bài cá nhân
+ Tổ chức cho học sinh trình bày bài làm Gọi nhiều học sinh nối tiếp đọc đoạn văn của mình
+ Gọi học sinh nhận xét và giáo viên nhận xét HS có thể đổi vở cho bạn ngồi cạnh để giúp nhâu sửa lỗi về câu, chính tả, cách dùng từ
+ GV chấm bài và chữa lỗi về ý, dùng từ, viết câu cho học sinh, Khi chấm bài, GV cần khuyến khích, khen ngợi những bài làm chân thực, có nét riêng, biết dùng từ ngữ gợi tả, gợi cảm
+ GV cho học sinh bình chọn những bạn viết hay nhất Đối với các em chưa viết đạt, GV yêu cầu viết lại vào giờ hướng dẫn học
* Ví dụ: Tả ngắn về bốn mùa( Tuần 20, TV2- tập 2 trang 21)
Sau khi học sinh được đọc đoạn văn Xuân về của tác giả Tô Hoài và trả
lời câu hỏi, SGK có bài tập: “ Hãy viết một đoạn văn từ 3 đến 5 câu nói về mùa
- Viết 2, 3 câu tả về mặt trời mùa hè, cây cối trong vườn, những việc mà mình đã làm ở mùa hè trước ( Lưu ý học sinh dựa vào hiểu biết thực tế và các bài tập đọc đã học để viết theo cách cảm nhận riêng của mình)
- Viết một câu nói lên cảm nghĩ của mình về mùa hè
- GV có thể cho học sinh quan sát một số tranh ảnh về mặt trời mùa hè, cây cối đặc trưng của mùa hè như: hoa phượng vĩ, hoa bằng lăng, vườn nhãn, vườn vải, cánh đồng lúa, cây ổi để học sinh mở rộng hiểu biết và chọn cách tả thật sinh động
Em Trọng Huy viết:
Trang 13Tiếng ve kêu râm ran trên các vòm lá xanh báo hiệu mùa hè đã đến Những tia nắng mùa hè nhảy nhót như những cậu bé tinh nghịch Trên sân trường, chùm phượng vĩ nở đỏ rực Chúng em bước vào kì nghỉ hè đầy thú vị
Em lại được về quê thăm ông bà, được cùng các anh, các chị đi xe đạp trên con đường đê lộng gió Em rất yêu mùa hè!
Hay em Thanh Chi viết về mùa hè như sau:
Trong bốn mùa, mỗi mùa đều có vẻ đẹp riêng nhưng mùa hè để lại cho em
ấn tượng sâu sắc nhất Mặt trời mùa hè như mâm xôi gấc khổng lồ, tạo cho không khí oi bức khó chịu Ấy vậy mà các cô cậu học trò chúng em lại háo hức chờ mùa hè đến Tạm xa mái trường thân thương, chúng em bước vào kì nghỉ hè
lí thú Em được đi học lớp năng khiếu ở nhà văn hóa Mẹ hứa hè này cho em đi biển chơi Thích hơn cả, mùa hè là mùa của trái chín thơm, em lại cùng mẹ đi bứt những trái vải căng mọng nước, sai trĩu cành Mùa hè thú vị quá!
Tóm lại, để tổ chức cho học sinh làm tốt các dạng bài tập rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh, GV cần :
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập( bằng lời giải thích, phương pháp trực quan )
- Chọn cách tổ chức hoạt động phù hợp với từng bài, kích thích hứng thú học tập của học sinh( Làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, thi nói nối tiếp )
- Khuyến khích học sinh bộc lộ thể hiện khả năng luyện viết đoạn văn miêu theo cảm nhận riêng, cách riêng của bản thân, không ép học sinh tuân theo cách cảm nhận của mình
Qua các dạng bài tập này, học sinh có vốn kiến thức nhất định về kĩ năng quan sát, tưởng tượng, kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn là bước đệm để học tốt văn miêu tả ở các lớp trên
3 Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn miêu tả
Để tránh tình trạng học sinh không viết được bài hoặc viết lan man, không đúng trọng tâm đề bài trong khi thời gian viết hạn hẹp, GV cần giúp đỡ HS:
3.1 Hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng:
Trong chương trình tập làm văn lớp 2, hầu hết các bài Tập làm văn đều có câu hỏi gợi ý rõ ràng, đầy đủ Để tránh tình trạng học sinh không viết được bài hoặc viết lan man, không đúng trọng tâm đề bài trong khi thời gian viết hạn hẹp,
Ở tiết trước, GV có thể hướng dẫn học sinh đọc kĩ câu hỏi gợi ý và suy nghĩ chuẩn bị bài cho tiết sau Đối với những bài tập không có câu hỏi gợi ý, GV có thể giúp học sinh bằng các hệ thống câu hỏi do giáo viên tự xây dựng
* Ví dụ:Viết 2, 3 câu về một loài chim mà em thích( TV2- tập 2- trang 30)
Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi gợi ý sau:
+ Loài chim mà em thích là loài chim gì?