1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

39 280 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 172,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchthực hiện các hoạt động kinh doan

Trang 1

VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA

DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.1 Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp

1.1.1.1 Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường trong đóngười mua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản lượng củahàng hoá hay dịch vụ Nền kinh tế thị trường chứa đựng 3 chủ thể là các hộ giađình, doanh nghiệp và chính phủ Trong đó, Doanh nghiệp có một vai trò to lớntrong sự hoạt động và phát triển của nền kinh tế thị trường

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchthực hiện các hoạt động kinh doanh”1 – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả cáccông đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứngdịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Nền kinh tế thị trường của nước ta đang xây dựng là một nền kinh tế thịtrường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là mộtnền kinh tế với nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh – doanhnghiệp Nhà nước – giữ vai trò chủ đạo “Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế

do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do Nhà

nước giao”.2 Như vậy ta thấy, có thể phân các doanh nghiệp Nhà nước làm hai loại:

doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích, khi

1 Luật doanh nghiệp – ngày12 tháng 6 năm 1999

2 Luật doanh nghiệp nhà nước – ngày 20 tháng 4 năm 1995

Trang 2

nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp chúng ta tập trung vào hệ thống các doanhnghiệp hoạt động kinh doanh với mục tiêu thống nhất là tối đa hoá lợi nhuận.

Doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Theohình thức tổ chức có: doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH,doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Phân loại doanhnghiệp theo chủ thể kinh doanh có: kinh doanh cá thể; kinh doanh góp vốn; công

ty Dựa vào tính chất của lĩnh vực hoạt động, có doanh nghiệp sản xuất và doanhnghiệp thương mại…Sự phân chia các doanh nghiệp theo các tiêu thức nói trênnhằm tiện cho việc quản lý và nghiên cứu tuy nhiên chúng đều mang tính tươngđối khi trong một nền kinh tế thị trường phát triển hình thức, hoạt động của cácdoanh nghiệp là rất đa dạng, phức tạp

1.1.1.2 Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế – xã hội phức tạp và luônbiến động Để đạt được mức lợi nhuận mong muốn, doanh nghiệp luôn phải đưa rahàng loại các quyết định trong quá trình tổ chức các hoạt động kinh doanh, mọiquyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh Doanh nghiệp phải giảiquyết từ khâu nghiên cứu nhu cầu thị trường; xác định năng lực bản thân; xác địnhcác mặt hàng mà mình sản xuất và cung ứng; cách thức sản xuất, phương thứccung ứng sao cho có hiệu quả nhất…Dưới góc độ của nhà quản trị tài chính, để đạtđược mục tiêu tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp, một doanh nghiệp luôn phải đốimặt với 3 nhóm quyết định:

- Quyết định đầu tư;

- Quyết định tài trợ;

- Quyết định hoạt động hàng ngày.

Trang 3

Nói một cách khác, quản lý tài chính doanh nghiệp là giải quyết một tập hợp

đa dạng và phức tạp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn Các quyết địnhtài chính dài hạn như lập ngân sách vốn, lựa chọn cấu trúc vốn…là những quyếtđịnh thường liên quan đến những tài sản hay những khoản nợ dài hạn, các quyếtđịnh này không thể thay đổi một cách dễ dàng và do đó chúng có khả năng làm chodoanh nghiệp phải theo đuổi một đường hướng hoạt động riêng biệt trong nhiềunăm Các quyết định tài chính ngắn hạn thường liên quan đến những tài sản haynhững khoản nợ ngắn hạn và thường thì những quyết định này được thay đổi dễdàng Trong thực tế, giá trị các tài sản lưu động chiếm một tỷ trọng lớn trong tổnggiá trị doanh nghiệp và có một vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có thể xác định được các cơ hội đầu tư

có giá trị, tìm được chính xác tỷ lệ nợ tối ưu, theo đuổi một chính sách cổ tức hoànhảo nhưng vẫn thất bại vì không ai quan tâm đến việc huy động tiền mặt để thanhtoán các hoá đơn trong năm…Do vậy, chuyên đề này đi sâu vào nghiên cứu vốnlưu động và việc nâng cao hiệu sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Để cóthể hiểu sâu về vốn lưu động trước tiên chúng ta cần có cái nhìn khái lược về vốn,một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.2 Vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trang 4

Với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thị trường, các ngành nghề mới liêntục ra đời, quan niệm về vốn cũng ngày càng được mở rộng Bên cạnh vốn hữuhình, dễ dàng được nhận biết, còn tồn tại và được thừa nhận là vốn vô hình như:các sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, vị trí đặt trụ

sở của doanh nghiệp…Theo cách hiểu rộng hơn, người lao động cũng được rấtnhiều doanh nghiệp coi là một trong những nguồn vốn quan trọng

Có thể thấy, vốn tồn tại trong mọi giai đoạn sản xuất kinh doanh, từ dự trữ;sản xuất đến lưu thông; doanh nghiệp cần vốn để đầu tư xây dựng cơ bản; cần vốn

để duy trì sản xuất và để đầu tư nâng cao năng lực sản xuất… Quyết định tài trợ,

do đó, là một trong 3 nhóm quyết định quan trọng của tài chính doanh nghiệp và cóảnh hưởng sâu sắc tời mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp – tối đa hoá giá trịdoanh nghiệp

1.1.2.2 Đặc điểm và phân loại vốn

Vốn luôn gắn liền với quyền sở hữu, việc nhận định rõ và hoạch định cơ cấu

nợ – vốn chủ sở hữu luôn là một nội dung quan trọng và phức tạp trong quản lý tàichính doanh nghiệp

Trang 5

Trong nền kinh tế thị trường, vốn còn được coi là một hàng hoá đặc biệt do

có sự tác bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng Do đó, việc huy động vốnbằng nhiều con đường: phát hành cổ phiếu, trái phiếu; tín dụng thương mại; vayngân hàng…đang được các doanh nghiệp rất quan tâm và được vận dụng linh hoạt

Do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, sự luân chuyển phứctạp của vốn nên yêu cầu quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tránh lãng phí thấtthoát được đặt lên cao

sản lưu động, vốn cố định là toàn bộ giá trị của tài sản cố định

Theo nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn chính: Vốn chủ sở hữu và Nợ.

1.1.3 Vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.1.3.1 Khái niệm về vốn lưu động

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các yếu tố con người lao động, tưliệu lao động còn phải có đối tượng lao động Trong các doanh nghiệp đối tượnglao động bao gồm 2 bộ phận: Một bộ phận là những nguyên, nhiên vật liệu, phụtùng thay thế…đang dự trữ chuẩn bị cho quá trình sản xuất được tiến hành nhịpnhàng, liên tục; bộ phận còn lại là những nguyên vật liệu đang được chế biến trêndây truyền sản xuất (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm) Hai bộ phận này biểuhiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động của doanh nghiệp trong dự trữ

và sản xuất

Trang 6

Thông qua quá trình sản xuất, khi kết thúc một chu kỳ sản xuất thì toàn bộ tưliệu lao động đã chuyển hoá thành thành phẩm Sau khi kiểm tra, kiểm nghiệm chấtlượng thành phẩm được nhập kho chờ tiêu thụ Mặt khác để sản xuất và tiêu thụsản phẩm doanh nghiệp còn cần một số tiền mặt trả lương công nhân và các khoảnphải thu phải trả khác…Toàn bộ thành phẩm chờ tiêu thụ và tiền để phục vụ chotiêu thụ sản phẩm được gọi là tài sản lưu động trong lưu thông.

Như vậy xét về vật chất, để sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục, ngoàitài sản cố định doanh nghiệp còn cần phải có tài sản lưu động trong dự trữ, trongsản xuất và trong lưu thông Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hìnhthành các tài sản lưu động này các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư ban

đầu nhất định Vì vậy có thể nói: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn tiền

tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động trong doanh nghiệp.

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vậnđộng của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động.Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động không ngừng vận động qua cácgiai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông Quá trìnhnày được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quátrình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinhdoanh, vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện: từ hình thái vốn tiền tệ banđầu chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuốicùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ Tương ứng với một chu kỳ kinh doanh thì vốnlưu động cũng hoàn thành một vòng chu chuyển

hàng hoá

Tiêu thụ sản phẩm

sản phẩm

Sản xuất Mua vật tư

Vốn bằng tiền Vốn dự trữ sản xuất Vốn trong sản xuất

Trang 7

1.1.3.2 Đặc điểm và phân biệt vốn lưu động với vốn cố định

Vốn lưu động luân chuyển với tốc độ nhanh Vốn lưu động hoàn thành mộtvòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh

Vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quátrình tuần hoàn luân chuyển Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất

mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịchtoàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm

Vốn lưu động vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hìnhthái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Chu

kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốnlưu động của doanh nghiệp

Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định Đặc điểm khác biệt lớnnhất giữa vốn lưu động và vốn cố định là vốn cố định chỉ chuyển dần giá trị của nóvào giá trị sản phẩm theo mức khấu hao trong khi giá trị vốn lưu động đượcchuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm

Do đặc điểm vận động, số vòng quay của vốn lưu động lớn hơn rất nhiều sovới vốn cố định

1.1.3.3 Phân loại vốn lưu động

Trang 8

Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải phân loại vốn lưuđộng của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với yêu cầu quản lý.

1.1.3.3.1 Căn cứ vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh

doanh

Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp được phân thành 3loại:

(1) Vốn lưu động trong khâu dự trữ

Bao gồm các khoản vốn sau:

- Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại vật tư dùng dự trữ sản xuất mà

khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm

- Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất Các

loại vật tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó kết hợpvới nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoàicủa sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất sản phẩm thực hiệnđược bình thường, thuận lợi

- Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản

xuất kinh doanh

- Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa

các tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh

- Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá

trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm

- Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn

là tài sản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 9

Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến hànhliên tục.

(2) Vốn lưu động trong khâu sản xuất

Bao gồm các khoản vốn:

- Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh

doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất

- Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ánh giá trị các

chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trải qua nhữngcông đoạn sản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng(thành phẩm)

- Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng

cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thànhsản phẩm trong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm củamột số kỳ tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chiphí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàngiáo phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản…

Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sảnxuất của các bộ phận sản xuất trong dây truyền công nghệ được liên tục, hợp lý

(3) Vốn lưu động trong khâu lưu thông

Loại này bao gồm các khoản vốn:

- Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu

chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho

- Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang

chuyển Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển

Trang 10

đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động kinhdoanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định.

- Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn

hạn…Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả năng thanhtoán (do tính thanh khoản của các tài sản tài chính ngắn hạn được đầu tư),mặt khác tận dụng khả năng sinh lời của các tài sản tài chính ngắn hạn nhằmnâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

- Các khoản vốn trong thanh toán: các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…

Chủ yếu trong khoản mục vốn này là các khoản phải thu của khách hàng, thểhiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bánhàng hoá, dịch vụ dưới hình thức bán trước, trả sau Khoản mục vốn này liênquan chặt chẽ đến chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, mộttrong những chiến lược quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường Ngoài ra, trong một số trường hợp mua sắm vật tư, hàng hoá doanhnghiệp còn phải ứng trước tiền cho người cung cấp từ đó hình thành khoảntạm ứng

Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường xuyên,đều đặn theo nhu cầu của khách hàng

Việc phân loại vốn lưu động theo phương pháp này giúp cho việc xem xétđánh giá tình hình phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình chuchuyển vốn lưu động Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợpnhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưuđộng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

1.1.3.3.2 Theo các hình thái biểu hiện

(1) Tiền và các tài sản tương đương tiền

Trang 11

- Vốn bằng tiền

- Các tài sản tương đương tiền: Gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Việc tách riêng khoản mục này giúp cho doanh nghiệp dễ dàng theo dõi khảnăng thanh toán nhanh của mình đồng thời có những biện pháp linh hoạt để vừađảm bảo khả năng thanh toán vừa nâng cao khả năng sinh lời của vốn lưu động

(2) Các khoản phải thu

Nghiên cứu các khoản phải thu giúp doanh nghiệp nắm bắt chặt chẽ và đưa ranhững chính sách tín dụng thương mại hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của kháchhàng, nâng cao doanh số bán cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

 Công cụ, dụng cụ trong kho

 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

 Thành phẩm tồn kho

 Hàng gửi bán

 Hàng mua đang đi trên đường

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm

an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh như dự trữ - sản

Trang 12

xuất – lưu thông khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải lúc nàocũng được diễn ra đồng bộ Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản xuất và bộphận marketing của một doanh nghiệp sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinhdoanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kế hoạch sản xuất và tiêuthụ Ngoài ra hàng tồn kho giúp cho doanh nghiệp tự bảo vệ trước những biếnđộng cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối với các sản phẩm của doanhnghiệp.

(4) Tài sản lưu động khác

 Tạm ứng

 Chi phí trả trước

 Chi phí chờ kết chuyển

 Các khoản thể chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn

1.1.3.3.3 Theo nguồn hình thành của vốn lưu động

Theo cách phân loại này, vốn lưu động được chia làm 2 loại:

(1) Nguồn vốn chủ sở hữu

Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủcác quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt Tuỳ theo loạihình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu cónội dung cụ thể riêng: Số vốn lưu động được ngân sách nhà nước cấp hoặc cónguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đối với các doanh nghiệp nhà nước); số vốn docác thành viên (đối với loại hình doanh nghiệp công ty) hoặc do chủ doanh nghiệp

tư nhân bỏ ra; số vốn lưu động tăng thêm từ lợi nhận bổ sung; số vốn góp từ liêndoanh liên kết; số vốn lưu động huy động được qua phát hành cổ phiếu

(2) Nợ phải trả

Trang 13

- Nguồn vốn đi vay: Là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay

các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn thông quaphát hành trái phiếu

- Nguồn vốn trong thanh toán: Đó là các khoản nợ khách hàng, doanh nghiệp

khác trong quá trình thanh toán

Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hình thànhnên vốn lưu động của doanh nghiệp Từ đó, doanh nghiệp có thể chủ động và đưa

ra các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng vốn lưu động hiệu quả hơn

1.1.3.4 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động

Kết cấu vốn lưu động là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu độngchiếm trong tổng số vốn lưu động tại một thời điểm nhất định

Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp ta thấy được tình hình phân bổvốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn trong các giai đoạn luân chuyển để xácđịnh trọng điểm quản lý vốn lưu động và tìm mọi biện pháp tối ưu để nâng caohiệu quả sử dụng vốn lưu đồng trong từng điều kiện cụ thể

Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giốngnhau Thông qua phân tích kết cấu vốn lưu động theo các tiêu thức phân loại khácnhau sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưuđộng mà mình đang quản lý và sử dụng Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết cấuvốn lưu động của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau có thể thấy được nhữngbiến đổi tích cực hoặc hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản lý, sử dụngvốn lưu động của từng doanh nghiệp

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu của vốn lưu động, tuy nhiên có thểchia làm 3 nhóm nhân tố chủ yếu sau đây:

Trang 14

- Các nhân tố về sản xuất: đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh

nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất;trình độ tổ chức quá trình sản xuất…

- Các nhân tố về mặt cung tiêu như: Khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi

cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối lượngvật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật

tư cung cấp…

- Các nhân tố về mặt thanh toán: Phương thức thanh toán được lựa chọn theo

các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật thanhtoán…

1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

2.1 Khái niệm

Hiệu quả là một khái niệm luôn được đề cập trong nền kinh tế thị trường: cácdoanh nghiệp luôn hướng tới hiệu quả kinh tế; chính phủ nỗ lực đạt hiệu quả kinhtế-xã hội

Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụngcác yếu tố cần thiết để tham gia vào một hoạt động nào đó với những mục đích xác

định do con người đặt ra Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn vật lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất.

Như đã trình bày ở trên, vốn lưu động của doanh nghiệp được sử dụng chocác quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông Quá trình vận động của vốn lưu độngbắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất

và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hìnhthái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm Mỗi lần vận động như vậy được gọi là

Trang 15

một vòng luân chuyển của vốn lưu động Doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng cóhiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu.

Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơntừng đồng vốn lưu động làm cho mỗi đồng vốn lưu động hàng năm có thể mua sắmnguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn.Những điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao tốc độ luânchuyển vốn lưu động (số vòng quay vốn lưu động trong một năm)

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉtiêu khác nhau nhưng tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu cơ bản và tổnghợp nhất phản ánh trình độ sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

1.2.2.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả

sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanhhay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ củadoanh nghiệp có hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ sử dụng tốt hay không,các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất – kinh doanh cao hay thấp…Thông quaphân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể giúp cho doanh nghiệpđẩy nhanh được tốc độ luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

(1) Vòng quay vốn lưu động trong kỳ (L kỳ )

Lkyø= Mkyø

VLÑBQkyø

Trong đó:

Trang 16

 Mkỳ: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ Trong năm,tổng mức luân chuyển vốn lưu động được xác định bằng doanh thuthuần của doanh nghiệp.

Ta cĩ:

Lkỳ= Doanh thu thuần Vốn lưu động bình quân trong kỳĐây là chỉ tiêu nĩi lên số lần quay (vịng quay) của vốn lưu động trong mộtthời kỳ nhất định (thường là một năm), chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng vốnlưu động trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng doanh thu thuần) và

số vốn lưu động bình quân bỏ ra trong kỳ Số vịng quay vốn lưu động trong kỳcàng cao thì càng tốt Trong đĩ:

- Vốn lưu động bình quân trong kỳ (VLĐBQkỳ) được tính như sau:

VLĐBQkỳ=VLĐđầu kỳ+ VLĐcuối kỳ

Để đơn giản trong tính tốn ta sử dụng cơng thức tính VLĐBQ gần đúng:

2

(2) Thời gian luân chuyển vốn lưu động (K)

Trang 17

Để đánh giá, so sánh giữa kỳ này với kỳ trước, trong hạch toán nội bộ củadoanh nghiệp còn sử dụng chỉ tiêu tốc độ luân chuyển của các bộ phận (dự trữ, sảnxuất và lưu thông) của vốn lưu động.

Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong dự trữ

- Vòng quay của vốn lưu động trong dự trữ

Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong sản xuất

- Vòng quay của vốn lưu động trong sản xuất

Lsx= Msx

VLÑBQsx

- Thời gian luân chuyển của vốn lưu động trong khâu sản xuất

Trang 18

Msx

Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong lưu thông

- Vòng quay của vốn lưu động trong lưu thông

 VLĐBQdt, VLĐBQsx, VLĐBQlt: Vốn lưu động bình quân ở khâu

dự trữ, sản xuất và lưu thông

 Mdt, Msx, Mlt: Mức luân chuyển vốn lưu động dùng để tính tốc độluân chuyển vốn lưu động trong khâu dự trữ, sản xuất và lưuthông

Khi tính hiệu suất luân chuyển của từng bộ phận vốn lưu động cần phải dựatheo đặc điểm luân chuyển vốn của mỗi khâu để xác định mức luân chuyển chotừng bộ phận vốn Ở khâu dự trữ sản xuất, mỗi khi nguyên, vật liệu được đưa vàosản xuất thì vốn lưu động hoàn thành giai đoạn tuần hoàn của nó Vì vậy mức luânchuyển để tính hiệu suất bộ phận vốn ở đây là tổng số phí tổn tiêu hao về nguyên,

Trang 19

vật liệu trong kỳ Tương tự như vậy, mức luân chuyển vốn lưu động dùng để tínhtốc độ luân chuyển bộ phận vốn lưu động sản xuất là tồng giá thành sản xuất sảnphẩm hoàn thành nhập kho (giá thành sản xuất sản phẩm), mức luân chuyển của bộphân vốn lưu động lưu thông là tổng giá thành tiêu thụ sản phẩm.

1.2.2.2 Mức tiết kiệm vốn do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Mức tiết kiệm vốn là chỉ tiêu phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được

do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ này so với kỳ trước Mức tiết kiệmvốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động được biểu hiện bằng 2 chỉtiêu:

(1) Mức tiết kiệm tuyệt đối

Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên doanh nghiệp có thể tiết kiệmđược một số vốn lưu động để sử dụng vào công việc khác Nói cách khác: Với mứcluân chuyển vốn không thay đổi song do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nêndoanh nghiệp cần số vốn ít hơn cũng như có thể tiết kiệm được một lượng vốn lưuđộng để có thể sử dụng vào việc khác Lượng vốn ít hơn đó chính là mức tiết kiệmtuyệt đối vốn lưu động

Mức tiết kiệm tuyệt đối vốn lưu động được tính theo công thức:

Trong đó:

 Vtktđ: Số vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối

 VLĐBQ0, VLĐBQ1: Lần lượt là vốn lưu động bình quân năm báo cáo

và năm kế hoạch

 M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động của năm kế hoạch

Ngày đăng: 04/11/2013, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w