1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

15 603 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 78,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụngđối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp 1.1.. - Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp phân

Trang 1

Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụng

đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động

theo Luật doanh nghiệp

1.1 Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong

sự nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nớc

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp (DNHĐTLDN)

Luật Doanh nghiệp Việt Nam đợc ban hành ngày 12/6/1999 xác định “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn

định, đợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh ”

Các doanh nghịêp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp đợc quy định bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp t nhân

Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ cuả công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không đợc phát hành bất

kỳ loại chứng khoán nào

Doanh nghiệp t nhân (DNTN) là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và

tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Khác với doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tơng ứng với phần vốn góp, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp

Công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) là doanh nghiệp trong đó phần vốn góp của tất cả các thành viên phải đợc đóng góp đủ ngay khi thành lập và

đ-ợc ghi rõ trong điều lệ của công ty, số lợng thành viên không vợt quá 50 Công

ty không đợc quyền phát hành cổ phiếu

Công ty cổ phần (CTCP) là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá

Trang 2

cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua 1 hoặc nhiều cổ phiếu, số lợng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lợng tối đa Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, lấy số liệu minh họa và cũng không

ảnh hởng đến kết quả nghiên cứu vì số lợng các công ty hợp danh không nhiều nên trong đề tài tôi không đề cập đến các công ty hợp danh

1.1.2 Đặc điểm, u điểm và hạn chế của các doanh nghiệp hoạt

động theo Luật doanh nghiệp

1.2.2.1.Đặc điểm của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp sở hữu t nhân về t liệu sản xuất Mục tiêu lớn nhất trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này là thu đợc lợi nhuận tối đa Do vậy, nhiều khi gây hậu quả xấu cho xã hội

nh tình trạng kinh doanh không kê khai nộp thuế, trốn thuế, thậm chí còn có nhiều doanh nghiệp “ ma”

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp chỉ mới ra đời sau khi có Luật Doanh nghiệp t nhân và Luật Công ty năm 1990 và đặc biệt phát triển mạnh mẽ sau khi Luật Doanh nghiệp đợc ban hành năm 1999 Do đó, chủ doanh nghiệp thờng thiếu kiến thức, kinh nghiệm kinh doanh và rất bỡ ngỡ trớc thị trờng, nhất là thị trờng ngoài nớc

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp hầu hết là quy mô vừa và nhỏ, các doanh nghiệp này ban đầu đều dựa vào nguồn vốn tự có, vốn huy động ngoài rất ít

- Trình độ phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp ở nớc ta còn thấp cả về công nghệ, kỹ năng lao động và quản lý

- Trình độ xã hội hoá của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp cha cao, đặc biệt là xã hội hoá về sở hữu, thể hiện rõ nét nhất là loại hình doanh nghiệp t nhân vẫn chiếm u thế Hình thức công ty, đặc biệt là công ty cổ phần có trình độ xã hội hoá về sở hữu cao hơn còn chiếm tỷ trọng thấp

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp phân bố không

đều, phần lớn tập trung vào những vùng mà cơ sở hạ tầng thuận lợi, dân c đông

đúc, trong một số ngành có suất sinh lời cao

1.1.2.2 Ưu điểm của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

- Chủ doanh nghiệp là những ngời trực tiếp sở hữu vốn nên các doanh nghiệp này có chủ đích thực Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp gắn với sở hữu t nhân về t liệu sản xuất nên có thể truyền lại cho các thế

Trang 3

hệ con cháu kinh nghiệm, kiến thức kinh doanh và tài sản Điều đó tạo ra các

động lực thúc đẩy phát triển hoạt động kinh doanh không giới hạn

- Bộ máy quản lý các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp th-ờng đơn giản, gọn, nhẹ do đó nó có khả năng ứng biến nhanh nhạy và thích nghi cao với những biến động của thị trờng Với quy mô vừa và nhỏ, cơ chế quản lý không cồng kềnh, phức tạp, nên chủ doanh nghiệp dễ dàng ra quyết định, khi gặp khó khăn doanh nghiệp dễ xoay chuyển tình hình, dễ thống nhất nội bộ

- Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp thờng rõ ràng và đơn giản là thu lợi nhuận tối đa, ít bị các mục tiêu kinh

tế xã hội khác chi phối nh đối với các doanh nghiệp Nhà nớc

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp là khu vực thu hút khá nhiều vốn trong dân, không ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nớc

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp có tỷ suất vốn đầu

t trên lao động thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn

1.1.2.3 Hạn chế của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

- Quy mô của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp thờng nhỏ, trang thiết bị lạc hậu và lao động phổ thông chiếm một tỷ trọng cao Do đó khả năng cạnh tranh nhất là trên thị trờng thế giới rất kém Hiện nay khoảng 95% số doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong nớc đợc xếp vào hạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Năm 2001 quy mô vốn trung bình của các doanh nghiệp t nhân khoảng 525 triệu đồng, công ty cổ phần là 4,9 tỷ đồng, công ty trách nhiệm hữu hạn khoảng 1,1 tỷ đồng

- Thiếu hẳn khả năng nghiên cứu và phát triển để đáp ứng những thay đổi diễn ra trong nền kinh tế thị trờng

- Yếu kém trong quan hệ kinh doanh và mạng lới tiêu thụ sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm trên cả thị trờng trong nớc và thị trờng nớc ngoài còn là một trong những hạn chế lớn của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp Cụ thể là thiếu các thông tin về giá, về thị trờng

- Một số lớn chủ doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp do cha qua đào tạo cơ bản nên khả năng lãnh đạo điều hành kém, cộng với sự ít hiểu biết về pháp luật trong kinh doanh và thái độ chấp hành luật pháp kém, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật Hiện tợng sử dụng lao động

Trang 4

không ký hợp đồng lao động, không đóng bảo hiểm cho ngời lao động, không bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động còn phổ biến Theo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2000 mới có 24,2% số lao động trong các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp tham gia bảo hiểm xã hội

- Việc thực hiện pháp lệnh về tài chính và thống kê của Nhà nớc trong các doanh nghiệp này cha đợc thực hiện nghiêm túc, làm cho Nhà nớc khó kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, gây ra tình trạng thất thoát thuế trầm trọng Các thủ đoạn trốn thuế phổ biến là không kê khai nộp thuế hoặc xin nghỉ kinh doanh nhng vẫn hoạt động, khai tăng chi phí và giảm giá bán, giảm doanh số để giảm mức nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thông đồng với cán bộ thuế để giảm mức nộp thuế Theo thống kê của 48 địa phơng tính đến 30/5/2001 có 16% số doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp không kê khai nộp thuế Còn theo báo cáo của 58 tỉnh thành phố, trong năm 2001 có 700 doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhng không khai báo, thanh quyết toán

và trả lại theo quy định số hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành còn d thừa

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp chỉ mới tập trung trong lĩnh vực thơng mại và dịch vụ mà cha chú trọng đến đầu t phát triển trong các ngành sản xuất Cụ thể hơn, các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp có xu hớng tập trung vào kinh doanh ở những lĩnh vực cần ít vốn, khả năng thu hồi vốn nhanh, lãi cao nh thơng nghiệp, dịch vụ, du lịch Chỉ khoảng 30% vốn ban đầu của khu vực doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

đợc đầu t vào sản xuất công nghiệp và trong sản xuất công nghiệp vốn đầu t đó gần nh chỉ đợc đa vào ngành chế biến lơng thực thực phẩm và sản xuất hàng tiêu dùng

- Cách làm ăn chạy theo lợi nhuận tối đa đã nảy sinh các hoạt động không lành mạnh nh làm hàng giả, hàng kém chất lợng

- Phân bố không hợp lý, phần lớn các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, cha thực sự tạo ra sự phát triển cân

đối giữa các vùng lãnh thổ Năm địa phơng có số doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đăng ký kinh doanh cao nhất cả nớc là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Tiền Giang, Bình Dơng đã chiếm tới 53,3% số doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đăng ký kinh doanh của cả nớc Trong khi đó năm địa phơng có số doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

đăng ký kinh doanh ít nhất là Bắc Kạn, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Bắc giang chỉ chiếm 0,5% cả nớc

Trang 5

Nghiên cứu những đặc điểm, u điểm và hạn chế của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp có ý nghĩa trong việc xác định nội dung và phơng thức tác động của quản lý Nhà nớc, tìm ra những giải pháp chính sách phù hợp phát huy những thế mạnh và tháo gỡ những khó khăn, khắc phục giảm thiểu những tác động tiêu cực để thúc đẩy các doanh nghiệp này phát triển

1.1.3 Vai trò của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong sự tăng trởng của nền kinh tế Chúng đóng góp một phần không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội Theo số liệu thống kê, cả ba loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp chiếm hơn 7% tỷ trọng trong GDP

Bảng 1.1 Tỷ trọng các khối doanh nghiệp trong GDP

( Giá hiện hành)

Đơn vị tính: %

Doanh nghiệp Nhà nớc 40,17 38,74 38,52 38,59

Hộ gia đình và nông dân 33,99 32,93 32,31 32,13

Khu vực đầu t nớc ngoài 9,82 12,23 12,99 13,10

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Mấy năm gần đây, tỷ trọng của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong GDP có xu hớng ngày càng tăng Nguyên nhân chủ yếu là

do Đảng và Nhà nớc đã đa ra đợc những chủ trơng, đờng lối và chính sách khuyến khích các doanh nghiệp này phát triển

- Trình độ lực lợng sản xuất của nớc ta còn thấp, trong khi tiềm năng phát triển của nền kinh tế vẫn còn lớn nhng khả năng khai thác thì hạn chế Sự độc chiếm của hình thức sở hữu Nhà nớc và sở hữu tập thể không cho phép khai thác hết những tiềm năng to lớn của đất nớc ( đặc biệt nh tiềm năng về lao động, vốn,

đất đai, ) Chỉ có con đờng phát triển các thành phần kinh tế hoạt động theo Luật doanh nghiệp mới có khả năng khai thác hết các tiềm năng của đất nớc Nói cách khác không thể phát triển đợc lực lợng sản xuất khi không cho phép các thành phần kinh tế hoạt động theo Luật doanh nghiệp phát triển

Bảng 1.2 Số lợng các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đăng

ký kinh doanh hàng năm

Trang 6

1996 1997 1998 1999 2000 2001 0

5000 10000 15000 20000 25000 30000

số l ợng

năm

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tính đến 31/10/2001 số lợng doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trên địa bàn cả nớc là 66780 doanh nghiệp Trong số các doanh nghiệp này thì 38% là đợc đăng ký kinh doanh từ năm 1991-1995, 25,5% là từ năm 1996-1999, còn 36,5% là đợc đăng ký từ năm 2000 đến 31/10/2001 Tính từ đầu năm 2000 đến hết tháng 10 năm 2001 số doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đăng ký kinh doanh là 24387 doanh nghiệp, nhiều hơn cả số đăng

ký 5 năm trớc cộng lại

Trong số 66780 doanh nghiệp này thì loại hình doanh nghiệp t nhân chiếm 58,75%, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 38,68%, công ty cổ phần chỉ chiếm 2,55% Nh vậy, trong số các loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp t nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất

- Trong quá trình mở cửa nền kinh tế, từng bớc hoà nhập với khu vực và thế giới thì các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp sẽ là một cầu nối quan trọng cho sự hoà nhập đó Các nhà đầu t nớc ngoài cần phải có những ngời bạn đồng hành để cho họ an tâm đầu t vốn, khoa học công nghệ Chính các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp có thể thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ sản xuất và là ngời bạn đồng hành tạo ra sự tin tởng cho các nhà đầu t nớc ngoài

- Trong quá trình cải cách các doanh nghiệp Nhà nớc nh cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê đã nảy sinh một số vấn đề nh thất nghiệp, sự bỏ ngỏ một

số ngành và lĩnh vực không có tầm quan trọng sống còn mà Nhà nớc không cần nắm giữ Chính các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp sẽ tạo ra công ăn việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế Tính đến thời điểm 31/12/2001, tổng số lao động làm việc trong

Trang 7

các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp là hơn 1 triệu ngời.

1996 1997 1998 1999 2000 2001 0

200000 400000 600000 800000 1000000 1200000

Bảng 1.3 Số lao động của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

Số lao

động

năm

Nguồn: Tổng cục thống kê

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp là khu vực thu hút khá nhiều vốn trong dân do tính chất hiệu quả, quy mô sản xuất chủ yếu là vừa

và nhỏ đòi hỏi vốn không nhiều, thời gian thu hồi vốn nhanh, tạo dần tập quán

đầu t vào sản xuất, hình thành khu vực “mồi” cho việc thực hiện có kết quả vấn

đề huy động vốn của dân c Việc thu hút vốn dân c đầu t vào các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp nh trên là đóng góp lớn của khu vực kinh tế này, đặc biệt, nếu xét ở Việt nam cha có thói quen và điều kiện làm giàu bằng nguồn vốn tích luỹ lớn và cũng cha có chính sách thích hợp khuyến khích sản xuất, tiết kiệm để đầu t, nếu nguồn tiết kiệm trong nhân dân vừa ít lại ứ đọng và cha đợc sử dụng để đầu t sản xuất Và khi nguồn tiết kiệm cha nhiều, phân tán trong dân c thì việc lựa chọn ngành nghề, quy mô đầu t để có hiệu quả thu hồi vốn nhanh là xu thế chung Năm 2000, vốn đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp tăng rất nhanh đạt 13831 tỷ đồng gấp 4,5 lần so với năm 1996, chiếm 9,37% tổng vốn đầu t xã hội Cũng trong năm

2000, tổng số vốn sử dụng của doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

là hơn 110000 tỷ đồng, tăng 38,46% so với năm 1999, trong đó vốn đầu t phát triển là hơn 6500 tỷ đồng tăng 18% so với năm 1999

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi nhiều hàm lợng tri thức cũng nh có khả năng lấp đầy những khoảng trống trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh không cần nhiều vốn và có mức lợi

Trang 8

nhuận thấp Theo số liệu thống kê 33720 doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong năm 2000, số doanh nghiệp kinh doanh thơng mại, dịch vụ chiếm đông nhất 51,9%, doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chiếm 20,8%, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng chiếm 8,3%, giao thông vận tải 2,5%

Bảng 1.4 Cơ cấu các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp

theo ngành kinh tế

Xây dựng; 8%

Giao thông vận tải; 3%

Nguồn: Tổng cục Thống kê

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp sản xuất một khối lợng sản phẩm, dịch vụ tơng đối lớn đáp ứng cho nhu cầu của xã hội, làm giảm bớt áp lực cầu của thị trờng đồng thời góp phần vào Ngân sách Nhà nớc

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã đóng góp một phần vào việc đào tạo lực lợng cán bộ quản lý có chất lợng cao cho đất nớc, là nơi đào tạo và sàng lọc các nhà doanh nghiệp thông qua thực tế kinh doanh

- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tự do cạnh tranh Tự do cạnh tranh là con đờng tốt nhất để phát huy tiềm lực ở nớc ta, một số các doanh nghiệp Nhà nớc đặc biệt

là các tổng công ty thờng là những doanh nghiệp lớn, cần nhiều thị trờng lớn,

đòi hỏi phải có sự bảo hộ của Chính phủ và phải có sự độc quyền Còn các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ( có đến 95% các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp là các doanh nghiệp vừa và nhỏ), tình trạng độc quyền không xảy ra, họ sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh, có tính tự chủ cao độ Các doanh nghiệp này không

Trang 9

ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nớc và vì mu lợi, họ sẵn sàng khai thác các cơ hội

để phát triển mà không ngại rủi ro

1.2 Chính sách tài chính, tín dụng đối với sự phát triển DOANH NGHIệP HOạT đẫNG THEO LUậT DOANH NGHIệP

1.2.1 Chính sách

Theo quan niệm phổ biến, chính sách là tổng thể các t tởng, quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên các đối tợng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của hệ thống theo

định hớng mục tiêu tổng thể

Chính sách kinh tế – xã hội là tổng thể các t tởng, quan điểm, giải pháp

và công cụ mà Nhà nớc sử dụng để tác động lên các đối tợng và khách thể quản

lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo

định hớng mục tiêu tổng thể của xã hội

Nh vậy, cùng với pháp luật và kế hoạch, chính sách là một trong những công cụ chủ yếu và quan trọng mà Nhà nớc sử dụng để thực hiện chức năng quản lý kinh tế – xã hội của mình Mỗi chính sách cụ thể là tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình hớng tới đạt mục tiêu chung của phát triển kinh tế quốc dân và phát triển xã hội Nói cách khác, một chính sách bất kỳ thờng đợc kết cấu bởi 2 bộ phận: các mục tiêu cần

đạt, các giải pháp và công cụ cần áp dụng

Chính sách làm một hệ thống đa chủng loại, có thể ghép thành 2 nhóm lớn: nhóm thứ nhất là các chính sách kinh tế, chủ yếu gồm có chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách giá cả, chính sách kinh tế đối ngoại Nhóm thứ hai là các chính sách xã hội, chủ yếu gồm có chính sách dân số và lao động, giáo dục, chính sách y tế, chính sách bảo đảm xã hội, chính sách văn hoá, chính sách khoa học công nghệ, chính sách bảo vệ môi trờng

Trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế quốc dân, chính sách là bộ phận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao trớc những biến động trong đời sống kinh

tế xã hội của đất nớc nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra Thực tiễn nớc ta và nhiều nớc trên thế giới đều chứng tỏ: phần lớn những thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đều bắt nguồn từ việc lựa chọn

và áp dụng những chính sách thích hợp, có hiệu suất cao để khai thác tối u các lợi thế so sánh của đất nớc

Nh vậy, một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển

Trang 10

Chính sách tín dụng

Chính sách khoa học

công nghệ

Chính sách kinh tế đối ngoại

Chính sách lao động

và đào tạo

Doanh nghiệp

của đất nớc trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là bảo đảm vững chắc cho sự vận hành bình thờng, hữu hiệu của nền kinh tế thị trờng Nhờ đó mà có thể khơi dậy đợc các loại tiềm năng, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực, phát huy tính tích cực, sáng tạo và ý chí vơn lên làm giàu của các tầng lớp dân c Ngợc lại, chỉ cần một chính sách sai lầm, sẽ gây ra phản ứng tiêu cực dây chuyền đến các chính sách khác, cũng nh đến các bộ phận khác của hệ thống công cụ quản

lý kinh tế quốc dân; kết quả dẫn đến là giảm thiểu hiệu suất tác động của hệ thống chính sách , làm suy yếu động lực phát triển kinh tế – xã hội

Kinh nghiệm thực tế cũng cho thấy, sự sai lầm của một chính sách có ảnh hởng xấu đến cuộc sống của hàng triệu con ngời trong xã hội, thậm chí đến sự thịnh vợng hay suy yếu của một quốc gia, sự tồn vong của một dân tộc Cái giá phải trả cho sự sai lầm của một chính sách là rất lớn cả về mặt vật chất lẫn về mặt tinh thần, cả ở trong nớc và ngoài nớc Hơn nữa, việc khắc phục hậu quả của một chính sách sai lầm thờng gặp phải rất nhiều khó khăn và trở ngại, đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, công sức và tiền của

Hệ thống các chính sách cũng là công cụ quản lý quan trọng của Nhà nớc

đối với các doanh nghiệp

Bảng 1.5 Một số chính sách tác động đến doanh nghiệp

Hệ thống các chính sách tác động đến doanh nghiệp có thể phân thành các chính sách kinh tế và các chính sách văn hoá xã hội

Hệ thống các chính sách kinh tế tác động đến doanh nghiệp có thể kể đến

nh chính sách tài chính, chính sách tiền tệ tín dụng, chính sách phát triển các loại thị trờng, chính sách cạnh tranh, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách

th-ơng mại, chính sách đầu t Các chính sách kinh tế có tầm quan trọng hàng

đầu đối với sự phát triển của các doanh nghiệp Sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh

Ngày đăng: 04/11/2013, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ trọng các khối doanh nghiệp trong GDP - Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Bảng 1.1. Tỷ trọng các khối doanh nghiệp trong GDP (Trang 5)
Bảng 1.3. Số lao động của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp - Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Bảng 1.3. Số lao động của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp (Trang 7)
Bảng 1.4. Cơ cấu các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp - Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Bảng 1.4. Cơ cấu các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp (Trang 8)
Bảng 1.5. Một số chính sách tác động đến doanh nghiệp - Cơ sở lý luận về chính sách tài chính - tín dụng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Bảng 1.5. Một số chính sách tác động đến doanh nghiệp (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w