1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn

64 562 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Bệnh Viêm Đường Sinh Dục Và Thử Nghiệm Một Số Phác Đồ Điều Trị Bệnh Viêm Tử Cung Trên Đàn Lợn NáI Ngoại Nuôi Tại Trang Trại Chăn Nuôi Bùi Huy Hạnh, Thuộc Xã Tái Sơn – Tứ Kỳ - Hải Dương
Tác giả Nguyễn Thị Huyền
Trường học Trường ĐHNN – Hà Nội
Chuyên ngành Khoa Thú Y
Thể loại Báo Cáo Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 379 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn

Trang 1

Phần I

MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ.

Trong vài năm gần đây, chăn nuôi lợn giữ một vị rí quan trọng trong nghành nông nghiệp của Việt Nam Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhân dân và phân bón cho sản xuất nông nghiệp Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc biệt nữa

là tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần thiết

Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như nuôi tập trung ở gia đình Đối với lợn nái, nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém Mặt khác, trong quá trình sinh

đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn như Streptococcus, Staphylococcus, E.coli…xâm nhập và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm môn,…đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung, đây là bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ Nếu không diều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết…Vì vậy, các bệnh viêm đường sinh dục, đặc biệt là bệnh viêm tử cung ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói riêng, dồng

Trang 2

thời ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả toàn nghành chăn nuôi lợn nói chung.

Để góp phần vào việc phòng và điều trị bệnh viêm tử cung lợn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Tình hình bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiêm một số phác

đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại chăn nuôi Bùi Huy Hạnh, thuộc xã Tái Sơn – Tứ Kỳ - Hải Dương”.

1.2 MỤC ĐÍCH.

- Điều tra tình hình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại

- Điều tra tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục, viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại

- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị viêm tử cung và rút ra phác đồ điều trị tốt hơn

1.3 YÊU CẦU.

- Điều tra tình hình chăn nuôi của trại

- Thử nghiêm điều trị viêm tử cung và so sánh với phác đồ điều trị của

cơ sở làm đối chứng, từ đó rút ra phác đồ điều trị tốt hơn

- Làm tốt các thao tác thú y

Trang 3

Phần IITỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CỦA LỢN NÁI.

2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái.

Cũng giống như các loài gia súc khác, cơ quan sinh dục của lợn cái gồm: bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

2.1.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật và tiền đình.

* Âm môn, hay còn gọi là âm hộ (Vulva), nằm dưới hậu môn Bên

ngoài có hai môi (Labia vulvae) Nối liền hai môi bằng hai mép (Bima vulvae) Bờ trên hai môi của âm môn có sắc tố đen, nhiều tuyến tiết chất nhờn

và tuyến tiết mồ hôi

* Âm vật (Clitoris), giống như dương vật được thu nhỏ lại Bên trong

có các thể hổng Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (Praepatium clitoridis)

* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis), là giới hạn giữa

âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là

âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo Màng trinh có các sợi đàn hồi ở giữa

và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Sau màng trinh có lỗ niệu đạo

2.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong gồm: âm đạo, tử cung, buồng trứng và ống dẫn trứng.

* Âm đạo (Vagina), trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng

trinh (Hymen) che lỗ âm đạo Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quan sinh

Trang 4

dục khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ.

Cấu tạo âm đạo chia ba lớp:

▪ Lớp liên kết: ở ngoài

▪ Lớp cơ trơn: cơ dọc ở ngoài, cơ vòng bên trong Các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung

▪ Lớp niêm mạc: có nhiều tế bào thượng bì, gấp nếp dọc hai bên nhiều hơn ở giữa

* Tử cung (Uterus): có cấu tạo phù hợp với chức năng phát triển và

dinh dưỡng bào thai Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trứng rồi trở về tử cung làm tổ, ở đây hợp tử phát triển là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung cung cấp Tử cung còn có nhiệm vụ đẩy thai ra ngoài trong quá trình sinh đẻ nhờ vào các lớp cơ

Tử cung được cấu tạo bởi 3 lớp:

▪ Ngoài cùng là tổ chức liên kết (Perimetrium)

▪ Lớp cơ trơn (Myometrium): giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy thai

ra ngoài Nó là lớp cơ trơn khỏe nhất trong cơ thể Bên trong các cơ trơn có những sợi liên kết đàn hồi và tĩnh mạch lớn Các lớp cơ đó đan vào nhau làm cho tử cung chắc, tính đàn hồi cao

▪ Lớp niêm mạc tử cung (Endometrium): màu hồng, được phủ lên bằng những tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung Xen kẽ giữa các tế bào biểu

mô là các tuyến tiết chất nhầy Chất nhầy được gạt về cổ tử cung khi các lông rung động

Tử cung của lợn thuộc loại tử cung phân nhánh (Uterus Bicorus) Tử cung được chia làm ba phần: cổ, thân và sừng tử cung Sừng tử cung thông

Trang 5

với ống dẫn trứng Cổ tử cung thông với âm đạo Tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là trực tràng, phía dưới là bàng quang.

Tử cung lợn rất dài, trong đó thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài Cổ tử cung lợn dài, tròn, không có gấp nếp dễ cho thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò

* Buồng trứng (Ovarium), gồm một đôi Bên ngoài là một lớp màng

liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn, bên trong chia làm hai miền: miền

vỏ và miền tủy, hai miền đó được cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi xốp tạo ra cho buồng trứng một chất đệm (Stromaovaris) Ở miền tủy có nhiều mạch máu và tổ chức xốp cũng dày hơn Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng

* Ống dẫn trứng: còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo buồng trứng

Khi có tinh trùng vào đường sinh dục của gia súc cái, tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau của ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng được chia thành hai đoạn:

▪ Đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng: phần đầu trên thông với xoang bụng ở gần buồng trứng, được phát triển to tạo thành một cái phễu để hứng tế bào trứng Loa kèn có nhiều tua, nhung mao rung động để hứng tế bào trứng Quá trình thụ tinh thường xảy ra khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng

▪ Đoạn ống dẫn trứng phía sừng tử cung: gắn với mút sừng tử cung Đoạn này phía ngoài là lớp liên kết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng Ở giữa là hai lớp cơ, cơ vòng phía trong, cơ dọc phía ngoài Trong cùng là lớp niêm mạc làm nhiệm vụ tiết niêm dịch Phía trên lớp niêm mạc có lớp nhung mao luôn rung động để đẩy tế bào trứng hay hợp tử xuống tử cung làm tổ

Trang 6

Cấu tạo ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn.

Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng trứng, duy trì sự sống và gia tăng khả năng sống của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung

2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái.

2.1.2.1 Sự thành thục về tính.

Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có bao noãn chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung biến đổi theo, đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc như vậy gọi là sự thành thục về tính

và sự thành thục về tính thường đến sớm hơn sự thành thục về thể vóc

Theo A.A Xuxoep (1985) [1] sự thành thục của gia súc được đặc trưng bởi những thay đổi bên trong và bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự biến đổi bên trong của cơ quan sinh dục

Tuỳ thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác nhau Tuổi thành thục về tính của lợn khoảng 6 tháng, giới hạn dao động từ 4–8 tháng Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11] ở lợn tuổi thành thục tính là 6–8 tháng

Trang 7

Mặt khác, tuổi thành thục tính sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy để đảm bảo sự sinh trưởng và phẩm chất giống ở thế hệ sau nên cho gia súc giao phối sau khi đã hoàn toàn thành thục về tính và trước thời gian thành thục về thể vóc Tuy nhiên, không nên cho lợn phối giống quá muộn vì nó ảnh hưởng đến thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh– Lưu Kỳ (1994) [6] thì tuổi phối giống lần đầu cho lợn cái tốt nhất là lúc 8 tháng tuổi và khối lượng là ≥ 70 kg hoặc ở 9 tháng tuổi với khối lượng là 80 – 90 kg.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục tính:

* Giống: các giống gia súc khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng

khác nhau, sự thành thục về tính ở những gia súc có tầm vóc nhỏ thường sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn Các giống lợn nội tuổi thành thục về tính là 4 – 5 tháng, các giống lợn Landrace, Yorkshire tuổi thành thục về tính là 6-7 tháng

Theo Phạm Hữu Doanh và cộng sự (1985) thì tuổi thành thục tính ở lợn lai muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái ) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 – 150 ngày tuổi) Lợn F1 thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi, lợn ngoại 6 – 8 tháng tuổi

* Dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng:

Nguyễn Tấn Anh (1998) [3], cho biết kinh nghiệm từ thực tiễn chăn

nuôi Hoa Kỳ, để duy trì năng suất sinh sản cao thì cần chú ý tới nhu cầu dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80-90

kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3)

Hoặc có thể điều chỉnh để khối lượng cơ thể đạt 120 – 140 kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và cho phối giống Trước phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn từ 1 – 1,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố chỉ

Trang 8

trong 14 ngày, sẽ giúp lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 – 2,1 trứng / lần động dục / nái.

* Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của lợn cái hậu bị:

Cách ly lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làm chậm trễ sự thành thục so với những lợn cái hậu bị cùng độ tuổi được tiếp xúc với con đực Theo Paul Hughes (1996) [1], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày với thời gian từ 15 – 20 phút/lần thì 83% lợn nái (ngoài 90

kg thể trọng) động dục lúc 165 ngày tuổi

2.1.2.2 Chu kỳ động dục (chu kỳ tính).

Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có sự biến đổi, đồng thời có rụng trứng, trứng phát triển nhờ quá trình điều khiển của hocmon thùy trước tuyến yên làm trứng chín và rụng một cách

có chu kỳ, con vật biểu hiện bằng những triệu trứng động dục theo chu kỳ được gọi là chu kỳ tính (K.Sato và Junichi Mori, 1992)

Chu kỳ tính có sự khác nhau giữa các loài, thời gian kéo dài chu kỳ giữa các loài cũng có sụ khác nhau Ở thời gian đầu, do mới có sự thành thục

về tính nên chu kỳ chưa ổn định, phải sau 2 – 3 chu kỳ tiếp sau mới có được

Trang 9

Chu kỳ động dục là khoảng thời gian giữa 2 lần động dục và nó được chia làm 4 giai đoạn sau:

a. Giai đoạn trước động dục (preoestrus).

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, nó xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý, tính thành thục trong đó sự phát triển của noãn bao thành thục nổi rõ lên bề mặt buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường, các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng sinh, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng, mạch quản trong màng nhầy tử cung tăng, các dịch nhày ở âm đạo nhiều, niêm dịch cổ tử cung tiết ra, kích thích cho cổ tử cung hé mở, bộ phận sinh dục phù thũng, niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Giai đoạn này ở lợn dài từ 1–2 ngày

Tất cả những biến đổi đó tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vào đường sinh dục cái để thụ tinh với tế bào trứng

b Giai đoạn động dục (0estrus).

Là giai đoạn tiếp theo thường kéo dài từ 2 – 3 ngày Trong giai đoạn này những biến đổi về sinh lý so với giai đoạn trước động dục càng rõ hơn Bên ngoài

âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết, niêm dịch trong suốt từ âm đạo chảy ra nhiều Cuối giai đoạn này tính hưng phấn của con vật cao độ, gia súc ở trạng thái không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ, kêu rống, phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác hay để con khác nhảy lên lưng, đái rắt, thích gần con đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối Sau đó khoảng 20h thì trứng mới bắt đầu rụng, thời gian trứng rụng kéo dài từ 4 – 6h, số trứng rụng mỗi lần từ 8 – 25 trứng hoặc hơn

Giai đoạn này nếu tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng và được thụ thai thì chu kỳ sinh dục sẽ ngừng lại, gia súc cái ở giai đoạn có thai

Trang 10

Trường hợp tế bào trứng không được thụ thai thì nó sẽ chuyển sang giai đoạn sau của chu kỳ.

c Giai đoạn sau động dục (metoestrus).

Được tính từ khi kết thúc động dục, thường kéo dài từ 3 – 4 ngày, hoạt động sinh lý bắt đầu lắng xuống, con vật dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường, rồi chuyển sang giai đoạn yên tĩnh làm giảm tiết H.Oestrogen, từ đó làm giảm hưng phấn thần kinh, ức chế sự tăng và tiết thể dịch, làm cho con vật trở lên bình thường, chuyển sang giai đoạn yên tĩnh

d Giai đoạn yên tĩnh (dioestrus).

Là giai đoạn dài nhất chiếm phần lớn chu kỳ động dục, bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không được thụ tinh, kết thúc sau khi thể vàng tiêu hủy không còn biểu hiện gì về hành vi sinh dục Đây là giai đoạn chuyển giao giữa hai lần động dục Trong quá trình động dục, nếu trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại suốt 2/3 thời gian mang thai và tiết ra Progesteron có tác dụng an thai, ức chế quá trình rụng trứng, kích thích tuyến vú phát triển Thời

kỳ yên tĩnh lúc này chính là giai đoạn mang thai và thời kỳ sau đẻ Ở giai đoạn nuôi con dưới tác dụng của Prolactin, Oxytoxin, Progesteron…làm cho quá trình rụng trứng bị đình trệ, hiện tượng động dục không xảy ra Thường sau khi cai sữa thì chu kỳ tính dần được khôi phục và xuất hiện trở lại sau cai sữa 4 – 8 ngày

Nếu trong quá trình động dục, trứng rụng không được thụ tinh thì thể vàng chỉ tồn tại được 3 – 10 ngày, sau đó teo đi làm ngừng tiết Progesteron

Do đó trứng tiếp tục chín và rụng, xuất hiện chu kỳ tính tiếp theo

Các yếu tố ảnh hưởng tới chu kỳ động dục:

* Yếu tố ngoại cảnh:

Trang 11

Khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, mùa vụ, thức ăn…đều ảnh hưởng rõ rệt đến chu kỳ tính của gia súc cái.

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], ở lợn chu kỳ sinh dục trong suốt cả năm nhưng thường khi khí hậu ấm áp thì nó xuất hiện rõ ràng và đầy đủ các đặc điểm hơn so với điều kiện khí hậu lạnh Trong điều kiện quá giá lạnh thì chu kỳ sinh dục có thể ngừng lại hoàn toàn

Vũ Duy Giảng và cộng sự (1999) [9], trong điều kiện thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng, chu kỳ tính kéo dài, bao noãn thành thục chậm, thậm chí có bao noãn quắt lại

* Yếu tố thần kinh – thể dịch:

Quy luật và đặc điểm của chu kỳ sinh dục chịu sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như: khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nuôi dưỡng quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tình trạng cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh – thể dịch

Ngoài ra, hệ thần kinh thực vật cũng có tác động đến chu kỳ sinh dục Khi thần kinh giao cảm hưng phấn thì sẽ ức chế chu kỳ sinh dục Còn khi thần kinh phó giao cảm hưng phấn thì lại kích thích chu kỳ động dục

Tuyến yên có tác dụng trực tiếp lên cơ quan sinh dục cái Nếu cắt bỏ tuyến yên, noãn bao không phát triển, tế bào trứng không rụng, thể vàng không hình thành, buồng trứng bị teo và các kích tố của buồng trứng cũng không được hình thành

2.1.2.3 Sinh lý quá trình mang thai.

1 Khái niệm hiện tượng có thai.

Trang 12

Có thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi sinh đẻ xong.

2 Thời gian có thai.

Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính ngay từ ngày phối giống lần cuối Thời gian có thai phụ thuộc vào những điều kiện và các yếu tố khác nhau Nó dài hay ngắn tùy theo loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa sinh sản, trạng thái dinh dưỡng, sức khỏe…

Theo Đặng Đình Tín (1986) [17], Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], ở lợn thời gian có thai xê dịch trung bình là 110 – 118 ngày,thời gian có thai trung bình là 114 ngày

3 Quá trình phát triển của phôi thai.

Quá trình phát triển của bào thai có thể chia ra làm ba thời kỳ:

* Thời kỳ thứ nhất – thời kỳ trứng: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tế bào trứng được thụ tinh đến khi hình thành nang phôi – túi phôi

* Thời kỳ thứ hai – thời kỳ phôi thai: Là thời kỳ hình thành nhau thai, hình thành các tế bào và các cơ quan hệ thống của cơ thể Ở gia súc lớn từ ngày thứ 11 – 40

* Thời kỳ thứ ba – thời kỳ bào thai: Là thời kỳ cuối phôi thai cho đến khi sinh đẻ Là giai đoạn phân hóa những kết cấu cực tiểu của tế bào và cơ quan, là thời kỳ bào thai phát triển nhanh

Trang 13

4 Sự điều hòa thần khinh – thể dịch ở thời kỳ mang thai.

Điều hòa sự phát triển của bào thai và đảm bảo sự thống nhất trong các hoạt động chức năng giữa cơ thể mẹ và bào thai là một quá trình phức tạp do

sự điều tiết thần kinh – thể dịch

Điều tiết thần kinh: bắt đầu từ lúc thụ thai thì trong vỏ não xuất hiện

vùng hưng phấn trội để tiếp nhận những biến đổi hóa học và cơ học từ các điểm thụ cảm ở tử cung, do đó đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của phôi thai như: niêm mạc tử cung phát triển, mạch máu đến nhiều, tiết dịch tăng Hưng phấn tăng cường mạnh nhất ở tháng thứ hai, là một trong các yếu tố dễ gây sẩy thai ở thời điểm này

Điều tiết thể dịch: có sự tham gia tích cực của hệ nội tiết Progesteron

là hocmon an thai, duy trì quá trình mang thai, được sản sinh ở thể vàng và nhau thai Ở lợn Progesteron chủ yếu do thể vàng cung cấp, vai trò của nhau thai là thứ yếu (Nguyễn Xuân Tịnh và cộng sự, 1996, [18] )

5 Những biến đổi sinh lý chủ yếu khi có thai.

a Sự biến đổi toàn thân của cơ thể mẹ khi có thai:

Khi gia súc có thai, kích tố của hoàng thể và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Vì vậy hiện tượng ăn uống, trạng thái dinh dưỡng, quá trình trao đổi chất…của con mẹ được nâng cao cho nên thời kỳ đầu gia súc có thai thường béo hơn khi chưa có thai

Theo Vũ Duy Giảng và cộng sự (1999) [9], trong thời kỳ có chửa, lợn nái tăng từ 15 – 25 kg (không kể các sản phẩm thai, trong đó khoảng 3 – 4 kg

là protein) Nói chung trong thời gian có chửa, lợn mẹ tăng từ 1,2 – 1,3 lần so với trước khi phối giống

Trang 14

Theo Vũ Duy Giảng và cộng sự (1999) [9], quan trọng đối với gia súc

có thai là vitamin A Nếu thiếu con mẹ có hiện tượng thoái hóa thượng bì âm đạo và dạ con làm cho khả năng thụ thai kém hoặc nếu con mẹ có thai thì cũng dễ xảy thai, sát nhau, con đẻ ra yếu Ngoài ra cần bổ sung thêm vitamin

D, B1, B2

Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], trường hợp thiếu caxi và photpho nghiêm trọng thì gia súc mẹ sẽ bị bại liệt trước khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch hay biến dạng, dẫn tới hiện tượng đẻ khó

Vũ Duy Giảng và cộng sự (1999) [9], canxi và photpho là 2 nguyên tố không thể thiếu được đối với gia súc có thai Nhu cầu canxi là 0,6%, photpho

là 0,5% so với khối lượng vật chất khô khẩu phần

Bào thai ngày càng phát triển, áp lực xoang chậu và xoang bụng thay đổi nên ảnh hưởng đến sự hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp Nhu cầu cung cấp oxy của bào thai dần nâng cao ở thời gian có thai kỳ cuối nên tần số

hô hấp của mẹ tăng lên và có khi còn biểu hiện trạng thái thở dốc Dưới tác dụng chèn ép cơ học của bào thai kỳ cuối làm thay đổi tuần hoàn vùng xoang chậu nên gây hiện tượng phù thũng ở hai chân sau Mặt khác số lần đại tiểu tiện của gia súc mẹ tăng lên nhưng số lượng mỗi lần ít

b Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục.

* Buồng trứng:

Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau Buồng trứng phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia Trên mặt ngoài buồng trứng xuất hiện thể vàng

* Tử cung:

Trang 15

Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích…dây chằng tử cung dài ra nên đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa vị trí cũ Hệ tuần hoàn ở cơ quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên Các tuyến tử cung cũng được phát triển mạnh mạnh và tăng cường tiết niêm dịch Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ.

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], ở lợn mức độ phát triển

và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng của bào thai và thường là phát triển ở cả hai sừng Cuối thời kỳ có thai, khối lượng tử cung ( không kể thai) nặng tới 2,5 – 6kg, còn tử cung bình thường không có thai nặng 0,2 – 0,5kg

Vũ Duy Giảng và cộng sự (2002) [5], tử cung bình thường chỉ nặng 0,2 – 0,3kg, khi có thai tử cung lợn mẹ nặng tới 3 – 4kg

c Những thay đổi hocmon sinh dục.

Bào thai được phát triển bình thường dưới tác dụng điều hòa của các hocmon buồng trứng, nhau thai và tuyến yên

* Nửa thời kỳ đầu có thai: Nhau thai được hình thành và phát triển, tiết

ra Prolan B Chất này có tính chất giống như LH của thùy trước tuyến yên

Nó kích thích thể vàng phát triển và tăng tiết Progesteron, làm cho niêm mạc

tử cung phát triển và dày thêm Nhau thai ngoài việc tiết ra Prolan B, còn tiết

ra Progesteron và Folliculin

* Nửa thời kỳ sau có thai: Hàm lượng Progesteron giảm dần trong máu

Ngược lại Follicilin tăng dần đến mức tối đa

Trang 16

Cuối thời kỳ có thai, Progesteron giảm rất thấp trong máu Progesteron

có tác dụng ức chế tử cung co bóp và Follicilin kích thích co thắt tử cung, thuận lợi cho quá trình sinh đẻ Trong thời kỳ có thai, nhau thai đã dần thay thế chức năng nội tiết của thùy trước tuyến yên, tiết ra Prolan A và Prolan B Mặt khác, nó còn thay thế buồng trứng tiết ra Progesteron trong nửa thời kỳ đầu và Folliculin được tiết liên tục càng về sau càng nhiều

2.1.2.4 Sinh lý quá trình đẻ.

1 Khái niệm đẻ.

Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định, khi bào thai đã phát triển đầy đủ, gia súc mẹ đẩy thai ra ngoài cùng với màng nhau, dịch thai Quá trình đó gọi là đẻ

2 Thời gian đẻ của gia súc.

Thời gian đẻ của gia súc được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi thai ra khỏi cơ thể mẹ và số lượng bào thai ra hết ở những loài gia súc đa thai

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002 [11], thời gian đẻ của lợn từ 2-6h

3 Những biểu hiện của cơ thể mẹ trong thời gian gần sinh đẻ.

Quá trình sinh đẻ của gia súc là một quá trình sinh lý bình thường Cho nên cuối thời kỳ mang thai gia súc cái có những biểu hiện của quá trình sinh

đẻ, chủ yếu là đường sinh dục và bầu vú

Trang 17

cơ thể thường thay đổi, trước khi đẻ thì nhiệt độ tăng lên cao hơn bình thường Bên ngoài gia súc cái có hiện tượng sụt mông.

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], lợn trước khi đẻ 10 – 15 ngày bầu vú căng Giữa bầu vú và thành bụng đã phân chia ranh giới rõ ràng

b Triệu chứng rặn đẻ.

Khi đẻ gia súc mẹ phải dùng sức đẩy thai cùng với các khí quan trong đường sinh dục để đưa thai ra ngoài Sức rặn căn bản là do sự co bóp của tử cung, sự co bóp này bắt đầu từ sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung, kết quả làm mở rộng cổ tử cung

Nhưng chỉ nhờ vào sức co bóp của tử cung thì không đủ đẩy thai ra ngoài mà phải nhờ vào sự co bóp của cơ ở bụng, hoành cách mô và toàn thân

Đó mới là “ rặn” đẻ, mặt khác còn dựa vào sự co bóp của cơ âm đạo, chậu hông, sức Khi có triệu chứng đẻ thì tử cung bắt đầu co bóp, ban đầu yếu sau mạnh dần

4 Quá trình sinh đẻ.

Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do sự co bóp của tử cung, cơ thành bụng, sức rặn toàn thân, thai, màng nhau thai cùng với nước thai được tống ra ngoài Quá trình sinh đẻ được chia ra làm 3 thời kỳ:

a Thời kỳ mở cổ tử cung.

Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở ra hoàn toàn Tùy từng giống mà biểu hiện bên ngoài không giống nhau Ở lợn thường hay đứng nằm không yên, đi đi lại lại trong chuồng và có triệu chứng cắn ổ

Trang 18

Động lực thúc đẩy cho quá trình sinh đẻ là sự co bóp của cơ quan sinh dục được tiến hành từ mút sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung và đến âm đạo, thời gian co bóp có những khoảng cách nên gọi là những cơn rặn.

Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong thời kỳ 1 nhưng nói chung cơn rặn này yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn lại dài từ 20 – 30 phút, mỗi cơn rặn thường từ 2 – 3 giây Nếu con mẹ rặn liên tục thì mạch máu của bào thai chèn ép, tuần hoàn đình trệ, dưỡng khí cung cấp cho thai thiếu, thai ra chậm có thể bị ngạt

Cường độ co bóp chuyển từ sừng tử cung xuống thân tử cung, đến cổ tử cung ra ngoài âm đạo Nước ở trong tử cung và màng thai dồn ép ra ngoài, cổ

tử cung lúc này đã mở, màng thai đã một phần lọt ra ngoài Cùng với sức co bóp của tử cung tăng lên, màng thai tiếp tục chui ra, ép vào cổ tử cung làm cho cổ tử cung càng mở rộng Khi cổ tử cung đã mở rộng thì một phần của thai chui ra, lúc này giữa cổ tử cung và âm đạo không còn ranh giới nữa Cùng lúc thai ra ngoài có hiện tượng vỡ ối, màng ối và màng niệu vỡ ra Thứ

tự màng niệu vỡ trước, màng ối vỡ sau, nước ối và nước niệu đều ra cùng với màng ối, màng niệu cũng góp phần cho cổ tử cung mở rộng hoàn toàn đồng thời làm trơn đường sinh dục, cho thai đi ra ngoài dễ dàng

b Thời kỳ đẻ hay còn gọi là sổ thai.

Thời kỳ này bắt đàu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Ở thời kỳ này thai qua cổ tử cung và đi vào âm đạo Nếu đẻ bình thường, bộ phận ra trước nhất là đầu và chân Lúc này gia súc cái bồn chồn, đứng nằm không yên, có con chân sau đá vào bụng, lưng cong lên mà rặn

Khi đầu của thai đã đi vào hố chậu, gia súc cái lại nằm xuống Đặc điểm là sức co bóp của tử cung trong thời kỳ này mạnh vì thân của thai tiếp xúc niêm mạc âm đạo, gây ra một ma sát lớn Trong lúc này gia súc thường

Trang 19

kêu do bị đau vì dịch ối, dịch niệu chảy ra hết, thân thai lại tiếp giáp vào niêm mạc âm đạo.

Bào thai đã đi ra đường sinh dục thì tăng kích thích cho cơ co bóp, lực

co bóp lúc này là tổng hợp giữa co bóp của đường sinh dục, sự co bóp của cơ thành bụng, cơ hoành thành một lực mạnh và được kéo dài

Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], lợn rặn đẻ khác với loài gia súc khác, tử cung co bóp đẩy thai theo chiều dọc và co bóp theo từng đoạn

Sự co bóp bắt đầu từ gốc sừng tử cung, lan dần đến đầu nhọn của sừng tử cung Hai sừng tử cung thay nhau co bóp Trong cơn rặn đẻ lợn thường nằm nghiêng, cũng có khi đứng lên nhưng lại nằm xuống ngay, màng thai của lợn không lòi ra ngoài âm hộ, nước ối ít, thai lợn ra từng con một, sau mỗi lần rặn thường thai lợn ra dễ dàng

c Thời kỳ sổ nhau (hay gọi là bong nhau).

Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục của gia súc mẹ một thời gian, con mẹ trở lên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co bóp từ 1,5 – 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ lúc này yếu hơn

Sau khi sổ thai khoảng 2 – 3h tử cung co nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau Cơn rặn lúc này của gia súc cái chủ yếu là đưa nhau thai ra ngoài

Trong thời gian này tuần hoàn của núm nhau mẹ và núm nhau con đã giảm nên nhau thai có thể tách ra được Các nhung mao teo lại, tách núm nhau mẹ ra khỏi nhau thai Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ lại dần thể tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung đẩy ra ngoài

Trang 20

Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra ngoài, do đặc tính của tử cung

co bóp từ mút sừng tử cung tới thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước, sau đó bong dần xuống sừng

tử cung, thân tử cung và ra ngoài

Thời gian bong nhau thai của gia súc có khác nhau do đặc điểm cấu tạo của núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], lợn sau khi thai ra hết toàn bộ, khoảng 10 – 50 phút nhau thai mới ra Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chứa trong một sừng tử cung

Trong sừng tử cung lợn có ít thai thì nhau thai không dính lại như vậy,

mà ra từng cái một, thai sau có thể đẩy nhau thai của thai trước ra Nếu trong sừng tử cung lợn có xen kẽ nhiều thai bình thường và thai bị chết khô thì nhau thai cũng ra thành nhiều đống Thường những thai chết khô trong sừng tử cung sẽ ra cùng với nhau thai

2.2 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ QUÁ TRÌNH VIÊM

2.2.1 Khái niệm viêm.

Theo Vũ Triệu An và một số tác giả thì viêm là một phản ứng bảo vệ của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng tế bào

Ngày nay người ta cho rằng viêm là một phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại, thể hiện ở cục bộ mô tế bào (Nguyễn Hữu Nam, 2004)

2.2.2 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm.

Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây nên các rối loạn chủ yếu sau:

Trang 21

2.2.2.1 Rối loạn chuyển hóa.

Tại ổ viêm quá trình oxy hóa tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa gluxit, lipit và protit gây ra hiện tượng tăng độ axit, xeton, lipit, albumoza, polipeptit và các axit amin tại ổ viêm

2.2.2.2 Tổn thương mô bào.

Các tế bào bị tổn thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại vùng viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao và hạ thấp độ

pH của ổ viêm

Như vậy ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương mô bào còn tạo ra nhiều chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã góp phần hình thành và phát triển vòng xoắn bệnh lý trong viêm (Nguyễn Hữu Nam, 2004)

2.2.2.3 Dịch rỉ viêm.

Dịch rỉ viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm có thành phần hữu hình và các chất hòa tan như nước, muối, albumin, globulin, fibrinogen, bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản viêm lan Đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh lý như histamin, serotonin, axetincholin có tác dụng làm giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây đau

2.2.2.4 Tăng sinh mô bào.

Là hiện tượng tăng lên về số lượng các tế bào trong ổ viêm, các tế bào này có thể từ trong máu tới hoặc các tế bào thại chỗ sản sinh phát triển ra Trong quá trình viêm, giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức đọ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, 1997 [10])

Trang 22

2.2.2.5 Các tế bào viêm.

Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm: bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn Chúng có chức năng thực bào, ẩm bào hay tạo ra những kích thích tại các ổ viêm và giữ vai trò quan trọng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ từ môi trường

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM ĐƯỜNG SINH DỤC

Ở LỢN NÁI.

Trên thế giới vấn đề bệnh sinh sản ở gia súc đã và đang được nghiên cứu một cách toàn diện Hàng năm các chương trình đào tạo của quốc tế về sinh sản gia súc thường xuyên được tổ chức tại Trường Đại học Khoa học Nông nghiệp Uppsala (Thụy Điển), Trung tâm khoa học Quốc tế về Nông nghiệp Cairo (Ai Cập) Trong nội dung của những khóa học đào tạo này, vấn

đề phương pháp chẩn đoán, phát hiên và điều trị các bệnh sinh sản luôn là nội dung chính

Tuy nhiên cho đến nay những tư liệu nghiên cứu về bệnh sản khoa ở lợn còn rất ít Và trong những tư liệu nghiên cứu đó, cũng mới chỉ tập trung vào nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở lợn

Trang 23

định năng suất chăn nuôi Những bất thường của cơ quan sinh sản, nói rõ hơn

là các rối loạn kiểu viêm tử cung, làm năng suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng (F Madec, 1995 [8])

Theo A.Vtrekaxova (1983) [2], trong số các nguyên nhân dẫn tới ít sinh

đẻ và vô sinh của lợn thì các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm từ 5 – 15%

F.Madec [8], khi tiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh thái vào năm 1991 trên số đàn lợn xứ Brơ – ta – nhơ (Pháp) với chủ đề bệnh lý sinh đẻ cho thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung

Theo F.Madec [8] viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt một vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ ngày hôm sau và bệnh thường kéo dài 48 – 72 giờ

Theo F Madec, năm 1987 qua kiểm tra vi thể xứ Brơ – ta – nhơ thấy 26% số lợn nái có bệnh tích viêm tử cung Ngoài ra 2% số lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạc tử cung với đặc điểm thành tử cung có cấu tạo sợi fibrine

2.3.2 Việt Nam.

Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh viêm tử cung Nhưng những tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở lợn nái cũng còn rất ít

Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh (1999) [[12], bệnh viêm tử cung ở đại gia súc nói chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái sinh sản

Theo Nguyễn Văn Thành (2002) [13], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi sinh Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn

Trang 24

thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2α và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh Trong đó, biểu hiện chậm động dục khi xảy ra sẽ làm giảm sức sinh sản của lợn nái, giảm số vòng quay lứa đẻ trong năm Ngoài ra, phải tốn chi phí thuốc điều trị, phải loại thải sớm lợn nái do chậm động dục làm giảm hiệu quả kinh tế của trại chăn nuôi.

Lê Xuân Cương (1986) [5], lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân Trong đó, tổn thương bệnh lý sinh dục tỷ lệ đáng kể Cùng với nhận định trên, Lê Minh Chí, Nguyễn Như Pho (1984, 1992) cho rằng: khi lợn nái

đẻ khó cần áp dụng các thủ thuật ngoại khoa Nhưng sau đó thì niêm mạc đường sinh dục có thể bị tổn thương gây viêm tử cung

Nguyễn Xuân Bình (2005) [4], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau Nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ 1 – 10 ngày

Viêm tử cung là một trong nhiều tổn thương đường sinh dục trên lợn nái sau khi sinh Khi có dịch tiết và dịch lẫn mủ chính là biểu biện của viêm

tử cung (Nguyễn Văn Thành, 2002 [13])

Cũng theo Nguyễn Văn Thành (2002) [13], có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi…Nhưng nguyên nhân chính luôn hiện trong tất cả các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng

Đồng thời cũng có nhiều tác giả đã có những tổng kết về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn:

Bùi Thị Tho và cs (2002) [16] lợn Yorshire, Landrace trong giai đoạn nuôi con mắc bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ 15%, do chữa chạy kịp thời nên

Trang 25

khỏi 100%, song đã ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn nái, phần lớn là do những trường hợp đẻ khó dẫn tới viêm tử cung.

Nguyễn Văn Thành (2002) [13] lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm 25,48%, trên nhóm lai chiếm 50,48% Viêm tử cung xảy ra cao nhất là lứa 1

và lứa 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao nhiều hơn so với nhóm lợn không bị viêm tử cung

Theo Nguyễn Văn Thanh (2003) [15], tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại hướng nạc đang được nuôi tại các địa phương vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng là tương đối cao (7,1%) và có sự khác nhau giữa các địa phương Bệnh viêm tử cung thường tập trung ở những lợn nái mới đẻ lứa đầu và những lợn nái đã đẻ nhiều lứa

Theo Trần Tiến Dũng (2004) [7], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 – 50%, trong đó cơ quan ngoài chiếm 20%, còn lại 80% là viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng (2004) [7], tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái ngoại cũng cao từ 1,82 – 23,33%

Trang 26

2.2.3 Một số bệnh thường gặp ở đường sinh dục của lợn nái.

Trong số các bệnh ở đường sinh dục ở lợn nái, bệnh mà chúng ta thường gặp nhất bao gồn: viêm âm môn, tiền đình, âm đạo và bệnh ở tử cung

2.3.3.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo (Vulvitis, Vestibuliti et vaginitis puerperalis).

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây sát, tổn thương do bào thai hay

do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thương các bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra bệnh có thể kế phát từ hiện tượng sẩy thai, thai thối rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau

Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng chảy ra ngoài

2.3.3.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis).

Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) [11], cổ tử cung lợn dài 10-18 cm, tròn, không có gấp nếp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò

Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ

Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về mặt kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài ra viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung

Trang 27

Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được.

2.3.3.3 Viêm tử cung.

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thành,

a Viêm nội mạc tử cung.

Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao…thường gây ra viêm nội nạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc

tử cung thể cata cấp có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả

* Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperslis Catarrhalis purulenta acuta).

Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở trâu, bò, lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp

Trang 28

Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết…

Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải

ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

* Viêm nội mạc tử cung màng giả.

Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thường

đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử

Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải

ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử và niêm dịch…

b Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperslis).

Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít tương mạc tử cung

bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ

Trang 29

Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn có mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung thải ra càng nhiều.

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau

c Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis).

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng

Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất

rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm

có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm thể Parametritis và dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn

mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, kích thích con vật biểu hiện trạng thái đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

Trang 30

Viêm tương mạc tử

cung

Dịch viêm Màu Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt

Trang 31

Phần IIIĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG – ĐỊA ĐIỂM – THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu.

- Lợn nái ngoại thuộc các giống Landrace, Yorshire (giống thuần) và con lai giữa hai giống trên (giống lai) tại trang trại

- Đàn lợn được nuôi dưỡng, phòng bệnh theo đúng quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản

3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2010 đến tháng 4/2010

- Địa điểm nghiên cứu: Trại sản xuất lợn giống Bùi Huy Hạnh, thuộc

xã Tái Sơn, huyện tứ Kỳ, Hải Dương

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

3.2.1 Tình hình công tác chăn nuôi, thú y của trại Bùi Huy Hạnh – Tứ

Kỳ - Hải Dương.

3.2.2 Điều tra tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục, viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại Hạnh – Hải Dương từ năm 2007 – 2009.

- Tỷ lệ mắc bệnh theo giống

- Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ

Trang 32

3.2.3 Khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại theo giống, lứa đẻ.

3.2.4 Thử nghiệm, so sánh một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên lợn nái trong thời gian thực tập và theo dõi các chỉ tiêu:

- Tỷ lệ khỏi sau điều trị (%).

- Thời gian trung bình khỏi (ngày).

- Số con động dục trở lại sau điều trị (con).

- Thời gian động dục lại sau điều trị (ngày).

- Tỷ lệ động dục lại sau điều trị (%).

- Tỷ lệ thụ thai (%).

3.3 NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU.

Là các thuốc đang được dùng tại trại:

* Nor 100 (Minh Dũng): Dung dịch tiêm.

Ngày đăng: 05/11/2012, 09:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại năm 2009 và 4 tháng đầu năm 2010 - Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại năm 2009 và 4 tháng đầu năm 2010 (Trang 39)
Bảng 4.3. Lịch tiêm phòng cho đàn lợn con của trại trong giai đoạn từ sơ  sinh đến 21 ngày tuổi. - Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn
Bảng 4.3. Lịch tiêm phòng cho đàn lợn con của trại trong giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (Trang 43)
Bảng 4.4. Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn hậu bị của trại - Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn
Bảng 4.4. Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn hậu bị của trại (Trang 44)
Bảng 4.5. Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn nái nuôi ở trại - Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn
Bảng 4.5. Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn nái nuôi ở trại (Trang 45)
Bảng 4.6. Tình hình bệnh VĐSD ở lợn nái từ năm 2007 – 2009. - Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn
Bảng 4.6. Tình hình bệnh VĐSD ở lợn nái từ năm 2007 – 2009 (Trang 46)
Bảng 4.7: Bệnh VĐSD ở lợn nái ngoại thuần và lai (2007 – 2009) - Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn
Bảng 4.7 Bệnh VĐSD ở lợn nái ngoại thuần và lai (2007 – 2009) (Trang 49)
Bảng 4.8. Tình hình bệnhVĐSD, VTC ở lợn nái theo lứa đẻ (2007 – 2009). - Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn
Bảng 4.8. Tình hình bệnhVĐSD, VTC ở lợn nái theo lứa đẻ (2007 – 2009) (Trang 53)
Bảng 4.9: Các thể viêm tử cung theo giống (1 – 4/2010) - Kinh ngạch xuất khẩu ngành chăn nuôi lợn
Bảng 4.9 Các thể viêm tử cung theo giống (1 – 4/2010) (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w