1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép

69 635 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Tình Hình Nhiễm Và Biện Pháp Xử Lý Ngoại Ký Sinh Trùng Ký Sinh Trên Cá Chép
Tác giả Ngô Thị Hoa Trang
Người hướng dẫn TS. Trịnh Đình Thâu, ThS. Kim Văn Vạn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 4,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép ở giai đoạn cá hương và cá giống tại khu vực trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA THÚ Y -*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

“Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng

ký sinh trên cá Chép ở giai đoạn cá hương và cá giống tại khu vực

trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội”

Trang 3

THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

Tên đề tài:

“Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng

ký sinh trên cá Chép ở giai đoạn cá hương và cá giống tại khu vực

trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội”

2 ThS Kim Văn Vạn

Địa điểm thực hiện: Trại cá Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng những số liệu trong báo cáo này là hoàn toàn trung thực và chính xác, là kết quả của quá trình theo dõi trong thời gian thực tập, không sao chép của bất kỳ tác giả nào khác

Tôi xin cam đoan mọi tài liệu tham khảo đã trích dẫn đều được nêu tên trong phần TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sinh viên

Ngô Thị Hoa Trang

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ từ các cá nhân, tập thể trong và ngoài trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới Giáo viên hướng dẫn:

TS Trịnh Đình Thâu và ThS Kim Văn Vạn đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên trong lúc tôi gặp khó khăn nhất, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi có thể kết thúc đề tài và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trong 5 năm đại học, tôi đã nhận được sự dạy dỗ, chỉ bảo của các thầy cô trong Khoa Thú y nói riêng và các thầy cô trong Trường Đại học Nông Nghiệp

Hà Nội nói chung, qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới các thầy

Hà Nội, ngày tháng năm 2010

Sinh viên

Ngô Thị Hoa Trang

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG .v

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH v

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Mục tiêu đề tài: 2

2 Nội dung nghiên cứu: 2

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1 Một số đặc điểm sinh học của cá chép 3

1.1 Phân loại 3

1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố 3

1.3 Tập tính sống và dinh dưỡng 5

1.4 Đặc điểm sinh trưởng 5

1.5 Đặc điểm sinh sản 6

2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới và Việt Nam 7

2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới 7

2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá tại Việt Nam 11

3 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá chép trên thế giới và Việt Nam 14

3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá chép trên thế giới 14

3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên cá Chép ở Việt Nam 17

4 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản 20

4.1 Một số thuốc và hóa chất điều trị ngoại ký sinh trùng và cách sử dụng trong nuôi trồng thủy sản 22

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc 24

4.3 Quá trình chuyển hóa của thuốc trong cơ thể (TLTK) 25

4.4 Một số đặc điểm của hóa chất thử nghiệm 26

PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29

2 Vật liệu nghiên cứu 29

3 Nội dung nghiên cứu 29

4 Phương pháp nghiên cứu 30

4.1 Phương pháp thu mẫu 30

4.2 Phương pháp quan sát mẫu tươi 31

4.3 Cố định, bảo quản và làm tiêu bản ký sinh trùng 31

4.4 Phân loại ký sinh trùng 32

4.5 Phương pháp xử lý hóa chất với ngoại ký sinh trùng trên cá Chép 33

4.6 Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá 34

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

1 Thành phần giống, loài và CĐN, TLN ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép giai đoạn cá hương và cá giống 36

1.1 Loài Trichodina nobilis Chen, 1963 37

1.2 Ấu trùng Centrocestus formosanus Nishigori, 1924 39

Trang 8

1.3 Dactylogyrus 41

2 Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng hóa chất 44

2.1 Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng muối NaCl 44

2.2 Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng KMnO4 46

2.3 Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng CuSO4 49

2.4 Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng Formalin 52

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 54

1 Kết luận 54

2 Đề xuất 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Các nồng độ thuốc và hoá chất dùng để điều trị thử nghiệm ký sinh trùng

trên cá Chép hương và Chép giống 33

Bảng 4.1: Kết quả kiểm tra CĐN, TLN trùng bánh xe Trichodina nobilis trên cá Chép bệnh 38

Bảng 4.2: Kết quả kiểm tra CĐN, TLN ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus trên cá Chép bệnh 40

Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra CĐN, TLN sán lá đơn chủ Dactylogyrus trên cá Chép bệnh 43

Bảng 4.4: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng NaCl 45

Bảng 4.5: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng KMnO4 47

Bảng 4.6: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng CuSO4 50

Bảng 4.7: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng Formalin 52

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH Hình 1: Ảnh cá Chép hương và Chép giống 4

Hình 2: Cá Chép khổng lồ 6

Hình 3: Trichodina nobilis tại Bắc Ninh 37

Hình 4: Trichodina nobilis Theo Bùi Quang Tề 37

Hình 5: Ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus fomosanus 39

Hình 6: Sán lá đơn chủ ký sinh trên mang cá Chép giai đoạn cá hương 42

Trang 11

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, ngành Thủy sản nước ngọt ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta Sản phẩm thủy sản là nguồn thực phẩm thơm ngon giàu chất dinh dưỡng nên được nhiều người ưa chuộng Cá Chép là một trong những loài cá nuôi truyền thống, có lịch sử phát triển nuôi lâu đời nhất Loài cá này đóng vai trò quan trọng trong nghề nuôi cá nước ta nói riêng và các nước nhiệt đới khác nói chung, mang lại thu nhập cao cho người nuôi Cá Chép có lịch sử lâu đời và được nuôi rộng rãi như hiện nay là

do chúng có rất nhiều ưu điểm: Chịu đựng được ngưỡng oxy thấp và ngưỡng chịu nhiệt rộng Ăn được nhiều loại thức ăn – thức ăn tự nhiên, thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp Chất lượng thịt cá Chép thơm ngon, bán được giá cao Bên cạnh đó cá Chép còn có ý nghĩa tâm linh, được nuôi làm cảnh nhiều Vì vậy các mô hình nuôi ngày càng được mở rộng, sản lượng cá tăng lên hàng năm

Tuy vậy, một hạn chế của ngành Nuôi trồng Thủy Sản nói chung và của nghề nuôi cá Chép nói riêng là vấn đề chất lượng con giống kém, tỷ lệ cá giống nhiễm các loại bệnh là khá cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của người nuôi Một trong những nguyên nhân đó là ở giai đoạn cá hương, cá giống thường gặp ngoại ký sinh trùng đơn bào và đa bào Với khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa của nước ta là điều kiện thuận lợi cho ký sinh trùng phát triển Các bệnh do chúng gây ra có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người, động vật và gây tổn thất to lớn đối với sản xuất nông ngư nghiệp Chúng gây ra dịch bệnh làm

cá sinh trưởng và phát triển kém hoặc chết nhiều gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi Với cường độ nhiễm thấp, cá chậm lớn, chất lượng con giống kém Nếu nhiễm với cường độ cao gây chết rải rác đến hàng loạt làm ảnh hưởng đến kinh tế của người nuôi Tuy nhiên hiện nay việc xử lý đàn cá nhiễm bệnh đang gặp nhiều khó khăn Thuốc, hóa chất sử dụng an toàn với môi trường

Trang 12

sinh thái lại không hoặc kém tác dụng điều trị Còn thuốc và hóa chất có hiệu quả điều trị bệnh lại có độ độc và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Vì vậy thử nghiệm các loại thuốc, hóa chất với nồng độ thích hợp để xử lý ký sinh trùng đang được các nhà bệnh học thủy sản quan tâm nghiên cứu để đạt hiệu quả điều trị cao nhất mà không độc hại và ảnh hưởng đến môi trường.

Xuất phát từ thực tế trên, đồng thời góp phần tìm ra biện pháp xử lý hiệu quả nhất để khuyến cáo bà con nuôi thủy sản có biện pháp phòng và xử

lý, hạn chế thiệt hại kinh tế do ngoại ký sinh trùng gây ra, chúng tôi tiến hành

đề tài: “Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng

ký sinh trên cá Chép ở giai đoạn cá hương và cá giống tại khu vực trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội”

2 Nội dung nghiên cứu:

- Xác định thành phần giống loài ngoại ký sinh trùng trên cá Chép giai đoạn từ cá hương lên cá giống

- Xác định thời điểm nhiễm ngoại ký sinh trùng

- Thử nghiệm thuốc và hóa chất xử lý ngoại ký sinh trùng

Trang 13

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Một số đặc điểm sinh học của cá chép

Loài: Cá Chép – Cyprinus carpio

1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố

Cá Chép thân cao, hình thoi, dẹt hai bên Nhìn bên ngoài của cá ta có thể chia cơ thể cá làm 3 phần: đầu, thân và đuôi Ranh giới giữa đầu và thân là khe mang cuối cùng Ranh giới giữa thân và đuôi là vây hậu môn

Đầu cá Chép nhỏ, thuôn cân đối Mõm tròn tù Có 2 đôi râu: Râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt Mắt vừa phải ở 2 bên, thiên về phía trên của đầu Khoảng cách 2 mắt rộng và lồi Miệng hướng phía trước, hình cung khá rộng Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên Môi dưới phát triển hơn môi trên Lược mang ngắn, thưa Răng hầu phía trong có mặt nghiền vân rãnh rõ

Vây lưng có khởi điểm sau khởi điểm vây bụng một ít, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc và phía sau có răng cưa Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn Viền sau vây lưng lõm và các tia vây ngắn đều, các vây màu hồng Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hóa xương rắn chắc và phía sau có răng cưa Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn Vây đuôi phân thùy sâu, hai thùy hơi tầy và tương đối bằng nhau

Vẩy tròn lớn Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cán đuôi Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài

Trang 14

Đốt sống toàn thân 33 – 34 (18 + 15 – 16) Bóng hơi 2 ngăn Ruột ngắn bằng 0,8 – 1,8 lần chiều dài thân.

Mầu sắc: Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen Vây đuôi và vây hậu môn

đỏ da cam (Cá nước ngọt Việt Nam – tập 1, 2006)

Hình 1: Ảnh cá Chép hương và Chép giống

Cá Chép phân bố rộng khắp các vùng trên toàn thế giới trừ Nam Mỹ, Tây Bắc Mỹ, Madagasca và châu Úc, chúng sống được trong các thủy vực nước ngọt Ở Việt Nam, cá sống tự nhiên trong các vực nước ở các tỉnh phía Bắc Giới hạn trong tự nhiên của cá này về phía Nam là sông Ba Nam Trung

Bộ (Nguyễn Hữu Dực, 1997) Hiện nay do việc di và thuần hóa cá Chép vào các tỉnh phía Nam nên nó đã được phát tán ra nhiều khu vực nước tự nhiên

Cá Chép có rất nhiều loài: chép vảy, chép kính, chép trần, chép gù, chép đỏ… nhưng loài nuôi phổ biến là Chép vảy, hay còn được gọi là Chép trắng Từ năm 1972 đến nay, nước ta đã nhập thêm các loại cá Chép kính, Chép trần, Chép vảy từ các nước Hungari, Indonesia, Pháp cho lai tạo với cá Chép Việt

Trang 15

(Nguyễn Duy Khoát, 2005) Hiện nay ở Việt Nam, giống cá Chép được người nuôi ưa chuộng là giống V1 do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 chọn giống Cá Chép V1 có nhiều đặc tính tốt do được tập hợp từ các dòng cá Chép: chép vẩy Hungari, chép vàng Indonesia, chép trắng Việt Nam.

1.3 Tập tính sống và dinh dưỡng

Cá Chép sống ở tầng giữa và tầng đáy là chủ yếu, nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn đáy và cỏ nước, trong các loại mặt nước ao, hồ, đầm, sông, ruộng… Cá chịu được nhiệt độ từ 0 – 400 C, thích hợp ở 20 - 270 C Cá có thể sống trong điều kiện khó khăn khắc nghiệt Cá Chép chịu được ngưỡng oxy thấp, do đó có thể nuôi với mật độ cao Cá Chép ăn tạp, thiên về động vật không xương sống ở đáy Trong ống tiêu hóa của cá Chép, thức ăn khá đa dạng như mảnh vụn thực vật, hạt, rễ cây, các loài Giáp xác, ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm Tùy theo kích thước cá và mùa vụ dinh dưỡng mà thành phần thức ăn có thay đổi nhất định Cá 3 – 4 ngày tuổi dài 6 – 7,2mm,

cá sống phổ biến ở tầng nước trên là chính Cá được 4- 6 ngày tuổi dài 7,2 - 7,5 mm, sống ở tầng nước giữa, thức ăn chủ yếu là sinh vật phù du Cá 8 – 10 ngày tuổi dài 14,3 – 19mm, các vây bắt đầu hoàn chỉnh, có vẩy, râu, thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy cỡ nhỏ Cá 20 – 28 ngày tuổi dài 19 – 28mm, chủ yếu sống ở tầng đáy, ăn sinh vật đáy, mùn bã hữu cơ và một ít sinh vật phù du Khi trưởng thành, cá Chép ăn sinh vật đáy là chính: giun, ấu trùng, côn trùng, nhuyễn thể, giáp xác… Ngoài ra cá còn ăn thêm hạt, củ, mầm thực vật… nuôi trong ao cá ăn tạp Trong nuôi trồng thủy sản, có thể sử dụng các thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp để nuôi cá Chép (Cá nước ngọt Việt Nam – tập 1, 2006)

1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Cá Chép là loài cá có kích thước trung bình Cấu trúc thành phần tuổi của cá Chép ở sông Hồng trước đây có tới 7 nhóm tuổi Sinh trưởng chiều dài hàng năm của cá Chép như sau: 1 tuổi là 17,3 cm, 2 tuổi là 20,6 cm, 3 tuổi là

Trang 16

30,2 cm, 4 tuổi là 35,4 cm, 5 tuổi là 41,5 cm, và 6 tuổi là 47,5 cm Tốc độ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng đều về khối lượng Sinh trưởng của cá Chép phụ thuộc nhiều vào mật độ và thức ăn Cá lớn khá nhanh sau một năm nuôi, có thể đạt 1,5 – 2kg Cá Chép nội địa tăng 0,3 – 0,5kg ở năm đầu tiên và 0,7 – 1,0kg ở năm thứ hai Cá sinh trưởng tốt ở các vùng ruộng trũng và các vực nước nông (Cá nước ngọt Việt Nam – tập 1, 2006).

Trên thế giới, cá Chép có thể lớn tới độ dài tối đa khoảng 1,2m và cân nặng tối đa 37,3kg cũng như tuổi thọ cao nhất được ghi lại là 47 năm Những giống sống trong tự nhiên hoang dã có xu hướng nhỏ và nhẹ hơn khoảng từ

20 – 33% các kích cỡ và khối lượng cực đại (vi.wikipedia.org/wiki/Cá_chép) Ngày 2/7/2007, Kik (Thái Lan) đã bắt được một con cá chép nặng 120kg và

đã được công nhận là con cá chép lớn nhất trong lịch sử câu cá của thế giới

Trang 17

Ở miền Bắc, mùa sinh sản của cá Chép thường có hai vụ: Vụ Đông – Xuân từ tháng 2 – 5 và vụ Thu từ tháng 8 – 9 Ở các sông, cá thường di cư vào các bãi ven sông có nhiều cỏ nước Cá Chép thường đẻ trứng vào lúc sáng sớm,

số lượng trứng phụ thuộc vào kích thước cá bố mẹ và giống loài, khoảng 15 –

20 vạn trứng/1kg cá cái Cá Chép thành thục thường đẻ tự nhiên vào những ngày thời tiết thay đổi như: mưa, gió… hoặc khi có nước mới Trứng cá Chép

có hình cầu, hơi vàng đục, đường kính trứng 1,2 – 1,8mm Trứng cá Chép thuộc loại trứng dính, bám vào các giá thể: cây cỏ, thực vật thủy sinh Nhiệt độ

đẻ trứng thích hợp từ 20 – 22oC (Cá nước ngọt Việt Nam – tập 1, 2006)

2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới và Việt Nam

2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới

Ban đầu là những nghiên cứu sơ khai của Linnae về ký sinh trùng (1707 – 1778) Tiếp theo là những nghiên cứu của Viện sỹ V A Dogiel (1882 – 1956) thuộc viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ đã đưa ra “phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá”, mở ra một hướng phát triển mới cho nghiên cứu về các khu hệ ký sinh trùng trên cá và các loại bệnh do ký sinh trùng gây ra, cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu ký sinh trùng cá vẫn áp dụng Viện sỹ Bychowsky và các cộng sự, năm 1962 đã xuất bản cuốn sách: “Bảng phân loại ký sinh trùng của cá nước ngọt Liên Xô” đã mô tả 1211 loài ký sinh trùng của khu hệ cá nước ngọt Liên Xô Tiếp tục năm 1984, 1985, 1987 công trình nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt Liên Xô đã xuất bản thành hai phần gồm ba tập, do O.N Bauer là chủ biên chính, S S Schulman chủ biên tập 1, A V Gussev chủ biên tập 2, O N Bauer chủ biên tập 3 Ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu ký sinh trùng lâu năm của Liên Xô cũ Công trình đã mô tả hơn 2.000 loài ký sinh trùng của 233 loài cá thuộc 25 họ

cá nước ngọt Liên Xô Có thể nói Liên Xô cũ là nước có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá sớm nhất, toàn diện và đồ sộ nhất (Bùi Quang

Tề, 2001)

Trang 18

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô cho thấy các loài sán

đơn chủ thuộc một số họ Dactylogyridae, Tetraonchidae có tính đặc hữu rất

cao, mỗi loài cá chỉ bị một số loài sán lá đơn chủ nhất định ký sinh, nghĩa là những loài sán lá đơn chủ chỉ ký sinh ở một ký chủ nhất định Nghiên cứu về sán lá đơn chủ, Gussev cho rằng sự phân loại và tiến hóa của họ

Dactylogyridae, Diplozoonidae, Ancyloliscoidae có liên hệ với ký chủ của

chúng, sán lá đơn chủ (Monogenea) ở cá nước ngọt chủ yếu ký sinh trên bộ cá Chép Hầu hết giống cá Chép là ký chủ của họ Dactylogyridae và

Diplozoonidae (Lê Ngọc Quân, 2005)

Các nước châu Âu khác cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá Lom (1958 – 1997) người Tiệp Khắc đã nghiên cứu ký sinh

trùng Ciliophora, Myxozoa, Microspora, Spotozoa và Mastigophora trên động

vật trong đó có cá Lom và G Grupcheva (1976), nghiên cứu ký sinh đơn bào của cá Chép ở Tiệp khắc và Bungari, các tác giả đã so sánh sự xuất hiện bệnh

và mô tả loài mới Năm 1992, Lom và Iva Dykova đã xuất bản cuốn “Ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) của cá” Họ cho biết hiện nay có xấp xỉ 2.420 loài

ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) ở cá đã được công bố Nhiều loài gây nguy

hiểm cho cá nuôi nước ngọt và nuôi nước biển Cuốn sách đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu và hệ thống phân loại của 7 ngành ký sinh đơn bào ở

cá, gồm: ngành trùng Roi (Mastigophora), ngành Opalinata, ngành Amip (Amoebae), ngành trùng Bào tử (Apicomplexa), ngành vi bào tử (Microspora), ngành bào tử (Myxozoa), ngành trùng Lông (Ciliophora) (Bùi Quang Tề,

2001)

Châu Phi và Trung Cận Đông đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá, trong đó có Paperna I (1961, 1964, 1965, 1996); D C Kritsky (1960) Năm 1964, Paperna đã nghiên cứu ký sinh trùng đa bào của

29 loài cá nội địa Israel và phát hiện được 116 loài ký sinh trùng Năm 1996,

Trang 19

Paperna cho xuất bản cuốn sách “Ký sinh trùng và bệnh truyền nhiễm ở cá Châu Phi”, ông đã mô tả các bệnh ký sinh trùng ở các trại nuôi cá và phân loại ký sinh trùng quan trọng của cá (Bùi Quang Tề, 2001).

Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu ký sinh trùng – bệnh cá và động vật thủy sản nói chung khá phát triển so với các nước Châu Á Từ giữa thế kỷ 20 đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng cá: Chen Chinleu (1955, 1956, 1960); Nie Dashu (1960); Yin Wen-ying (1960, 1962, 1963); Wu H.S (1956) Năm 1973, Chen Chinleu là chủ biên cuốn sách: “Ký sinh trùng cá nước ngọt tỉnh Hồ Bắc” Ông điều tra 50 loài cá nước ngọt đã phát hiện 382 loài ký sinh trùng trong đó có 17 loài sán lá đơn chủ, 33 loài sán lá song chủ, 10 loài sán dây Các loài cá có nhiều ký sinh trùng nhất là cá Chép, cá Mè trắng, cá Trắm cỏ (Trần Thị Hà, 1997)

Ở Nhật Bản, công trình đồ sộ nhất của nhà ký sinh trùng học Yamaguti

S (1958, 1960, 1963, 1971) đã tổng kết kết quả nghiên cứu giun, sán ký sinh ở động vật và người trên toàn thế giới, xuất bản thành nhiều tập Nagasawa K.; Awakura T và Urawa S (1989) đã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido - Nhật Bản và xác định được 96 loài ký sinh trùng trong đó 38 loài chưa xác định được tên loài (Bùi Quang Tề, 2001)

Ngoài ra một số nước như Ấn Độ có công trình nghiên cứu của Thapar,

1976 đã tổng kết về sán lá đơn chủ (Monogenea) có 100 loài ký sinh trùng ký

sinh ở các loài cá Ấn Độ Năm 1976, Gussev nghiên cứu 37 loài cá nước ngọt

Ấn Độ, phân loại được 57 loài sán đơn chủ trong đó đã phát hiện 40 loài sán

lá đơn chủ là loài mới đối với khoa học (Bùi Quang Tề, 2001)

Ở một số nước trong khu vực như Thái Lan, công trình nghiên cứu đầu tiên về bệnh ký sinh trùng cá nuôi là của C.B Wilson, 1926 – 1927 thông báo

về hiện tượng rận cá thuộc giống Argulus ký sinh trên cá nước ngọt Thái Lan

và đến năm 1928 cũng tác giả này lại miêu tả về bệnh lý trên cá trê Thái Lan

có một loài thuộc giống Carligus ký sinh Qua tổng kết, một số nguyên sinh

Trang 20

động vật, sán lá đơn chủ là tác nhân gây bệnh ký sinh trùng như:

Chilodonella, Trichodina, Costia, Heneguya, Dactylogyrus, Gyrodactylus

Ngoài ra, Paiboon Yutisri; Aprirum Thuhanruksa (1985), khi điều tra khu hệ

ký sinh trùng của một số cá sống tự nhiên ở một số vùng của Thái Lan đã phát hiện 16 loài ký sinh trùng, trong đó gồm 3 loài ngoại ký sinh và 13 loài nội ký

sinh ở cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus) (Bùi Quang Tề, 2001) Còn

theo Tonguthai (1992), các nhà khoa học Thái Lan không chỉ dừng ở đó mà

còn đi sâu nghiên cứu một số bệnh ký sinh trùng như bệnh: Opisthorchosis do

Opisthorchis viverini ký sinh trong gan người Không những thế, khu hệ ký

sinh trùng cá Thái Lan ngày càng phong phú bởi sự bổ sung của ký sinh trùng

cá nước mặn Năm 1981, L Ruangpan đã viết cuốn sách đầu tiên về ký sinh trùng ký sinh ở cá biển dọc bờ biển Thái Lan

Ở Indonesia, khi nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun đầu gai trên cá nước ngọt ở Java, Louis Bovien (1926, 1927, 1933) đã mô tả một

giống mới và loài mới Djombangia penetrans tìm thấy ở cá trê trắng (Clarias

batrachus); Isoparorchis eurytremum ở cá Wallago attu Tiếp theo nhà khoa

học người Đức Alfred L Buschkiel (1932, 1935) đã nghiên cứu ký sinh trùng

đơn bào (Ichthyophthyrius multifiliis) ở một số loài cá nước ngọt của

Indonesia (Bùi Quang Tề, 2001) Đến năm 1952, sự ra đời của cuốn sách

“Những dấu hiệu của những loại ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Indonesia” của tác giả M.Sachlan thực sự là bước ngoặt trong ngành ký sinh trùng học nước này

Malaysia là nước nghiên cứu ký sinh trùng của cá muộn hơn Trong giai đoạn 1861 – 1973, Furtado và Fernanda có báo cáo về phân loại và hình thái của một số giun sán ký sinh ở cá nước ngọt Malaysia (Richard Arthur J, 1996) Cũng như ở Thái Lan và nhiều nước khác, khu hệ ký sinh trùng ở Malaysia ngày càng phong phú khi sự nghiên cứu được chuyên sâu theo nhiều hướng khác nhau Leong Tak Seng trong những năm 1978 – 1991 đã nghiên cứu ký

Trang 21

sinh trùng đa bào trên cá nước mặn Mohamed Shariff (1980, 1985, 1992) nghiên cứu ký sinh trùng của cá rô phi và một số cá nuôi trong bể kính Susan Lim Lee- Hong (1983, 1985, 1986, 1987, 1990, 1997) đã nghiên cứu hệ thống phân loại của sán lá đơn chủ ở cá nước ngọt Malaysia (Bùi Quang Tề, 2001).

Ở Philipin tác giả nghiên cứu ký sinh trùng cá sớm nhất là Tubangui M

A (1928 - 1946) Ngay từ năm 1947, Tubangui đã công bố kết quả nghiên cứu

một số loài mới thuộc sán lá đơn chủ (Trematoda – Digenea), giun tròn (Nematoda) và giun đầu móc (Acanthocephala) Năm 1958, Velasquez đã đề cập

đến sự phân loại và chu kỳ sống của ký sinh trùng giun sán Năm 1975, Velasquez xuất bản cuốn sách về sán lá song chủ ở Philipin, tổng khóa phân loại sán lá song chủ “Digenetic trematodes of Philipin fishes” (Bùi Quang Tề, 2001) Đây là một tài liệu chuyên khảo có giá trị

Ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á đã có các nghiên cứu ký sinh trùng cá từ đầu thế kỷ XX nhưng chưa nghiên cứu toàn diện các nhóm ký sinh trùng, thường chỉ nghiên cứu theo từng nhóm ký sinh trùng như: sán lá song chủ, sán lá đơn chủ hoặc ở một vài loài cá

2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá tại Việt Nam

Người đầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng trên cá tại Việt Nam là nhà ký sinh trùng học người Pháp, bác sỹ Albert Billet (1856 – 1915) Ông đã mô tả

một loài sán lá song chủ mới Distomum hypselobagri (1898) ký sinh trong

bóng hơi cá Nheo ở Việt Nam

Trước năm 1960, lĩnh vực Bệnh học Thủy sản ở Việt Nam hầu như chưa được quan tâm Nhóm đề tài nghiên cứu bệnh học thủy sản được hình thành đầu tiên tại trạm nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng 1960, là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I hiện nay Đến nay, do yêu cầu của thực tế sản xuất, các phòng nghiên cứu bệnh ở động vật thủy sản (ĐVTS) được xây dựng ở nhiều nơi: Viện NCTS II (TP Hồ Chí Minh) và III (Nha Trang –

Trang 22

Khánh Hòa), tại các trường đại học có đào tạo ngành NTTS như trường Đại học Thủy sản Nha Trang, trường Đại học Cần Thơ, trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đều có các phòng nghiên cứu về bệnh học thủy sản Ngoài ra, tại các địa phương có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển đều có các trạm kiểm dịch giúp nông dân phát hiện và phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004)

Từ năm 1961 - 1976, một số nhà khoa học của Liên Xô cũ Oschmarin P.G.; Mamaev U.L.; Paruchin A.M.; Lebedev B.I khi điều tra ký sinh trùng ở hơn 60 loài cá của vịnh Bắc Bộ, đã công bố hơn 20 bài báo trong tạp chí và sách tham khảo Các tác giả đã xác định 190 loài ký sinh trùng giun sán, trong

đó đã mô tả được 9 giống và 37 loài mới đối với khoa học (Bùi Quang Tề, 2001)

Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về sán ở cá nước ngọt mới chỉ bắt đầu từ những năm 60 ở miền Bắc và từ sau năm 75 ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long Hà Ký là nhà ký sinh trùng học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng một số loài sán Trong giai đoạn 1960 – 1968, ông đã nghiên cứu trên 16 loài cá nước ngọt ở miền Bắc – Việt Nam Tiếp nối kết quả nghiên cứu này là sự đóng góp lớn của Bùi Quang

Tề, nghiên cứu KST và bệnh KST của 6 loại hình cá Chép nuôi và một số loài

cá nước ngọt khác ở đồng bằng Bắc Bộ Ở miền Trung, Hà Ký đã điều tra sán

cá nước ngọt ở Tây Nguyên

Lê Văn Hòa và Phạm Ngọc Khuê (1967), Lê Văn Hòa và Bùi Thị Liên Hương (1969) đã nghiên cứu phân loại giun tròn trên cá ở Nam Bộ Các tác

giả đã mô tả 1 giống và 2 loài mới: Pseudoproleptus lamyi, Campanarougetia

campanarougetae (Bùi Quang Tề, 2001).

Năm 1976, Nguyễn Thị Muội và cộng sự đã nghiên cứu giun đầu gai trên

cá thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, bước đầu phân loại được 9 loài ký sinh trên 12

Trang 23

loài cá Giai đoạn 1981 – 1985 là công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Muội, Đỗ Thị Hoà về ký sinh trùng cá nước ngọt ở miền Trung đã phát hiện được một số loại sán lá ký sinh (Hà Ký - Bùi Quang Tề, 2007).

Hai nhà giun sán học F Moravec và O Sey (1986 - 1991) đã phân loại giun sán ký sinh ở một số mẫu cá của trường Đaih học tổng hợp Hà Nội thu trên cá thuộc hệ thống sông Hồng Các tác giả đã phân loại được 16 loài sán

lá song chủ (Trematoda), 21 loài giun tròn (Nematoda), 7 loài giun đầu gai (Acanthocephala), trong đó đã mô tả 16 loài, 2 giống mới đối với khoa học

(Bùi Quang Tề, 2001)

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ở cá toàn diện và đầy đủ nhất của tiến sỹ Hà Ký (1968 – 1971) Khi điều tra ký sinh trùng ở 16 loài cá kinh tế ở Bắc Bộ Việt Nam, ông đã xác định được 120 loài ký sinh

trùng thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ, 10 lớp, trong đó trùng roi (Mastigophora)

2 loài, trùng bào tử (Myxozoa) 18 loài, Nematoda 12 loài, Acanthocephala 2 loài, Crustacea 15 loài Ông cũng đã mô tả 1 họ, 1 giống và 42 loài mới đối

với khoa học (Bùi Quang Tề, 2001)

Ở miền Nam, Bùi Quang Tề điều tra nghiên cứu ký sinh trùng hơn 41 loài cá nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra Kết quả xác định được 161 loài, 77 giống, 51 họ thuộc 16 lớp

Nhiều nhất là lớp sán lá đơn chủ (Monogenea) gặp 50 loài nhưng sán lá song chủ (Trematoda) chỉ gặp 16 loài (Bùi Quang Tề, 2001).

Theo Arthur J.R, Bùi Quang Tề (2006), Việt Nam đã điều tra nghiên cứu được 373 loài ký sinh trùng trên cá, trong đó có 143 loài sán lá song chủ

(Trematoda) thuộc 42 họ, 90 giống Trên cá nước ngọt đã xác định được 48

loài sán lá song chủ, cá nước lợ, mặn có 95 loài sán lá song chủ ký sinh ở cá.Theo tổng kết của Bùi Quang Tề (2008), từ nghiên cứu ký sinh trùng của một số tác giả trong và ngoài nước, cho đến nay ở Việt Nam đã điều tra nghiên cứu ký sinh trùng của 179 loài cá, trong đó có 107 loài ký sinh trùng ở

Trang 24

cá nước ngọt và 72 loài ở nước lợ mặn, thuộc 54 họ Phân loại được 592 loài

ký sinh trùng thuộc 252 giống, 117 họ, 18 lớp Trong đó có 1 họ phụ, 14 giống, 81 loài của cá nước ngọt và 43 loài mới đối với khoa học 592 loài ký sinh trùng (nước ngọt 380 loài, nước lợ và nước mặn có 212 loài), gồm lớp

Opalinata có 1 loài, lớp Microsporea 1, lớp Sporozoa 2, lớp Kinetoplastidea 5,

lớp Kenetophragminophorea 12, lớp Myxosporea 47, lớp Polyhymenophara 4, lớp Oligohymenophorea 40, lớp Monogenea 159, lớp Cestoidea 26, lớp

Aspidogastridae 2, lớp Trematoda 150, lớp Nematoda 78, lớp Acanthocephala

26, lớp Hirudinea 4, lớp Bivalvia 1, lớp Maxillopoda 30, lớp Malacostraca 4

loài

3 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá chép trên thế giới và Việt Nam

3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá chép trên thế giới

Nhiều loài ký sinh trùng là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho cá ở giai đoạn sớm (cá hương, cá giống) Nguyên nhân gây bệnh cho cá do ký sinh trùng đã được nhiều tác giả trên thế giới thông báo Nhiều loài ký sinh trùng

đã gây thiệt hại cho nghề nuôi cá, như nhóm đơn bào ngoại ký sinh, sán lá

đơn chủ (Monogenea), giun sán và giáp xác (Crustacea).

Bệnh Argulosis là bệnh phổ biến của cá ở nhiều nước trên thế giới Ở

Ucraina năm 1960, bệnh rận cá làm chết gần 2 triệu cá Chép con, 3 triệu con khác bị thương và chết dần (Bùi Quang Tề, 2001)

O N Bauer (1969, 1977) cho biết ở cá Chép cỡ 3,0 - 4,5 cm, cường độ

nhiễm Dactylogyrus là 20 - 30 cá thể/1 con cá và đã làm cho cá chết (Bùi

Quang Tề, 2001)

Laboratorio giới thiệu và cảnh báo về sự nhiễm Centrocestus

fomosanus trên cá trong nuôi trồng thủy sản ở Mexico Ông cho biết loài sán

lá song chủ này và ký chủ đầu tiên của nó là ốc Melanoides tubercularus Châu

Á đã được giới thiệu ở nước ông từ năm 1979 đến năm 1985 khi người ta

Trang 25

nhập cá Chép từ Trung Quốc sang đã phát hiện có nhiễm sán Centrocestus

fomosanus trên cá hương, kết quả là tất cả các loài cá khác ở một trang trại ở

Mexico đã bị nhiễm Centrocestus fomosanus Từ thời điểm đó, sán lá song chủ Centrocestus fomosanus đã nhanh chóng phát triển khắp đất nước Mexico

và lan ra cả những vùng lân cận như Đại Tây Dương, Thái Bình Dương Cũng

tại đây, ông đã nghiên cứu và phát hiện loài Diệc Butoridae stritus là ký chủ cuối cùng của sán lá song chủ Centrocestus fomosanus (Nguyễn Thị Mai

Phương, 2009)

Mellisa Harvey làm thí nghiệm sử dụng tia cực tím để tiêu diệt ấu trùng

Centrocestus fomosanus sống tự do trong môi trường nước Trong thí nghiệm

này, khoảng 21 nghìn ấu trùng được xử lý bằng tia cực tím trong thời gian khác nhau từ 10, 100, 1000 và 10000 giây Cường độ tia cực tím trung bình/ giây là 28,34mW/cm2 với bước sóng là 257nm Như vậy cường độ tia tử ngoại trong các lô thí nghiệm là 283,4; 2834; 28340 và 283400 34mW/cm2 Sau khi xử lý tia cực tím theo thời gian khác nhau, ở mỗi công thức tiến hành thu 3 mẫu, mỗi mẫu lấy 50ml nước chứa ấu trùng sán được nhuộm bằng dung dịch FDA và Propidium iodide (PI), sau đó lọc qua màng lọc có kích thước là 8µm Kết quả trung bình của 3 lần nhuộm và lọc cho thấy 99% ấu trùng

Centrocestus fomosanus vẫn sống ở tất cả các công thức, trừ công thức có thời

gian xử lý bằng tia cực tím 10000 giây thì ấu trùng chết 100% (Mellisa Harvey, 2000)

Theo Mellisa Harvey rất nhiều loài sán Trematodes mà vòng đời của

chúng phụ thuộc nhiều cường độ chiếu sáng Để kiểm tra giả thiết này, ông tiến hành thiết kế thí nghiệm trong các ống có độ chiếu sáng khác nhau: 3 ống thí nghiệm hoàn toàn tối, 3 ống thí nghiệm hoàn toàn sáng và 3 ống thí nghiệm có tỷ lệ tối : sáng là 50 : 50 Mỗi ống đựng 3,5ml nước cất và 1ml

nước có chứa Centrocestus fomosanus Mỗi ống chiếu sáng trong 3 giờ, cường

độ chiếu sáng là 950 lux Thí nghiệm được lặp lại hai lần, dùng chất chỉ thị

Trang 26

FDA và PI Sau đó soi trên kính hiển vi và tính tỷ lệ sống của Centrocestus

fomosanus Kết quả cho thấy phần lớn Cercaria ở tất cả các ống thí nghiệm

mầu đen bị chết do nhiệt độ từ bóng đèn phát ra bức xạ với màu đen của ống

nghiệm nên Centrocestus fomosanus chết rất nhiều (Mellisa Harvey, 2000).

Bệnh trùng quả dưa do Ichthyophthyrius multifiliis gây ra, trùng ký sinh

trên da, mang, vây cá Bệnh lưu hành rộng trên khắp các châu lục trên thế

giới Ở Đông Nam Á Ichthyophthyrius multifiliis đã gây bệnh trên nhiều loài

cá trong đó có 2 loài thuộc nhóm cá Chép Ấn Độ (Labeo rohita và Cirrhina

mrigala) Sự mẫn cảm đối với bệnh này khác nhau tùy thuộc vào vị trí địa lý,

với mức độ cảm nhiễm thấp cá trở thành vật mang bệnh (paperna, 1980)

Tại Bangladet, 5 loài cá chép (Hypophthalmichthys molitrix, Cyprinus

carpio var specularis, Cyprinus idellus, Cyprinus carpio var communis và Puntius gonionotus) được kiểm tra đã cho thấy các bệnh ký sinh trùng : Có

793 loài cá bị nhiễm bệnh do 3 loài sinh vật đơn bào (Trichodina sp,

Ichthyophthirius sp và Chilodonella sp.), 2 Monogenean (Gyrodactylus sp., Dactylogyrus sp.), 2 Trematoda (Gorgotrema sp , Metadena sp.), 4 Cestoda

(Rhopalothyrax sp., Marsipometra sp., Lytocestus sp và Senga sp.), 2

Nematoda (Camallanus sp., Procamallanus sp.), 3 giáp xác (Argulus sp., Alitropus sp và Lamproglena sp) và côn trùng 1 (ấu trùng Dipteran) ký sinh

Những ký sinh trùng được phân lập từ nhớt trên cơ thể, mang và ruột của cá

bị nhiễm bệnh Trong các loài ký sinh, nói chung tỷ lệ trung bình nhiễm cao

nhất là Argulus sp (20,07%) ở H molitrix và thấp nhất là Metadena sp (2,85%) ở Cyprinus carpio var communis Mật độ trung bình nhiễm cao nhất

là Chilodonella sp (10,00) trong Cyprinus carpio var specularis và thấp nhất

là Procamallanus sp (2,08) trong Cyprinus carpio var communis (J Agric

Rural Dev 5(1&2), 127-134, June 2007).

Trang 27

3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên cá Chép ở Việt Nam

Khi nghiên cứu thành phần giống loài ký sinh trùng trên 6 loại hình cá Chép ở Việt Nam, Bùi Quang Tề đã phát hiện 41 loài ký sinh trùng thuộc 23 giống, 21 họ, 14 bộ, 9 lớp ở cá Chép trắng Việt Nam, cá Chép vàng, Chép kính hung, Chép vảy hung, Chép lai 1, Chép lai 2 Hầu hết các loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian (32 loài

chiếm 75%) Trong đó chú ý nhất là lớp bào tử trùng (Chidosporidia) 10 loại

và lớp sán lá đơn chủ (Monogenoidea) 9 loại Thành phần giống loài ký sinh

trùng ở từng loại hình cá Chép khác nhau: Chép trắng Việt Nam gặp 29 loài, Chép vàng gặp 19 loài, Chép kính hung gặp 25 loài, Chép vảy hung gặp 16 loài, Chép lai 1 gặp 37 loài, Chép lai 2 gặp 11 loài Tuy nhiên cá Chép trắng Việt Nam và Chép lai 1 có thành phần giống loài ký sinh trùng phong phú nhưng mức độ cảm nhiễm thấp Ngược lại cá Chép kính hung và cá Chép vảy hung số loài ký sinh trùng không nhiều nhưng mức độ cảm nhiễm một số loài

ký sinh trùng rất cao đã gây thành dịch bệnh làm cá chết hàng loạt Đáng chú

ý nhất là loài: Myxobolus chúng thường gây bệnh cho cá Chép Hungari, hao

hụt rất lớn trong giai đoạn ương từ bột lên giống Các nhóm tuổi khác nhau thì thành phần loài ký sinh trùng cũng khác nhau như ở cá Chép trắng Việt Nam số loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển phức tạp qua ký chủ trung gian tăng dần ở giai đoạn cá giống và cá thịt Nguyên nhân chủ yếu là sự thay đổi tính ăn của cá Chép, từ ăn sinh vật phù du (cá hương) sang ăn sinh vật đáy (cá giống và cá thịt) (Bùi Quang Tề, 1981 – 1985)

Năm 1979, cá Chép của một số hồ nuôi cá ở Hà Nội đã nhiễm

Gyrodactylus với tỷ lệ nhiễm ở da và mang 100%, cường độ nhiễm 20 - 30 cá

thể/ 10 x 9 trên thị trường kính hiển vi, có lamen đếm được 1125 cá thể, bệnh

đã gây chết hàng loạt cá Chép các cỡ khác nhau (Bùi Quang Tề, 2001)

Từ năm 1975 - 1984, Myxobolosis, Thelohanellosis thường xuyên gây

bệnh cho cá Chép Hungari nhập nội nuôi ở Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy

Trang 28

sản I, trại cá Lạng Giang - Bắc Giang, trại cá Tiền Phong - Quảng Ninh Bệnh

đã làm kênh nắp mang của cá Chép giống và gây chết cá hàng loạt (Bùi Quang Tề, 2001)

Trong số 78 loài cá được nghiên cứu ký sinh trùng, nếu tính riêng hai

loài cá chép Ấn Độ (Labeo rohita và Cirrhina mrigala) nuôi ở đồng bằng sông

Cửu Long, theo Bùi Quang Tề, 1990 đã phát hiện 11 loài ký sinh trùng ký sinh trên da, mang cá, trong đó có 7 loài ký sing trùng ký sinh trên cá

Cirrhina mrigala; 10 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá Labeo rohita.

Theo Hà Ký (1968) và Bùi Quang Tề (1990) trùng bánh xe phân bố rộng với tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm cao gây tác hại lớn cho cá hương và cá giống ở Việt Nam Tại Đông Nam Á, người ta phát hiện một số

loài trùng bánh xe như Trichodina acuta, T nobilis, T nigra, T pediculus, T

domerguei, Tripartiella bulbosa, Trichodinella epizootica ký sinh trên da, vây,

mang 2 loài cá Chép Ấn Độ (Labeo rohita và Cirrhina mrigala).

Thích bào tử trùng ký sinh trên da, mang, vây, thành ruột và cơ Theo Bùi Quang Tề (1984) cá Chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá hương,

cá giống thường mắc bệnh thích bào tử trùng với tỷ lệ cảm nhiễm cao (có trường hợp tới 96%), cường độ cảm nhiễm rất cao, bào nang bám dày đặc trên các cung mang làm cá không khép nổi nắp mang

Bệnh sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrosis được phát hiện lần đầu

năm 1961 tại một số ao cá giống ở Hà Nội và Bắc Ninh Tác nhân gây bệnh là

sán lá đơn chủ 16 móc thuộc giống Dactylogyrus Ở nước ta đã phát hiện hơn

60 loài thuộc giống này ký sinh ở cá nước ngọt Cá Chép cũng bị cảm nhiễm với loại trùng này Sán lá đơn chủ 16 móc ký sinh chủ yếu trên mang cá, hút máu và niêm dịch cá, song nguy hiểm nhất là giai đoạn cá hương và cá giống

Tỷ lệ cảm nhiễm có thể lên tới 100% Tỷ lệ tử vong do bệnh này có thể lên tới 90% ở một vài loài cá nuôi trong ao tại một số trại cá (Trần Thị Hà, 1999)

Sán lá đơn chủ 18 móc (Gyrodactylus) ký sinh trên da và mang cá Ở giai

Trang 29

đoạn cá con, sán lá đơn chủ 18 móc ký sinh chủ yếu ở da Còn ở giai đoạn cá giống và cá thịt thì chủ yếu ký sinh trên mang Năm 1978, sán lá đơn chủ 18 móc gây bệnh chết hàng loạt cá Chép thịt ở Hà Nội (Trần Thị Hà, 1999).

Ở cá, ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus fomosanus ký sinh chủ yếu

trên mang Số lượng các loài cá nhiễm ấu trùng sán lá song chủ khá đa dạng, hầu

hết là các loài cá nước ngọt, phổ biến là cá Chép (Cyprinus carpio), cá Mè trắng Việt Nam (Hypophthalmichthys harmandi), cá Chim Trắng (Colossoma

macropomum)… nuôi ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên,

Thái Nguyên, Bắc Cạn, Đồng Bằng sông Cửu Long Theo Bùi Quang Tề điều tra ký sinh trùng trên cá Rô hu và Mrigal cho thấy tỷ lệ nhiễm: 22,88% (Hà Ký - Bùi Quang Tề, 2007) Ngoài ra đối với cá tự nhiên, hầu như bị nhiễm các loại ấu trùng sán lá, trong đó ấu trùng sán lá song chủ với tỷ lệ nhiễm rất cao, có thể lên tới 100% (Kim Van Van & Dinh Thi Thuy, 2008)

Trong những năm gần đây, tỷ lệ và cường độ cá nhiễm ấu trùng sán lá

song chủ Centrocestus fomosanus trong các ao hồi nuôi miền Bắc rất cao, làm

giảm chất lượng đàn cá nuôi, đặc biệt là cá Chép ở giai đoạn cá giống Đã có nhiều nghiên cứu về sán lá song chủ, song phạm vi nghiên cứu còn chưa rộng, hầu hết tập trung vào nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ở các địa phương (Nguyễn Thị

Hà, 2007)

Cho đến nay, ở Việt Nam đã nghiên cứu và tổng kết được một số bệnh

ký sinh trùng thường gặp ở cá giống: bệnh trùng bào tử sợi; bệnh tà quản trùng; bệnh trùng bánh xe; bệnh trùng quả dưa; bệnh sán lá đơn chủ; bệnh giun tròn; bệnh ấu trùng sán ở mang cá; bệnh trùng mỏ neo và bệnh rận cá Các tác giả Hà Ký (1966 - 1992), Nguyễn Thị Muội (1985), Nguyễn Văn Thành (1992) và Bùi Quang Tề (1990 - 1999) đều thống nhất ý kiến, bệnh trùng bánh xe là nguy hiểm nhất ở các giai đoạn cá con

Trang 30

4 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản

Việc dùng thuốc trong nuôi trồng thủy sản có thể đưa lại nhiều lợi ích khác nhau như có thể làm tăng hiệu quả sản xuất, tăng hiệu quả sử dụng thức

ăn, tăng tỷ lệ sống sót của đàn ấu trùng trong các trại giống… Nhờ tác dụng của các loại thuốc khác nhau đã và đang dùng trong nuôi trồng thủy sản đã làm giảm đáng kể những rủi ro bệnh tật nếu dùng đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian quy định và đặc biệt là giai đoạn sớm của bệnh Tuy nhiên việc dùng thuốc quá lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản nói chung và trong nuôi công nghiệp (nuôi thâm canh) đã và đang phổ biến ở Việt Nam và các nước trong khu vực, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe con người, phá hủy môi trường sinh thái, làm ảnh hưởng đến chất lượng các đàn giống, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thương phẩm và tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc… Những ảnh hưởng này càng nặng nề khi những người ngư dân tham gia nuôi trồng thủy sản không có ý thức và hiểu biết ít về hiệu quả và tác dụng của từng loại thuốc mà họ dùng hàng ngày Trong nuôi thâm canh (nuôi công nghiệp) dùng thuốc là điều không thể tránh khỏi, nhưng để dùng có hiệu quả, giảm đi các tác động phụ vốn có của thuốc tới môi trường, sức khỏe của con người và vật nuôi, các cơ quan quản lý nhà nước về thuốc thú y thủy sản phải ban hành những quy định nghiêm ngặt về các loại hóa chất được sử dụng và cấm dùng trong nuôi trồng thủy sản Có biện pháp xử lý thích đáng những người mua và bán những thuốc đã cấm Mặt khác, cần bồi dưỡng nâng cao ý thức và sự hiểu biết cho ngư dân tham gia nuôi trồng thủy sản về tác dụng và hiệu quả hai mặt của tất cả các chủng loại thuốc dùng trong nuôi trồng thủy sản

Trong nuôi trồng thủy sản, muối ăn (NaCl) là loại hóa chất được sử dụng sớm nhất để hạn chế ký sinh trùng (Alderman, 1998)

Đến đầu thế kỷ XIX, KMnO4 được coi như một loại thuốc chủ yếu để phòng và chữa bệnh cho cá Năm 1920 và 1930, Formalin được sử dụng trong

Trang 31

thời gian dài để trị bệnh do hai loại ký sinh trùng Gyrodactylus và

Dactylogyrus (Tonguthai, 1990).

Trong những năm tiếp theo, nhờ những tiến bộ của khoa học mà nhiều loại thuốc và hóa chất đã được thử nghiệm và đưa vào sử dụng phổ biến như: sulphat đồng (CuSO4), Xanh malachite (hiện nay đã cấm sử dụng) để phòng trừ bệnh do nấm gây ra Sau đó những năm 30 của thế kỷ XX, hệ thống vaccin lần đầu tiên được sử dụng để hạn chế các bệnh do vi khuẩn Đây là bước tiến nhảy vọt của khoa học trong việc làm hạn chế các dịch bệnh xảy ra đối với động vật thủy sản Đến nay vaccine được coi như biện pháp ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh trên cạn cũng như động vật thủy sản (Alderman, 1988)

Trong những năm trước đây, Chloramphenicol là một loại kháng sinh

có hiệu lực cao đối với cả hai loại vi khuẩn gram âm và gram dương, nó có

tác dụng chống lại sự gây bệnh của vi khuẩn Aeromonas và Pseudomonas

được công bố vào năm 1951 do Smith (Alderman, 1988) Loại kháng sinh này

từ khi xuất hiện được sử dụng phổ biến và lan rộng sang các nước Đông Âu

và Châu Á (Tuan, 1992) Hiện nay do hàm lượng thuốc tồn dư trong sản phẩm thủy sản ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường nên Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định cấm sử dụng loại thuốc kháng sinh này trong nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo quản sản phẩm thủy sản Khuynh hướng sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản hiện nay là sử dụng các thuốc kháng sinh tổng hợp có tác dụng tốt đối với động vật thủy sản nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Từ những năm 1950, CuSO4 được coi là một loại hóa chất sử dụng có hiệu quả trong điều trị nấm, đồng thời CuSO4 cũng là một trong những hóa chất được sử dụng rộng rãi và lâu đời nhất trong nuôi trồng thủy sản Đầu tiên người ta biết đến CuSO4 như một loại hóa chất diệt tảo Tuy nhiên, chúng vẫn được coi như một loại hóa chất để trị bệnh vi khuẩn, nấm, KST đơn bào, sán

lá đơn chủ, giáp xác ký sinh…(Davis, 1953; Brakev, 1961; Herman, 1972;

Trang 32

Hoffman, 1972; Mayer, 1974…) Hiệu quả điều trị KST của CuSO4 thì thấy

rõ, còn hiệu quả điều trị vi khuẩn còn nghi ngờ

Bên cạnh CuSO4, Xanh malachite cũng là một loại hóa chất có hiệu quả trị nấm và KST trên động vật thủy sản Là loại hóa chất có ảnh hưởng tới quá trình sinh tổng hợp Protein từ các axit amin, ảnh hưởng tới quá trình tạo năng lượng, do vậy chúng có hiệu quả cao trong điều trị bệnh Xanh malachite là loại hóa chất có khả năng diệt trùng mạnh nên hiệu quả phòng trị bệnh do KST gây

ra rất tốt Tuy nhiên, Xanh malachite là loại hóa chất có thời gian phân hủy dài, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người (gây ung thư da) Vì vậy hiện nay Xanh malachite đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam và các nước khác (http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenthuongchanh/120707-catom.htm)

4.1 Một số thuốc và hóa chất điều trị ngoại ký sinh trùng và cách sử dụng trong nuôi trồng thủy sản

Hiện nay, với sự phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành như nông nghiệp, công nghiệp, thực phẩm… đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như ô nhiễm môi trường kéo theo dịch bệnh lan tràn, xuất hiện nhiều bệnh nguy hiểm cho con người và vật nuôi Trong nuôi trồng thủy sản hiện nay cũng vậy, việc phát triển, cải tiến các mô hình nuôi từ quảng canh đến thâm canh mật độ cao đã kéo theo nhiều vấn đề bệnh tật cho đối tượng nuôi, gây thành đại dịch làm giảm sút đáng kể về kinh tế và năng suất trong nuôi trồng thủy sản, kéo theo việc chữa trị gặp nhiều khó khăn Vì vậy việc sử dụng thuốc và hóa chất trong chữa trị bệnh đã trở thành phổ biến và cần thiết trong kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản Trong quá trình phòng trị bệnh cho động vật thủy sản, có nhiều phương pháp để thuốc tiếp cận với cơ thể vật chủ tùy thuộc vào từng loại thuốc, điều kiện hoàn cảnh của từng trang trại mà áp dụng một phương pháp nào đó phù hợp và hiệu quả nhất Theo Đỗ Thị Hòa và ctv (2004) chúng ta có các biện pháp dùng thuốc sau:

Phun thuốc vào bể ương với nồng độ thấp: Nồng độ ppm hay ppt, thời

Trang 33

gian 6 – 24h hoặc không tính thời gian Phương pháp dùng thuốc này thường

dễ thao tác và có hiệu quả tiêu diệt mầm bệnh khá tốt

Tắm cho động vật thủy sản: Thường dùng thuốc với nồng độ cao, trong

một thể tích nhỏ và thời gian ngắn (10 – 20 phút) nên tốn ít thuốc, không ảnh hưởng đến môi trường Hiệu quả của phương pháp này chỉ tiêu diệt tác nhân ký sinh bên ngoài cơ thể Thao tác không đơn giản vì dễ gây sốc và yếu vật nuôi

Ngâm động vật thủy sản trong môi trường có thuốc: Phương pháp này

thường dùng nồng độ cao hơn phun xuống ao, nhưng nồng độ thấp hơn và thời gian kéo dài hơn phương pháp tắm Phương pháp này có thể gây sốc cho tôm cá do nhốt giữ ở mật độ cao, trong thể tích nhỏ và thời gian kéo dài

Phương pháp treo túi thuốc: Dùng với các loại thuốc sát trùng có khả

năng hòa tan trong nước Thao tác tiến hành đơn giản, động vật thủy sản ít bị ảnh hưởng bởi thuốc

Phương pháp trộn thuốc vào thức ăn: Đây là phương pháp dùng thuốc

phổ biến, dễ là và mang lại hiệu quả kinh tế Dùng với các loại thuốc như kháng sinh, vaccine, vitamin, khoáng, chế phẩm sinh học, thuốc điều trị nội KST, không dùng với các loại thuốc là hóa chất sát trùng Lượng thuốc tính bằng mg, g/kg thức ăn hoặc µg, mg, g/kg khối lượng cơ thể vật nuôi/ngày Phương pháp này thao tác đơn giản, dễ làm và có thể tiêu diệt được tác nhân gây bệnh đã nhiễm vào trong cơ thể vật nuôi Tuy nhiên, khi cho thức ăn có thuốc xuống ao, một phần thuốc sẽ bị phân tán ra ngoài môi trường nước, những con bệnh nặng, yếu đã bỏ ăn thì không sử dụng được thuốc, ngược lại những con còn khỏe ăn một lượng thuốc nhiều hơn yêu cầu cần thiết, gây độc cho cơ thể Vì vậy khi sử dụng phương pháp trộn thuốc vào thức ăn cần chú ý: cần bao thức ăn có thuốc bằng một số vật liệu ít tan trong nước như dầu mực, dầu đậu nành, agar…, trộn thuốc vào loại thức ăn ưa thích nhất và vào lượng thức ăn ít hơn khẩu phần bình thường để tôm cá nhanh chóng ăn hết thức ăn có thuốc Quan trọng nhất là cần phát hiện bệnh ở thời kỳ sớm để khi

Trang 34

dùng thuốc tôm cá vẫn còn khả năng bắt mồi thì mới có thể đưa thuốc vào cơ thể động vật thủy sản.

Phương pháp tiêm thuốc: Phương pháp này rất khó thực hiện nếu chỉ

bắt những con bị bệnh để tiêm và càng khó khi muốn tiêm hết toàn bộ cá trong ao Vì vậy phương pháp này chỉ dùng trong một số trường hợp với tôm

cá bố mẹ, hoặc trong điều kiện nghiên cứu

Một số phương pháp khác: Dùng thuốc sát trùng nồng độ cao bôi trực

tiếp lên các vết thương trên cơ thể vật nuôi để tiêu diệt tác nhân gây bệnh Ngoài ra khi sử dụng vaccine hay chất kích thích miễn dịch, sử dụng phương pháp phun sương để tạo ra các hạt nhỏ lên dụng cụ chứa cá, tôm để chúng hấp thu qua da, mang, đường bên…

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc

Tác dụng của thuốc mạnh hay yếu do nhiều nguyên nhân ảnh hưởng nhưng yếu tố chính là mối quan hệ tương hỗ giữa thuốc và cơ thể sinh vật

Tính chất vật lý của thuốc: Thuốc có độ hòa tan lớn hay dạng lỏng thì

cơ thể dễ hấp thu nên tác dụng sẽ nhanh hơn Khi các tính chất vật lý và hóa học của thuốc thay đổi sẽ làm mất tác dụng của thuốc

Liều lượng dùng thuốc: Liều lượng thuốc nhiều hay ít đều có ảnh hưởng

đến tác dụng của thuốc Dùng liều quá ít sẽ không phát sinh được tác dụng Liều lượng thuốc lớn nhất mà cơ thể sinh vật chịu được không có biểu hiện ngộ độc là liều lượng chịu đựng cao nhất Nếu vượt qua ngưỡng này thì động vật thủy sản sẽ bị ngộ độc, gọi là liều lượng ngộ độc Vượt quá liều lượng này

sẽ làm động vật thủy sản bị chết gọi là liều lượng tử vong

Phương pháp dùng thuốc: Các phương pháp dùng thuốc khác nhau, tốc

độ hấp thu thuốc khác nhau nên nồng độ thuốc trong cơ thể cũng sẽ khác nhau Để phòng trị cho động vật thủy sản thường dùng các phương pháp như: Tắm, phun thuốc xuống ao, tiêm, ngâm, trộn vào thức ăn… Mỗi phương pháp dùng thì tác dụng của thuốc lại khác nhau

Ngày đăng: 05/11/2012, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Tề, đề tài “Nghiên cứu ký sinh trùng nước ngọt và phương pháp phòng trị bệnh do chung gây ra”, năm 1981-1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ký sinh trùng nước ngọt và phương pháp phòng trị bệnh do chung gây ra”
2. Bùi Quang Tề (1997), Bệnh của động vật thuỷ sản – Tài liệu bộ môn bệnh cá, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của động vật thuỷ sản
Tác giả: Bùi Quang Tề
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
3. Bùi Quang Tề (2001), Ký sinh trùng của một số loài cá nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long và giải pháp phòng trị chúng, luận văn tiến sỹ sinh học, 226 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng của một số loài cá nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long và giải pháp phòng trị chúng
Tác giả: Bùi Quang Tề
Năm: 2001
4. Bùi Quang Tề (1998), Bệnh của động vật thuỷ sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 180 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của động vật thuỷ sản
Tác giả: Bùi Quang Tề
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
5. Bùi Quang Tề (1999), “Kết quả nghiên cứu KST cá nước ngọt Việt Nam”, Tạp chí sinh học, 21 (2), 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu KST cá nước ngọt Việt Nam”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Bùi Quang Tề
Năm: 1999
6. Bùi Quang Tề 2008, Danh mục ký sinh trùng cá Việt Nam, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục ký sinh trùng cá Việt Nam
7. Bùi Quang Tề _ Vũ Thị Tám (1999), Những bệnh thường gặp ở tôm cá và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp - Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bệnh thường gặp ở tôm cá và biện pháp phòng trị
Tác giả: Bùi Quang Tề _ Vũ Thị Tám
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Thành phố HCM
Năm: 1999
8. Trần Thị Hà (1999), Nghiên cứu ký sinh trùng ở nhóm cá chép Ấn Độ (Labeo rohita) và (Cirrhina mrigala) giai đoạn cá con nuôi tại Đình Bảng (Bắc Ninh), Đông Anh (Hà Nội) và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ký sinh trùng ở nhóm cá chép Ấn Độ (Labeo rohita) và (Cirrhina mrigala) giai đoạn cá con nuôi tại Đình Bảng (Bắc Ninh), Đông Anh (Hà Nội) và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra
Tác giả: Trần Thị Hà
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Hà (2007), Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng (metacercaria) sán lá song chủ (Trematoda) ký sinh trên một số cá nuôi tại Nghĩa Hưng – Nam Định, Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng (metacercaria) sán lá song chủ (Trematoda) ký sinh trên một số cá nuôi tại Nghĩa Hưng – Nam Định
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2007
10. Đỗ Thị Hoà, Bùi Quang Tề, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội (2004), Giáo trình Bệnh học thủy sản – Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, 2004, NXB Nông nghiệp, Thành phố HCM, trang 342 – 343 Sách, tạp chí
Tiêu đề: trình Bệnh học thủy sản
Tác giả: Đỗ Thị Hoà, Bùi Quang Tề, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
12. Lê Ngọc Quân (2005), Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng Metacercaria trên cá Rohu, mè trắng nuôi tại xã Nghĩa Lạc- huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng Metacercaria trên cá Rohu, mè trắng nuôi tại xã Nghĩa Lạc- huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định
Tác giả: Lê Ngọc Quân
Năm: 2005
13. Ngô Sỹ Vân (2007), Giáo trình ngư loại học, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngư loại học
Tác giả: Ngô Sỹ Vân
Năm: 2007
16. Trần Thị Hà (1999), Nghiên cứu ký sinh trùng ở nhóm cá chép Ấn Độ (Labeo rohita) và (Cirrhina mrigala) giai đoạn cá con nuôi tại Đình Bảng (Bắc Ninh), Đông Anh (Hà Nội) và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ký sinh trùng ở nhóm cá chép Ấn Độ (Labeo rohita) và (Cirrhina mrigala) giai đoạn cá con nuôi tại Đình Bảng (Bắc Ninh), Đông Anh (Hà Nội) và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra
Tác giả: Trần Thị Hà
Năm: 1999
17. Đỗ Thị Hoà, Bùi Quang Tề, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội (2004), Giáo trình Bệnh học thủy sản – Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, 2004, NXB Nông nghiệp, Thành phố HCM, trang 342 – 343 Sách, tạp chí
Tiêu đề: trình Bệnh học thủy sản
Tác giả: Đỗ Thị Hoà, Bùi Quang Tề, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Nguyễn ngọc Phước, Bệnh và Phương pháp chẩn đoán bệnh, Đại học Nông Lâm Huế, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh và Phương pháp chẩn đoán bệnh
19. Trương Thị Hoa, 2008, “Nghiên cứu thành phần loài ký sinh trên cá Dầy Cyprinus centralus tại Thừa Thiên Huế”, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp.B. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần loài ký sinh trên cá Dầy Cyprinus centralus tại Thừa Thiên Huế”
20. Richard Arthur J History of fisheris parasitology in southeast Asia. In “perspective in Asia Fisheries”. Edited by sena S.De. Silva. Asia fisheries society, Manila, Philippine, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: perspective in Asia Fisheries
21. Arthur J.R. and S. Lumanlan-Mayo 1997, checklist of the parasites of fishes of the Philippines, FAO fisheries technical paper, No 369, Rame Sách, tạp chí
Tiêu đề: checklist of the parasites of fishes of the Philippine
23. Lom J. And G.Grupcheva 1976, “Protozoa Parasites of Carp (Cyprynus carpio L): A Comparative study of occurrence in Bulgaria and Czechoslovakia, with the description of Trichodina perforata sp. n” Folia Parasitologica, Praha, 23, pp. 289-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Protozoa Parasites of Carp (Cyprynus carpio L"): A Comparative study of occurrence in Bulgaria and Czechoslovakia, with the description of "Trichodina perforata "sp. n
24. Andrew Mitchell (2005), “Centrocestiasis: a serious gill trematode problem in cultured and wild fishes” TropocalMedicine and Health, 33(2), pp11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Centrocestiasis": a serious gill trematode problem in cultured and wild fishes” "TropocalMedicine and Health
Tác giả: Andrew Mitchell
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Ảnh cá Chép hương và Chép giống - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Hình 1 Ảnh cá Chép hương và Chép giống (Trang 14)
Hình 2: Cá Chép khổng lồ - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Hình 2 Cá Chép khổng lồ (Trang 16)
Bảng 3.1.  Các nồng độ thuốc và hoá chất dùng để điều trị thử nghiệm ký  sinh trùng trên  cá Chép hương và Chép giống - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Bảng 3.1. Các nồng độ thuốc và hoá chất dùng để điều trị thử nghiệm ký sinh trùng trên cá Chép hương và Chép giống (Trang 43)
Hình 5: Ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus fomosanus - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Hình 5 Ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus fomosanus (Trang 49)
Bảng 4.2: Kết quả kiểm tra CĐN, TLN  ấu trùng sán lá song chủ  Centrocestus formosanus trên cá Chép bệnh - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra CĐN, TLN ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus trên cá Chép bệnh (Trang 50)
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra CĐN, TLN sán lá đơn chủ Dactylogyrus trên cá  Chép bệnh - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra CĐN, TLN sán lá đơn chủ Dactylogyrus trên cá Chép bệnh (Trang 53)
Bảng 4.4: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng NaCl - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Bảng 4.4 Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng NaCl (Trang 55)
Bảng 4.6: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng CuSO 4 - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Bảng 4.6 Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng CuSO 4 (Trang 60)
Bảng 4.7: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng Formalin - Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép
Bảng 4.7 Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng Formalin (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w