1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi

158 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay cho thấy: Việc hình thành kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động lao động chưa được các giáo viên đặc biệt q

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Hương Trà

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG

LÀM VIỆC NHÓM TRONG HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Hương Trà

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG

LÀM VIỆC NHÓM TRONG HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)

Mã số : 8140101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS MAI THỊ NGUYỆT NGA

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện Các tài liệu được sử dụng trong luận văn này được trích dẫn đầy đủ, chính xác

và được ghi trong phần danh mục tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Nghiên cứu khoa học chưa bao giờ là một công việc đơn giản Để hoàn thành được luận văn này, không chỉ là sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được từ quý thầy cô, gia đình và bạn bè sự giúp đỡ, động viên tình thần giúp tôi hoàn thành tốt luận văn của mình

Đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô khoa Giáo dục Mầm non đã nhiệt tình giảng dạy và Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua

Tôi xin cám ơn sâu sắc TS Mai Thị Nguyệt Nga đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Cô đã không quản ngại thời gian quý báu của mình để hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các bạn đồng môn đã đồng hành giúp tôi vượt qua những khó khăn về mặt chuyên môn cũng như tinh thần trong suốt quá trình học tập tại trường Đồng thời, tôi xin cám ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tinh thần trong những lúc khó khăn để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Chân thành cám ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2020

Học viên cao học

Phạm Thị Hương Trà

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan 1

Lời cám ơn 2

Mục lục 3

Danh mục chữ cái viết tắt 5

Danh mục các bảng 6

Danh mục biểu đồ 7

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.2 Biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 12

1.2.1 Kỹ năng và kỹ năng làm việc nhóm 12

1.2.2 Sự hình thành kỹ năng làm việc nhóm ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 19

1.2.3 Biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 23

1.2.4 Biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 24

Tiểu kết chương 1 58

Chương 2 THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 59

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 59

2.1.1 Mục đích khảo sát 59

2.2.2 Đối tượng khảo sát 59

2.1.3 Thời gian khảo sát 60

2.1.4 Nội dung khảo sát 60

Trang 6

2.1.5 Phương pháp khảo sát 60

2.2 Kết quả khảo sát và phân tích kết quả điều tra thực trạng 63

2.2.1 Nhận thức của giáo viên mầm non về giáo dục KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 63

2.2.2 Thực trạng biện pháp giáo dục KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 71

2.2.3 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất của giáo viên về các biện pháp giáo dục KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 83

Tiểu kết chương 2: 87

Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI 88

3.1 Cơ sở định hướng cho việc xây dựng các biện pháp 88

3.1.1 Cơ sở lý luận 88

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 88

3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ 5-6 tuổi 89

3.3 Một số biện pháp giáo dục KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 90

3.3.1 Biện pháp 1: Giúp trẻ hiểu rõ cấu trúc hoạt động cùng nhau (Làm việc nhóm) 90

3.3.2 Biện pháp 2: Dạy phức hợp các kỹ năng cần cho trẻ ở giai đoạn tương tác, đồng thời giúp trẻ lĩnh hội các câu nói cần cho việc thiết lập sự hợp tác với bạn trong làm việc nhóm 92

3.3.3 Biện pháp 3: Để trẻ lĩnh hội các kỹ năng hợp tác cần đặt trẻ vào các tình huống có vấn đề 97

3.4 Kết quả khảo sát tính khả thi các biện pháp giáo dục KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 98

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

KNLVN : Kỹ năng làm việc nhóm

GVMN : Giáo viên mầm non

KN : Kỹ năng

Trang 8

qua những hoạt động 72 Bảng 2.5 Mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục KNLVN trong hoạt động

lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 74 Bảng 2.6 Ý kiến đánh giá của GVMN về thực trạng KNLVN trong hoạt động

lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 77 Bảng 2.7 Thực trạng KNLVN của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 79 Bảng 2.8 Kết quả khảo sát KNLVN của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong điều kiện

hoạt động cùng nhau 81 Bảng 2.9 Ý kiến đánh giá của GVMN về những thuận lợi khi giáo dục

KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 83 Bảng 3.1 Tổng gợp ý kiến của giáo viên về mức độ tính khả thi của các biện

pháp giáo dục KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đề tài đề xuất [Phụ lục…] 99

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Nhận thức của giáo viên về khái niệm kỹ năng làm việc nhóm 65 Biểu đồ 2.2 Nhận thức của giáo viên về mức độ cần thiết của các kỹ năng làm

việc nhóm 67 Biểu đồ 2.3 Biểu đồ ý kiến đánh giá của GVMN về mức độ cần thiết của các

biện pháp giáo dục KNLVN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 70 Biểu đồ 2.4 Nhận thức của giáo viên về việc giáo dục kỹ năng làm việc nhóm

thông qua những hoạt động nào 72 Biểu đồ 2.5 Biểu đồ ý kiến đánh giá về mức độ sử dụng các biện pháp giáo

dục KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 75 Biểu đồ 2.6 Biểu đồ kết quả khảo sát KNLVN của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong

điều kiện hoạt động cùng nhau 81 Biểu đồ 3.1 Tổng hợp ý kiến của giáo viên về mức độ tính khả thi của các

biện pháp giáo dục KNLVN trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đề tài đề xuất 100

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xã hội đang ngày càng phát triển như hiện nay, việc giáo dục kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ đang trở nên ngày càng quan trọng, nhất là khi trẻ không chỉ có một mình nữa mà trong mọi hoạt động của trẻ đều cần có sự hỗ trợ từ mọi người Trong các hoạt động học tập và hoạt động xã hội hiện nay, vai trò của nhóm chiếm vị trí vô cùng quan trọng Người xưa thường nói “Một cây làm chẳng nên non,

ba cây chụm lại nên hòn núi cao” chính là đánh giá cao vai trò của nhóm trong công việc cũng như trong cuộc sống (Đào Thị Thu Tuyết, 2017) Nhưng hơn thế nữa làm việc nhóm hiệu quả cũng giúp trẻ thuận lợi hơn trong công việc sau này, rèn luyện cho trẻ khả năng tổ chức tốt, lãnh đạo tốt, có được sự phối hợp ăn ý giữa các thành viên, quan trọng hơn cả là giúp trẻ có thêm sự gắn kết và có được tình bạn lâu bền trong học tập và đời sống, vì đôi khi tình bạn được xây dựng nên từ sự tin tưởng và

ăn ý trong công việc với nhau (Đào Thị Thu Tuyết, 2017)

Kỹ năng làm việc nhóm cần được rèn luyện và hình thành từ khi trẻ còn nhỏ

Do đó, việc trang bị các kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ là hết sức quan trọng, điều

đó chắc chắn sẽ giúp cho trẻ ngày càng tự tin hơn và có tính tự lập Gần nhất là trẻ bước lên các bậc học tiếp theo thì việc học theo nhóm luôn là hình thức chủ yếu mà bắt buộc trẻ phải tham gia để tự lĩnh hội những kiến thức cần thiết cho mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Việc giáo dục kỹ năng làm việc nhóm có thể được thực hiện thông qua nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động học, hoạt động tham quan, hoạt động lao động, hoạt động vui chơi Trong đó hoạt động lao động là hoạt động chiếm nhiều ưu thế trong việc hình thành kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ Bởi, trong lao động phải có sự phối hợp cùng nhau chặt chẽ, cùng làm việc và cùng chịu trách nhiệm với công việc của mình thì lao động mới đạt hiệu quả cao

Hoạt động lao động là một hoạt động nhằm tạo ra những sản phẩm có ích cho

xã hội, những giá trị vật chất và tinh thần cần thiết cho loài người Trong hình thức hoạt động lao động có sản phẩm, trẻ mẫu giáo biết thực hiện những hành động nhằm

Trang 11

tạo ra một kết quả nhất định từ đó hình thành nên những kỹ năng cần thiết (Vũ Thị Nhân, 2016)

Trong hoạt động lao động, trẻ được trải nghiệm, được thực hiện các nhiệm vụ của mình vì vậy hoạt động lao động tạo nên một đứa trẻ tự tin và linh hoạt, trẻ chủ động và yêu thích những gì mình làm ra (Vũ Hoàng Vân, 2017)

Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay cho thấy: Việc hình thành

kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động lao động chưa được các giáo viên đặc biệt quan tâm Đa số giáo viên các trường mầm non trên địa bàn quận Tân Bình luôn xem trọng việc dạy và học hơn là việc cho trẻ tham gia các lao động hằng ngày Mặc dù, thỉnh thoảng các giáo viên có tổ chức lao động nhưng chỉ

là trên hình thức và cũng chưa hề quan tâm đến việc trẻ làm như thế nào, có phối hợp tốt với nhau hay không, từ đó trẻ không coi trọng lao động, không thấy được tầm quan trong của lao động đối với bản thân Do vậy kỹ năng làm việc nhóm trong lao động của trẻ còn rất hạn chế, thâm chí không có sự thỏa thuận, phân công rõ ràng dẫn đến việc trẻ không hề có trách nhiệm trong việc làm của mình, thiếu quan tâm đến nhau, đôi lúc còn xảy ra mẫu thuẫn trong quá trình làm việc và cuối cùng công việc lao động thường không đạt hiệu quả cao

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp giáo dục kỹ

năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát và đánh giá thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Trang 12

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

4 Giả thuyết nghiên cứu

Việc giáo dục kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ 5-6 tuổi được thực hiện trong nhiều hoạt động khác nhau Trong đó hoạt động lao động chiếm ưu thế và có vai trò quan trọng trong việc giáo dục kỹ năng làm việc nhóm Tuy nhiên trên thực tế thì trẻ

ít được tham gia vào các hoạt động lao động, vì vậy kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động còn rất hạn chế

Việc khảo sát và đánh giá đúng thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là cơ sở để đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

2 Khảo sát thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết

Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu giải quyết nhiệm vụ thứ 1 của đề tài : Phân tích, phân loại hệ thống hóa các thông tin khoa học thu thập được từ các văn bản, tài liệu về kỹ năng làm việc nhóm, hoạt động lao động của trẻ mẫu giáo, từ đó rút ra các kết luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu Mục đích của phương pháp này

Trang 13

là tìm hiểu các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận của

đề tài, thu thập thông tin khoa học về đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để điều tra thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động lao động nhằm giải quyết nhiệm vụ thứ 2 của đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Sử dụng bảng hỏi cho toàn bộ giáo viên mầm non ở các lớp lá tại 8 trường mầm non tại quận Tân Bình nhằm tìm hiểu thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động lao động

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Để tìm hiểu sâu hơn về thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động lao động Tiến hành phỏng vấn sâu các GVMN trực tiếp giảng dạy lớp lá (tổ trưởng các lớp lá có 3 năm kinh nghiệm trở lên) và một số trẻ lớp lá tại 8 trường mầm non mà chúng tôi đã điều tra bảng hỏi

7.2.3 Phương pháp quan sát

Tiến hành dự giờ, quan sát, ghi chép quá trình tổ chức hoạt động lao động nhằm giáo dục kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi của giáo viên mầm non

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý các các số liệu tỉ lệ % sau khi thu thập được từ việc nghiên cứu thực trạng và khảo sát tính khả thi của biện pháp

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Chương 2: Thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Chương 3: Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Kết luận và kiến nghị

Trang 15

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP GIÁO DỤC

KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Những nghiên cứu về kỹ năng làm việc nhóm:

Giữa thế kỉ XVIII, ngay sau cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, đặc biệt là cuối thế kỉ XVIII, việc dạy học theo nhóm khá phổ biến ở các nước tư bản J.Lancater

và A.Bell đã triển khai dạy học nhóm ở các nước Anh và ý tưởng đó được du nhập vào nước Mỹ năm 1806 Sau này, J.Dewey đã tăng cường sử dụng dạy học nhóm như một phần dự án phương pháp dạy học của mình, ông cho rằng: Con người có bản chất sống hợp tác, trẻ cần được biết cảm thông, tôn trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết các vấn đề theo lẽ phải và trẻ phải trải nghiệm quá trình sống hợp tác ngay từ trong nhà trường (Unesco, 2005)

Năm 1961, Muzafer Sherif đã tiến hành những nghiên cứu nổi tiếng của ông tại

ba trại hè trong đó ông đã thiết kế sự tranh đua liên nhóm hết sức sôi nổi và nghiên cứu sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm Qua hình thức trại hè các em có nhiều

cơ hội để cùng hợp tác, giúp đỡ chia sẻ kinh nghiệm cho nhau trong học tập cũng như trong sinh hoạt

Vào năm 1983, các tác giả R.Johnson và D.Johnson đã đưa ra một số lợi ích của làm việc nhóm: Quá trình trao đổi nhóm làm tăng cường khả năng nhận thức và phát triển tư duy ở mức dộ cao so với thao tác tìm nguyên nhân so với phương pháp “học tranh đua” Quá trình làm việc nhóm tồn tại những yếu tố:

Mâu thuẫn giữa các yếu tố: Mâu thuẫn giữa tư tưởng quan điểm, kết luận, cơ sở

lí luận và thông tin tiếp nhận giữa các thành viên trong nhóm Giải quyết xong những vấn đề này sẽ tạo điều kiện phát triển động cơ học tập, nâng cao kiến thức, hiểu thấu các khái niệm và lưu giữ các kiên thức bền lâu hơn, sự trao đổi của các thành viên trong nhóm làm cho những thông tin được xuất hiện nhiều lần, bởi nó được nói ra, giải thích nhiều lần, lại được tích hợp và cung cấp hợp lí Những thông tin được nhắc

Trang 16

đi nhắc lại nhiều lần sẽ được lưu giữ trong trí nhớ của học sinh Sự yêu mến và liên kết với nhau sẽ nâng cao động cơ học tập (D.Johnson - R.Johnson, 1990)

Ngoài ra hiệu quả của quá trình làm việc nhóm cũng được R.Johnson và D.Johnson nghiên cứu Theo tác giả thì sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai không phải do công nhân Nhật Bản có trình

độ cao mà là họ có năng lực hợp tác, cộng tác tốt…Trong cuốn “Small group teaching- tutorials, seminars and beyond”, Kate Exley và Reg (D.Johnson - R.Johnson, 1990) Dennick đã chứng minh rõ ràng vì sao phải làm việc nhóm, những điều kiện làm việc nhóm thành công, hình thành một số kỹ năng quan trọng như: Kỹ năng (KN) đặt câu hỏi, KN giải quyết vấn đề, phương thức hợp tác giữa các thành viên trong nhóm… (D.Johnson - R.Johnson, 1990)

Nhà nghiên cứu F.Murray năm 1986 đã tổng hợp 4 lí thuyết làm cơ sở cho quá trình làm việc nhóm gồm:

Thuyết học tập xã hội: Lý thuyết này được xây dựng dựa trên nguyên tắc phổ biến Trẻ nổ lực hoàn thành nhiệm vụ sẽ được khen thưởng, nếu không hoàn thành nhiệm vụ sẽ không được khen thưởng hoặc bị chê Tư tưởng chính của lý thuyết này

là khi cá nhân cùng làm việc với nhau để hướng tới mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy trẻ hoạt động tích cực hơn, giúp nhóm và bản thân trẻ thành công Hơn nửa, nhóm thường phải giúp đỡ các thành viên khác để hoàn thành nhiệm vụ mọi người đều có xu hướng vươn tới sự thống nhất nên coi trọng thành viên trong nhóm mình (F Murray - J Meised, 1986)

Thuyết Piaget về giải quyết mâu thuẫn: Để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của trẻ, phải làm xuất hiện tình huống mâu thuẫn về quan điểm với nhau Giáo viên sắp đặt từng nhóm trẻ có cách giải quyết khác nhau, đối lập nhau vào một nhóm Sau đó giáo viên yêu cầu hoạt động cùng nhau cho đến khi có câu trả lời chung Kết quả cho thấy, trẻ lúc đầu còn kém hay chưa biết cách giải quyết, sau đó có thể tự mình giải quyết một cách đúng đắn (J Piaget, 1968)

Thuyết hợp tác nhóm của L.S.Vygotsky: Mọi chức năng tâm lý cấp cao đều có nguồn gốc xã hội và xuất hiện ở cấp độ liên cá nhân trước khi nó chuyển vào bên trong và tồn tại ở mức độ nội cá nhân Trong sự phát triển của trẻ mọi chức năng tâm

Trang 17

lý cấp cao đều xuất hiện 2 lần: Lần 1 như là một hoạt động tập thể, một hoạt động xã hội (như một chức năng liên tâm lý), lần 2 là một hoạt động cá nhân như như một chức năng tâm lý bên trong L.S.Vygotsky đã xây dựng lý thuyết “vùng phát triển gần nhất” phải kích thích trẻ thức tỉnh quá trình vận động chuyển từ bình diện bên ngoài thành bình diện bên trong của trẻ Quá trình này chỉ diễn ra khi đưa trẻ cùng làm việc, hoạt động với bạn bè, ông đã khẳng định: “điều trẻ em làm cùng với nhau hôm nay, chúng sẽ tự làm được vào ngày mai” (L.S.Vygotsky, 1931)

Arthur Dobrin nhà tâm lý học và chuyên gia nổi tiếng về lĩnh vực giáo dục đạo đức của Mỹ cho rằng: “chúng ta đều mong muốn trở thành một thành viên trong tập thể bởi vì chỉ thông qua hợp tác và nỗ lực chung giữa con người với nhau mới có thể khiến cho người ta chiến thắng hoàn cảnh bên ngoài” (Dobrin,1999)

A.Villa cho rằng, có 4 nhóm KN được sắp xếp theo tiến trình phát triển nhóm: Nhóm KN hình thành nhóm (di chuyển vào nhóm; Duy trì trong nhóm; nói đủ nghe; Khuyến khích các thành viên tham gia; Nhìn vào người nói và không làm việc); Nhóm

KN thực hiện chức năng nhóm (Định hướng nhiệm vụ của nhóm; Diễn tả đúng nhiệm vụ; Yêu cầu giải thích khi cần thiết; Sẵn sàng giải thích hay làm rõ thêm; Làm sáng

tỏ ý kiến của người khác; Làm cho nhóm hào hứng, nhiệt huyết); Nhóm KN hình thành cấu trúc (Mô tả các cảm giác phù hợp; Tóm tắt bằng lời; Phân công nhiệm vụ trong nhóm; Tìm kiếm độ chính xác; Tìm cách thể hiện trau chuốt hơn; Tìm kiếm them các chi tiết; Tìm kiếm các mốc ghi nhớ); Nhóm KN hoàn thiện nhóm (trình bày vấn đề logic; Lập kế hoạch hoạt động; Phê bình, bình luận ý kiến chứ không bình luận cá nhân; Xử lý vấn đề bất đồng trong nhóm hợp lý, tế nhị; Tổng hợp các ý kiến; Lồng ghép các ý kiến vào điểm cụ thể; Thăm dò bằng cách đưa ra các câu hỏi khác nhau; Tìm hiểu thực chất vấn đề bằng cách kiểm tra công việc của nhóm) (Villa R, 2002)

Những nghiên cứu về hoạt động lao động của trẻ:

Những tư tưởng của L.S.Vygotsky(1986 – 1934) có ý nghĩa đối với sự phát triển tâm lý học trẻ em xô viết Lý luận về sự phát triển chức năng tâm lý bậc cao của ông

là một cống hiến quan trọng Nó được hình thành trong những năm 20 – 30 Vygotsky

đã nêu lên tư tưởng cho rằng, lao động, hoạt động có công cụ làm biến đổi kiểu hành

Trang 18

vi của con người, khiến cho con người khác với động vật Sự khác biệt này thể hiện

ở tính chất gián tiếp trong hoạt động lao động của họ

Trong giáo dục mẫu giáo N.K.Krupkaia nhiều lần nhấn mạnh phải dạy trẻ từ tuổi mẫu giáo những hình thức lao động đơn giản vừa sức trẻ A.S Makarenko đã nêu lên vai trò quan trọng của các hình thức lao động đơn giản của trẻ, Ông nhận thấy rằng, trong lao động sẽ hình thành tính độc lập, tinh thần trách nhiệm, sự tự tổ chức hành vi có mục đích của trẻ Trẻ biết lao động thì cũng biết giá trị của nổ lực lao động, biết tôn trọng lao động của người khác, chú ý nhiều hơn với những người cần giúp

đỡ Cũng như N.K.Krupkaia, A.S Makarenko rất chú trọng lao động tập thể của trẻ trong đó xuất hiện ý thức trách nhiệm chung của thành viên Ông viết: Sự cố gắng lao động chung, công việc trong tập thể, sự giúp đỡ của con người lao động, mối quan hệ phụ thuộc giữa mọi người lao động mới có thể tạo ra thái độ đúng đắn giữa con người với nhau

Thuyết hoạt động cũng dựa trên ý tưởng rằng cách tốt nhất để hiểu một con người là dựa vào hoạt động của người đó: Họ đặt mục đích gì và như thế nào, họ hành

xử như thế nào trong quá trình hoạt động của họ, kết quả qua các nỗ lực của họ là gì

Về cơ bản cần lưu ý phát biểu mang tính văn hóa-lịch sử của Engels rằng: “lao động biến con vượn thành con người”, điều này có nghĩa là lao động chính là yếu tố quan trọng bậc nhất đối với sự phát triển của con người

K.D.Usinsky cũng nghiên cứu về khả năng tự lập trong lao động của trẻ và ông

đi sâu vào lao động tự phục vụ trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của trẻ Theo ông trước hết cần phải làm sao cho trẻ có niềm say mê với lao động, phải gợi cho trẻ ý thức tích cực về lao động và con người lao động, phải thúc đẩy trẻ tham gia vào lao động, tập lao động trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, từ những việc đơn giản tới việc phức tạp hơn trong khả năng có thể của trẻ

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu về kỹ năng làm việc nhóm:

Tác giả nguyễn Ánh tuyết trong quyển tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, tâm

lý học trẻ em 2 cũng đã đề cập đến việc hình thành kỹ năng hợp tác thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề Tác giả nhấn mạnh đối với vai trò đóng vai, trẻ không thể

Trang 19

chơi một mình mà phải chơi theo nhóm và có nhiều thành viên trong nhóm chơi với nhau, tức là chơi với bạn Chính đặc điểm này thúc đẩy, phát triển sự hợp tác của trẻ (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 1997)

Tác giả Nguyễn Thị Hòa, trong quá trình tổ chức học tập cho trẻ có hai hình thức hoạt động đó là hoạt động cá nhân và hoạt động theo nhóm (nhóm lớn, nhóm nhỏ) tùy thuộc vào mục đích của giáo viên Khi tổ chức cho trẻ hoạt động theo nhóm thì khi giới thiệu các kiến thức sẽ tạo ra được sự ảnh hưởng lẫn nhau của trẻ, đặc biệt

là sự trao đổi ý tưởng, ý kiến của chúng với nhau Mặt khác, khi trẻ làm việc nhóm cho phép trẻ chia sẻ các trải nghiệm và kinh nghiệm, tập cho trẻ kỹ năng hợp tác thực hiện chia sẻ công việc với nhau và hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao Theo tác giả Phạm Hương Giang, làm việc nhóm là một trong những cách giúp trẻ chia sẻ công việc với người khác Đồng thời trong quá trình làm việc nhóm sẽ tạo cho trẻ hứng thú hơn trong công việc Được rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm từ khi còn nhỏ, trẻ sẽ có thể hòa nhập với nhiều môi trường khác nhau hơn khi trưởng thành Theo tác giả Nguyễn Thị Phượng Hoa (khoa sư phạm kỹ thuật- Trường Đại học

Hà Nội) cũng đã nghiên cứu và chỉ ra được những lợi ích của làm việc nhóm Trong môi trường làm việc tập thể, mỗi cá nhân hiểu và tin rằng, việc lập tư duy, lập kế hoạch, quyết định và hành động sẽ được thực hiện tốt hơn khi tất cả cùng hợp tác Trong khi trẻ làm việc cùng nhau, làm việc nhóm thì có rất nhiều vấn đề nảy sinh, có thể là tổ chức thực hiện, có thể là phân công nhóm, phân công nhiệm vụ hay lập kế hoạch, lựa chọn ý tưởng và không phải lúc nào vấn đề nảy sinh trong lúc làm việc nhóm trẻ cũng đều giải quyết tốt đẹp Vì vậy làm việc nhóm chính là trẻ phải cùng nhau thống nhất ý tưởng để xây dựng kế hoạch và phải phân công công việc được với nhau (Nguyễn Thị Phương Hoa, 1997)

Nghiên cứu kỹ năng làm việc nhóm dưới góc độ kỹ năng xã hội của UNICEF

đã xem làm việc nhóm là một kỹ năng cần được phát triển trong mối quan hệ liên nhân cách, trong sự giao tiếp với nhau, nó biểu lộ sự tôn trọng, sự đa dạng phong cách của người khác, đánh giá cao kết quả của toàn nhóm hơn là kết quả riêng lẽ của từng người Dựa vào sự phân loại cũng như dựa vào các lĩnh vực học tập (theo Bloom) của

Trang 20

UNICEF, các bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi cũng đã xây dựng các chỉ số phù hợp làm thang đánh giá cho kỹ năng làm việc nhóm của trẻ

Nguyễn Hữu Châu khái quát quá trình trẻ học, làm việc nhóm là quá trình cá nhân tự kiến tạo kiến thức cho mình nhưng đó là kiến thức thông qua tương tác với

cá nhân khác, với xã hội và thực tiễn mà có Từ đó mà quan niệm về học, về phương pháp giảng dạy cũng thay đổi (Nguyễn Hữu Châu, 2005)

Tác giả Nguyễn Xuân Yến với bài viết “những kỹ năng cần thiết giúp trẻ 5-6 tuổi làm việc theo nhóm”, tác giả đã khẳng định vai trò của hoạt động nhóm đối với

sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, đồng thời tác giả đưa ra một số kỹ năng cần thiết giúp trẻ 5-6 tuổi làm việc theo nhóm (Nguyễn Xuân Yến, 2013)

Theo Lê Văn Tạc, cần hình thành cho học sinh ở lớp học hòa nhập có trẻ khiếm thính 4 nhóm KNLVN là: Nhóm KN hình thành và duy trì nhóm; Nhóm KN giao tiếp trong nhóm; Nhóm KN xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn nhau; Nhóm các KN giải quyết mối bất đồng trên tinh thần xây dựng (Lê Văn Tạc, 2003)

Theo thông tư số: 23/2010/TT-BGDDT ban hành về quy định bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi đưa ra 120 chỉ số trong đó có chuẩn 11 trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn

bè và mọi người xung quanh với các chỉ số lắng nghe ý kiến của người khác (chỉ số 48), trao đổi ý kiến của mình với các bạn (chỉ số 49), thể hiện sự thân thiện và đoàn kết với bạn bè (chỉ số 50), chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn (chỉ

số 51) và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác (chỉ số 52)

Những nghiên cứu về hoạt động lao động:

Trong cuốn “ Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non từ lọt lòng cho đến 6 tuổi” của Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên) có nêu rõ: Nếu công việc của mỗi đứa trẻ được coi

là một bộ phận công việc của cả nhóm và kết quả lao động của những đứa trẻ riêng biệt được đánh giá trên cơ sở kết quả chung của toàn nhóm, chất lượng công việc của mỗi đứa trẻ có ý nghĩa quyết định đối với công việc của toàn nhóm thì điều đó sẽ tạo

ra ở đứa trẻ một ý thức hợp tác, tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm tới công việc chung và đó là những điều cần thiết cho việc hình thành con người lao động kiểu mới sau này

Trang 21

Giáo dục mầm non – Tập II, của tác giả Đào Thanh Âm (chủ biên) đã chỉ rõ: Lao động có vai trò rất lớn trong việc hình thành phẩm chất đạo đức cho trẻ như lòng yêu lao động, sẵn sàng lao động không những cho mình, cho người thân mà còn vì lợi ích chung của tập thể, cho xã hội mà còn từ đó hình thành thái độ lao động cộng sản chủ nghĩa Giúp trẻ nắm được một số kỹ năng lao động đơn giản Hình thành các quan hệ tập thể trong lao động, tinh thần tương trợ và niềm vui cho kết quả chung của tập thể Lao động còn hình thành ở trẻ tính mục đích, tính kiên trì, tính độc lập, vượt khó

Hoạt động lao động là một hoạt động nhằm tạo ra những sản phẩm có ích cho

xã hội, những giá trị vật chất và tinh thần có ích cho loài người Những phẩm chất tâm lý của người lao động chưa thể có được ở tuổi mẫu giáo nhưng những tiền đề của chúng đang được hình thành ở lứa tuổi này (Vũ Thị Nhân, 2016)

Ở trẻ mẫu giáo, việc hình thành những phẩm chất cần thiết cho hoạt động lao động được diễn ra chủ yếu ở bên ngoài việc thực hiện những nhiệm vụ lao động Thông qua việc quan sát, nghe kể chuyện, xem tranh, bước đầu trẻ được làm quen với lao động sản xuất Trong trò chơi, khi tái tạo lại các hành động lao động và các mối quan hệ giữa người lớn với nhau, trẻ hiểu được sự cần thiết của lao động, ý nghĩa

xã hội, tính tập thể của nó và hình thành ở trẻ những hình thức phân công, phối hợp hành động đầu tiên Trong hoạt động có sản phẩm, trẻ học tự đặt mục tiêu, lập kế hoạch hành động Tuy vậy,cần tổ chức cho trẻ thực hiện các nhiệm vụ lao động đòi hỏi đạt được một kết quả cụ thể bên ngoài có ý nghĩa nhất định với người khác (Mai Thị Nguyệt Nga, 2007)

1.2 Biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

1.2.1 Kỹ năng và kỹ năng làm việc nhóm

1.2.1.1 Định nghĩa kỹ năng

Theo Việt Nam Tự điển thì “kỹ” có nghĩa là “nghề” trong từ “kỹ nghệ” có nghĩa

là “khéo, đến nơi đến chốn mất nhiều công phu” trong từ “kỹ càng, kỹ lưỡng”, “năng”

có nghĩa là “tài giỏi” trong từ “năng thần: bề tôi tài giỏi”, có nghĩa là có thể làm được trong từ “năng lực” (Hoàng Khuê, 1992)

Trang 22

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng Theo từ điển tiếng Việt, kỹ năng là thói quen áp dụng vào thực tiễn những kiến thức đã học hoặc những kết quả của quá trình luyện tập (Hoàng Khuê, 1992)

Theo L.D.Levitov nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện

có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn

và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực

tế

Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng (Vũ Dũng, 2008)

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa

là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định Trên bình diện tâm lý học, có hai quan điểm khác nhau về kỹ năng:

Quan điểm thứ nhất: Xem kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, coi

kỹ năng như một phương thức thực hiện hành động mà con người nắm vững (kỹ năng

là sự sử dụng phù hợp các tri thức và hiểu biết đã có vào hoạt động) Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: V.A.Kruchesky, N.D Levitovxam,V.X Cudin, A.G Kovaliov, Trần Trọng Thủy, Hà Nhật Thăng…

A.V.Kruchesky, đã nhấn mạnh rằng, kỹ năng là phương thức thức thực hiện hoạt động – những cái mà con người đã nắm vững Theo ông, chỉ cần nắm vững

Trang 23

phương thức hành động là con người đã có kỹ năng, không cần tính đến kết quả của hành động

A G.Kovaliov quan niệm kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và những điều kiện hành động Ông cũng không đề cập tới kết quả hành động, theo ông kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn là năng lực của con người chứ không đơn thuần chỉ là nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết quả tương ứng

Tác giả N.D Levitov xem xét kỹ năng gắn liền với kết quả hành động Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh, muốn hình thành kỹ năng con người phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế (Nguyễn Thạc, 2003)

Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng (Trần Trọng Thủy, 1978)

Theo Hà Nhật Thăng, Kỹ năng là kỹ thuật của hành động thể hiện các thao tác hành động (Hà Nhật Thăng, 1995)

Quan điểm thứ hai xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người đại diện cho quan điểm này gồm các tác giả: N.D.Levitov, X.I.Kixegof, K.K Platonov, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng, Ngô Công Hoàn, Trần Hiêp, Đỗ Long, Trần Quốc Thành…

X.I.Kiegof cho rằng: “kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống các hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện của hệ thống này”

Từ điển Tiếng Việt (1997) định nghĩa: “kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế

Tác giả Nguyễn Thị Thúy Dung (2009) cho rằng: “kỹ năng là một biểu hiện năng lực của con người thực hiện có hiệu quả một hành động hay một hoạt động nào

đó bằng cách tiến hành đúng đắn kỹ thuật của hành động trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vốn có về hành động đó” (Nguyễn Thị Thúy Dung, 2009)

Trang 24

Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) định nghĩa: “kỹ năng

là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng (Vũ Dũng, 2008)

Tác giả Ngô Công Hoàn quan niệm kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người,

là sự thực hiện có kết quả một công việc Nói cách khác chính là khả năng sử dụng tri thức vào hành động một cách có hiệu quả (Ngô Công Hoàn, 1992)

Theo Huỳnh Văn Sơn thì kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động cho phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật hành động mà còn là biểu hiện năng lực của con người (Huỳnh Văn Sơn, 2012)

Tổng hợp các khái niệm trên, có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Kỹ năng là biểu hiện năng lực của chủ thể vận dụng tri thức, kinh nghiệm đúng kỹ thuật để đạt được kết quả mong đợi”

Nhóm được định nghĩa là một tập hợp hai hoặc nhiều người cùng chia sẻ mục tiêu Các thành viên trong nhóm luôn tương tác với nhau, theo đó hành vi của mỗi thành viên bị cho phối bởi hành vi của các thành viên khác (Huỳnh Văn Sơn, 2011) Nhóm là một mô hình tổ chức bao gồm hai hay nhiều cá nhân, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể (Bùi Anh Tuấn, 2009)

J.P.Chaplin định nghĩa: Nhóm là sự tập hợp của các cá nhân mà ở đó có một số đặc điểm chung hoặc cùng theo đuổi một mục đích giống nhau J.P.Champlin nhấn mạnh, nhóm có hai hoặc một số cá nhân mà giữa họ có sự tương tác lẫn nhau nhưng

Trang 25

sự tương tác này không nhất thiết phải mang tính chất trực tiếp hoặc phản ứng trực diện với nhau Ở khái niệm của mình, tác giả đã phản ánh tương đối đầy đủ các đặc điểm của nhóm, chỉ rõ sự quan hệ trực tiếp hay gián tiếp của các thành viên trong nhóm

Theo các nhà tâm lý học Lawrence J Severi, Jonh C Brigham và Bary R Schlenker, nhóm là tập hợp người từ hai người trở lên, giữa các thành viên có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau về hành vi Hoặc, nhóm là một đơn vị tồn tại một cách có tổ chức, các thành viên trong nhóm có mục đích, lợi ích chung

Nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) A V.Petrovsky định nghĩa nhóm là một cộng đồng người thống nhất với nhau trên cơ sở một số dấu hiệu chung có quan hệ với việc thực hiện hoạt động chung và giao tiếp của họ

Theo Paul Hesey, Ken Blanchard: “Nhóm là sự tích hợp hai hoặc nhiều hơn, trong đó sự tồn tại của tất cả là rất cần thiết để những nhu cầu của mỗi thành viên trong nhóm được thỏa mãn”

Theo A.V.Petrovsky thì nhóm là một cộng đồng người thống nhất với nhau trên

cơ sở một hay một số dấu hiệu chung có quan hệ với việc thực hiện hoạt động chung

và giao tiếp của họ (Huỳnh Văn Sơn, 2011)

Như vậy trên cơ sở các khái niệm về nhóm tôi sử dụng khái niệm nhóm là tập

hợp từ hai người trở lên giữa họ có sự tương tác lẫn nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ hay một kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu chung của cả nhóm

1.2.1.3 Định nghĩa kỹ năng làm việc nhóm

Làm việc nhóm trong tiếng Anh người ta gọi là Teamwork, là tập hợp hai hoặc nhiều người tạo thành đội (Nhóm) cùng tồn tại để hoàn thành một mục tiêu nhất định (Nguyễn Ánh Tuyết, 1987) Nguyên tắc chính của đội (Nhóm) chính là độc lập, tương tác và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Các thành viên trong đội (Nhóm) chịu trách nhiệm qua lại lẫn nhau để đạt mục tiêu chung Mỗi thành viên nhận thức bản thân họ như một thực thể xã hội Làm việc nhóm là các thành viên trong nhóm tạo ra được một tinh thần hợp tác, biết phối hợp và phát huy các ưu điểm của các thành viên trong nhóm để cùng nhau đạt đến một kết quả tốt nhất cho mục đích mà nhóm đặt ra

Trang 26

Vậy, ta có thể hiểu làm việc nhóm là một nhóm từ hai người trở lên cùng làm việc với nhau để đạt mục tiêu chung Những mục tiêu chung đó có thể là: hoàn thành nhiệm vụ đặt ra; để tìm ra ý tưởng, giải pháp; để tạo ra sản phẩm vật thật, để đạt thành tích; để học hỏi và sẻ chia kinh nghiệm Các thành viên trong nhóm có sự tương tác

bổ trợ cho nhau Các thành viên làm việc theo những quy định đã đặt ra để cùng hướng tới mục tiêu chung của nhóm (Tài liệu giảng dạy học phần kỹ năng mềm)

Từ các khái niệm về “kỹ năng” và “làm việc nhóm” tôi đi đến quan niệm:

“Kỹ năng làm việc nhóm là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã

có về làm việc nhóm nhằm hoàn thành nhiệm vụ chung và thúc đẩy hiệu quả công việc của nhóm”

Xuất phát từ những phân tích và khái niệm KNLVN ở trên, tôi nhận sử dụng khái niệm dưới đây làm công cụ nghiên cứu đề tài này

“Kỹ năng làm việc nhóm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là khả năng phối hợp cùng thực hiện một hành động hay một công việc nào đó của nhóm trẻ, dựa trên những tri thức, vốn kinh nghiệm đã có, nhằm hoàn thành công việc chung với hiệu quả cao nhất”

1.2.1.4 Bản chất của kỹ năng làm việc nhóm

Dựa trên kỹ năng làm việc nhóm có thể thấy bản chất của làm việc nhóm thể hiện ở các yếu tố sau trong mối quan hệ khăng khít:

Thứ nhất, có khả năng tương tác với trẻ khác Theo John C Maxwell thì cách thức để xây dựng và phát triển nhóm là giữa các cá nhân phải có sự tương tác với nhau như một chuỗi phản ứng hóa học Vấn đề quan trọng của nhóm không phải là

số lượng bao nhiêu người mà là sự tương tác như thế nào Nhóm thực chất phải là nhóm những cá nhân luôn biết hợp tác, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo động lực cho nhau phát triển Sự tương tác là chất men gây tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và là chất xúc tác cho những hành động của mỗi cá nhân trong nhóm Chỉ có sự tương tác mới có thể tạo ra sức mạnh lớn nhất của nhóm Vì vậy nó có ý nghĩa rất lớn đối với thành công của từng thành viên cũng như của cả nhóm

Thứ hai, phát triển khả năng của mỗi trẻ trong nhóm: Một người được coi là có

kỹ năng làm việc nhóm nếu biết cách phát triển tiềm năng và năng lực của chính mình

Trang 27

và đồng đội Môi trường làm việc nhóm là nơi để mỗi thành viên thể hiện; khám phá, tìm hiểu chính mình và những người khác, từ đó biết phát huy những điểm mạnh, hạn chế điểm yếu và hoàn thiện bản thân

Thứ ba, tạo ra hiệu quả làm việc cao nhất: Một thành viên tốt luôn đặt hiệu quả công việc lên hàng đầu Vì vậy, họ sẵn sàng chấp nhận những ràng buộc của nhóm

về các quy tắc, quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm; cam kết hành động, nỗ lực hết mình để công việc tiến triển và đạt được kết quả mong muốn Một nhóm không thể thành công nếu như mỗi thành viên không biết tập trung vào công việc và luôn bị các yếu tố bên ngoài tác động

1.2.1.5 Đặc điểm kỹ năng làm việc nhóm

Cùng tham gia về phương tiện không gian và othời gian của các thành viên tạo

ra khả năng tiếp xúc cá nhân trực tiếp giữa họ với nhau, trong đó có sự trao đổi hành động, thông tin cũng như khả năng nhận thức lẫn nhau (Huỳnh Văn Sơn, 2012)

Có mục tiêu chung, trong đó kết quả hoạt động được dự đoán trước phù hợp với lợi ích chung, góp phần thỏa mãn những nhu cầu của mỗi thành viên (Huỳnh Văn Sơn, 2012)

1.2.1.6 Cấu trúc của kỹ năng làm việc nhóm

Từ sự phân tích các quan điểm về kỹ năng và kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng làm việc nhóm gồm có những kỹ năng thành phần sau đây:

KN hình thành và duy trì nhóm (xác định mục đích hoạt động của nhóm, lựa

chọn các thành viên phù hợp tham gia vào nhóm, xây dựng các quy tắc chung của nhóm…) Đây là kỹ năng giúp trẻ chủ động tham gia vào làm việc nhóm, xác định được vị trí, vai trò của bản thân trong nhóm, đồng thời hiểu rõ mục đích chung của nhóm và nhiệm vụ cụ thể mà mình được giao cũng như những yêu cầu cần tuân thủ khi làm việc nhóm cùng nhau Kỹ năng này gồm các thành phần chủ yếu

KN tương tác giữa các thành viên trong nhóm (Bày tỏ ý kiến cá nhân, lắng nghe,

tôn trọng ý kiến của người khác, chia sẻ, động viên các thành viên khác trong nhóm…)

KN thực hiện công việc của nhóm (cùng lập ra kế hoạch cho công việc của

nhóm, cùng bàn bạc để phân công nhiệm vụ phù hợp, chủ động nhận nhiệm vụ và tự

Trang 28

giác, cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, phối hợp thực hiện nhiệm vụ với các thành viên trong nhóm, tự kiểm tra đánh giá mình và đánh giá các thành viên trong nhóm…)

KN giải quyết vấn đề xảy ra trong nhóm: Hành động, ứng xử theo quy tắc chung

của nhóm, kiền chế cảm xúc của bản thân, phân tích tìm nguyên nhân nảy sinh vấn

đề và lựa chọn phương án giải quyết cùng với các thành viên của nhóm, nhờ sự trợ giúp của người khác khi cần thiết…

1.2.2 Sự hình thành kỹ năng làm việc nhóm ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

1.2.2.1 Đặc điểm và biểu hiện kỹ năng làm việc nhóm ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Trong quá trình làm việc nhóm, kỹ năng làm việc nhóm của trẻ mẫu giáo được biểu hiện chủ yếu ở hành vi giao tiếp, hoạt động phối hợp cùng người khác nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm Các kỹ năng này hình thành, phát triển và hoàn thiện dần dưới sự tác động sư phạm phù hợp của giáo viên thông qua các hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non

Nghiên cứu của các nhà tâm lý – Giáo dục trẻ em đã chỉ ra rằng, tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi là giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành hệ thống hành vi, hành động và nhân cách của trẻ nói chung, ở giai đoạn này, trẻ bắt đầu hướng vào những mối quan hệ giao tiếp tích cực với bạn cùng tuổi thông qua các hoạt động

đa dạng ở trường mầm non Từ đó ở trẻ dần dần hình thành KN cùng nhau lập kế hoạch cho những hoạt động cùng nhau, KN phối hợp cùng các bạn, KN giải quyết xung đột, mâu thuẫn…để đạt được mục đích đã đề ra

Ở lứa tuổi mẫu giáo, trẻ có nhu cầu và khả năng tham gia vào nhiều loại hình hoạt động đa dạng như: Vui chơi, lao động, học tập…

Ngoài các nhóm chơi, trẻ mẫu giáo còn tham gia nhiều hoạt động như hoạt động học tập, hoạt động lao động…Các nhóm hoạt động này của trẻ có đặc điểm chung là được hình thành dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GVMN: Giáo viên chia trẻ thành các nhóm, giao cho nhóm nhiệm vụ cụ thể và hướng dẫn trẻ thực hiện Lao động trực nhật, trong đó có trực nhật giờ ăn là hình thức lao động nhằm giáo dục trẻ quan tâm đến người khác, hứng thú được cùng cô phục vụ các bạn Hình thức lao động này đòi

Trang 29

hỏi trẻ hoàn thành nhiệm vụ được phân công trong nhóm nhỏ (như xếp bàn ghế, xếp chén bát lên bàn, chia đồ ăn…) và phối hợp với cô và các bạn nhằm thực hiện mục đích chung Trẻ biết chia sẻ cùng bạn trong các hoạt động vui chơi và hoạt động lao động Trong hoạt động trẻ biết hợp tác, biết thảo luận, bàn bạc, thỏa thuận phân công công việc cho nhau, biết phối hợp cùng nhau để tạo ra sản phẩm hay một kết quả nào

đó Tuổi này trẻ thích thú với công việc của mình, cảm xúc phát triển mạnh mẽ, trẻ thích được quan tâm lẫn nhau trong các hoạt động để chia sẻ những ý tưởng và đồng thời trẻ cũng muốn thể hiện khả năng của mình trước mọi người Ngoài ý thức hợp tác trẻ còn có tinh thần trách nhiệm và quan tâm đến công việc chung, trẻ hiểu rõ công việc của nhau và sẵn sàng giúp đỡ nhau trong quá trình làm việc

Như vậy, tuy làm việc nhóm của trẻ 5-6 tuổi đã chứa đựng những dấu hiệu cơ bản (Như: các thành viên cùng nhau thực hiện một nhiệm vụ chung, trẻ vừa thể hiện

ý thức trách nhiệm của cá nhân với tập thể, cố gắng hoàn thành phân việc được giao, đồng thời biết hành động phối hợp cùng bạn, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau…) Nhưng các nhóm trẻ vẫn chưa thực sự ổn định, làm việc nhóm có thể bị ảnh hưởng bởi những tác động từ bên ngoài như không gian, thời gian hoạt động, phương tiện hoạt động…và hứng thú , nhu cầu, khả năng của trẻ Đặc biêt một số trẻ ở độ tuổi 5-6 tuổi trẻ cũng có những biểu hiện lấn lướt bạn, trẻ thường muốn người khác phục tùng

mình, đôi lúc trẻ có biểu hiện giành vị trí hoặc một đồ dùng, dụng cụ trong nhóm 1.2.2.2 Sự hình thành kỹ năng làm việc nhóm ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Quá trình hình thành KNLVN được bắt đầu từ nhu cầu muốn chơi cùng nhau

và dần dần phát triển khi trẻ có những khả năng mới cùng với giao tiếp tự tin Quá trình này diễn ra như sau:

Nhu cầu muốn hoạt động cùng nhau thôi thúc trẻ chủ động thiết lập nhóm và

có mong muốn thể hiện khả năng và được công nhận

Khi trẻ còn nhỏ thì trẻ thích thú quan sát các trẻ cùng tuổi và những trẻ lớn tuổi hơn chơi Đó là do trẻ chưa sẵn sàng để chia sẽ đồ chơi, hoạt động của mình với người khác mà thường chỉ chơi một mình Đến khi trẻ được 2 – 3 tuổi thì nhu cầu muốn chơi cùng nhau của trẻ được hình thành Bởi lẽ chúng muốn chơi cùng nhau là để chia sẻ những điều tưởng tượng mà dường như chỉ có chúng mới hiểu và học hỏi

Trang 30

được từ nhau tốt nhất Trẻ từ 3 – 4 tuổi, trẻ trở nên thân thiết hơn với các mối quan

hệ với bạn bè, thầy cô sẽ khiến trẻ bận rộn hơn Khi trẻ 4 tuổi tâm lý của trẻ có nhiều biến chuyển, thể hiện rõ nét nhất là quan hệ với cha mẹ, với bạn bè và các mối quan

hệ xã hội

Đến 4 – 5 tuổi giao tiếp với bạn cùng tuổi lôi cuốn đứa trẻ hơn, hình thành dạng giao tiếp công việc tình huống với bạn cùng tuổi Trẻ chuyển từ sự tham gia cùng nhau đến sự hợp tác cùng nhau đánh dấu một bước tiến đáng kể trong hoạt động giao tiếp với bạn cùng tuổi Nhu cầu giao tiếp cơ bản của trẻ mẫu giáo là cải thiện sự hợp tác trong công việc và phối hợp các hành động của mình với bạn để đạt mục đích Đến năm thứ 5 của cuộc đời trẻ thường hỏi về các thành tích của bạn, đòi hỏi mọi người công nhận các thành tích của bản thân, vạch ra sự thất bại của trẻ khác và giấu

đi những thất bại của bản thân

Khả năng hoạt động đạt được những bước tiến mới: độc lập thực hiện hoạt động, kỹ năng làm việc tốt hơn, xuất hiện nhiều ý tưởng mới…

Đối với trẻ 5-6 tuổi thì KNLVN được thể hiện ngay trong hoạt động của trẻ Trẻ giai đoạn này đã có những cách giải quyết vấn đề khá thú vị Trẻ đưa ra các ý tưởng đôi khi những ý tưởng đó không gắn liền với mục đích Trẻ cũng đưa ra các câu hỏi thắc mắc về vấn đề mà trẻ chưa hiểu Khi đã được tham gia vào nhóm hoạt động khả năng tự độc lập thực hiện hoạt động của trẻ được nâng cao, kỹ năng làm việc tốt hơn

do trẻ được học hỏi, trải nghiệm, tích lũy kinh nghiệm từ những thành viên trong nhóm Mà cũng cùng một hoạt động trước đó trẻ không thể tự làm một mình được nhưng bây giờ trẻ có thể làm việc đó một cách dễ dàng hơn Khi đã có nhiều kinh nghiệm thì ở trẻ xuất hiện nhiều ý tưởng mới, sáng tạo hơn, đó là do trí não của trẻ luôn luôn tưởng tượng, trẻ thích tìm tòi, khám phá sự vật theo những cách khác nhau

Khả năng giao tiếp phát triển có khả năng trình bày ý tưởng, chia sẻ, trao đổi bàn bạc, thỏa thuận

Từ khi mới sinh ra đứa trẻ dần lĩnh hội kinh nghiệm xã hội thông qua giao tiếp xúc cảm với người lớn, qua đồ chơi và đồ vật xung quanh nó, qua ngôn ngữ v.v… Theo nghiên cứu của M.I Lixinna và các nhà khoa học khác chứng minh rằng đặc

Trang 31

điểm giao tiếp của trẻ với người lớn và bạn cùng tuổi được thay đổi và phức tạp dần trong suốt thời kỳ thơ ấu (Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2015)

Kỹ năng giao tiếp của trẻ đã đạt được một bước nhảy vọt trong những năm đầu đời, đến 5-6 tuổi trẻ biết lắng nghe hơn và phản ứng nhanh nhạy hơn khi trò chuyện cùng bạn Những câu nói của trẻ giờ đây không chỉ dài và còn trở nên phức tạp hơn Thậm chí, trẻ giờ đây còn có thể làm theo những chỉ dẫn phức tạp (nhiều hơn một bước) và mô tả một chuỗi các sự kiện theo đúng trình tự Trẻ cũng bắt đầu biểu lộ và nói lên những cảm xúc, suy nghĩ của mình vào giai đoạn này

Những phẩm chất tự tin, tự ý thức xuất hiện giúp trẻ có thể vượt lên những trở ngại cá nhân, bỏ qua cái tôi riêng để tuân thủ quy tắc chung, cố gắng nỗ lực để đạt được kết quả cao nhất

Tại trường học, trẻ sẽ được trải nghiệm kỹ năng làm việc nhóm dưới nhiều hình thức khác nhau Qua việc chơi với những kẻ khác, trẻ cũng đã hình thành một số kỹ năng xã hội như chia sẻ, chơi lần lượt, nhường cho bạn Đây chính là lúc trẻ độc lập

và có thể tự giải quyết các vấn đề của bản thân Biết tuân thủ luật chơi, nguyên tắc chơi Đời sống tình cảm của trẻ giai đoạn này khá là sâu sắc Trẻ biết thiết lập mối quan hệ rộng rãi, phong phú với bạn cùng lứa và trải nghiệm nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau Mặc dù vậy, mỗi trẻ có cách hoạt động của riêng mình nên các xung đột vẫn thường xảy ra giữa các trẻ với nhau Trẻ biết nhờ sự giúp đỡ của người lớn

để giải quyết vấn đề bằng cách khoe và đồng thời cũng tích kinh nghiệm để giải quyết các mâu thuẫn nếu có xảy ra vào lần sau

Dạy trẻ tầm quan trọng của việc làm việc nhóm ngay từ khi trẻ còn nhỏ sẽ rất

có ích cho sự phát triển về lâu dài của chính bản thân trẻ và có thể giúp cho mọi việc

mà trẻ làm sau này trở nên dễ dàng hơn Những trẻ em được dạy cách làm việc nhóm ngay từ khi còn nhỏ sẽ trở nên cởi mở hơn đối với chuyện phải hợp tác với người khác, tránh được việc chỉ biết đến cái tôi của mình và sẽ lưu giữ được những kỹ năng này khi bé lớn lên và bước ra ngoài xã hội trong tương lai

Với những nội dung, nhiệm vụ, cách tổ chức khác nhau sẽ là cơ hội để trẻ có thể hoạt động cùng nhau, thúc đẩy trẻ làm việc nhóm với nhau được lâu hơn, rèn luyện cho trẻ cách làm việc nhóm cùng nhau sao cho kết quả làm việc đạt hiệu quả

Trang 32

cao nhất Cũng chính qua cách trẻ hoạt động cùng nhau mà các con học được tính kiềm chế sự cáu giận, chia sẻ yêu thương, thực hiện quy định và đặt ra quy định mới phù hợp

1.2.3 Biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 1.2.3.1 Định nghĩa biện pháp giáo dục kỹ năng

a Định nghĩa biện pháp

Theo từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”

Trong tiếng Anh, khi nói đến “Biện pháp” từ điển xem nó có ý nghĩa như một

kế hoạch hoặc một hành động để đạt được mục đích cụ thể đã đề ra

Theo từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng Tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, hành động, đối phó để đi đến một mục đích nhất định”

Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể Biện pháp là sự phối hợp các yếu tố khác nhau trong hoạt động như kỹ thuật, phương tiện, công cụ, tình huống, môi trường, thời gian, công nghệ, các yếu tố tâm lý, xã hội và con người…Biện pháp là cấu trúc vĩ mô của phương pháp Nhưng một biện pháp có thể tồn tại trong nhiều phương pháp (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009)

Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể hay hướng tới giải quyết nhiệm vụ từng phần, cụ thể nhằm đạt được muc đich nhất định đã đề ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp, biện pháp cũng có thể giải quyết được các nhiệm vụ khác nhau như một phương pháp

Như vậy có thể nói: Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, cách lựa chọn

cụ thể để giải quyết một vấn đề cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định

b Định nghĩa biện pháp giáo dục

Biện pháp giáo dục là một trong những thành tố của quá trình giáo dục, nó có quan hệ mật thiết và có tính biện chứng với các thành tố khác của quá trình giáo dục, đặc biệt là phương pháp giáo dục

Theo từ điển giáo dục học của Bùi Hiền thì biện pháp giáo dục là cách tác động

có định hướng, có chủ đích, phù hợp với tâm lý đến đối tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lục của đối tượng Những biện

Trang 33

pháp giáo dục thường được áp dụng là giáo dục cá thể, giáo dục tập thể, giáo dục phối hợp, giáo dục đồng đội, giáo dục đồng đẳng…mỗi biện pháp giáo dục đề có ưu điểm riêng của mình

Biện pháp giáo dục không tồn tại độc lập mà nằm trong mối quan hệ biện chứng với các thành tố của hoạt động giáo dục: mục đích, nội dung, phương tiện, hình thức thực hiện các hoạt động giáo dục Các thành tố này xoay quanh hoạt động của cô và trẻ Chính vì vậy, có thể hiểu rằng, biện pháp giáo dục chính là cầu nối, là sợi dây liên hệ giữa cô và trẻ trong từng điều kiện cụ thể khi tổ chức các hoạt động giáo dục

ở trường mầm non

Từ điển Giáo dục học cho rằng: “Biện pháp giáo dục là cách tác động có định hướng, có chủ đích, phù hợp với tâm lý đến đối tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng hoặc thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng”

Riêng về biện pháp giáo dục mầm non tác giả Nguyễn Thị Hòa định nghĩa:

“Biện pháp giáo dục mầm non là cách làm cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa cô và trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra ở lứa tuổi mầm non”

Trong đề tài này, tôi hiểu biện pháp giáo dục như sau: “Biện pháp giáo dục là

sự phối hợp các yếu tố khác nhau trong hoạt động để tác động có định hướng đến đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra”

c Định nghĩa biện pháp giáo dục kỹ năng

Thông qua định nghĩa về biện pháp giáo dục và định nghĩa về kỹ năng chúng tôi xác định, định nghĩa trong phạm vi đề tài là: “Biện pháp giáo dục kỹ năng là cách

tổ chức của giáo viên nhằm giúp trẻ biết được, hiểu được và thực hành vận dụng tốt các kỹ năng

1.2.4 Biện pháp giáo dục kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt động lao động cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

1.2.4.1 Hoạt động lao động của trẻ mẫu giáo

a Khái niệm hoạt động lao động

Định nghĩa hoạt động

Trong tâm lý học có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động:

Trang 34

Theo sinh lý học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lường thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực cách quan nhằm thõa mãn nhu cầu của mình Quan điểm trên đồng nhất hoạt động của con người với hành vi con vật

Theo tâm lý học duy vật biện chứng: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người; là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, thiết lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan Nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về con người

Xét về phương diện loài: hoạt động của con người là sự tác động tích cực của con người với thế giới khách quan để tạo ra sản phẩm

Xét về phương diện cá thể: Hoạt động của cá thể quyết định sự tồn tại của cá thể Hoạt động là quá trình tác động tích cực của con người vào thế giới khách quan Kết quả tạo ra sản phẩm về phía thế giới và tạo ra sản phẩm về phía con người (Hình thành nhân cách tâm lý mới) Trong từ điển tiếng Việt: Hoạt động là vận động, cử động, những việc làm có liên quan chặt chẽ với nhau Vậy, Từ các khái niệm trên ta

có khái niệm về hoạt động như sau: Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới cả về phía con người (chủ thể)

Định nghĩa lao động

Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên, phù hợp với nhu cầu con người (Trần Thị Hương Thủy,2017) Trong từ điển tiếng việt thì: Lao động là hoạt động có mục đích nhằm tạo lợi ích cho con người và xã hội

Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính

là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục

vụ nhu cầu con người

Định nghĩa hoạt động lao động

Từ những khái niệm trên, chúng ta rút ra được khái niệm về hoạt động lao động của trẻ mầm non: Hoạt động lao động của trẻ mầm non là hoạt động có mục đích, có

Trang 35

kế hoạch được trẻ thực hiện bằng những hành động để tác động vào đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm có ích cho xã hội

b Nhiệm vụ giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo

Giáo trình giáo dục học mầm non đưa ra các nhiệm vụ giáo dục lao động cơ

bản sau đây (Đinh Văn Vang, 2008)

Thứ nhất giúp đỡ trẻ tìm hiểu lao động của người lớn và giáo dục lòng yêu quý người lao động và sản phẩm của người lao động

Thứ hai giáo dục các kỹ năng lao động đơn giản, như tự phục vụ bản thân, lao động trong sinh hoạt tập thể, chăm sóc vật nuôi, cây trồng làm đồ dùng, đồ chơi đơn giản bằng vật liệu thiên nhiên

Thứ ba giáo dục trẻ hứng thú lao động, lòng yêu lao động, giáo dục động cơ lao động vì tập thể, tính độc lập và kỹ năng lao động trong tập thể, vì tập thể

Ở trường mẫu giáo, trong gia đình và môi trường xã hội, trẻ được tiếp xúc với lao động của người lớn và những kết quả do lao động mà có Lúc đầu, trẻ mới chú ý đến bản thân hành động lao động, các thao tác lao động, việc sử dụng các công cụ lao

động, sự vận động của các cơ chế máy móc hấp dẫn, lôi cuốn trẻ Đó chỉ là những

yếu tố bên ngoài của lao động, về sau, do sự tích luỹ kinh nghiệm của bản thân và sự giải thích của cô giáo, trẻ dần hiểu được lao động của người lớn, ý nghĩa xã hội và lợi ích của lao động

Kinh nghiệm bản thân và sự giải thích của cô giáo, trẻ dần dần hiểu biết được lao động của người lớn, ý nghĩa xã hội và lợi ích của lao động Từ những hiểu biết đó hình thành ở trẻ lòng tôn trọng đối với lao động của người lớn và thái độ giữ gìn kết quả của lao động Đó là những nhân tố sơ đẳng, ban đầu về lao động mà trẻ cần hiểu biết

Song, việc tổ chức cho trẻ trực tiếp tham gia các hình thức lao động phù hợp với sức khoẻ và tâm lí lứa tuổi có ý nghĩa giáo dục thực sự, trẻ mới cảm thấy lao động

là khó khăn và sự cần thiết phải lao động, phải có sự nỗ lực hoàn thành công việc được giao Việc dạy cho trẻ biết lao động hợp lý là cơ sở của việc tổ chức lao động Điều đó thể hiện ở việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng và kỹ xảo lao động đơn giản (kỹ năng, kỹ xảo lao động trong sinh hoạt, trong thiên nhiên, lao động thủ công v.v…)

Trang 36

Tuỳ theo sự phát triển và trưởng thành của trẻ mà nâng dần yêu cầu đối với chất lượng, trình độ tổ chức, khối lượng lao động và nhịp độ công việc

Trong quá trình dạy các kỹ năng lao động, giáo viên hình thành ở trẻ nguyện vọng tự thực hiện các thao tác vừa sức trẻ, chỉ cần đến sự giúp đỡ khi thật cần thiết Cần hình thành cho trẻ niềm tin vào sức mình, niềm vui đối với kết quả lao động, động viên mọi ý định thể hiện tính độc lập của trẻ Lao động phải mang đến niềm vui cho trẻ Từ đó hình thành lòng yêu lao động

Trường mầm non còn có nhiệm vụ hình thành cho trẻ kỹ năng lao động trong tập thể Việc lao động trong tập thể (nhóm) hình thành ở trẻ khái niệm về tinh thần trách nhiệm chung đối với công việc được giao, kỹ năng lao động phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động

c Mục tiêu giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo

Giáo trình giáo dục học mầm non đưa ra các mục tiêu giáo dục lao động cơ bản sau đây (Giáo trình giáo dục học mầm non, 2008)

Thúc đẩy một thái độ tích cực đối với công việc của người lớn

Hình thành và cải thiện hơn nữa các kỹ năng làm việc, mở rộng dần nội dung công việc, làm chủ khả năng làm việc gọn gàng, khéo léo, nhanh nhẹn

Bồi dưỡng cho trẻ phẩm chất cá nhân (thói quen nỗ lực lao động, trách nhiệm, chăm sóc, tiết kiệm, sẵn sàng tham gia lao động)

Nuôi dưỡng các kỹ năng tổ chức công việc riêng và chung, đặt các công cụ đã

sử dụng trở lại vị trí ban đầu sau khi hoàn thành xong công việc, sắp xếp nơi làm việc theo thứ tự

Hình thành mối quan hệ tích cực giữa các trẻ trong quá trình lao động, khả năng làm việc cùng nhau và hòa đồng, mang lại kết quả mong muốn bằng những nỗ lực chung, đánh giá một cách tử tế công của các thành viên, đưa ra nhận xét theo đúng mẫu và đưa ra lời khuyên

d Đặc điểm hoạt động lao động của trẻ mầm non

Nhiệm vụ chính của giáo dục lao động là hình thành cho trẻ thái độ lao động đúng Nhiệm vụ này chỉ có thể giải quyết tốt nếu chú ý đến những đặc điểm của lao

Trang 37

động so với trò chơi và học tập, đến những đặc điểm lưa tuổi của trẻ (Đinh Văn Vang, 2008)

Hoạt động lao động được tiến hành nhằm tạo ra những sản phẩm có ích cho xã hội Để thực hiện được hoạt động lao động đó, cần có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và những phẩm chất tâm lý nhất định đó là:

Hiểu ý nghĩa xã hội của lao động, có nguyện vọng thực hiện những hành động mang lại kết quả có ích cho người khác

Có kỹ năng phối hợp hành động với người khác, cùng nhau tạo ra một sản phẩm nhất định

Có tư duy phát triển để có thể lập kế hoạch hành động, dự kiến trước kết quả của hành động

Biết khắc phục khó khăn, do vậy, cần phải có ý chí phát triển cao

Khi giáo dục trẻ yêu lao động, phải dạy trẻ đặt mục đích, thu kết quả phù hợp với mục đích

Đặt mục đích:

Lao động của trẻ mẫu giáo phải phục tùng các mục đích dạy học và giáo dục Trong quá trình lao động, lúc đầu, giáo viên phải đặt ra mục đích cho trẻ Song ở lứa tuổi mẫu giáo lại thường gặp những hành động theo trình tự Khác với hành động có mục đích, nó có thể được nhắc lại nhiều lần mà không theo đuổi một nhiệm vụ nhất định, trẻ hành động vì thích thú với bản chất quá trình hành động Tính chất hợp lý của các hành động (có đặc tính hành động với đồ vật) xuất hiện trên cơ sở bắt chước Ngay từ đầu, sự bắt chước đã mang tính chất trí tuệ “bản thân quá trình bắt chước đòi hỏi phải hiểu rõ ý nghĩa hành động của người khác Quả vậy, trẻ mà không hiểu thì không thể bắt chước người lớn Bản thân sự bắt chước là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải có sự hiểu biết bước đầu” (L.S.Vygotxky) – Hiểu hành động là một điều kiện của bắt chước, là điều kiện quan trọng đối với hành động định hướng đơn giản đầu tiên

Hành động với đồ vật khi trẻ biết tên các đồ vật, hiểu công dụng và cách sử dụng nó là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển nhân cách của trẻ, giúp trẻ hiểu

Trang 38

khả năng của mình (tuy chưa đầy đủ và hình xác) và muốn độc lập với người lớn (trẻ thường nói để nó tự làm)

Những hành động của trẻ từ 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi như tự mặc và cởi quần áo,

đi giày dép, ăn uống, chải đầu, vệ sinh, tuy còn thô sơ nhưng ý nghĩa của chúng lại rất lớn và phần lớn trường hợp trẻ đạt được mục đích do hoàn thành hành động này Đây không còn là chơi nữa, nó là mầm mống của hoạt động lao động và sau này khi

3 – 4 tuổi đó là một hình thức lao động trong gia đình, lao động tự phục vụ và lao động thủ công Việc tiếp tục phát triển hành động với đồ vật và hoạt động định hướng đầu tiên sẽ dẫn trẻ đến trò chơi, chủ yếu với những đồ chơi giống vật thật

Mục đích hoạt động lao động của trẻ thường do giáo viên đặt ra và yêu cầu trẻ thực hiện

Trẻ 2 đến 3 tuổi thường khó thực hiện được mục đích lao động mà người lớn đặt ra cho trẻ Chỉ có trẻ từ 6 – 7 tuổi mới hiểu rõ những mục đích xa (trồng cây để sau này lấy quả, củ, lá v.v…), muốn thực hiện được mục đích cần phải tổ chức hoạt động chung theo nhóm (từ 3 đến 5 học sinh)

Cũng cần phát triển ở trẻ khả năng tự đặt mục đích và thực hiện mục đích Trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn có thể đặt mục đích trong những công việc quen thuộc hằng ngày như xếp gọn đồ chơi lên giá, thu dọn các vật liệu xây dựng, chăm sóc vật nuôi v.v… Trong những hình thức lao động mà trẻ thu được kết quả bằng vật chất: trồng hoa, trồng rau, làm đồ chơi bằng giấy, gỗ Ở lứa tuổi này, hoạt động có mục đích của trẻ rất bền vững vì đã có động cơ mang ý nghĩa xã hội

Tính kế hoạch

Trong lao động tính tích cực sáng tạo của trẻ có ý nghĩa quan trọng: Suy nghĩ đến công việc sắp tới, chọn các vật liệu dụng cụ cần thiết, khắc phục khó khăn để đạt được kết qảu đề ra Đó là việc “xây dựng kế hoạch” hoạt động

Thường giáo viên đặt kế hoạch bước đầu Ở đây cần chú ý để việc đặt kế hoạch không được mất nhiều thời gian hơn là quá trình lao động

Trẻ 5-7 tuổi cũng có thể đặt kế hoạch sơ bộ Khả năng đặt kế hoạch hoạt động hình thành dần dần từ những hành động đơn giản được thực hiện theo trình tự logic

Ở giai đoạn đầu trẻ không thể làm được việc này Nhưng đối với trẻ mẫu giáo bé có

Trang 39

thể đề ra những yêu cầu để trong quá trình sinh hoạt tập cho trẻ hành động có tổ chức, lúc đầu nên làm gì, sau đó làm gì, vì sao phải làm như vậy chứ không theo một trình

tự Ví dụ giáo viên đề nghị trẻ khi đi dạo phải dọn dẹp lớp học, giáo viên phải giải thích rõ ràng cho trẻ: Đầu tiên nên đặt ghế vào đúng chỗ, sau đó thu dọn đồ chơi, khi rửa mặt đầu tiên phải vén tay áo lên để không ướt sau đó rửa tay rồi mới rửa mặt bằng đôi tay sạch Như vậy trình tự hành động là do giáo viên quy định, trẻ dần dân quen với trình tự hành động này

Từ cách đặt kế hoạch đơn giản ở bước đầu sau đó dần dần chuyển sang những hình thức đặt kế hoạch phức tạp hơn đối với trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn Nếu không dạy trẻ thì không thể nào hình thành khả năng đặt kế hoạch hành động

Trong một số quá trình lao động rất phổ biến của lớp nhỡ và lớn phải thường xuyên quy định trình tự logic của hành động, tạo ra cho trẻ kế hoạch hành động đơn giản nhất Ví dụ khi chăm sóc cây cỏ trong phòng, nên bố trí như thế nào để trẻ tiện lau chùi, tưới cây Muốn vậy đầu tiên phải mang chậu hoa từ trên bệ của sổ vào bàn, sau đó lau lá, rửa đế chậu, tưới cây, lau bệ của sổ rồi mới chuyển cây về chỗ cũ Nếu không có kế hoạch hành động thì trẻ sẽ làm lộn xộn

Trẻ đã hiểu được mục đích là phải xếp gọn góc khoa học, hoạt động của trẻ nhằm thực hiện nhiệm vụ đã đề ra và có thể coi là hoạt động lao động có mục đích Tuy nhiên ở đây, một nhiệm vụ đạt ra cho giáo viên trong quá trình làm việc phải lưu ý trẻ đến trình tự logic của hành động dẫn đến kết quả tốt đẹp nhất (mất ít thời gian, công sức, lại tiện lợi)

Ví dụ ở lớp mẫu giáo lớn với công việc dán lại sách thì đầu tiên trẻ phải chọn những quyển sách cần tu sửa Sau đó xác định trình tự công việc cần làm: Dán lại các trang sách, thay gáy sách, đóng lại bìa sau đó chọn những vật liệu cần thiết, chọn giấy màu phù hợp nhất những mảnh bìa, hồ dán, bút lông, kéo…cũng phải dự kiến trước trình tự thực hiện công việc: Kiểm tra cuốn sách cần tu sửa, xác đinh bằng mắt hay dùng thước đo chiều dài, chiều rộng của mảnh giấy dán vào trang sách rách, đánh dấu bằng bút chì, cắt sau đó mới dán

Nếu hoạt động của trẻ không có phương hướng thì trẻ sẽ làm nhiều động tác thừa không cần thiết, không thu được kết quả mong muốn

Trang 40

Nếu không có kỹ xảo đặt kế hoạch trẻ phải thử và phạm sai lầm, điều đó làm trẻ mất sức vô ích và không hài lòng với kết quả thu được

Kỹ năng đặt kế hoạch hành động được hình thành tốt nhất trong lao động vì trong khi chơi trẻ phụ thuộc vào ý định tự do, mà ý định lại hay thay đổi do những ấn tượng liên tưởng ngẫu nhiên của trẻ gây ra

Trong giờ học, kế hoạch thường do giáo viên đề ra, vì đây nhiệm vụ chính là dạy trẻ những việc mà trẻ chưa biết làm Chỉ trong các giờ học sáng tạo mới đề ra yêu cầu để trẻ giải quyết nhiệm vụ, mà những vấn đề chính cũng thường được nêu ra cho trẻ dưới dạng cho sẵn

Muốn dạy trẻ cách đặt kế hoạch hành động phải nêu ví dụ cho trẻ Phải tập cho trẻ suy nghĩ sơ bộ về hành động của mình Phải đề ra những câu hỏi cho trẻ: “Hãy suy nghĩ xem con sẽ làm như thế nào? Con bắt đầu từ cái gì? Lúc đầu con sẽ làm bằng dụng cụ nào? Con cần bao nhiêu vật liệu…?” Nên đặt trẻ vào điều kiên bắt buộc phải suy nghĩ sơ bộ về quá trình hoạt động Nếu nhiệm vụ lao động đã rõ, trẻ mẫu giáo lơn sẽ tự làm và làm có kết quả Khi trẻ chưa rõ một số khâu trong quá trình lao động, trẻ sẽ tìm cách giải quyết trong quá trình lao động, nắm thao tác mới, sử dụng dụng cụ khác nhau, suy nghĩ cần dùng vật liệu nào để làm công việc này và cách

sử dụng nó Giáo viên tìm hiểu tính chất thúc đẩy trẻ và trong trường hợp cần thiết phải giúp đỡ, vạch hướng cho trẻ tiếp tục tìm tòi để hoàn thành công việc có kết quả Nên vạch ra cho trẻ những nhiệm vụ với sự giải thích của giáo viên giống như trước đây và những nhiệm vụ mới mà trẻ có thể giải quyết dựa vào kinh nghiệm đã có: Sửa lại những chiếc hộp bằng bài để dùng vào những trò chơi học tập, buộc những cành cây leo, làm bàn bằng gỗ, giặt quần áo cho búp bê…

Như vậy trong quá trình lao động trẻ tập đặt kế hoạch Việc hoàn thành kỹ xảo đặt kế hoạch diễn ra trong công việc hằng ngày điều quan trọng là trong lao động trẻ không được hành động một cách ngẫu nhiên, lộn xộn mà phải suy nghĩ trình tự thao tác

Trẻ có thể thấy những hành động lao động lao động trong ảnh mô tả những hình thức lao động khác nhau của con người Ví dụ giáo viên đưa ra những bức tranh nói

về các quá trình lao động khác nhau: Trồng cây, quốc đất, hái rau, rửa giày…và yêu

Ngày đăng: 19/02/2021, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w