1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING) CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

25 912 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan về nghiệp vụ bao thanh toán (Factoring) của các tổ chức tín dụng
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 535,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, những đại lý bao thanh toán ở Mỹ do đã quen với thịtrường và người mua trong nước của họ, quyết định nhóm họp lại thành một tổchức để cung cấp cho các nhà sản xuất châu Âu những

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING) CỦA

CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Ngày nay khi tốc độ lưu thông tiền tệ đang được thúc đẩy, nhu cầu về vốn đốivới hầu hết các doanh nghiệp đang trở thành một vấn đề khó khăn đối với hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp do việc tiếp cận với nguồn vốn cho vay từ ngânhàng và các tổ chức tín dụng khác không đơn giản Với nhiều quốc gia trên thế giớibao thanh toán thực sự là một phương thức tài trợ thương mại đem lại nguồn lợi tolớn không chỉ cho các nhà bao thanh toán mà còn đem lại lợi ích cho các doanhnghiệp tham gia vào hoạt động này với các tính năng ưu việt của nó Do đó, việcnắm vững cơ sở lý luận về bao thanh toán là cần thiết, để từ đó có cái nhìn kháchquan hơn trong quá trình tiếp cận và ứng dụng tốt vào thực tiễn loại hình nghiệp vụnày

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN

1.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của bao thanh toán

1.1.1.1 Lịch sử ra đời của bao thanh toán

Hoạt động bao thanh toán là một trong những hình thức tài trợ lâu đời nhấttrên thế giới với một bề dầy lịch sử phát triển hàng trăm năm Một số học giả chorằng bao thanh toán có từ thời đế chế La Mã Một số nhà học giả lại cho rằng baothanh toán có từ cách đây chừng bốn nghìn năm từ thời vua Hammurabi.Hammurabi là vị vua của vùng Mesopotamia, nơi được coi là cội nguồn phát triển

việc cho vay Khái niệm factor xuất phát từ động từ trong tiếng Latin facio, có

nghĩa là “he who does thing” (tạm dịch là “người kinh doanh buôn bán hưởng hoahồng”) Động từ tiếng Latin trên gợi ý rằng nguồn gốc của bao thanh toán cũngđược phát sinh vào thời gian đó khi ấy, nó được đưa vào nội dung các giấy tờ làmbằng chứng cho các hoạt động mua bán của vùng và các văn bản mô phỏng luật lệcai trị của vị vua này Theo thời gian, vị vua Hammurabi và người dân ở vùng đất

Trang 2

này cũng không còn nhưng phương thức bao thanh toán vẫn còn tồn tại Hầu hếtcác quốc gia văn minh thời bấy giờ coi trọng buôn bán, đều đã thử ứng dụng một

số phương thức tương tự như phương thức bao thanh toán hiện giờ; lấy một ví dụđiển hình là người Roman đã từng bán giảm giá tờ thương phiếu

Các nhà sử học thường cho rằng bao thanh toán có từ thời xuất hiện đại lý hưởnghoa hồng, những người thực hiện việc mua bán và luân chuyển hàng hoá khoảng 2000năm trước thời Đế chế La mã Do hệ thống thông tin và vận tải còn sơ khai, đại lýhưởng hoa hồng thực hiện chức năng marketing quan trọng trong giao dịch giữa nhàsản xuất ở nước ngoài và người mua trong nước Với vai trò là đại lý, họ nắm quyền

sở hữu (không chỉ đơn thuần về mặt danh nghĩa) của hàng hoá của bên uỷ nhiệm nhà sản xuất nước ngoài - rồi giao hàng hoá đó cho người mua trong nước, ghi sổ vàthu nợ khi đến hạn, chuyển số tiền trả nợ cho bên uỷ nhiệm sau khi đã trừ đi phần hoahồng của mình, phần hoa hồng này thường được tính bằng phần trăm trên tổng doanhthu

-Cùng với sự phát triển toàn cầu của ngành công nghiệp dệt của Anh vào thế

kỷ 14 và thế kỷ 15, các đại lý bao thanh toán cũng ngày càng lớn mạnh và đóng vaitrò ngày càng quan trọng trong giao thương Khi họ bắt đầu tin tưởng hơn vào khảnăng trả nợ của khách hàng, họ chấp nhận cấp tín dụng cho các đại lý cấp dưới củamình để ăn hoa hồng cao hơn Thực tế là với khoản hoa hồng nhiều hơn, đại lý baothanh toán bắt đầu đảm bảo khả năng trả nợ của người mua bằng cách cam kết trảcho đại lý cấp dưới trong trường hợp người mua không trả nợ đúng hạn và khảnăng tài chính của họ không cho phép họ có sẵn nguồn để thanh toán

Trước đó không lâu, xuất hiện hình thức bảo lãnh tín dụng, đại lý thanh toán

có đủ vốn bắt đầu trả trước một phần, gọi là “tạm ứng” cho đại lý cấp dưới củamình dựa trên khoản thanh toán trong tương lai của người mua hoặc của đại lý baothanh toán, nếu người mua không trả tiền và nếu nó bảo lãnh khoản tín dụng đóvới người mua Do có những khoản tạm ứng này mà đại lý bao thanh toán tính

Trang 3

thêm phí hoa hồng hoặc lãi suất Thông thường, để tránh khỏi tình trạng khôngthanh toán hoặc là thanh toán không đủ do những vấn đề không thuộc lĩnh vực tíndụng; ví dụ như người mua khiếu nại người bán về số lượng, chất lượng hoặc thờigian giao hàng, đại lý bao thanh toán không tạm ứng toàn bộ số tiền doanh thu bánhàng Thay vào đó họ giữ lại một phần để dự trữ phải trả cho người bán cho tới khi

họ đã thu hồi được tất cả các khoản nợ Người mua được thông báo là đại lý baothanh toán đã mua quyền nhận tiền thanh toán của họ

1.1.1.2 Sự phát triển của nghiệp vụ bao thanh toán trên thế giới

Vào thời điểm Columbus phát hiện ra châu Mỹ năm 1492, đại lý bao thanhtoán đã phát triển từ vai trò duy nhất là với chức năng marketing thành đóng vaitrò vừa có chức năng marketing vừa có chức năng tài chính

Thế kỷ 16 chứng kiến sự bắt đầu của chế độ thực dân của Mỹ, và cùng với nóvai trò ngày càng tăng và nhiều cơ hội mới cho bao thanh toán - đặc biệt là đối vớinhững người thiết lập hoạt động kinh doanh ở Mỹ Khoảng cách giữa châu Âu vàthị trường thực dân rất lớn và càng lớn hơn khi Mỹ mở rộng biên giới phía Tây của

nó Khoảng cách lớn này làm cho những nhà sản xuất châu Âu khó quen với thịtrường châu Mỹ và làm giảm sự tin cậy về tín dụng đối với những khách hàng đầytiềm năng này Và điều này làm cho vòng tuần hoàn từ khi bắt đầu sản xuất chođến khi nhận được khoản tiền thanh toán cuối cùng cũng dài hơn Kết hợp nhữngyếu tố trên đây có thể thấy người sản xuất phải trải qua rất nhiều khó khăn để thuhồi vốn tái sản xuất Vì vậy, những đại lý bao thanh toán ở Mỹ do đã quen với thịtrường và người mua trong nước của họ, quyết định nhóm họp lại thành một tổchức để cung cấp cho các nhà sản xuất châu Âu những dịch vụ marketing và tàichính tương tự như trước đây các đại lý bao thanh toán vẫn thường làm

Đến cuối thế kỷ 19, một sự thay đổi quan trọng trong thế giới thương mại đãdiễn ra Mỹ phát triển mạnh mẽ trở thành một quốc gia có chủ quyền, ít bị phụthuộc vào hàng hóa nước ngoài Sự phát triển của ngành công nghiệp trong nước

Trang 4

có được là nhờ dân số và lực lượng lao động phát triển rất nhanh, tài nguyên thiênnhiên dư thừa và việc áp đặt biểu thuế gắt gao đối với hàng hoá nước ngoài Đồngthời những nhà sản xuất Mỹ cũng phát triển đội ngũ kinh doanh (marketing) củamình và vì vậy nhu cầu chức năng marketing mà trước đây các nhà bao thanh toánthường thực hiện bấy giờ giảm đi Tuy nhiên, một lần nữa các đại lý bao thanh toánlại phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu của nền kinh tế mới trong nước, tập trungvào các hoạt động tín dụng, thu nợ, kế toán và các chức năng tài chính (thường làthông báo cho người mua việc bán các khoản phải thu) Việc giao cho các đại lýbao thanh toán thực hiện các chức năng này cho phép các nhà sản xuất ngành dệtcủa Mỹ có thời gian tập trung hơn vào sản xuất và tiếp thị kinh doanh sản phẩm Vào đầu thế kỷ 20, khi các nhà sản xuất Mỹ mở rộng sang các sản phẩm maymặc, phụ kiện, đồ nội thất và thảm…, các đại lý bao thanh toán Mỹ cũng mở rộngchuyên môn và dịch vụ sang ngành công nghiệp mới này Trước năm 1930, baothanh toán diễn ra chủ yếu trong ngành công nghiệp dệt may vì ngành công nghiệpnày là con đẻ của nền kinh tế thuộc địa vốn rất hay áp dụng hình thức bao thanhtoán Sau chiến tranh thế giới thứ II, bao thanh toán của Mỹ phát triển sang cácngành công nghiệp mới đang phát triển như điện, hoá chất, sợi tổng hợp… công tybao thanh toán đưa ra hình thức bao thanh toán mua lại các khoản phải thu dựa trên

cơ sở hoá đơn và từ đó trở đi bao thanh toán đã khẳng định được chỗ đứng củamình trong hoạt động của giới doanh nhân

Ngày nay các đơn vị bao thanh toán tồn tại dưới đủ mọi hình thức: một phòngban của một tổ chức tài chính lớn hay ở quy mô lớn hơn như một doanh nghiệpkinh doanh độc lập Rất nhiều đơn vị bao thanh toán đã hoạt động thực sự cónhững bước tiến mạnh mẽ khi mức lãi suất tăng cao đỉnh điểm vào những năm 60,

70 Xu hướng này càng diễn biến trở nên sâu sắc hơn khi vào những năm 80, lãisuất ngày càng gia tăng và ngành ngân hàng đã có những biến động mạnh Từ đó

Trang 5

việc hình thành một Hiệp hội thế giới về bao thanh toán trở thành một vấn đề cấpthiết.

Đầu những năm 1960, tổ chức các nhà bao thanh toán quốc tế ra đời (gọi tắt làIFG: International Factor Group) ra đời với gần 70 thành viên có mặt ở 47 quốcgia Với mục tiêu để giúp các nhà bao thanh toán thuận lợi trong quá trình hợp tácvới nhau, IFG là tổ chức sáng lập ra hệ thống bao thanh toán hai đơn vị (two-factor system), một hệ thống dịch vụ bao thanh toán quốc tế

Một tổ chức khác mạnh và có tầm ảnh hưởng lớn đó là Hiệp hội các nhà baothanh toán thế giới - Factors Chain International (gọi tắt là FCI) Năm 1968, FCI rađời với vai trò là một hiệp hội đứng ra tập hợp các công ty bao thanh toán độc lậplại với nhau Ngay từ những ngày đầu thành lập các thành viên sáng lập ra FCIluôn nhận thức được tiềm năng của bao thanh toán, do đó họ luôn đặt sứ mệnh củaFCI lên trên hết đó là:

• Đưa bao thanh toán trở thành một dịch vụ mang tính toàn cầu

• Giúp các thành viên trong Hiệp hội của mình giành được lợi thế cạnh tranhtrong tài trợ thương mại toàn cầu thông qua việc

 Thiết lập một mạng lưới các nhà bao thanh toán hàng đầu thế giới

 Xây dựng một hệ thống mạng lưới thông tin hiện đại và hiệu quả để kếtnối các nhà bao thanh toán lại với nhau

 Xây dựng khung pháp lý nhằm bảo vệ các nhà xuất nhập khẩu

 Tiến hành thủ tục tuân chuẩn quy tắc về chất lượng dịch vụ đặt ra

 Thường xuyên xây dựng các gói đào tạo

 Không ngừng giới thiệu quảng bá bao thanh toán là một phương thức tối

ưu trong tài trợ thương mại

Trang 6

Vớiphương châm hoạt động như vậy, cho đến nay FCI đã có trong mình số lượngthành viên lên tới 206 tại 59 quốc gia, chiếm hơn 50% doanh số bao thanh toántoàn cầu Doanh số bao thanh toán cũng như tầm ảnh hưởng tới tài chính toàn cầucủa FCI ngày càng gia tăng rõ rệt

(đơn vị: triệu euro)

Biểu đồ 1.1: Doanh số bao thanh toán của FCI

Trang 7

1984 29% 1989 41% 1994 44% 1999 42% 2004 51% 2005 54%

( Nguồn: Factors Chain International, 2006)

Biểu đồ 1.2: Thị phần về doanh số bao thanh toán của FCI so với toàn cầu

(Nguồn: Factors Chain International, 2006)

198419891994199920042005

Trang 8

(đơn vị: triệu euro)

Biểu đồ 1.3: Doanh số bao thanh toán xuất nhập khẩu của FCI

1984 32% 1989 47% 1994 49% 1999 49% 2004 64% 2005 68%

( Nguồn: Factors Chain International,2006)

Biểu đồ 1.4: Thị phần về doanh số bao thanh toán xuất nhập khẩu của FCI so với toàn cầu

(Nguồn: Factors Chain International,2006)

Qua bảng số liệu, có thể thấy sự phát triển không ngừng về doanh số baothanh toán đang minh chứng cho hoạt động sôi động và chiếm ưu thế của FCItrong thị trường bao thanh toán trên toàn thế giới Ngoài ra, với đội ngũ kháchhàng lên tới con số 134.800, 4.962.638 người mua và 102.105.720 giao dịch baothanh toán đã diễn ra tính đến thời điểm quý IV/2005, FCI đang ngày càng khẳngđịnh tầm ảnh hưởng của mình tới nền tài chính toàn cầu

Với một truyền thống lịch sử khá lâu đời, sự phát triển không ngừng củaphương thức bao thanh toán qua một số thời kỳ và sự ra đời của một số tổ chức,

Trang 9

hiệp hội về bao thanh toán, có thể thấy trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ, bao thanh toánđang ngày càng trở thành một phương thức tài trợ thương mại được ưa chuộng Tuynhiên, trong quá trình phát triển nghiệp vụ này, vẫn tồn tại một số quan niệm chưađúng Trước khi nghiên cứu bản chất của bao thanh toán, tác giả xin đưa ra một sốquan điểm sai lầm của một số người khi đánh giá về bao thanh toán.

1.1.2 Một số quan niệm sai lầm về bao thanh toán

Do bản chất bao thanh toán là một nghiệp vụ tài chính khá đặc biệt nên khánhiều người vẫn có những quan niệm sai lầm chưa đúng về hoạt động bao thanhtoán:

1.1.2.1 Bao thanh toán là một khoản cho vay

Trên thực tế, mặc dù bao thanh toán là công cụ tài trợ thương mại nhưng baothanh toán lại không là một khoản cho vay thông thường vì bao thanh toán không

mang đặc thù của các khoản vay như thời hạn hoàn trả hay trách nhiệm hoàn trả

của người xin vay Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng sẽ không cho vay nếu tàisản đảm bảo của khoản vay không đủ lớn; còn trên thực tế đối với bao thanh toán,các đơn vị bao thanh toán lại tập trung đánh giá các khoản phải thu Trong một sốtrường hợp, ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác vẫn có thể cấp vốn lưu độngdựa trên những khoản phải thu, tuy nhiên như trên đã khẳng định, nó không liênquan đến thời hạn hoàn trả hay trách nhiệm hoàn trả của người xin vay

1.1.2.2 Bao thanh toán là một hình thức để xử lý nợ khó đòi

Bao thanh toán cung cấp các dịch vụ thu nợ các khoản phải thu đến hạn vớitính chất chuyên nghiệp cao nhưng thực chất đơn vị hay công ty bao thanh toánkhông phải là tổ chức chuyên xử lý các khoản nợ khó đòi tiến hành các việc như:

cơ cấu lại khoản vay, cơ cấu lại hoặc tiếp quản con nợ và các nghiệp vụ xử lý nợkhó đòi khác Nói cách khác, bao thanh toán không phải là dịch vụ cung cấp chokhách hàng khi các khoản phải thu của họ là các khoản nợ khó đòi hoặc bản thân

họ không thu được nợ của những người mua hàng

Trang 10

1.1.2.3 Bao thanh toán là nghiệp vụ mang tính “chiết khấu hối phiếu”

Về hình thức, bao thanh toán và nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu giống nhau ởchỗ đều cho phép khách hàng nhận ngay được một khoản tiền khi xuất trình hoáđơn hay hối phiếu Tuy nhiên có điểm khác biệt là hối phiếu trong nghiệp vụ chiết

khấu được “tài sản hoá” để chuyển nhượng còn hoá đơn trong bao thanh toán là

phương tiện để thu hồi nợ Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu tập trung nhiều vào mục

đích “tài chính” hơn so với bao thanh toán

1.2.2.4 Một số quan niệm chưa đúng khác

Bao thanh toán chỉ sử dụng khi có khó khăn về mặt tài chính cho nên kháchhàng cảm thấy “mất uy tín” khi thông báo cho người mua hàng biết về nhữngkhoản phải thu đó được bao thanh toán Khách hàng sử dụng dịch vụ bao thanhtoán vì những lợi ích của nó đem lại phù hợp với lợi ích khách hàng, đó không phải

là hoạt động cứu trợ khi khách hàng gặp khó khăn về tiền mặt, vốn lưu động Dovậy sẽ không đúng khi cho rằng khách hàng tham gia vào bao thanh toán đang gặpkhó khăn và khách hàng mất uy tín khi tham gia vào bao thanh toán

Công ty bao thanh toán có vai trò như “người cho vay cuối cùng” và đáp ứngnhu cầu của khách hàng Không phải khách hàng chỉ lựa chọn phương thức baothanh toán khi họ không thể tiếp cận được với nguồn vốn vay ngân hàng Bao thanhtoán cho phép chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt một cách nhanh chóng tuynhiên đây không phải là phương tiện để xử lý các khó khăn về vấn đề thanh khoản.Khách hàng quyết định sử dụng dịch vụ bao thanh toán khi mà mức chi phí baothanh toán nhỏ hơn lợi ích mà việc có tiền mặt trong tay mang lại tại thời điểm nhậntiền thanh toán trước

Trên đây là một số quan điểm sai lầm, rất dễ dẫn đến nhầm lẫn các phươngthức tương tự Như vậy, thực chất bao thanh toán là gì và tại sao người ta lại quantâm đến loại hình dịch vụ này nhiều đến vậy Trước hết, xin bắt đầu bằng một sốkhái niệm về bao thanh toán

Trang 11

1.1.3 Khái niệm về bao thanh toán

Khái niệm về bao thanh toán không phải là mới đối với hệ thống các ngânhàng hay tổ chức tín dụng, nhưng với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanhnghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam thì đây dường như là một khái niệm vô cùng mới

mẻ

1.1.3.1 Khái niệm theo Công ước quốc tế về Bao thanh toán tại Ottawa

Hiệp hội các nhà bao thanh toán quốc tế cùng với việc hoạt động ngày càngphát triển của mình, đồng thời nhằm phối hợp, giúp đỡ nhau trong hoạt độngthương mại quốc tế đưa ra những chuẩn mực làm căn cứ pháp lý cho hoạt động baothanh toán, đảm bảo lợi ích cho các bên có liên quan, đã chính thức cho ra đờiCông ước quốc tế về bao thanh toán (UNIDROIT Convention on InternationalFactoring) ngày 28/05/1998 trong cuộc họp các nhà bao thanh toán tại Ottawa(Canada)

Theo Công ước này, hoạt động bao thanh toán là hoạt động công ty bao thanhtoán mua lại các khoản phải thu của khách hàng phát sinh từ giao dịch bán hànghoặc cung cấp dịch vụ nhưng thanh toán chậm, theo đó khách hàng nhận được cáckhoản tiền ứng trước tương ứng với tỷ lệ định trước giá trị của khoản phải thu.Phần giá trị còn lại sẽ trả lại khách hàng khi người mua hàng thực hiện việc thanhtoán và đã trừ đi các khoản phí trả cho công ty bao thanh toán Ngoài ra, việc tàitrợ chính, bao thanh toán còn bao gồm cả việc quản lý sổ sách bán hàng, kế toán vàtiến hành việc thu nợ một cách chuyên nghiệp để đảm bảo tối đa lợi ích kháchhàng Như vậy, bao thanh toán theo Công ước quốc tế về bao thanh toán là hoạtđộng tài chính tổ hợp từ các hoạt động tài trợ, quản lý sổ sách kế toán, bán hàngthu nợ và bảo vệ khách hàng trước rủi ro tín dụng

Đã có nhiều định nghĩa khác nhau mô tả về nghiệp vụ bao thanh toán qua lịch

sử phát triển của nghiệp vụ này Những định nghĩa này khác nhau khá nhiều phụthuộc vào thời gian và hoàn cảnh “Định nghĩa thuần tuý” nhất của Mỹ được định

Trang 12

nghĩa như sau “Bao thanh toán là một thoả thuận tiếp theo giữa bên liên quan đếnbao thanh toán và người bán hàng hoặc là người cung cấp dịch vụ về mở một tàikhoản, chiểu theo đó bên bao thanh toán tiến hành (tất cả) những dịch vụ sau liênquan đến khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hoá và dịch vụ nói trên:

(1) Mua lại tất cả những khoản phải thu và nếu cần thiết thì ứng trước tiềnmặt dựa trên các khoản phải thu này trước khi thu nợ

(2) Duy trì ghi sổ cái và thực hiện các nhiệm vụ ghi sổ sách khác liên quanđến khoản phải thu này

(3) Thu nợ các khoản phải thu

(4) Dự tính các tổn thất có thể xảy ra khi tình hình tài chính của khách hàngkhông trả được nợ (tổn thất tín dụng)”

1.1.3.2 Khái niệm theo Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ bao thanh toán cho các bêntham gia trong hoạt động bao thanh toán trong nước và bao thanh toán quốc tếtrong hoạt động thương mại khu vực và quốc tế, sau nhiều lần dự thảo, ngày06/09/2004, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã chính thức đưa ra Quychế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 1096/2004/QĐ/NHNN

Trong Quy chế, điều 2 quy định rõ khái niệm bao thanh toán: Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của Tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng.

Như vậy, hiểu một cách đơn giản bao thanh toán là một hình thức tài trợ thương mại trong đó ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đáo hạn để trở thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ người mua hàng đồng thời cung cấp dịch vụ quản lý sổ cái bán hàng cho bên bán hàng

Tại Quy chế này cũng quy định rõ một số khái niệm cần thiết liên quan đến khái niệm về bao thanh toán như:

[1]

Khoản phải thu: là khoản tiền bên bán hàng phải thu từ bên mua hàng theo hợp đồng mua, bán hàng Tuy

nhiên, không phải tất cả các khoản phải thu đều thuộc bao thanh toán, có một số trường hợp các khoản phải thu không nằm trong bao thanh toán như:

Ngày đăng: 04/11/2013, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng số liệu, có thể thấy sự phát triển không ngừng về doanh số bao thanh toán đang minh chứng cho hoạt động sôi động và chiếm ưu thế của FCI trong thị trường bao thanh toán trên toàn thế giới - TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING) CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
ua bảng số liệu, có thể thấy sự phát triển không ngừng về doanh số bao thanh toán đang minh chứng cho hoạt động sôi động và chiếm ưu thế của FCI trong thị trường bao thanh toán trên toàn thế giới (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w