1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) biểu tượng người mẹ qua tục thờ mẫu ở việt nam​

89 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 621,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tục thờ Mẫu là tục thờ đặc trưng của cư dân làm nông nghiệp, trồng lúa nước ở Việt Nam, trong đó hình tượng người Mẹ hiện lên với vai trò trung tâm trở thành biểu tượng văn hóa người Mẹ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Kim Oanh

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công

bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Thị Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Bộ môn Tôn giáo học đã giảng dạy, trang bị kiến thức giúp tác giả nắm vững những vấn đề

lý luận và phương pháp luận để hoàn thành tốt luận văn này Đặc biệt, tác giả

xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thị Kim Oanh - người thầy

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình làm luận văn

Con xin đê đầu đỉnh lễ và tri ân chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa lãnh đạo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã quan tâm, tạo nhiều thuận duyên cho con trong suốt quá trình học tập, bên cạnh đó nhờ sự động viên và trợ duyên quý báu của gia đình cũng như đàn na thí chủ

Kính chúc Chư Liệt vị pháp thể khinh an, đạo lộ tấn pháp, chúng sinh

dị độ, Phật đạo viên thành!

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Ngô Thị Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NỀN TẢNG TẠO DỰNG BIỂU TƯỢNG NGƯỜI MẸ TRONG TỤC THỜ MẪU Ở VIỆT NAM 13

1.1 Nền tảng đời sống xã hội trong phức hợp văn hóa Việt Nam 13

1.1.1 Nguyên lý Mẹ trong văn hóa Việt Nam 13

1.1.2 Yếu tố Nữ trong tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam 16

1.2 Nền tảng thực nghiệm trong tục thờ Mẫu ở Việt Nam 21

1.2.1 Sự tạo tác nên biểu tượng người Mẹ 21

1.2.2 Sự hoàn thiện biểu tượng người Mẹ 24

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 ĐẶC TRƯNG TIÊU BIỂU CỦA BIỂU TƯỢNG NGƯỜI MẸ QUA TỤC THỜ MẪU Ở VIỆT NAM 29

2.1 Tính thiêng trong phức hợp văn hóa của biểu tượng người Mẹ qua tục thờ Mẫu 29

2.1.1 Tính thiêng của biểu tượng người Mẹ tự nhiên qua tục thờ Mẫu 29

2.1.2 Tính thiêng của biểu tượng người Mẹ lịch sử, dân tộc qua tục thờ Mẫu 35

2.1.3 Tính thiêng của biểu tượng người Mẹ - Mẫu Nghi thiên hạ qua tục thờ Mẫu 43

2.2 Tính quyền năng trong phức hợp văn hóa của biểu tượng người Mẹ qua tục thờ Mẫu 50

2.2.1 Tính quyền năng cai quản trong phức hợp văn hóa của biểu tượng người Mẹ 50

2.2.2 Tính quyền năng sinh sôi nảy nở, tạo dựng hạnh phúc của biểu tượng người Mẹ 53

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3 BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA BIỂU TƯỢNG NGƯỜI MẸ QUA TỤC THỜ MẪU Ở VIỆT NAM 61

Trang 6

3.1 Giá trị văn hóa của biểu tượng người Mẹ qua tục thờ Mẫu ở

Việt Nam 61

3.1.1 Giá trị văn hóa thể hiện qua tính thiêng của biểu tượng người Mẹ 61

3.1.2 Giá trị văn hóa thể hiện qua tính quyền năng của biểu tượng người Mẹ 63

3.2 Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị nhằm bảo tồn giá trị văn hóa của biểu tượng người Mẹ qua tục thờ Mẫu ở Việt Nam 70

3.2.1 Một số vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn giá trị văn hóa của biểu tượng người Mẹ 70

3.2.2 Một số kiến nghị nhằm bảo tồn giá trị văn hóa của biểu tượng người Mẹ 73

Tiểu kết chương 3 76

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam, tín ngưỡng, tôn giáo có một vai trò đặc biệt quan trọng Từ ngàn xưa, ở những buổi đầu sơ khai của lịch sử, bắt nguồn từ chính thực tiễn cuộc sống của mình, người Việt

cổ đã tôn sùng các hiện tượng tượng tự nhiên và thần thánh hóa nó thành những lực lượng siêu nhiên Chính vì thế, người Việt Nam có một hệ thống tín ngưỡng dân gian đa dạng và phong phú mà nó đã góp phần không nhỏ vào việc tạo dựng bản sắc văn hóa Việt Nam

Việt Nam trong quá trình phát triển của lịch sử đã có sự giao thoa, tiếp xúc với một số nền văn hóa khác nhau tạo nên một dòng chảy văn hóa tiên tiến nhưng vẫn đậm màu sắc văn hóa dân tộc Dòng chảy văn hóa này thể hiện rõ nét trên bề mặt của các tôn giáo ngoại nhập: Phật giáo, Ấn Độ giáo, Nho Giáo, Đạo giáo, Công giáo, Hồi giáo, Tin Lành, Chính lẽ đó mà, tất cả các tôn giáo ngoại nhập khi vào Việt Nam thì đều bị “khúc xạ” bởi lăng kính văn hóa tín ngưỡng Việt Nam Vì trong đời sống văn hóa tâm linh thì tín ngưỡng bản địa hay nói rộng hơn là văn hóa dân gian Việt Nam đã trở thành chất “kháng sinh” để chống lại sự đồng hóa văn hóa tâm linh của các tôn giáo khác Kết quả là, mặc dù các tôn giáo du nhập vào Việt Nam là tôn giáo lớn,

có hệ thống kết cấu hoàn chỉnh (Ý thức tôn giáo; Sự thờ cúng tôn giáo; Tổ chức tôn giáo) nhưng vẫn bị tín ngưỡng bản địa “bẻ gãy” làm khúc xạ để trở thành tôn giáo Việt Nam Vậy điều gì làm nên sức sống mãnh liệt của tín ngưỡng bản địa Việt Nam? Có thể đã có nhiều cách lý giải khác nhau, nhưng

có lẽ cách tiếp cận để trả lời mang tính thuyết phục hơn cả - đó là góc nhìn từ đời sống hiện thực đã tạo nên một nền văn hóa tín ngưỡng có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tâm linh người Việt từ ngàn đời nay như mạch nước ngầm chạm vào mọi ngõ ngách tinh thần Việt Nam, trở thành điểm tựa

Trang 8

tâm linh không gì có thể thay thế được và là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nền văn hóa dân tộc sau này, khi tiếp xúc và giao lưu với các nền văn hóa ngoại lai nói chung với mọi tôn giáo ngoại nhập nói riêng

Trong hệ thống tín ngưỡng bản địa Việt Nam thì nổi bật là các tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp (bởi văn hóa Việt Nam đặc trưng

là văn hóa nông nghiệp lúa nước) đó là: tín ngưỡng thờ Nữ thần, tín ngưỡng thờ Mẹ hay còn gọi là tục thờ Mẹ, tục thờ Bà; Trong đó có thờ: Mẹ Trời, Mẹ Đất, Mẹ Lúa, Mẹ Nước, Mẹ Trăng Bà Mây, Bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp, Tựu chung sau này đã thành tín ngưỡng thờ Mẫu hay còn gọi là tục thờ Mẫu

Do vậy mà, trong dân gian, tục thờ Mẫu có nguồn gốc từ thời tiền sử, khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên (như trên đã nói) các thần linh này kết hợp trong khái niệm Thánh Mẫu hay còn gọi là nữ thần Mẹ Trải qua lịch sử, tục thờ Mẫu đã phát triển1

hình thành nên tín ngưỡng thờ Tam phủ,

Tứ phủ Đến thế kỷ XVI, trên cơ sở tín ngưỡng thờ Tam phủ, Tứ phủ và sự ra đời của Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì tín ngưỡng thờ Mẫu đã được hoàn thiện như hiện nay2

Tục thờ Mẫu nói chung, tín ngưỡng thờ Tam Phủ, Tứ Phủ nói riêng chứa đựng nhiều giá trị văn hóa lớn, thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau

Tục thờ Mẫu là tục thờ đặc trưng của cư dân làm nông nghiệp, trồng lúa nước ở Việt Nam, trong đó hình tượng người Mẹ hiện lên với vai trò trung tâm trở thành biểu tượng văn hóa người Mẹ Việt Nam: Công - Dung - Ngôn - Hạnh Do vậy, khi nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Tam Phủ, Tứ Phủ thì không thể không nhắc đến biểu tượng người Mẹ, bởi tất cả những đặc trưng tiêu biểu của người Mẹ Việt Nam đã được tích hợp, hội tụ trong đó Do vậy, chúng tôi

Trang 9

đã chọn đề tài: “Biểu tượng người Mẹ qua tục thờ Mẫu ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Luận văn

2 Tình hình nghiên cứu

Về lịch sử nghiên cứu liên quan đến chủ đề biểu tượng người Mẹ qua tục thờ Mẫu ở Việt Nam, chúng tôi tìm hiểu các tác phẩm được phân loại xoay quanh hai chủ đề chính: các tác phẩm viết về biểu tượng nói chung và biểu tượng người Mẹ nói riêng; hai là các tác phẩm viết về tục thờ Mẫu ở Việt Nam

Chủ đề thứ nhất: Các tác phẩm viết về biểu tượng và biểu tượng người

Mẹ thì có một số tác phẩm của tác giả tiêu biểu sau:

Tác giả Đinh Hồng Hải có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến

vấn đề biểu tượng: Đinh Hồng Hải (2014), Nghiên cứu biểu tượng một số

hướng tiếp cận lý thuyết, Nxb Thế giới, cuốn sách đã khái quát được lịch sử

và thực tế của vấn đề nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam, cuốn sách cũng đã giới thiệu được nhiều quan điểm, góc tiếp cận khác nhau của các nhà khoa học về lý thuyết nghiên cứu biểu tượng Cuốn sách cũng khẳng định: biểu tượng có khả năng kết nối con người ở nhiều không gian, thời gian khác nhau: con người ở các nền văn minh khác nhau, con người ở các vùng văn hóa khác nhau,… là một kênh chuyển tải, kết nối văn hóa xuyên thời gian, không gian Tác giả Đình Hồng Hải còn xuất bản bộ sách Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam gồm 4 tập, trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm đến tập 2 và tập 4 Năm 2015, tác giả Đinh Hồng Hải xuất bản cuốn

sách: Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam, tập

2, Các vị thần, Nxb Thế giới cuốn sách là những nghiên cứu chuyên sâu của

tác giả về vai trò của những biểu tượng tồn tại trong đời sống văn hóa, được biểu hiện thông qua các hành vi tín ngưỡng, tôn giáo Tác giả cũng đi đến những khẳng định: tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những nhu cầu thiết yếu đối với đời sống tinh thần của con người, vì vậy nó sẽ còn tồn tại và là

Trang 10

một phần quan trọng của văn hóa nhân loại Năm 2018, tập 4, Các Vị Tổ ra

mắt bạn đọc (Nxb Thế giới), cuốn sách viết về biểu tượng của người Việt thông qua các vị được coi là “tổ tiên” của người Việt trong đó có biểu tượng Mẫu

Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh (2017), Thế giới biểu tượng trong di sản

văn hóa, Nxb Hồng Đức, cuốn sách là công trình nghiên cứu tìm tòi về biểu

tượng văn hóa của người Việt cổ nói chung, người Hà Nội cổ nói riêng qua các lát cắt lịch sử, thông qua các di sản khảo cổ học khai quật được

Viết về biểu tượng văn hóa Việt Nam ở một khía cạnh cụ thể, tập thể tác giả Phạm Đức Dương, Phạm Thanh Tịnh, Trịnh Thị Ngân (biên soạn)

(2014), Biểu tượng văn hóa ở làng quê Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin,

lật giở từng trang sách người đọc sẽ bắt gặp những hình ảnh thân thương của một làng quê truyền thống như: cây đa, giếng nước, sân đình, cổng chùa,…

Chủ đề thứ hai, Tín ngưỡng thờ Mẫu là một “đặc sản” của văn hóa Việt Nam, chính vì vậy, có không ít các tác phẩm đề cập đến các vấn đề khác nhau của tín ngưỡng thờ Mẫu

Nghiên cứu về văn hóa Việt nam không thể không quan tâm đến các cuốn sách của những nhà nghiên cứu lớn về văn hóa Việt Nam để thấy rõ được nữ tính, mẫu tính trong văn hóa Việt Nam Về vấn đề này, chúng tôi

tham khảo một số cuốn như: Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam tìm

tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa Dân tộc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Trong

cuốn sách, tác giả bàn về những vấn đề chung của văn hóa Việt Nam như: truyền thống văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á và Đông Á, vấn

đề nhìn nhận bản sắc của văn hóa Việt Nam, và đi vào một vài nét bản sắc văn hóa Việt Nam: khả năng ứng biến, cái chung và cái riêng trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam Từ những lý luận chung, tác giả đi vào phân tích những vấn đề rất cụ thể của văn hóa Việt Nam như văn hóa dân gian, nghệ thuật ứng xử,

Trang 11

Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh, trong công trình này, tác giả đã viết rất hay về cái nguồn gốc của thái độ “trọng nữ” của văn hóa Việt Nam: “Về nguyên tắc tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức theo nguyên tắc trọng tình Hàng xóm sống cố định, lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên

cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình Lối sống trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ.” [71, tr 47]

Dưới góc nhìn của một nhà nho, sự uyên bác của một người làm khoa

học, nhà nghiên cứu Phan Ngọc có tác phẩm: Bản sắc văn hóa Việt Nam

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã khẳng định “Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến cái phần ổn định trong văn hóa Nhưng cái phần ổn định này, không phải là một vật, mà là một quan hệ, cho nên không thể nào nhìn thấy

nó bằng mắt được” [53, tr.136] Cũng trong tác phẩm nghiên cứu này, khi viết

về tín ngưỡng Việt Nam qua tiếp xúc với Đạo giáo Trung Hoa, tác giả đã chỉ

ra một đặc điểm khác biệt của văn hóa Việt Nam là “ưu thế của phụ nữ so với nam giới”, thể hiện: “thiên đình Đạo giáo Trung Hoa hầu như chỉ có đàn ông; trái lại thiên đình Đạo giáo Việt Nam lại do nữ giới làm chủ” [53, tr.323]

Liên quan trực tiếp đến tục thờ Mẫu có các tác phẩm:

Tác giả Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc (1984), có cuốn sách Các

nữ thần ở Việt Nam, Nxb Phụ nữ, cuốn sách đã giới thiệu đến người đọc

huyền thoại và thần tích của 75 vị nữ thần tiêu biểu của Việt Nam

Trần Quang Dũng (chủ biên) (2017), Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ chốn

thiêng nơi cõi thực, Nxb Thế giới Cuốn sách đề cập đến các vấn đề: Thần

Điện của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ, các lớp tín ngưỡng có quan hệ mật thiết với tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, tính thiêng nơi cõi thực thể hiện qua một số nghi lễ, nghi lễ tôn nhang bản mệnh, nghi lễ Tứ phủ trình đồng, khăn

áo trong nghi lễ hầu đồng,

Trang 12

Nữ Thần và Thánh Mẫu Việt Nam do Vũ Ngọc Khánh chủ biên (2002),

Nxb Thanh niên, Hà Nội, cuốn sách đã cung cấp một cái nhìn hệ thống, khái quát về nguồn gốc, sự tích của phần lớn các vị nữ thần và thánh Mẫu đã và đang được thờ phụng ở Việt Nam Hầu hết, các vị đều là những con người

có thật, những vị nữ anh hùng có công giết giặc ngoại xâm hoặc các bà chúa của các làng nghề truyền thống Cho nên việc thờ phụng những con người đó thực chất nhằm tôn vinh những người đã làm rạng rỡ một vùng quê, góp phần làm giàu thêm truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc Việt Nam

Nghiên cứu chuyên sâu về đạo Mẫu, tác giả Ngô Đức Thịnh có rất

nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này: Cuốn Đạo Mẫu ở Việt Nam (2

tập) do Ngô Đức Thịnh chủ biên, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2009; Ngô

Đức Thịnh (chủ biên) (1996), Đạo Mẫu ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin,

Hà Nội

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền trung Việt Nam do Nguyễn Hữu Thông

(Chủ biên (Nxb Thuận Hóa, Huế 2010) Trong công trình này, các tác giả tiếp tục khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng bản địa của người Việt với sự phát triển từ việc thờ Mẹ đến hệ thống thần linh trong

Tứ phủ

Tục thờ đức thánh Mẫu và đức thánh Trần của Vũ Ngọc Khánh (Nxb

Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 2005) đã trình bày về sự phát triển từ nguyên lý

Mẹ của văn hóa Việt Nam phát triển đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ; Văn

hóa Thánh Mẫu, của Đặng Văn Lung, Nxb Văn hóa -Thông tin, Hà Nội, 2004

cũng đã đưa ra một “Văn hóa Thánh Mẫu” của người Việt trên cơ sở phân tích sự hình thành và phát triển của các biểu tượng Thánh Mẫu

Còn có thể kể đến các cuốn sách khác như: Phạm Trưởng Khang

(2012), Kể chuyện Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Nxb Hồng Đức

Trang 13

Và còn rất nhiều các bải nghiên cứu được đăng trên báo, tạp chí về vấn

đề này Có thể kể đến một vài ví dụ như: Bài viết “Giải mã cội nguồn bản sắc văn hóa Việt qua tín ngưỡng thờ Mẫu trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn

của Nguyễn Xuân Khánh” của tác giả Nguyễn Văn Hùng đăng trên tạp chí

Khoa học Xã hội Việt Nam, số 12/2012 từ trang 62 đến trang 69 Bùi Quang

Thanh (2017), “Sự hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam/ Tứ phủ và nghi lễ

hầu đồng”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, số 22, tháng 12, tr.5- 10…

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác đều xoay quanh chủ

đề về tín ngưỡng thờ Mẫu: nguồn gốc, lễ nghi, nghi lễ hầu đồng, giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu,… đã được công bố Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đi sâu vào hình tượng người Mẹ trong tín ngưỡng thờ Mẫu hay sâu sa hơn là trong tục thờ Mẫu ở Việt Nam thì còn ít được đề cập, hoặc

đề cập thì rất tản mạn Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này

bổ sung thêm sự nghiên cứu trong lĩnh vực này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được mục đích, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Phân tích nền tảng tạo dựng biểu tượng người Mẹ trong tục thờ Mẫu ở Việt Nam trên các phương diện: nền tảng đời sống xã hội trong phức hợp văn hóa Việt Nam và nền tảng thực nghiệm trong tục thờ Mẫu ở Việt Nam

Trang 14

- Làm rõ và phân tích những đặc trưng tiêu biểu của biểu tượng người

Mẹ qua tục thờ Mẫu ở Việt Nam thể hiện trên hai phương diện: tính thiêng và tính quyền năng

- Chỉ ra những giá trị văn hóa và đưa ra khuyến nghị nhằm gìn giữ những giá trị của biểu tượng Mẹ qua tục thờ Mẫu ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Biểu tượng người Mẹ thể hiện trong tục thờ Mẫu ở Việt Nam

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Khảo cứu một số đền, phủ thờ Mẫu tiêu biểu ở Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành của tôn giáo học và phương pháp của triết học như: thống nhất logic - lịch sử, so sánh, phân tích - tổng hợp, khái quát hóa,…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần vào công tác nghiên cứu tôn giáo nói chung, vấn đề văn hóa tôn giáo và tín ngưỡng nói riêng

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu về tôn giáo, đặc biệt là về văn hóa tín ngưỡng Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài

liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 15

8 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

+ Biểu tƣợng: Biểu tượng là khái niệm đang được đẩy mạnh nghiên

cứu trên thế giới bởi đến nay để hiểu được một cách rạch ròi về khái niệm này thì vẫn còn có nhiều tranh luận Ở Việt Nam chưa có sự thống nhất,việc nghiên cứu về biểu tượng vẫn còn hạn chế cả về mặt lý luận và thực tiễn

Khái niệm biểu tượng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học

Trong triết học và tâm lý học, biểu tượng là khái niệm chỉ một giai

đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác dộng của sự vật vào giác quan ta đã

chấm dứt

Trong lĩnh vực văn hóa học: " Các tác giả định nghĩa về văn hoá đã đồng ý với nhau, rằng văn hoá di truyền không theo con đường sinh học mà bằng con đường học tập Tiếp đó, họ thừa nhận văn hoá trực tiếp gắn liền với các ý tưởng, chúng tồn tại và được truyền đạt dưới hình thức biểu tượng (Symbol)"

Ngày nay, vai trò to lớn của biểu tượng trong hoạt động của đời sống con người đã được quan tâm và nghiên cứu một cách sâu sắc với tinh thần khoa học, vai trò của trí tưởng tượng không còn bị xem nhẹ, thậm chí không còn bị đánh giá thấp như trước đây Nó đã được xác định lại vị trí và được xem là mặt thứ hai của lý trí, chính nó là nhân tố cốt lõi giúp cho con người

có những phát hiện tìm ra cái mới Biểu tượng luôn ở vị trí trung tâm và được coi như "tế bào" của đời sống văn hoá

Trong đời sống xã hội, dù biết hay chưa biết, chúng ta đều nhận thức và hành động theo biểu tượng Nó có tầm ảnh hưởng rộng khắp trong mọi mặt của đời sống con người Từ lĩnh vực khoa học cho đến lĩnh vực nghệ thuật, từ đời sống tâm linh cho đến quan hệ ứng xử và giao tiếp Người ta ngày càng tìm cách "giải mã" ngôn ngữ biểu tượng, vừa để mở rộng trường nhận thức,

Trang 16

khám phá ra những giá trị văn hoá truyền thống còn chìm khuất trong lòng đời sống cộng đồng - xã hội, vừa nhằm làm chủ một "năng lượng tinh thần" của một loại hình ngôn ngữ đặc biệt mà ta vừa mới bắt đầu khẳng định

về sức mạnh của nó

Khởi nguyên, biểu tượng bắt nguồn từ một tập quán Hy Lạp cổ đại, nói

về một phiến đá bị đập vỡ ra thành nhiều mảnh và chia đều cho mỗi thành viên trong một bộ tộc nào đó, trước sự phân tán của họ, sau này khi được triệu tập trở lại thì những mảnh đá vỡ đó được ghép lại (Sumballein) nhằm xác nhận sự hiện diện trở lại của toàn nhóm

Viết về biểu tượng văn hóa Việt Nam, trong bài “Đi tìm bản sắc văn

hóa dân tộc qua thế giới biểu tượng”, tác giả Nguyễn Văn Hậu (2012) viết:

“Có thể nói bản sắc văn hóa dân tộc chính là sự thể hiện của tâm lý dân tộc, được biểu hiện ra ở lối sống, nếp sống, ở phong tục và tập quán, ở sự ưa thích, cách suy nghĩ và ở cả thang bảng giá trị xã hội, bao gồm cả sở trường và sở đoản Tất cả cùng hiện ra những nét độc đáo, đặc sắc nhằm phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác Bản sắc văn hóa dân tộc là sự biểu hiện về bản lĩnh sáng tạo của mỗi dân tộc Nó được kết tinh thành những biểu tượng văn hóa

và thông qua các hệ thống biểu tượng, ta có thể hiểu được tính cách của dân tộc đó” [Xem 24]

Như vậy, khái niệm “biểu tượng người Mẹ” trong nghiên cứu này có thể được hiểu là một hình ảnh mang tính chất tượng trưng tiêu biểu về người

Mẹ trong văn hóa Việt Nam Hình ảnh đó là tập hợp của những đặc điểm tiêu biểu nhất, đẹp đẽ nhất, mang tính đại diện cao nhất, và mang tính “khuôn mẫu” văn hóa

Và có thể khẳng định biểu tượng người Mẹ Việt Nam là một phần của bản sắc văn hóa Việt Nam, góp phần khẳng định và phân biệt văn hóa Việt Nam với văn hóa khác

+ Tục thờ Mẫu:

Trang 17

Theo nghĩa Hán – Việt: “tục” là thói quen lâu đời, nó hay đi cùng với

“phong”: nề nếp đã lan truyền rộng rãi Phong tục có nghĩa là “toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác” [Xem 63] Như vậy Tục thờ Mẫu có thể hiểu là thói quen thờ Mẫu

đã được hình thành từ lâu đời và còn tồn tại đến ngày nay

Để tìm hiểu rõ hơn về khái niệm tục thờ Mẫu, thì cần phải tìm hiểu trong mối tương quan với khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu và đạo Mẫu, đạo thờ Mẫu

Trong Bản sắc văn hóa Việt Nam, Phan Ngọc tác giả viết: “Tôi thấy người Việt Nam dùng danh từ thờ Mẫu là cực hay, họ đã khái niệm hóa thành công một tín ngưỡng hết sức đa dạng, đồng thời lại tích hợp được nhiều tín ngưỡng khác theo bốn yêu cầu của tâm thức dân tộc trong tình thương của người mẹ Nó là sự Trung Hoa hóa về hình thức việc thờ nữ thần, là sự nhân cách hóa bốn lực lượng tự nhiên quyết định đời sống của một cư dân nông nghiệp: trời, nước, cây, đất Người ta gọi là thờ “Tứ Phủ”, tức “bốn cung” lúc đầu chỉ có “Tam Phủ”” [53, tr.350]

Tục thờ Mẫu là khái niệm dùng để chỉ cả quá trình xuất hiện, phát triển, hoàn thiện trở thành tín ngưỡng thờ Mẫu như hiện nay Nên có thể khẳng định: tín ngưỡng thờ mẫu xuất phát, phát triển từ tục thờ Mẫu, như vậy tục thờ Mẫu bao hàm cả tín ngưỡng thờ Mẫu Cùng với tục thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Mẫu còn có tên gọi đạo Mẫu hay đạo thờ Mẫu thì về bản chất vẫn

là tín ngưỡng thờ Mẫu chứ không phải là một tôn giáo thờ Mẫu vì chữ “đạo”

ở đây được hiểu theo nghĩa đạo lý, đạo nghĩa, tỏ lòng biết ơn giống như chữ

“đạo” trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên “đạo thờ Ông bà” Do vậy, Nguyễn Đăng Duy có viết; “Mẫu gọi theo tiếng Hán, tiếng Việt Nam gọi là Mạ, Mệ,

Mẹ, tại sao lại có tín ngưỡng thờ Mẹ? Đó là từ thời nguyên thủy con người bắt đầu có ý thức sâu sắc về sự sinh sản, sự sinh sôi nảy nở, ý thức ấy thường

Trang 18

biện lý từ cái cụ thể Mà cái cụ thể về giá trị sinh sôi nảy nở, không gì khác ngoài người Mẹ mang nặng đẻ đau, sinh ra nuôi dưỡng che chở cho những đứa con, và những cái gì sinh sôi, nuôi sống che cở bảo vệ cho con người, chiến thắng thiên tai và thú giữ ấy đều được coi là Mẹ” [18, tr 354, 355] Học giả, Ngô Đức Thịnh cho ý kiến về đạo Mẫu như sau: “Từ đạo Mẫu, ngoài những nghi lễ thờ cúng, nó còn sản sinh và tích hợp nhiều giá trị văn hóa - nghệ thuật, tạo nên một thứ “văn hóa đạo Mẫu”, chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa độc đáo của dân tộc” [65, tr 127] Do vậy, nếu xét về nội hàm thì thuật ngữ tín ngưỡng Mẫu và thuật ngữ đạo Mẫu là tương đương nhau, còn Tục thờ Mẫu; Tín ngưỡng thờ Mẫu; Đạo thờ Mẫu là gần nhau Nhưng nếu hiểu về bản chất tín ngưỡng thì giống nhau

Trang 19

Chương 1

NỀN TẢNG TẠO DỰNG BIỂU TƯỢNG NGƯỜI MẸ

TRONG TỤC THỜ MẪU Ở VIỆT NAM

1.1 Nền tảng đời sống xã hội trong phức hợp văn hóa Việt Nam

1.1.1 Nguyên lý Mẹ trong văn hóa Việt Nam

Khi nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, các tác giả lớn như Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm hay Phan Ngọc đều giống nhau ở điểm cho rằng văn hóa Việt Nam “âm tính” giữ vai trò quan trọng chủ đạo, Trần Ngọc Thêm thì dùng từ tính cách văn hóa Việt Nam luôn hướng đến “sự hài hòa thiên về

âm tính”, khái quát ở mức độ cao hơn, đẩy “tính cách” ấy lên thành “nguyên lý”, tác giả Trần Quốc Vượng cho rằng: “Tư chất, tính cách và tâm lý Việt Nam thể hiện rõ ràng trong nguyên lý Mẹ” Nguyên lý Mẹ ăn sâu trong tâm trí và biểu hiện thành các chuẩn mực ứng xử” [72, tr 108,109]

Nguồn gốc của nguyên lý Mẹ xuất phát từ một nền văn hóa nông nghiệp lâu đời Nền văn hóa ấy sùng bái sự sinh sôi nẩy nở của tự nhiên và con người, bởi duy trì và phát triển là một nhu cầu thiết yếu của văn hóa nông nghiệp, đặc biệt là văn hóa lúa nước Mà đối với người Việt, người Mẹ là hình ảnh phù hợp nhất để đại diện cho sự sùng bái ấy, bởi người phụ nữ có thiên chức đặc biệt là “sinh sản”, khi thực hiện quá trình đó xong thì được gọi là

“Mẹ” – đánh dấu sự chuyển đổi rõ nét về chức năng Đối với con người sự giao phối hài hòa Âm – Dương, nam – nữ thì sinh ra con người nhưng người phụ nữ là người trực tiếp thực hiện chức năng đó với việc trải qua biết bao nhọc nhằn từ khi thai nghén đến khi sinh nở, nuôi dưỡng con cái, vì thế cái

mà dễ nhìn thấy nhất chính là người phụ nữ - người có khả năng sinh sản Đối với tự nhiên, có thể lý giải bằng nhiều cách khoa học về quá trình sinh sản của giới tự nhiên nhưng với người xưa cái họ dễ nhìn nhận thấy nhất là những cây cái là những cây có khả năng đâm hoa, kết trái chứ không phải là cây đực,…

Trang 20

Nhìn chung, nguyên lý mẹ thể hiện trong văn hóa Việt Nam rất đa dạng, phong phú:

Về ngôn ngữ, trong tiếng Việt, giới tính nam – nữ hay mở rộng ra với

cả giới tự nhiên là cái – đực Trong đó từ “cái” còn được sử dụng với vai trò

là mạo từ quan trọng, phổ biến, hầu hết mạo từ “cái” đều có mặt trước các

danh từ để chỉ các sự vật, chứ không đơn thuần chỉ là để phân biệt giới tính

cái – đực: cái bàn, cái ghế, cái nhà, cái cửa… Từ “cái” còn được dùng như

một tính từ để chỉ những gì mang tính lớn lao, quan trọng, chính, trung tâm, như con sông lớn gọi là sông cái, đường lớn gọi là đường cái, cửa lớn gọi là cửa cái,… Trong một trò chơi, người làm chủ gọi là người cầm cái,…

Nguyên lý mẹ là một nguyên lý xuyên suốt trong lịch sử văn hóa Việt Nam và nó không ngừng được bồi đắp và chứng minh tính hợp lý của nó Chính vì thế, tìm hiểu nguồn gốc của vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu về các nguồn gốc sâu xa trong kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa của người Việt Tuy nhiên cần lưu ý rằng, chính các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa đó một mặt là nguồn gốc, là yếu tố bồi đắp, củng cố thêm cho nguyên lý đó, mặt khác chính nó cũng là những biểu hiện sinh động, đa dạng, phong phú của nguyên lý Mẹ

Như chúng ta đã biết, người Việt từ ngàn đời xưa sống chủ yếu bằng nghề nông, văn hóa Việt Nam vẫn điển hình, đặc trưng là văn hóa lúa nước

Mà văn hóa nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt, chăn nuôi thì vai trò người phụ nữ lại rất quan trọng, thể hiện rõ nét dưới hình thái thị tộc Mẫu hệ

Trong cấu trúc xã hội người Việt, gia đình là thiết chế cơ bản và đặc biệt quan trọng Lịch sử ngàn đời của Việt Nam đã chứng minh, cư dân nông nghiệp Việt Nam từ khi còn sinh sống từ vùng cao đến khi chuyển xuống đồng bằng thì cấu trúc thiết chế gia đình vẫn là hình thức tồn tại lâu và bền vững nhất, đến ngày nay, trong xã hội Việt Nam, gia đình vẫn được coi là “tế bào của xã hội” Trong gia đình, người phụ nữ đặc biệt giữ vai trò quan trọng:

Trang 21

người phụ nữ là người vun vén, tay hòm chìa khóa, nắm giữ kinh tế gia đình Viết về điều này, tác giả Phan Ngọc đã có lý khi đưa ra luận điểm: “Trong xã hội Việt Nam, đàn bà quản lý kinh tế Đàn bà đi chợ mua bán, đàn ông đi mua bán là bất đắc dĩ, còn ở Trung Quốc đàn ông đi chợ” [53, tr.241] Không những vậy, người mẹ, người vợ còn có vai trò đặc biệt trong giáo dục Vì điều kiện người đàn ông thường không thường xuyên ở nhà, nên người Mẹ giữ vai trò cực kỳ quan trọng Dân gian Việt Nam có nhiều câu thành ngữ thể hiện điều này, như “Lệnh ông không bằng cồng bà”, Là người giữ lửa trong gia đình, người phụ nữ có vai trò ảnh hưởng quyết định đến nhân cách con trẻ, chẳng vậy mà người Việt Nam có câu: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”,

Trong cuốn Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm viết: “Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần của người nông nghiệp định cư coi trọng ngôi nhà  coi trọng cái bếp  coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và rõ nét” [71, tr.48]

Văn hóa Việt Nam trong các thời kỳ suốt chiều dài lịch sử, dù thể chế chính trị có khác nhau, điều kiện kinh tế có khác nhau thì vai trò người phụ nữ vẫn luôn được khẳng định Khi Nho giáo trở thành bệ đỡ tư tưởng, từ thời Nhà Lê trở về sau, vai trò người đàn ông được tuyệt đối hóa theo tư tưởng Nho giáo, đề cao trật tự vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, thì trong dân gian Việt Nam vẫn thông hành tư tưởng:

“Ba đồng một mớ đàn ông Mua về bỏ lồng cho kiến nó tha

Ba trăm một mụ đàn bà Mua về mà trải chiếu hoa cho ngồi”

Trang 22

nặng lên quan niệm của giai cấp phong kiến, các nhà Nho và thể hiện qua luật pháp Tuy nhiên trong làng xã người nông dân vẫn sống theo các thói quen cổ

truyền, kiểu “phép vua thua lệ làng” Truyền thống mẫu hệ, mẫu quyền vẫn chi

phối nhiều quan hệ trong gia đình Người vợ, người phụ nữ vẫn giữ vai trò hàng

đầu trong tổ chức và quản lý gia đình, nhất là về phương diện kinh tế Họ là “nội

tướng”, là “tay hòm chìa khóa”, đàn ông lo việc lớn, phụ nữ lo quản lý, chi tiêu,

kiểu “đàn ông tậu nhà, đàn bà bán lợn” [67, tr.28] Vì thế nên: “Không phải

ngẫu nhiên mà vùng nông nghiệp tiêu biểu – khu vực Đông Nam Á – này được nhiều học giả phương Tây gọi là “xứ sở Mẫu hệ”” [71, tr 48 – 49]

Không chỉ trong phạm trù gia đình, người phụ nữ Việt Nam nói chung, người mẹ Việt Nam nói riêng còn có vai trò quan trọng trong xã hội Phụ nữ vốn được coi là phái yếu nhưng phụ nữ Việt Nam lại có thể làm được những điều mà nhiều khi đàn ông không chưa thể làm tốt hơn: Bà Trưng, Bà Triệu đã từng là những nữ tướng oai phong, lẫm liệt một thời; Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, cũng từng là biểu tượng của tài năng, trí tuệ;

Ở góc độ lịch sử tộc người, người Việt lý giải nguồn gốc của mình thể hiện trong những câu truyện huyền thoại, trong đó có huyền sử “Hồng Bàng Thị” [chép trong Lĩnh Nam Chích Quái] Mẹ Âu Cơ là người mẹ tiên, có “dung mạo đẹp lạ lùng” đẻ ra bọc trứng, nở ra trăm con, người nào cũng “trí dũng song toàn”, là biểu tượng của Bách Việt, “Âu Cơ cùng với năm mươi người con trai ở tại Phong Châu, tự suy tôn người hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, quốc Hiệu là Văn Lang” [Xem 55]

1.1.2 Yếu tố Nữ trong tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam

Xuất phát từ nền tảng đời sống xã hội, xét trong lĩnh vực đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam, tính Nữ thể hiện vượt trội Điều đó thể hiện rõ nét

Trang 23

Về mặt tâm linh, trong quan niệm của người Việt cổ về vũ trụ, âm – dương, trời – đất, thì họ quan niệm rằng: Trời là Cha, là dương, ứng với người đàn ông, đấng hóa sinh tạo nên mọi sự xoay vần của vũ trụ, tạo nên sự chuyển động của không gian và thời gian Còn Đất – Mẹ, là âm, ứng với người đàn bà luôn thu nhận mọi nguồn sinh lực từ vũ trụ để sản sinh ra vạn vật, muôn loài Vì thế, người Mẹ luôn được coi là nguồn gốc của sự sống, sản sinh ra tất cả, đặc biệt người Việt cổ coi trọng mẹ Đất Người Mẹ đã được đẩy cao lên thành hình tượng Người Mẹ của quê hương, đất nước, như mẹ Âu Cơ Đây chính là cơ sở hình thành nên hệ thống tín ngưỡng dân gian bản địa, làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nền văn hóa dân tộc sau này, khi tiếp xúc với các nền văn hóa khác

Trong các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng đầu tiên của lịch sử người Việt Nam nói riêng là sự tôn sùng các hiện tượng tự nhiên đầy sức mạnh huyền bí như: mặt trời, mặt trăng, mây, mưa, sấm chớp, đất, nước nói chung là những hiện tượng có vai trò lớn đối với đời sống sản xuất nông nghiệp của con người,

Và người Việt Nam với tư duy nông nghiệp đề cao vai trò tính âm, tính nữ, vai trò người mẹ với mong muốn cầu mong sự sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu, mong ước được chở che, bao bọc nên đã gán tính nữ cho các hiện tượng đó và cao cả hơn nữa là gọi các hiện tượng tự nhiên đó là Mẹ, là Bà: Mẹ Trời, Mẹ Trăng, Mẹ Lúa, Mẹ Nước, Mẹ Lúa, Bà Mây, Bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp, Và

“Ở đây rõ ràng là người xưa đã khoác cho tự nhiên, vũ trụ thuộc tính nữ, mang tính sản sinh, tồn trữ và che chở Suy cho cùng, việc tôn thờ nữ thần chẳng qua chỉ là cách nhân thần hóa và tôn sùng lực lượng tự nhiên mà thôi” [67, tr.26]

Hình tượng người Mẹ cũng được đẩy lên cao trở thành người Mẹ biểu tượng của quê hương, đất nước “Còn khi cần tìm kiếm biểu tượng cho đất nước, quê hương, xứ sở thì dân gian cũng viện đến các Bà Mẹ, các Nữ thần: Pô Inư Nưgar – Bà mẹ Xứ sở Chăm, Nữ thần Đất, Mụ Giạ, vị nữ thần có sức mạnh chạy thi để vạch định biên giới cho quốc gia Việt – Lào Sinh thành ra dân tộc Việt

Trang 24

Nam có Mẹ Âu Cơ, Bố Lạc Long, đẻ một trăm trứng sinh thành trăm người con

Tổ tiên các dân tộc Thái, Khơ Mú cũng là do Bà Mẹ sinh ra quả bầu trong đó chứa tổ tiên của các dân tộc Bà Mẹ thủy tổ của người Tày là Mẹ Hoa (Mẹ Booc), là chủ cây hoa có quả vàng, quả bạc, ban phát cho ai quả vàng thì sinh con trai, quả bạc thì sinh con gái Còn với người Dao, nhiều dân tộc ở Tây Nguyên thì thủy tổ của họ là con cháu sinh ra từ người phụ nữ và con chó thần

Các Bà Mẹ cũng là các vị thần sáng tạo ra văn hóa và các giá trị văn hóa,

là tổ sư của nhiều ngành nghề truyền thống: Mẹ Lúa, Mẹ Mía, Mẹ Lứa Mẹ Âu

Cơ là tổ sư nghề nông tang; các Nữ thần là tổ sư các nghề dệt, chăn tằm, trồng bông, làm muối, nghề mộc, làm bánh, làm các món ăn, các nghề ca công” [67, tr.26]

Trong bài viết “Tín ngưỡng thờ nữ thần trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam” tác giả Đỗ Lan Hiền đã phân tích điểm đặc biệt trong lĩnh vực tâm linh của người Việt: “tồn tại một điều khác lạ, nếu như ở lĩnh vực thế tục, yếu tố nữ có phần bị “xem nhẹ” thì trong lĩnh vực tâm linh của người Việt, yếu

tố nữ lại có phần “nổi trội” và hình thành một hệ thống tín ngưỡng thờ Nữ thần, với điển hình được ghi nhận là tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ” [74, tr.134]

Hệ thống Nữ thần trong tín ngưỡng Việt Nam đến nay chưa có số lượng thống kê chính xác là bao nhiêu, vẫn chủ yếu dựa vào các tài liệu nghiên cứu sẵn

có như cuốn Hội chân biên (in năm 1847 đời Thiệu Trị), cuốn Các nữ thần Việt

Nam hay cuốn Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam,… dựa vào các tài liệu này đều

có thể khẳng định một điều: hệ thống nữ thần chiếm một phần không nhỏ trong

hệ thống các vị thần được tôn thờ ở Việt Nam Trên thực tế dọc suốt chiều dài đất nước Việt Nam, từ Bắc chí Nam, đi đến địa phương nào cũng có thể tìm thấy một đền thờ Bà hoặc Cô Tiêu biểu như hệ thống thờ Tứ Pháp ở miền Bắc thờ

Bà Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện; Cửu Thiên Huyền Nữ, đến Bà Chúa Liễu Hạnh, Diêu Trì Thánh Mẫu, Bà Chúa Ba, Bà Dâu, Bà Đậu, Bà

Trang 25

Tướng, Bà Dàn, Bà Đá, Bà Đanh Đi dọc vào Nam, ở Nha Trang người ta thờ Bà Thiên Yana, ở Sài Gòn người ta thờ Ngũ hành Nương Nương, rồi Bà Đen ở Tây Ninh, Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc…

Nguyên lý mẹ, tính nữ trong văn hóa Việt Nam nói chung, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng đã trở thành tính trội, hằng số bất biến để là điểm tựa, mẫu số chung, sức sống trường tồn cho văn hóa Việt Nam trong những cuộc giao lưu, tiếp biến văn hóa trong lịch sử, khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc

Tính nữ của văn hóa Việt Nam trong lĩnh vực tâm linh trội đến mức có thể

“khúc xạ”, “bẻ cong” các hiện tượng, sự vật khi va chạm, giao lưu, tiếp biến, làm thay đổi đối phương Điều này chúng ta sẽ bàn ở hai trường hợp: trường hợp Phật giáo và trường hợp Công giáo

Trong hệ thống tín ngưỡng bản địa Việt Nam, tục thờ Mẫu (Mẹ) phát triển rất mạnh mẽ, đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong đời sống tâm linh của người Việt Các tín ngưỡng tôn giáo khác ở bên ngoài khi du nhập vào Việt Nam muốn tồn tại, phát triển thuận lợi ở Việt Nam đều phải hòa nhập, dung hợp với các tín ngưỡng bản địa, đặc biệt tín ngưỡng thờ Mẫu

Đối với Phật giáo, Sự tích Man Nương – Khâu Đà La – Tứ Pháp thể hiện

là một hình ảnh đẹp, phản ánh một thực tế sinh động của buổi đầu Phật giáo đến Dâu, buổi đầu gặp gỡ giữa Phật giáo từ bên ngoài đưa vào với tín ngưỡng dân

Trang 26

gian bản địa thờ Mẫu Đó là sự kết hợp hòa bình, sâu sắc từ bên trong, từ trong cấu trúc giữa Phật giáo (đại biểu là Khâu Đà La) và văn hóa tín ngưỡng bản địa thờ Mẫu (đại biểu là Man Nương) để sản sinh ra Phật giáo Việt Nam (Tứ Pháp) Phật giáo ở Việt Nam, bằng con đường tự nhiên nhuần nhị, trở thành Phật giáo Việt Nam [74, tr 612] Như vậy, ngay từ ở buổi đầu du nhập khi vào Việt Nam, Phật giáo với hệ thống giáo lý hoàn thiện, sâu sắc, hệ thống tổ chức, nghi lễ tương đối đầy đủ nhưng lại không gây được sự chú ý với các yếu tố đó, nên ngay lập tức nó phải hội nhập với tín ngưỡng thờ Mẫu - đặc trưng tín ngưỡng nông nghiệp ở Việt Nam đưa các Bà Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) vào thờ ở các ngôi chùa cổ xưa nhất của Việt Nam thì mới phát huy được vai trò đó của Phật giáo

Một ví khác nữa, là hình tượng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát của Phật giáo Theo các kinh sách Phật giáo thì Quan Âm vốn là một là một vị Bồ Tát nam giới (Xem kinh Bi Hoa), nhưng khi du nhập vào nước ta, ảnh hưởng của nguyên lý

mẹ, điểm trội của “tính âm”, “tính nữ” nên Quan Âm trong đạo Phật Việt Nam

đã ứng hiện ra với hình hài nữ, thành Phật Bà Quan Âm Và theo tìm hiểu của chúng tôi, Phật Bà Quan Âm với đặc trưng nổi bật là lòng từ bi, cứu khổ, cứu nạn, bao dung, độ trì, đã trở thành vị Phật được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam Do vậy, lễ Vu Lan đã trở thành một lễ hội Phật giáo lớn nhất ở Việt Nam

và chạm đến lòng nhân hậu, cao cả của đấng sinh thành Có lẽ vì vậy, mà các ngôi chùa ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là đồng bằng Bắc Bộ, mô hình “tiền Phật, hậu Mẫu” đã trở thành phổ biến

Còn về trường hợp Công giáo, thì việc tôn thờ chính là Đức Chúa Giê Su, nhưng khi chuyển tải vào Việt Nam thì phần nào vai trò của Chúa Giê Su bị mờ nhạt hơn so với đức Mẹ Maria Về vấn đề này, trong cuốn sách Công giáo trong văn hóa Việt Nam, tác giả Nguyễn Hồng Dương đã phân tích rất rõ: Xét về quan niệm tín lý của Giáo hội Công giáo, đức Maria chỉ được thờ kính, không được ban ơn cho tín đồ Nhưng khi vào Việt Nam với đặc trưng của văn hóa Việt Nam

Trang 27

là coi trọng việc tôn thờ Mẹ (Mẫu, Thánh Mẫu, Nữ Thần), nên người Công giáo Việt Nam đã chuyển hóa vai trò tôn thờ cũng có nghĩa là chuyển hóa niềm tin nơi Đức Maria theo một quan niệm Nữ thần Và ở Việt Nam, giáo dân gọi Đức Maria là Mẫu, Thánh Mẫu, sự chuyển hóa tôn thờ và niềm tin nơi Đức Maria thể hiện ở ba đặc trưng: Che chở, Ban ơn, Sinh sôi [20, tr 275,276]

1.2 Nền tảng thực nghiệm trong tục thờ Mẫu ở Việt Nam

1.2.1 Sự tạo tác nên biểu tượng người Mẹ

Theo dòng lịch sử của tục thờ Mẫu ta thấy biểu tượng người Mẹ được tạo tác từ hình ảnh nhiên thần sang hình ảnh nhân thần, từ khái niệm Mẹ sang khái niệm Mẫu Để thấy rõ điều đó, chúng ta phân tích nguồn gốc, quá trình phát triển của tục thờ Mẫu để thấy được quá trình tạo tác biểu tượng người Mẹ

Trong các nghiên cứu của mình, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh đã chỉ

ra nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là phát triển “Từ thờ

Nữ thần, Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứ phủ” ông đưa ra mô hình phát triển như sau [67, tr 34]

Thờ Mẫu thần xuất phát từ Nữ thần? Vậy thờ Nữ thần xuất phát từ đâu? Thực chất, thờ Nữ thần xuất phát từ tục thờ thần với hình thức sơ khai nhất là tôn thờ các hiện tượng tự nhiên Như đã phân tích ở phần trên, trong cả đời sống văn hóa nói chung, đời sống tín ngưỡng nói riêng, “tính nữ”, “tính âm” mang tính trội Xuất phát từ chính yêu cầu của đời sống xã hội của con người

Mẫu Tam Phủ

Tứ Phủ

Mẫu thần

Nữ thần

Trang 28

nên ngay từ những buổi đầu của lịch sử, người Việt Nam đã tôn thờ các hiện tượng tự nhiên, cộng thêm những đặc trưng của nền văn hóa nông nghiệp với ước mong sinh sôi, nảy nở, tôn sùng sự sinh sản nên các hiện tượng tự nhiên được tôn thờ đó được khoác thêm tấm áo “tính nữ”, từ đó tục thờ Nữ thần ra đời, bởi “Suy cho cùng, việc tôn thờ nữ thần chẳng qua chỉ là cách nhân thần hóa và tôn sùng lực lượng tự nhiên mà thôi” [67, tr.26]

Ban đầu Nữ thần là các hiện tượng tự nhiên, về sau các Nữ thần được tôn thờ còn là những nhân vật lịch sử, huyền thoại có công với quê hương, đất nước thì cũng trở thành đối tượng được tôn thờ như các nhân vật: Âu Cơ, Hai

Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan,… Như vậy ban đầu là nhiên thần, về sau đã có bước chuyển sang nhân thần

Từ thờ Nữ thần lên thờ Mẫu thần cũng là một bước phát triển mới: Xét

về nguồn gốc của tục thờ Mẫu khởi nguồn từ sự biết ơn người phụ nữ, người

mẹ trong nhận thức từ thuở hoang sơ của loài người Mọi vinh quang trách nhiệm đều quy về người mẹ Tục thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh, thờ phụng những vị nữ thần trước hết là gắn liền với hiện tượng tự nhiên, sau đó là các vị thần gắn liền với con người Tục thờ Mẫu không chỉ tôn thờ người mẹ với công lao to lớn, sinh thành, chở che, bao bọc con cái mà còn là nơi gửi gắm ước vọng về sự sinh sôi, nảy nở, phồn vinh, phát triển, mưa thuận gió hòa,

Như vậy, thờ Nữ thần là tục thờ mang tính phổ quát, rộng lớn hơn, nhưng khi phát triển lên thờ Mẫu thần thì lại mang ý nghĩa đại diện, biểu tượng và sâu sắc hơn Đương nhiên “mẫu tính” nằm trong “tính nữ”, thờ Mẫu nằm trong thờ Nữ thần nhưng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu thần, mà Mẫu thần là những Nữ thần được tôn vinh, mang tính biểu tượng cao hơn, có

ý nghĩa sâu sắc hơn Một số Nữ thần được cung đình hóa, lịch sử hóa thành các Mẫu thần với các danh xưng như: Thánh Mẫu, Quốc Mẫu, Vương Mẫu,…

Trang 29

điển hình trong số đó như: Mẫu Âu Cơ, Quốc Mẫu Tây Thiên, Đinh Triều Quốc Mẫu

Đến sau này, tục thờ Mẫu lại tiếp tục có những bước phát triển từ hình thức thờ Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Hay nói cách khác, Tam phủ,

Tứ phủ là sự hoàn thiện của tục thờ Mẫu, như quan điểm của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh: “Tục thờ Mẫu thần, Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (Tam Tòa Thánh Mẫu) có quan hệ mật thiết với tục thờ Nữ thần, tuy nhiên chúng không phải là đồng nhất Nói cách khác Mẫu đều là Nữ thần nhưng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu thần, mà chỉ có một số nữ thần được tôn vinh là Mẫu thần Cũng tương tự như vậy, ta có thể nói về tục thờ Mẫu thần và Mẫu Tam Phủ,

Tứ Phủ Rõ ràng là đạo Mẫu gắn liền với tục thờ Mẫu dân gian, nhưng như thế không có nghĩa mọi Mẫu thần đều thuộc điện thần của đạo Mẫu Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ tức Tam Tòa Thánh Mẫu là một bước phát triển, một quá trình “nâng cao”, “lên khuôn” từ một số hành vi tôn thờ rời rạc đến một thứ tín ngưỡng, một “đạo” có tính hệ thống hơn” [67, tr.29]

Hay như ý kiến của Bùi Quang Thanh “Chúng ta đã có đủ dữ liệu khoa học để nhận biết rằng, vào những thế kỷ đầu Công nguyên, khi Phật giáo và Đạo giáo truyền bá đến Việt Nam, các hình thức sinh hoạt dân ca, dân vũ gắn với tín ngưỡng dân gian Việt – Mường, vốn được hình thành từ thời Hùng Vương vẫn được tiếp tục phát triển, bồi đắp làm phong phú thêm Khi Đạo giáo và Phật giáo vào Việt Nam đã diễn ra quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, diễn ra hai quá trình song song: một mặt các yếu tố văn hóa bên ngoài (Đạo giáo, Phật giáo) chủ động hòa nhập với văn hóa bản địa để nương nhờ, tồn tại, mặt khác chính các hình thức văn hóa bản địa cũng chủ động hội nhập, tiếp nhận các yếu tố của văn hóa bên ngoài, để bồi đắp, làm phong phú, lấp những khoảng trống của chính mình nhằm hoàn thiện hơn “Điều đó thật

sự thể hiện rõ nét khi tín ngưỡng bản địa Việt hình thành nên tục thờ Mẫu và hoàn thiện dần thành một kiểu đạo Mẫu bàn địa mà đi kèm là những hình thức

Trang 30

bản địa nhày múa, nhập hồn, bùa chú,…, chứa nhiều hành vi phù thủy được tiếp biến từ Đạo giáo/ Đạo thần tiên sau này” [62, tr 7]

Tuy nhiên cần lưu ý rằng, sự phát triển hình thức thờ Tam phủ, Tứ Phủ chỉ phát triển mạnh mẽ ở khu vực Bắc Bộ, còn ở khu vực phía Nam, tục thờ Mẫu vẫn chủ yếu phát triển ở dạng Mẫu thần chung, rất ít khi có sự hiện diện của Tam Phủ, Tứ Phủ, điển hình là các hình thức thờ Thánh Mẫu như thờ Thiên Y A Na, Po Nagar, Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu…

1.2.2 Sự hoàn thiện biểu tượng người Mẹ

Biểu tượng người Mẹ trong tục thờ Mẫu được hoàn thiện nhất ở tín ngưỡng thờ Tam Phủ, Tứ Phủ

Tục thờ Mẫu ở Việt Nam ra đời từ rất sớm và tồn tại cho đến ngày nay, trải qua quá trình dài tồn tại và phát triển đã có những bước phát triển hoàn thiện thành tín ngưỡng thờ Mẫu “Tam Phủ”, “Tứ Phủ”, “Như vậy, trên cơ

sở tín ngưỡng Mẫu Thần dân gian với những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc đã hình thành và định hình đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ (Tam tòa Thánh Mẫu), một thứ đạo giáo đặc thù của Việt Nam, có thể nói một cách ngắn gọn hơn và thực chất hơn là Đạo Mẫu” [68, tr 33], hay “Xuất phát từ quá trình tiếp biến văn hóa nhiều thế kỷ đó, tín ngưỡng dân gian phụng thờ các Mẫu bản địa (Tam phủ) đã dần mở rộng thành việc phụng thờ các vị thần linh đạo

Tứ phủ (các Mẫu cùng các vị Thánh hàng quan, các Ông Hoàng, các vị Chầu

Bà, Cô, Cậu), thông qua sự hiện diện thực hành của các Ông đồng, Bà đồng trong môi trường hoạt động tín ngưỡng mang tính diễn xướng linh thiêng, huyền bí” [62, tr 7-8]

Tục thờ Mẫu đã hoàn thiện đỉnh cao ở tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ,

Tứ Phủ với những nội dung cơ bản được hoàn thiện sau:

Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ là hình thức phát triển cao của tục thờ Mẫu, trong đó Tam Phủ: Thiên Phủ, Địa Phủ, Thoải Phủ; Tứ Phủ: Thiên Phủ, Địa

Trang 31

Phủ, Thoải Phủ, Thượng Ngàn, mỗi phủ tượng trưng bằng một màu: đỏ - Thiên, vàng – Địa, trắng – Thoải, xanh – Thượng Ngàn (xuất phát từ quan niệm ngũ sắc)

Không gian thờ cúng: đền, điện, phủ (có khi cả ở trong chùa, là kết quả của sự dung hợp mạnh mẽ với Phật giáo, theo mô hình “Tiền Phật, hậu Mẫu”

Không gian thờ cúng thể hiện rõ triết lý giao hòa âm – dương trong cả không gian bên trong và bên ngoài:

Không gian bên ngoài, nơi thờ Mẫu thường được đặt ở những nơi tụ thủy: sông, suối, hồ, giếng, bể nước, thể hiện yếu tố nữ (âm), bên cạnh đó cũng có cả những yếu tố dương, đó là điện thờ thường được đặt bên cạnh núi, đồi, giả, sơn, trên đó diễn ra những hình ảnh sống động của con người và động vật

Không gian bên trong được chia thành ba tầng: tầng trên không là hai con mãng xà (ông Lốt) một con màu trắng, một con màu xám; tầng giữa là các vị được tôn thờ: Ngọc Hoàng, Thánh Mẫu (Thiên, Địa, Thoải, Thượng Ngàn), Phật Bà Quan Âm, Quan (từ 5 đến 10 vị), Chầu (từ 4 – 6 -12 vị), Ông Hoàng (5 -10 Ông Hoàng), Cô (12 Cô), Cậu (10 Cậu)

Trong hệ thống các vị thần thánh được thờ, có khoảng 60 vị, phân chia thành các phủ, các hàng Trong đó Ngọc Hoàng, Phật Bà là những yếu tố ảnh hưởng sau này Nhìn vào điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu ta thấy rõ đặc trưng mang tính cung đình: Vua, chúa, quan,…, mang tính gia đình: cha, mẹ,

cô, cậu,… và còn có một đặc điểm khá nổi bật là sự tích hợp các thần linh người dân tộc thiểu số, nhất là ở hàng Chầu và Hàng Cô

Thời gian thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu được tiến hành quanh năm, nhưng chủ yếu là vào các dịp đầu năm, cuối năm, các ngày rằm, mùng một Trong số đó, dịp lễ quan trọng nhất là Tháng Ba giỗ Mẹ, tháng Tám giỗ Cha, Tháng Ba giỗ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, tháng Tám giỗ Vua Cha Đức Thánh Trần

Trang 32

Một điểm đáng lưu ý trong thờ Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ là sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh vào thế kỷ XVI, đã đưa tục thờ Mẫu của Việt Nam sang một trang mới (sẽ phân tích kỹ hơn ở chương 2)

Thực hành nghi lễ trong tín ngưỡng thờ Mẫu có nhiều nghi lễ, trong đó nổi bật nhất là nghi lễ Hầu đồng Hầu đồng hay Lên đồng là nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thần linh vào thân xác của ông đồng, bà đồng Để nhập hồn, ông đồng, bà đồng phải đưa mình vào trạng thái ngây ngất – một trạng thái Shamam điển hình

Mục đích của nghi lễ này là sự tái hiện hình ảnh các vị Thánh nhằm phán truyền, chữa bệnh, ban phúc lộc cho con người

Trong mỗi giá đồng, các vị Thánh khác nhau nhập sẽ tương ứng với các loại trang phục, đạo cụ, cung cách khác nhau, thể hiện sự đặc trưng của mỗi vị thánh Khi thánh nhập, ông đồng, bà đồng sẽ làm nghi lễ nhảy múa, ban lộc, phán truyền trong tiếng hát văn và nhạc cung văn

Trong nghi lễ hầu đồng thì có nhiều giá đồng (có thể lên tới 36 giá đồng, mỗi vị Thánh nhập thì được gọi là một giá đồng)

Về nghi thức: mỗi giá đồng diễn ra đều tuân theo những quy tắc nhất định Như trước khi hầu đồng, mọi việc phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, từ khâu chọn ngày, chọn người hầu dâng, chuẩn bị lễ vật, trang phục, mời cung văn,… Hầu đồng có ý nghĩa quan trọng với tín đồ, họ tin đây là những dịp họ được kết nối với các vị Thánh thông qua vai trò trung gian là ông đồng, bà đồng để bày tỏ nhu cầu, khát vọng của mình, nhận lại sự chở che, ban phát tài lộc của thánh thần

Trong nghi lễ hầu đồng, có sự kết hợp một cách nghệ thuật các yếu tố văn hóa dân gian như: trang phục, âm nhạc, hát chầu văn, múa, diễn xướng dân gian,…

Với những ý nghĩa sâu sắc đó, ngày 1/12/2016 tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11

Trang 33

của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” tại 21 tỉnh thành của Việt Nam (các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra và thành phố Hồ Chí Minh) đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Tiểu kết chương 1

Việt Nam có một bề dày văn hóa được xây dựng từ ngàn năm lịch sử, các lớp văn hóa đó được tích tụ, bồi đắp qua mỗi thời kỳ, qua mỗi sự kiện của dòng chảy thời gian Nhưng xương sống của nó chính là bản sắc văn hóa Việt Nam Xương sống đó là sức sống của văn hóa Việt Nam để cho dù có giao lưu, tiếp xúc các nền văn hóa khác (có cả giao lưu chủ động, có cả giao lưu cưỡng bức) thì cái “chất” Việt Nam vẫn không thay đổi Các yếu tố bên ngoài

có thể được chọn lọc, tiếp thu để làm giàu thêm, phong phú thêm nhưng không làm biến đổi bản chất, đó là quá trình “hội nhập không hòa tan” của văn hóa Việt Nam

Một trong những yếu tố trong bề dày văn hóa đó là tín ngưỡng bản địa Việt Nam, xương sống, điểm tựa trong đời sống tâm linh của người Việt, trong đó nổi bật là tục thờ Mẫu Tục thờ Mẫu ở Việt Nam ra đời là kết quả kết tinh, là sản phẩm của nền văn hóa nông nghiệp với việc đề cao “tính nữ”,

“mẫu tính” với việc tôn thờ sự sinh sản, sinh sôi, phát triển phồn thực, hay nói khác là “nguyên lý Mẹ”

Tục thờ Mẫu ở Việt Nam cũng phát triển, hoàn thiện dần và đã đạt đến đỉnh cao là tín ngưỡng thờ Tam Phủ, Tứ Phủ với hệ thống thần điện khá hoàn thiện, các nghi lễ cũng khá phong phú,… và điểm nhấn đặc biệt là sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Như vậy, tục thờ Mẫu ở Việt Nam đã làm sáng tỏ hình tượng người

Mẹ, dấu ấn người Mẹ được khắc sâu trong Tam Phủ, trong Tứ Phủ và đã được đẩy cao lên trở thành một tín ngưỡng không thể thiếu trong văn hóa dân tộc

Trang 34

Việt Nam Vậy, những đặc trương nào của biểu tượng người Mẹ được thể hiện trong Tam Phủ, Tứ Phủ, hay nói khác tại sao biểu tượng người Mẹ lại được khắc sâu trong tục thờ Mẫu và được phát triển và trường tồn trong tâm thức Việt Nam? Chúng ta sẽ cùng tìm câu trả lời ở Chương 2

Trang 35

Chương 2

ĐẶC TRƯNG TIÊU BIỂU CỦA BIỂU TƯỢNG NGƯỜI MẸ QUA TỤC

THỜ MẪU Ở VIỆT NAM

2.1 Tính thiêng trong phức hợp văn hóa của biểu tượng người Mẹ qua tục thờ Mẫu

Theo Từ điển tiếng Việt, thì thiêng: “Có phép lạ làm được những điều khiến người ta phải kính sợ theo mê tín” và thiêng liêng: “Được coi là cao quý đáng trân trọng hơn hết” Đối với tín ngưỡng, tôn giáo thì “tính thiêng” được coi là một thuộc tính căn bản, với người Việt Nam “thờ” luôn đi cùng với

“thiêng”: “có thờ có thiêng” Biểu tượng người Mẹ trong tục thờ Mẫu hiện ra với “muôn hình vạn trạng”, ở hình trạng nào cũng thể hiện tính thiêng rõ nét Bởi, chính vì người Mẹ có tính thiêng nên mới làm được vai trò là người ban

ơn, che chở cho người con cả khi còn sống lẫn khi đã khuất núi, hay nói khác đây chính là sự chuyển hóa niềm tin sang sự cầu xin vì “Thế giới tâm linh của Việt Nam là do nữ giới cai quản” [Xem 53] Do vậy, trước hết đi vào phân tích tính thiêng của biểu tượng người Mẹ tự nhiên (người Mẹ trong truyền thuyết) qua tục thờ Mẫu Sau là tính thiêng của biểu tượng người Mẹ trong lịch sử (người Mẹ có công với dân với nước)

2.1.1 Tính thiêng của biểu tượng người Mẹ tự nhiên qua tục thờ Mẫu

Con người là một phần của tự nhiên, điều đó là điều tất yếu không cần bàn cãi Con người được sinh ra và sống trong sự bao bọc của tự nhiên Tự nhiên ban cho con người không khí để thở, thức ăn để ăn, nước để uống, không gian để sống, Tự nhiên như người mẹ sinh ra, nuôi nấng con người, chính vì thế con người trước hết phụ thuộc vào tự nhiên, mang ơn tự nhiên, tôn thờ tự nhiên Mặt khác thế giới tự nhiên cũng là một thứ gì đó vô cùng bí hiểm, kỳ vĩ, đứng trước tự nhiên con người thấy mình nhỏ nhoi, bất lực, Từ

Trang 36

trạng thái đó của bình minh lịch sử loài người, tôn giáo đã ra đời với những hình thức sơ khai như tô tem giáo, bái vật giáo Khi nghiên cứu về nguồn gốc

xã hội của tôn giáo, chủ nghĩa Mác, Lê nin đã chỉ ra những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng là một trong những nguồn gốc xã hội của tôn giáo: “Ph Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong

xã hội nguyên thủy xuất hiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất Trình độ thấp của sự phát triển sản xuất đã làm cho con người không

có khả năng nắm bắt được một cách thực tiễn những lực lượng tự nhiên Thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành cái thù địch, bí hiểm, hùng hậu đối với họ” [75, tr 28]

Giá trị bao trùm lên tục thờ Mẫu là làm sáng tỏ (minh chứng) cho một quan niệm về người mẹ tự nhiên Người mẹ ở đây là môi trường xung quanh chúng ta Nếu khai thác được điều này thì sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn

đề bảo vệ môi trường Đó là quan niệm sâu sắc của người Việt từ xa xưa

“Mẫu” theo cách hiểu đơn giản nhất có nghĩa là chỉ ra đấng sinh thành đối với con người chúng ta Và ở đây Đạo Mẫu là chỉ về Đạo thờ cúng những người có ơn sinh thành và quan trọng hơn đó là sự ngầm hiểu, đã là Mẹ thì tất yếu có sự bao bọc, chở che cho người con nên người con phải phụng dưỡng, tôn thờ Nếu hiểu rộng ra thì Đạo Mẫu là thờ phụng tất cả những đối tượng mang yếu tố Nữ, có khả năng sinh sản, tuy nhiên vẫn có các đối tượng là nam giới vì đó là sự phát triển và tích hợp văn hóa về sau này

Việt Nam vốn là đất nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng

ẩm, với sự ưu đãi của thiên nhiên nhiều sông ngòi, kênh rạch,… thuận lợi cho nghề trồng trọt, vì thế từ xa xưa hoạt động kinh tế chủ yếu của người Việt cổ

là nông nghiệp lúa nước Mà nền nông nghiệp lúa nước thì phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên: đất, nước, khí hậu,… như trong bài ca dao quen thuộc của người Việt:

Trang 37

Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời, trông đất, trông mây Trong mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng

Ca dao

Ngoài trồng lúa ra, còn có các nghề phụ khác như trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải, chăn nuôi, thêu thùa, đan lát,… thì nghề phụ này nguồn nguyên liệu chính cũng vẫn là lấy từ tự nhiên,…

Trong những điều kiện hạn chế về phương thức sản xuất như thế sẽ đặt

ra một nghịch lý mà chủ nghĩa Mác Lê nin khi phân tích về nguồn gốc ra đời của tôn giáo đã chỉ ra: phương thức sản xuất càng thấp kém bao nhiêu, con người sẽ càng phụ thuộc vào tự nhiên bấy nhiêu, tự nhiên sẽ càng chi phối con người mạnh mẽ bấy nhiêu Chính vì lẽ đó, trong điều kiện lịch sử của thời

kỳ đầu của người Việt, người Mẹ tự nhiên trở nên vĩ đại, kỳ diệu vô cùng, người Mẹ tự nhiên cho con người tất cả nếu các yếu tố tự nhiên thuận lợi thì cây trái được mùa, chăn nuôi được vụ, nhưng ngược lại cũng có thể lấy đi tất cả: thiên tai, dịch bệnh có thể cướp đi tất cả công sức lao động của con người Biết ơn, kính trọng và cũng song song với đó là tâm lý sợ hãi với sức mạnh, quyền uy của tự nhiên nên dẫn đến thờ cúng các hiện tượng tự nhiên, gắn

“tính thiêng” vào trong các sự vật, hiện tượng của tự nhiên Chính vì thế, trong hệ thống tín ngưỡng đa dạng, phong phú của người Việt cổ, đã xuất hiện việc thờ các tín ngưỡng có liên quan trực tiếp đến thế giới tự nhiên, đến sản xuất nông nghiệp như tục thờ Mẹ Trời, Mẹ Đất, Mẹ nước, Mẹ Lúa,

Người Mẹ tự nhiên lúc này không phải là người mẹ tự nhiên chung chung mà là người Mẹ tự nhiên rất cụ thể, phụ thuộc vào nhu cầu của nhân dân từng vùng, từng tộc người, họ thấy những gì thực sự cần thiết cho cộng

Trang 38

đồng mình thì tôn thờ Ví như người Thổ thờ Mẹ Lúa, bởi họ coi cây lúa là loại cây trồng linh thiêng, mang lại nguồn sống lớn nhất để con người tồn tại

và phát triển Nên khi trên nương, những bông lúa uốn câu trĩu nặng, chín ruộm vàng óng là lúc họ lựa lấy vạt lúa đẹp nhất, hạt mẩy nhất mang về nhà treo cạnh ban thờ Tổ tiên, họ tin rằng hồn vía Mẹ Lúa sẽ trú ngụ trong đó sẽ giúp cho vụ sau mùa màng bội thu Hay như với các hiện tượng tự nhiên trên bầu trời: Mây, mưa, sấm, chớp,… là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp thì cũng được tôn thờ với hình tượng các vị thần quyền năng: Bà Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, được thờ ở nhiều nơi, trong đó nơi thờ chính là: Pháp Vân được thờ ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ được thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi được thờ ở chùa Bà Tướng, Pháp Điện được thờ ở chùa Bà Dàn (tất cả điều ở Bắc Ninh), ở các nơi khác chỉ ví dụ

như ở tỉnh Hà Nam Pháp Vân được thờ ở chùa Quế Lâm (Văn Xá, Kim

Bảng), chùa Do Lễ (Liên Sơn, Kim Bảng), chùa Thôn Bốn (Phù Vân, Kim

Bảng), Chùa Tiên (Thanh Lưu, Thanh Liêm); Pháp Vũ được thờ Chùa Bà Đanh (Ngọc Sơn, Kim Bảng), Chùa Trinh Sơn (Thanh Hải, Thanh Liêm); Pháp Lôi được thờ ở Chùa Đặng Xá (Văn Xá, Kim Bảng), Chùa Nứa (Bạch Thượng, Duy Tiên); Pháp Điện được thờ ở Chùa Bà Bầu (thị xã Phủ Lý)

Hình tượng người Mẹ tự nhiên được hiện rõ nét trong tín ngưỡng thờ Tam Phủ, Tứ Phủ, “tính thiêng” màu nhiệm thể hiện rất rõ ở hình tượng người

Mẹ tự nhiên như hình tượng các vị Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa Ngay từ lý lịch, các câu chuyện xoay quanh các Mẫu, uyền uy của các Mẫu cũng chứa đựng đầy tính màu nhiệm, ly

kỳ, hư ảo… làm toát lên tính thiêng của các Mẫu

Mẫu Thượng Thiên hay còn gọi là Mẫu Cửu Trùng (Cửu Trùng Thiên: chín tầng trời), là vị thánh Mẫu sáng tạo ra bầu trời, làm chủ quyền năng bầu trời (chủ quyền năng mây, mưa, sấm, chớp):

Trang 39

“Cửu Trùng ngự chín tầng mây Quản cai các bộ tiên nay thượng đình”

Văn Công đồng Trong văn Cửu Trùng Thánh Mẫu có đoạn:

Lưng ong tóc phượng rà rà

Áo xông hương xạ hài hoa chân giày Cửu trùng ngự chín tầng mây Quản cai các bộ tiên nay thượng đình

Mẫu Thượng Ngàn: là vị Thánh Mẫu toàn năng trông coi miền rừng núi Huyền tích của Ngài gắn với nhiều địa danh như: Bắc Lệ (Lạng Sơn), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đông Cuông (Yên Bái),

Có nhiều thần tích về Ngài, mỗi vùng lại có những thần tích riêng Ví như, vùng Bắc Lệ (Lạng Sơn), tương truyền Ngài là con cháu vua Hùng, tài sắc vẹn toàn lại hết mực thương yêu núi rừng, cỏ cây, muông thú, các vị thần khắp núi non đều yêu quý, nhờ thế nhân dân trong vùng được yên ấm, Ngọc Hoàng biết chuyện, liền phong cho nàng là Thượng Ngàn Công chúa (Mẫu Thượng Ngàn); vùng Đông Cuông (Yên Bái), vốn được coi là nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn chính thì lại có thần tích về Bà như sau: Bà là Đông Quang Công chúa, là vợ của ông Hà Văn Thiêm, người Tày, được triều đình giao cai quản vùng Đông Cuông [ Xem 17, tr 28, 29]

Trong hát văn 36 giá đồng có đoạnn hát về Đệ Nhị Thượng Ngàn như sau:

Dâng văn chầu đệ nhị trên ngàn

Đông Cuông tuần quán giáng đền hôm nay

Trên ngàn gió cuốn rung cây

Dưới khe cá lặn chim bay về ngàn

Canh khuya nguyệt lặn sao tàn

Trang 40

Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào

Gập ghềnh quán mất lầu cao

Chèo ra núi đỏ chèo vào ngàn xanh

[54, tr 45,46]

Trong hát văn về Mẫu Thượng Ngàn có đoạn ca ngợi quyền năng của bà:

Thượng Ngàn tối tú anh linh

Ngôi cao công chúa quyền hành núi non

Anh linh đã có tiếng đồn

Sấm ra mặt bể mưa tuôn đầu ghềnh

[54, tr 46]

Mẫu Thoải (Thoải là chữ đọc chệch đi của chữa Thủy – nước), là Thánh Mẫu trị vì vùng sông nước Hiện nay các đền chính thờ Ngài như: Xâm Dương Linh Từ (đền Dầm), đê Hữu Hồng (Hà Nội); đền Mẫu Hàn Sơn (Châu Lục, Thanh Hóa), đền Hàn Sơn (Hà Trung, Thanh Hóa) Có nhiều thánh tích

về Mẫu Thoải, “trong dân gian cho đến ngày nay còn còn lưu truyền nhiều huyền thoại, thần tích về Ngài Tương truyền Thánh Mẫu là Xích Lân Công chúa, con gái Vua Cha Thủy Quốc Động Đình, nên duyên với Kinh Xuyên vốn dòng thế phiệt chốn thủy cung Mẫu một lòng giữ đạo cương thường, nhưng Kinh Xuyên lại nghe lời vợ hai là Thảo Mai gieo oan cho Mẫu không giữ lòng chung thủy nên bị đày lên chốn rừng sâu Trong lòng chất chứa với nỗi hàm oan, Mẫu được muôn loài giã thú yêu mến, hàng ngày dâng tiến quả hoa Một hôm, nho sinh Liễu Nghị trên đường trở về sau kỳ ứng thí, qua chốn rừng sâu gặp được người tiên, cảm thương nỗi niềm đã nhận lời chuyển giúp

lá thư cho Vua Cha Mẫu được giải oan, trở về chốn Long cung” [17, tr.27]

Anh linh lừng lẫy chốn giang khê Nức tiếng con vua dưới thủy tề Ngán nỗi Kinh Xuyên rời chỉ thắm May nhờ Liễu Nghị chắp dây xe

Ngày đăng: 19/02/2021, 20:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (1992), “Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện kể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm”, Tạp chí văn học (5), tr. 11-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện kể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1992
2. Đặng Anh (2004), Đền Sòng với huyền thoại Liễu Hạnh công chúa, Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Sòng với huyền thoại Liễu Hạnh công chúa
Tác giả: Đặng Anh
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 2004
3. Đào Duy Anh (khảo chứng), Nguyễn Thị Thanh Xuân (phiên âm và chú thích), Vũ Thanh Bình (biên tập lại) (2014), Kinh Đạo Nam, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Đạo Nam
Tác giả: Đào Duy Anh (khảo chứng), Nguyễn Thị Thanh Xuân (phiên âm và chú thích), Vũ Thanh Bình (biên tập lại)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2014
4. Alain Gheerbran, Jean Chevalier (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Alain Gheerbran, Jean Chevalier
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1997
5. Toan Ánh (1992), Tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
6. Toan Ánh (1992), Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh 7. Ban Quản lý di tích Phủ Dầy tỉnh Nam Định (2001), Kỷ yếu hội thảoQuốc tế: “Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy”, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, "Nxb TP. Hồ Chí Minh 7. Ban Quản lý di tích Phủ Dầy tỉnh Nam Định (2001), "Kỷ yếu hội thảo "Quốc tế: “Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy
Tác giả: Toan Ánh (1992), Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh 7. Ban Quản lý di tích Phủ Dầy tỉnh Nam Định
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh 7. Ban Quản lý di tích Phủ Dầy tỉnh Nam Định (2001)
Năm: 2001
8. Nguyễn Chí Bền (2003), Văn hóa dân gian những phác thảo, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian những phác thảo
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2003
9. Trần Lâm Biền (1990), “Quanh tín ngưỡng dân dã, Mẫu Liễu và đền thờ”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật (5), tr. 11-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quanh tín ngưỡng dân dã, Mẫu Liễu và đền thờ”, "Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1990
10. Trần Lâm Biền (1992), "Mẫu thần điện", Tạp chí Văn hoá dân gian (1), tr. 18-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu thần điện
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1992
11. Trần Lâm Biền (2013), Con đường Tiếp cận lịch sử, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường Tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2013
12. Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh (2017), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa
Tác giả: Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2017
13. Phan Kế Bính (2006), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
14. Bùi Hạnh Cẩn và Lê Chân (1993), Chợ Viềng và hội phủ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Viềng và hội phủ
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn và Lê Chân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
15. Lê Thị Chiêng (1997), Mẫu Liễu Tây Hồ, Phòng Văn hoá Thông tin quận Tây Hồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu Liễu Tây Hồ
Tác giả: Lê Thị Chiêng
Năm: 1997
16. Nguyễn Văn Dân (2006), Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
17. Trần Quang Dũng (chủ biên) (2017), Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ chốn thiêng nơi cõi thực, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ chốn thiêng nơi cõi thực
Tác giả: Trần Quang Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2017
18. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
19. Nguyễn Hồng Dương (2004), Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
20. Nguyễn Hồng Dương (2013), Công giáo trong văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công giáo trong văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2013
21. Phạm Đức Dương, Phạm Thanh Tịnh, Trịnh Thị Ngân (biên soạn) (2014), Biểu tượng văn hóa ở làng quê Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng văn hóa ở làng quê Việt Nam
Tác giả: Phạm Đức Dương, Phạm Thanh Tịnh, Trịnh Thị Ngân (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w