1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm

260 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 260
Dung lượng 5,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.. Công cụ đánh giá s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Kim Hoa

ĐÁNH GIÁ SỰ HỢP TÁC GIỮA

TRƯỜNG MẦM NON VỚI CHA MẸ TRẺ

THEO TIÊU CHÍ THỰC HÀNH

ÁP DỤNG QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC

LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở CỦ CHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Kim Hoa

ĐÁNH GIÁ SỰ HỢP TÁC GIỮA

TRƯỜNG MẦM NON VỚI CHA MẸ TRẺ

THEO TIÊU CHÍ THỰC HÀNH

ÁP DỤNG QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC

LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở CỦ CHI

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Kim Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy, cô giáo của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh – quý thầy, cô trực tiếp tham gia giảng dạy và quản lý đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu, giáo viên và phụ huynh của các trường mầm non tại Củ Chi đã cung cấp thông tin cũng như tạo điều kiện cho tác giả được học tập, nghiên cứu và hỗ trợ tác giả hoàn thành đề tài luận văn

Và cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong hội đồng chấm đề cương và luận văn đã dành thời gian đọc và đưa ra những ý kiến, nhận xét

để giúp tác giả càng hiểu rõ và điều chỉnh luận văn hoàn chỉnh hơn

TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 03 năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Kim Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ SỰ HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG MẦM NON VỚI CHA MẸ TRẺ THEO TIÊU CHÍ THỰC HÀNH ÁP DỤNG QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM 8

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 8

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 8

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 14

1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài 21

1.2.1 Đánh giá 21

1.2.2 Trường mầm non 22

1.2.3 Cha mẹ trẻ 24

1.2.4 Hợp tác 26

1.3 Lý luận về quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 27

1.3.1 Khái quát về quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trên thế giới và ở Việt Nam 27

1.3.2 Giới thiệu bộ tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 32

1.4 Lý luận về sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 33

Trang 6

1.4.1 Khái niệm 33

1.4.2 Hình thức hợp tác giữa trường mầm non và cha mẹ trẻ trong chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 37

1.5 Lý luận về hoạt động đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 41

1.5.1 Mục đích đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ 41

1.5.2 Mục đích đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 43

1.5.3 Hình thức đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 44

1.5.4 Công cụ đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 45

1.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 49

Tiểu kết chương 1 53

Chương 2 ĐÁNH GIÁ SỰ HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG MẦM NON VỚI CHA MẸ TRẺ Ở CỦ CHI THEO TIÊU CHÍ THỰC HÀNH ÁP DỤNG QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM VÀ ĐỀ XUẤT KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG MẦM NON VỚI CHA MẸ TRẺ TRONG CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ 54

2.1 Khái quát chung về tổ chức nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 54

2.1.1 Khái quát chung về tổ chức nghiên cứu 54

2.1.2 Khái quát chung về khách thể nghiên cứu 57 2.2 Công cụ và thang đo để đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ

Trang 7

trẻ theo Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở một số trường MN tại Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh 62 2.2.1 Mô hình công cụ đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ

trẻ theo Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 63 2.2.2 Thang đo đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ

theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 64 2.3 Kết quả đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở một

số trường MN tại Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh 70 2.3.1 Đánh giá công tác thu hút sự tham gia của cha mẹ trẻ ở trường

mầm non 70 2.3.2 Đánh giá kỹ năng giao tiếp với cha mẹ trẻ 76 2.3.3 Đánh giá kỹ năng giải quyết các tình huống 86 2.3.4 Đánh giá việc CBQL, GV hướng dẫn cha mẹ trẻ chăm sóc, giáo

dục trẻ 93 2.3.5 Đánh giá việc thông tin về sự phát triển của trẻ cho cha mẹ theo

Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở Củ Chi 106 2.3.6 Đánh giá công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 111 2.3.7 Đánh giá công tác thông tin cho cha mẹ trẻ hiểu về phương pháp

giáo dục LTLTT 115 2.4 Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ trong CSGD trẻ theo Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục LTLTT 121 2.4.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác

giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 121 2.4.2 Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả hợp tác giữa trường

Trang 8

mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ theo Tiêu chí

thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 123

2.4.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp được đề xuất 130

2.4.4 Khảo nghiệm sự nhận thức về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 132

Tiểu kết Chương 2 138

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô trường, lớp, học sinh 58

Bảng 2.2 Tỷ lệ học sinh ngoài công lập/Tổng số học sinh 58

Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình khảo sát qua phiếu khảo sát 59

Bảng 2.4 Thông tin về các khách thể tham gia trả lời phiếu khảo sát 60

Bảng 2.5 Thang đo đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ theo công cụ đánh giá Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 64

Bảng 2.6 Đánh giá công tác thu hút sự tham gia của cha mẹ trẻ ở 4 trường MN 73

Bảng 2.7 Đánh giá biểu hiện giao tiếp tốt của CBQL, GV với cha mẹ trẻ theo Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục LTLTT ở Củ Chi 80

Bảng 2.8 Đánh giá tổ chức đa dạng các hình thức giao tiếp với cha mẹ trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 84

Bảng 2.9 Đánh giá kỹ năng giải quyết các tình huống của 4 trường MN 92

Bảng 2.10 Đánh giá việc hướng dẫn cha mẹ CSGD trẻ tại gia đình 96

Bảng 2.11 Đánh giá việc hướng dẫn cha mẹ trẻ giao tiếp với trẻ tại gia đình 101

Bảng 2.12 Đánh giá việc hướng dẫn cha mẹ giáo dục trẻ kỹ năng/thói quen vệ sinh tại gia đình và nơi công cộng 103

Bảng 2.13 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ theo Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục LTLTT 105

Bảng 2.14 Bảng đánh giá việc thông tin về sự phát triển của trẻ cho cha mẹ trẻ 110

Bảng 2.15 Bảng đánh giá chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 114

Bảng 2.16 Đánh giá việc thông tin cho cha mẹ trẻ hiểu về phương pháp giáo dục LTLTT 119

Trang 11

Bảng 2.17 Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 133 Bảng 2.18 Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 133 Bảng 2.19 Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ cần thiết và mực độ khả thi

của các biện pháp đề xuất 134

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Sơ đồ mô hình công cụ đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với

cha mẹ trẻ theo Tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục LTLTT 63

Trang 13

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ đánh giá chỉ số 1 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 70

Biểu đồ 2.2 Biểu đồ đánh giá chỉ số 2 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 71

Biểu đồ 2.3 Biểu đồ đánh giá chỉ số 3 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 72

Biểu đồ 2.4 Biểu đồ đánh giá chỉ số 4 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 76

Biểu đồ 2.5 Biểu đồ đánh giá chỉ số 5 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 77

Biểu đồ 2.6 Biểu đồ đánh giá chỉ số 6 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 78

Biểu đồ 2.7 Biểu đồ đánh giá chỉ số 7 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 79

Biểu đồ 2.8 Biểu đồ đánh giá chỉ số 8 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 82

Biểu đồ 2.9 Biểu đồ đánh giá chỉ số 9 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 83

Biểu đồ 2.10 Biểu đồ đánh giá chỉ số 10 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 87

Biểu đồ 2.11 Biểu đồ đánh giá chỉ số 11 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 88

Biểu đồ 2.12 Biểu đồ đánh giá chỉ số 12 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 89

Biểu đồ 2.13 Biểu đồ đánh giá chỉ số 13 của trường MNCL và MNTT 90

Biểu đồ 2.14 Biểu đồ đánh giá chỉ số 14 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 94

Biểu đồ 2.15 Biểu đồ đánh giá chỉ số 15 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 95

Biểu đồ 2.16 Biểu đồ đánh giá chỉ số 16 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 99

Biểu đồ 2.17 Biểu đồ đánh giá chỉ số 17 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 100

Biểu đồ 2.18 Biểu đồ đánh giá chỉ số 18 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 102

Biểu đồ 2.19 Biểu đồ đánh giá chỉ số 19 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 106

Biểu đồ 2.20 Biểu đồ đánh giá chỉ số 20 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 108

Biểu đồ 2.21 Biểu đồ đánh giá chỉ số 21 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 109

Biểu đồ 2.22 Biểu đồ đánh giá chỉ số 22 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 111

Biểu đồ 2.23 Biểu đồ đánh giá chỉ số 23 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 112

Biểu đồ 2.24 Biểu đồ đánh giá chỉ số 24 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 115

Biểu đồ 2.25 Biểu đồ đánh giá chỉ số 25 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 116

Biểu đồ 2.26 Biểu đồ đánh giá chỉ số 26 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 117

Biểu đồ 2.27 Biểu đồ đánh giá chỉ số 27 của trường MNCL và MNTT ở Củ Chi 118

Biểu đồ 2.28 Kết quả khảo nghiệm đánh giá mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 136

Trang 14

Thông tư 01/VBHN-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình giáo dục mầm non đã nêu rõ mục tiêu giáo dục

mầm non: Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành

những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017b)

Điều đó cho thấy giáo dục “hướng vào đứa trẻ”, “tập trung vào đứa trẻ” được đặt lên hàng đầu Lấy trẻ làm trung tâm trong trường mầm non là một quan điểm giáo dục tiến bộ về vị trí của trẻ em, vai trò của giáo viên và của cha mẹ trẻ Việc giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non là một quá trình lâu dài, liên tục và cần có sự phối hợp của nhiều lực lượng xã hội và nhất là đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ

Trang 15

Theo UNICEF và OECD, khi trường mầm non, cha mẹ trẻ và trẻ em cùng nhau xây dựng mối quan hệ tốt, cùng hỗ trợ lẫn nhau để đạt được mục tiêu giáo dục, cụ thể

là chăm sóc và giáo dục trẻ hiệu quả, thì trẻ em có nhiều cơ hội được phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, tình cảm quan hệ xã hội, ngôn ngữ Sự tham gia của cha

mẹ trẻ trong các hoạt động chăm sóc giáo dục của nhà trường giúp cha mẹ khám phá tiềm năng của con trẻ, và vì thế họ có thể thúc đẩy các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ để giúp trẻ đạt được sự phát triển tối ưu

Nhận rõ vai trò, tầm quan trọng của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngày 25 tháng 01 năm 2017 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành kế hoạch số 56/KH-BGDĐT về việc triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 – 2020 đã đề ra “Tiêu chí xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” được ban hành kèm theo kế hoạch với 5 nội dung trong đó sự hợp tác với phụ huynh được đề cập trong nội dung 5: Sự phối hợp giữa nhà trường, cha mẹ và cộng đồng trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Và điều này đã được Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM vận dụng xây dựng kế hoạch 493/GDĐT-MN về việc triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 – 2020 vào ngày 20 tháng 2 năm 2017 Tháng 6 năm 2017

Tài liệu Hướng dẫn thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

trong trường mầm non được xuất bản với 6 nội dung, trong đó có nội dung 5: Tiêu

chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong hợp tác với cha

mẹ chăm sóc giáo dục trẻ gồm 12 tiêu chí và 27 chỉ số (Hoàng Thị Dinh et al., 2017) Năm 2018 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị số 2919/CT-BGDĐT về nhiệm

vụ chủ yếu năm học 2018 – 2019, trong đó nhấn mạnh việc thực hiện chương trình hỗ trợ cha mẹ trẻ về kiến thức, kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ; xây dựng, triển khai các

mô hình phối hợp gia đình - nhà trường - cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018)

Tuy nhiên thực trạng hiện nay cho thấy, phần lớn cha mẹ trẻ còn hạn chế về nhận thức, kiến thức, kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Một số cán bộ quản

lý, giáo viên trong các trường mầm non, cha mẹ trẻ chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và sự cần thiết phải hợp tác để xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh,

Trang 16

thân thiện và sự dân chủ trong trường mầm non Việc xây dựng kế hoạch phối hợp giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ để xây dựng môi trường giáo dục và tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục, đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non chưa theo quy trình nên tính khả thi chưa cao Nội dung, hình thức, phương pháp hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ còn hạn chế, đơn điệu Tính chủ động trong hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ chưa đồng bộ, mang nặng tính hình thức Các văn bản, nội quy, cơ chế cho sự hợp tác này chưa đầy đủ, thiếu tính cụ thể nên hiệu quả trong triển khai thực thi chưa cao Bên cạnh đó, huyện Củ Chi là địa bàn được chọn trong đề tài để đánh giá thực trạng sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ là một huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh với phần lớn cha

mẹ trẻ là nông dân hoặc công nhân các khu công nghiệp trên địa bàn huyện chỉ gửi con để trường mầm non để có thời gian làm việc, phó mặc cho các giáo viên mà quên

đi một phần trách nhiệm của mình trong chăm sóc, giáo dục trẻ

Trong bối cảnh đó việc đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ

là một việc làm cấp thiết và quan trọng bởi lẽ khi đánh giá được thực trạng về những khó khăn hạn chế trong sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ thì mới đề xuất và khảo nghiệm những biện pháp cải thiện, điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả của sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ, từ đó giúp nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ

Trên bình diện khoa học và thực tiễn có một số công cụ đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non nhưng trong phạm vi đề tài luận văn này chúng tôi đã vận dụng tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm lấy trẻ làm trung tâm để làm công cụ đánh giá

Xuất phát từ những yêu cầu mang tính lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn

nghiên cứu đề tài “Đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo

tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở Củ Chi”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên lý luận và đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha

mẹ trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non tại Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh Đề xuất và khảo nghiệm

Trang 17

một số biện pháp hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống lý luận về đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm;

Đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trong chăm sóc giáo dục trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở một số trường mầm non tại Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình đánh giá trong giáo dục mầm non

- Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

5 Giả thuyết nghiên cứu

Hoạt động hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ ở các trường mầm non

ở Củ Chi đã và đang được thực hiện nhưng còn mang tính hình thức, thiếu tính thường xuyên và chưa hiệu quả Nếu đánh giá đúng thực trạng về sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ tại một số trường mầm non ở Củ Chi bằng công cụ tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thì sẽ đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Nội dung nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung hệ thống hóa lý luận và đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ ở một số trường mầm non tại Củ Chi bằng công cụ tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Trang 18

6.2 Giới hạn về mẫu nghiên cứu

70 giáo viên mầm non và cán bộ quản lý; 100 cha mẹ trẻ

6.3 Phạm vi khảo sát

4 trường mầm non ở Củ Chi:

- Trường MN A - Trường công lập đạt chuẩn quốc gia

- Trường MN B: Trường công lập đạt chuẩn quốc gia

- Trường MN C: Trường tư thục có sỉ số hơn 300 trẻ

- Trường MN D: Trường tư thục có sỉ số ít hơn 300 trẻ

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Nhằm thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề

tài đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ và tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập tài liệu từ những bài báo khoa học, các

trang web về giáo dục, sách có nội dung về đánh giá, quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm, tiêu chí xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm, sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trong chăm sóc giáo dục trẻ

Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu: Từ các tài liệu đã

thu thập, tiến hành tìm hiểu, phân tích và tổng hợp các nội dung có liên quan đến đề tài, từ đó xác lập cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích: Thu thập thông tin để đánh giá về sự hợp tác giữa trường mầm non

với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non dựa trên tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Bảng hỏi tập trung vào các nội dung sau:

- Đánh giá nhận thức của giáo viên, cha mẹ trẻ về sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ

Trang 19

- Đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo tiêu chí thực

hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở 4 trường mầm non tại Củ

Chi theo 7 tiêu chuẩn, 12 tiêu chí và 27 chỉ số

Cách thức thực hiện:

+ Bước 1: Xây dựng bảng hỏi theo mục đích và nội dung đã đề ra

+ Bước 2: Phát bảng hỏi cho 70 giáo viên mầm non và cán bộ quản lý; 100 phụ

huynh tại 4 trường mầm non ở Củ Chi: Trường MN A; Trường MN B; Trường MN

C; Trường MN D

+ Bước 3: Thu bảng hỏi và xử lý số liệu

+ Bước 4: Phân tích định lượng và định tính

Công cụ khảo sát: Sử dụng hai mẫu phiếu

+ Mẫu số 01: Dành cho 10 CBQL, 60 GV

+ Mẫu số 02: Dành cho 100 phụ huynh ở 4 trường mầm non tại Củ Chi

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: Nhằm thu thập thông tin trực tiếp, bổ sung cứ liệu cho phương pháp

quan sát và dùng để so sánh đối chiếu với thông tin trả lời trong phiếu khảo sát ý

+ Tìm hiểu những kỹ năng giải quyết các tình huống trong chăm sóc giáo dục

trẻ mầm non giữa trường MN với cha mẹ trẻ

+ Tìm hiểu cách thức trường MN, giáo viên hướng dẫn cha mẹ trẻ chăm sóc và

giáo dục trẻ tại gia đình theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Cách thức thực hiện

+ Bước 1: Xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn

+ Bước 2: Phỏng vấn trực tiếp giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh

+ Bước 3: Xử lý và phân tích thông tin thu được

Trang 20

7.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Mục đích: Quan sát các biểu hiện giao tiếp, hình thức giao tiếp giữa giáo viên,

cán bộ quản lý với cha mẹ trẻ Quan sát cách tổ chức cuộc họp với cha mẹ trẻ, cách giải quyết các vấn đề xảy ra giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ để bổ sung minh chứng trong đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ ở 4 trường mầm non tại Củ Chi

Nội dung quan sát:

- Quan sát các biểu hiện giao tiếp, hình thức giao tiếp giữa giáo viên, cán bộ quản lý với cha mẹ trẻ trong giờ đón, trả trẻ

- Quan sát cách tổ chức cuộc họp với cha mẹ trẻ, cách giải quyết các vấn đề xảy

ra giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ

Cách thức thực hiện:

- Ghi chép vào bảng quan sát kết quả về các biểu hiện giao tiếp, hình thức giao tiếp giữa giáo viên, cán bộ quản lý với cha mẹ trẻ trong giờ đón, trả trẻ

- Ghi chép cách tổ chức cuộc họp với cha mẹ trẻ, cách giải quyết các vấn đề xảy

ra giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS, excel nhằm xử lý, phân tích, mô tả và so sánh số liệu thu được, phục vụ cho việc phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu

đề tài

Trang 21

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ SỰ HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG MẦM NON VỚI CHA MẸ TRẺ THEO TIÊU CHÍ THỰC HÀNH ÁP DỤNG QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC

LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Những nghiên cứu về đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm được phân chia theo các hướng nghiên cứu sau:

Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu đánh giá vai trò, ý nghĩa của sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ đối với sự phát triển nhân cách trẻ độ tuổi mầm non

Đánh giá sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ đối với sự phát triển nhân cách trẻ độ tuổi mầm non đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu I.A Komensky, I.G Pestalogy đã bàn nhiều về việc đánh giá giáo dục trẻ em ở gia đình,

về ảnh hưởng của người mẹ đối với sự phát triển nhân cách của trẻ mầm non và chỉ ra những phương pháp, biện pháp giáo dục đạo đức cho trẻ ở gia đình Trong đó, nhấn mạnh sự đồng nhất trong mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ giữa trường

MN với cha mẹ trẻ (Kruchensky.V.A, 1981)

V.A Sukhomlinsky (1981) trong tác phẩm “Giáo dục con người chân chính như thế nào” đã nhấn mạnh đến vai trò của cha mẹ trẻ có ảnh hưởng to lớn đến tình cảm, đạo đức của trẻ mầm non Ông đánh giá cao việc giáo dục lòng nhân ái cho trẻ từ độ tuổi mầm non, bởi lẽ “con người lúc còn nhỏ có trái tim nguội lạnh lớn lên sẽ là kẻ đê tiện”, và đề cao ý nghĩa của môi trường xã hội có tác động đến quá trình sống và giáo dục trẻ em (Kruchensky.V.A, 1981)

Sau này N.K, Krupskaia, A.X Makarenko đã nghiên cứu về giáo dục gia đình, đánh giá vai trò quan trọng của cha mẹ trẻ như người thầy đầu tiên trong giáo dục

Trang 22

nhân cách cho trẻ Từ đó, họ đã đưa ra những lời khuyên cho cha mẹ trẻ trong giáo dục trẻ em qua các tác phẩm nổi tiếng như: Sách dành cho cha mẹ trẻ (A.S Makarenko 1977), Trẻ em – Tương lai của chúng ta” (Kruchensky.V.A, 1981)

Comenius và Pestalozzy nhấn mạnh ý nghĩa của sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ Sau đó là Dewey và Petersen cũng nhấn mạnh rằng ảnh hưởng của sự hợp tác với cha mẹ là điều không thể thiếu trong giáo dục trẻ em (Devjak & Ber, 2009)

Trường học và gia đình là hai yếu tố quan trọng trong việc giáo dục trẻ Đặc biệt, đối với trẻ mầm non, sự hợp tác giữa cha mẹ và trường mầm non là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục ở trường mầm non Theo một số tác giả Resman, 1992, Schleicher, 1989, Coleman, 1998, Ryan, 1995 thì sự hợp tác phụ thuộc vào truyền thống, mục tiêu, bối cảnh xã hội, khuôn khổ pháp lý và nhu cầu tình huống (Devjak & Ber, 2009)

Guerra.M, Luciano.E, 2010 trong nghiên cứu Chia sẻ trách nhiệm trong giáo

dục: Mối quan hệ giữa giáo viên và cha mẹ trẻ trong dịch vụ giáo dục dành cho trẻ từ 0-6 tuổi đã nhấn mạnh gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của trẻ và liên tục có

những tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ trong giai đoạn đến trường cũng như những năm tháng về sau Trong khi đó, trường MN có nhiệm vụ quan trọng trong việc nuôi dưỡng, dạy dỗ thế hệ mầm non của đất nước Trường MN huy động cha mẹ trẻ và các tổ chức xã hội, cộng đồng tham gia vào chăm sóc, giáo dục trẻ Các minh chứng đều cho thấy rằng mối quan hệ giữa trường MN và cha mẹ trẻ tốt đẹp sẽ làm tăng hiệu qủa giáo dục cũng như tang cường sự trao đổi để hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn trong chăm sóc giáo dục trẻ giữa giáo viên mầm non và phụ huynh (Guerra & Luciano, 2010)

Trong nghiên cứu Vai trò của mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà giáo dục cho

hành vi và hạnh phúc của trẻ em (Pirchio, Tritrini, Passiatore, & Taeschner, 2013) đã

nêu rõ rằng khi cha mẹ trẻ có những hỗ trợ mang tính chiến lược trong chăm sóc giáo dục con trẻ thì có thể thúc đẩy sự phát triển trí tuệ, nâng cao năng lực học tập cho trẻ Với phương châm đánh giá cao vai trò của cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ thì các chuyên gia giáo dục cũng nhận ra nhiều thách thức trong sự hợp tác giữa trường

Trang 23

MN và cha mẹ trẻ

Hướng nghiên cứu thứ hai: Những nghiên cứu đánh giá sự hợp tác giữa trường

MN với cha mẹ trẻ trong việc lựa chọn, xây dựng nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Làm thế nào mà trẻ có thể nhận được sự chăm sóc và giáo dục mầm non trong gia đình có thể được thể hiện trong chương trình giáo dục mầm non là điều quan trọng mà trường mầm non cần xác định mục tiêu của các hoạt động chung và bằng các phương pháp sư phạm khoa học mà ngày nay phương pháp phổ biến nhất là “lấy trẻ làm trung tâm” mọi hoạt động giáo dục đều “hướng về đứa trẻ”, có thể nói rằng không thể phát triển và thực hiện công việc giáo dục mà không có sự hợp tác tích cực của gia đình và trường học Vì vậy, sự hợp tác của gia đình và nhà trường được coi là

sự thống nhất của hoạt động thực tiễn cho cùng một mục đích giáo dục tập trung vào

sự phát triển của trẻ “lấy trẻ làm trung tâm”

John Dewey - người đặt cơ sở nền móng cho quan điểm dạy học “lấy trẻ làm trung tâm” cho rằng: “Đời sống ở trường học nên được phát triển dần dần từ đời sống gia đình Việc chính của trường học là làm sâu sắc thêm và mở rộng cảm thức của trẻ về những giá trị gắn liền với đời sống gia đình của các em” (Mooney, 2016) Mối quan hệ giữa trường MN với cha mẹ trẻ là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của trẻ và chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường MN Sự đồng sáng tạo cuộc sống của trẻ trong trường MN là trách nhiệm của tất cả mọi người có liên quan đến trẻ từ cha mẹ trẻ đến giáo viên, Ban Giám hiệu nhà trường Sự hợp tác giữa cha mẹ trẻ và trường MN dựa trên quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là tôn trọng sự khác biệt của mỗi đứa trẻ, khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, tôn trọng gia đình của trẻ Cha mẹ trẻ có thể là người khởi xướng cuộc trò chuyện nhưng trách nhiệm cơ bản trong việc thiết lập và duy trì mối quan hệ, sự hợp tác này

là các giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường

Ngày nay, sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ ngày càng được quan tâm rộng rãi trên thế giới Ở giai đoạn hiện tại, vấn đề hợp tác giữa trường MN và cha

mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm được các nhà khoa học giáo dục đặc biệt quan tâm

Trang 24

Trong bài báo “Vai trò của mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà giáo dục cho hành vi và hạnh phúc của trẻ em” của tác giả Sabine Pirchio và các cộng sự được đăng trên tạp chí quốc tế về cha mẹ trẻ trong giáo dục (2013) cho thấy tầm quan trọng của chất lượng mối quan hệ giữa cha mẹ trẻ và giáo viên đối với sự phát triển nhân cách ban đầu của trẻ Sự hợp tác giữa giáo viên với cha mẹ trẻ trong việc lựa chọn, xây dựng nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm sẽ tác động lên trẻ và có liên quan tích cực đến hạnh phúc, định hướng xã hội, cảm xúc và học tập của trẻ, đánh giá mối quan hệ với sự điều chỉnh hành vi của trẻ Nghiên cứu bao gồm 193 gia đình trẻ (12 – 42 tháng), 11 trung tâm chăm sóc trẻ và 51 nhà giáo dục, được thu thập hai lần trong năm: lần 1 từ tháng 11 đến tháng 1; lần 2 vào tháng 5 và tháng 6 Kết quả nghiên cứu đạt được cho phép tác giả rút ra một số kết luận như sau:

- Tần suất và chất lượng liên lạc giữa cha mẹ và giáo viên, nhận thức của cha

mẹ và các nhà giáo dục có tương quan thuận

- Mối liên quan giữa chất lượng nhận thức của cha mẹ với mối quan hệ giữa nhà giáo dục và cha mẹ:

+ Sự hỗ trợ/hướng dẫn của giáo viên tác động đến nhận thức của cha mẹ ảnh hưởng tích cực với chất lượng sự hợp tác giữa các nhà giáo dục với cha mẹ nghĩa là cha mẹ nhận được sự hỗ trợ của giáo viên, họ đánh giá tích cực mối quan hệ này + Mối quan hệ giữa cha mẹ trẻ và nhà giáo dục tốt hơn theo nhận thức của cha

mẹ (thời gian 1: F(2,165) = 4,287; p<0,05 và trong thời gian 2: F (2,162) = 6,147; p<0,05)

- Mối liên quan giữa nhận thức của cha mẹ trẻ với chất lượng chăm sóc giáo dục, hành vi của trẻ:

+ Mối liên quan tích cực giữa nhận thức của cha mẹ trẻ với chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ

+ Có liên quan tích cực đến sự phát triển cảm xúc, các mối quan hệ xã hội của trẻ

- Không có sự khác biệt lớn về chất lượng mối quan hệ giữa sự lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện trong chăm sóc giáo dục trẻ giữa giáo

Trang 25

viên và cha mẹ trẻ dựa vào các tiêu chí như: đặc điểm gia đình, tần số liên lạc hoặc chất lượng mối quan hệ giữa cha mẹ trẻ và giáo viên, độ tuổi hoặc giới tính của trẻ, tần suất giao tiếp giữa giáo viên với cha mẹ trẻ, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ

- Có sự khác biệt lớn về chất lượng của mối quan hệ giữa giáo viên và cha mẹ trẻ dựa vào tiêu chí nhận thức của giáo viên, của cha mẹ trẻ về quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Giáo viên cho rằng lấy trẻ làm trung tâm tức là phải xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh để trẻ được trải nghiệm, nhưng cha mẹ trẻ thì cho rằng giáo viên phải có trách nhiệm chăm sóc, phục vụ cho trẻ toàn diện ở trường mầm non

- Chất lượng giáo dục do cha mẹ tác động lên trẻ có liên quan tích cực đến chất lượng nhận thức của cha mẹ trẻ và mối quan giữa hệ giữa cha mẹ trẻ với giáo viên

- Sự tham gia của cha mẹ trẻ với giáo viên, trường MN vào quá trình chăm sóc

và giáo dục trẻ được cha mẹ trẻ đánh giá có liên quan tích cực đến hành vi chăm sóc của giáo viên ở trường MN, liên quan chặt chẽ với sự phát triển tâm lý, năng lực học tập và hạnh phúc của trẻ

- Chất lượng mối quan hệ giữa cha mẹ trẻ và giáo viên có tương quan tỉ lệ nghịch với các hành vi của trẻ Chất lượng mối quan hệ được đánh giá liên quan tích cực đến sự điều chỉnh hành vi trẻ, tính khí trẻ: 81% trẻ em cho thấy sự biểu hiện những cảm xúc tích cực Qua đó, chất lượng nhận thức của cha mẹ trẻ và giáo viên có liên quan tích cực đến cảm xúc tích cực của trẻ (Pirchio et al., 2013)

E.V Solovyeva (1999), nghiên cứu cơ sở luật pháp trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non của các bậc cha mẹ đã phát hiện ra có đến 92% cha mẹ đã vi phạm Luật trẻ

em trong việc tước quyền tự do vật chất và tinh thần của con trẻ, Cha mẹ quá bận rộn với công việc kiếm tiền nên quên đi nghĩa vụ làm cha mẹ của mình mà phó mặc con trẻ cho trường mầm non hoặc ông bà, cô dì chú bác và thậm chí người giúp việc trong nuỗi dưỡng, giáo dục con trẻ (Т.Н Доронова, 2002) Trong nghiên cứu này đã đánh giá và hệ thống một số nhu cầu của cha mẹ trẻ đối với trường MN như:

- Thông tin đầy đủ nhất về con trẻ;

- Phương pháp sư phạm trong giao tiếp với trẻ; tư vấn cá nhân;

- Khuyến nghị, làm thế nào để chơi, giao tiếp với trẻ tốt nhất tại gia đình;

- Khuyến nghị, những sách, truyện có thể đọc, kể chuyện cho trẻ tại gia đình;

Trang 26

- Khuyến nghị phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non (Т.Н Доронова, 2002)

Tổ chức các chương trình Giáo dục Phụ huynh (OPEP) có nghĩa là hỗ trợ phụ huynh đã xuất bản tài liệu “Hướng dẫn sự hợp tác giữa cha mẹ trẻ với trường MN’”phân tích rằng làm cha mẹ là công việc khó khăn và quan trọng nhất mà mỗi người đều phải làm trong cuộc đời Đó là một công việc mà con người không bao giờ được chuẩn bị đầy đủ, và cũng không thể thực hiện đơn độc mà phải có sự đồng hành của nhà trường Vì những lý do này trường MN cần hỗ trợ chương trình giáo dục trẻ mầm non cho cha mẹ trẻ nhằm hỗ trợ cha mẹ trẻ phương pháp nuôi dạy con cái và kỹ năng quản lý bản thân trong quá trình tương tác với trẻ và trường MN theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm Theo đó, trường MN hỗ trợ cha mẹ trẻ trong:

- Kết nối với trẻ và giáo viên;

- Chăm sóc giáo dục trẻ theo quan điểm tôn trọng trẻ và tôn trọng giáo viên

- Hội thảo và đào tạo chuyên môn cho cha mẹ trẻ trong chăm sóc và giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lầy trẻ làm trung tâm (Organization for Parent Education Programs, n.d.)

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã chứng minh được rằng mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình là một vấn đề quan trọng cần được phát triển trên cơ sở hợp tác, bình đẳng Nhà trường phát triển các lĩnh vực chuyên môn: hình thức, phương pháp giảng dạy và lựa chọn nội dung học theo chương trình giảng dạy Nhà trường thông báo cho gia dình những sự kiện quan trọng liên quan đến học tập của trẻ, đồng thời hỗ trợ gia đình trong các lĩnh vực đó Gia đình cung cấp thông tin về trẻ, hỗ trợ nhà trường giáo dục trẻ để sự giáo dục của nhà trường tác động đến trẻ cách tốt nhất và hiệu quả Sự hợp tác tốt giữa nhà trường và gia đình tạo sự tin tưởng lẫn nhau, tự chịu trách nhiệm và có trách nhiệm với nhau, tôn trọng nhau và sẵn sàng

đi đến một giải pháp thuận lợi cho sự phát triển của trẻ

Qua những phân tích trên cho thấy những nghiên cứu trên thế giới về đánh giá

sự hợp tác giữa trường mầm non và cha mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm khá phong phú Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về công cụ, phương pháp đánh giá sự hợp tác giữa cha mẹ trẻ và trường mầm non vẫn còn mờ

Trang 27

nhạt, chưa sâu và đây cũng là điểm đến trong nhiều nghiên cứu để phân tích được thực trạng của sự hợp tác này trên bình diện khoa học và thực tiễn

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân Nó có nhiệm vụ đặt nền móng cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa

và xu hướng phát triển của đất nước hiện nay Việc kết hợp với gia đình trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ là mắt xích quan trọng cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường mầm non Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam được phân thành các hướng nghiên cứu sau:

Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu đánh giá vai trò, ý nghĩa của sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ đối với sự phát triển nhân cách trẻ độ tuổi mầm non

Ý nghĩa sâu sắc của sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình đã được Bác Hồ chỉ

ra: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội

và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội

thì kết quả cũng không hoàn toàn” (Trích bài nói tại Hội nghị cán bộ Đảng trong

ngành giáo dục tháng 6/ 1957) Có thể thấy tầm quan trọng của gia đình đối với việc giáo dục con người đặc biệt là đối với trẻ mầm non có tầm quan trọng không nhỏ đối với sự phát triển toàn diện của trẻ

Trong lý luận cũng như trong thực tiễn, sự kết hợp tác động thống nhất trong giáo dục giữa nhà trường và gia đình được xem là điều kiện cần đạt để cho mọi hoạt động giáo dục trẻ có điều kiện đạt hiệu quả tốt nhất Gia đình có vai trò và tác động quan trọng, là trọng tâm của sự phối hợp Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ, cha

mẹ là người thầy đầu tiên của trẻ vì gia đình là nơi trẻ được sinh ra, lớn lên, cha mẹ không chỉ là người thường xuyên gần gũi với trẻ mà còn có quan hệ huyết thống, là người hiểu rõ con nhất, nắm rõ tính cách, tâm tư tình cảm, của trẻ

Bác Hồ từng viết : "Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/Phần nhiều do giáo dục mà nên" yếu tố giáo dục góp phần rất lớn trong con đường phát triển nhân cách và tư duy

Trang 28

của con người Giáo dục không chỉ trong gia đình mà còn ở trường học Vì vậy, sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là điều rất cần thiết Trong Luật giáo dục 2005

và sửa đổi 2009 cũng đề cập đến sự hợp tác giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục trẻ em Ngoài ra, Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI (số 29-NQ/TW)

về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đề cập đến việc giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình nhằm phát triển toàn diện và năng lực người học

Trong những năm đầu giai đoạn 1999 – 2000, Bộ văn hóa đã triển khai đề tài cấp nhà nước trong đó mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng qua lại giữa các thành viên trong gia đình nói chung và giữa cha mẹ với con trẻ trên nền văn hóa gia đình là một trong những nội dung cơ bản cần tập trung và làm sáng tỏ

Dưới góc độ khoa học giáo dục, giáo dục trẻ mầm non ở gia đình đã được một

số nhà khoa học đặc biệt quan tâm, thể hiện qua một số bài nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Ánh Tuyết, Mạc Văn Trang, Trần Thị Bích Trà… với sự phân tích tình huống giáo dục trong gia đình với những nguyên tắc giáo dục cơ bản, các tác giả, với những nội dung phong phú đã giúp các thành viên trong gia đình thu thêm những kinh nghiệm, những tri thức nuôi dạy trẻ mang tính khoa học, để giải quyết tình huống giáo dục thường ngày trong gia đình

Về những nghiên cứu ở trong nước, trong hầu hết các sách báo chuyên ngành, các đề tài, bài viết trong các hội thảo khoa học của các nhà nghiên cứu, chuyên gia về

MN đều nêu bật được tầm quan trọng và sự cần thiết của giáo dục trẻ MN ở nhà trường và gia đình trong cuốn giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết: Phần II: Những quan điểm cơ bản của giáo dục mầm non - Quan điểm I: Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo nhân cách con người mới Việt Nam hay vai trò của gia đình đối với sự phát triển của trẻ thơ (Nguyễn Ánh Tuyết, 2016)

Trong chương 2 – Xã hội hóa Giáo dục mầm non của đề tài “Xã hội hóa giáo dục” năm 2011 của tác giả Võ Tấn Quang làm chủ biên do Viện Khoa học giáo dục chủ trì đã nêu “Trẻ mầm non với tư cách là đối tượng chăm sóc giáo dục được chăm

lo của giáo dục nhà trẻ, giáo dục mẫu giáo và giáo dục gia đình một cách tự giác lẫn

Trang 29

tự phát” (Viện Khoa học giáo dục & Võ Tấn Quang (chủ biên), 2001) Trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học “Biện pháp bồi dưỡng cho cha mẹ năng lực giáo dục hành vi đạo đức với trẻ mẫu giáo lớn” khẳng định vai trò của gia đình, các bậc cha mẹ và sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non là quan trọng và tất yếu (Phạm Bích Thủy, 2009)

Luận văn thạc sĩ “ Một số giải pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường mầm non tư thục quận Cầu Giấy – Hà Nội” của tác giả Bùi Thị Thúy Hằng năm 2011 và tác giả Võ Thị Tường Vy năm 2016 với đề tài “Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác chăm sóc – giáo dục trẻ 5 tuổi ở trường mầm non công lập phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh” đã nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh ở các trường mầm non tư thục quận Cầu Giấy – Hà Nội (Bùi Thị Thúy Hằng, 2011) và trường mầm non công lập phường 3 quận 10 (Võ Thị Tường Vy, 2016) Từ kết quả nghiên cứu đạt được cho phép tác giả rút ra một số kết luận như sau:

- Cần có sự thống nhất về mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp giáo dục trong việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ, hạn chế những mặt yếu kém, phát huy những mặt mạnh của từng lực lượng phối hợp để thực hiện kế hoạch, đạt được mục tiêu đã đề ra

- GV phải thường xuyên cải tiến, đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ Trường MN phải chú trọng đến công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình, cùng tương tác hỗ trợ các hoạt động chăm sóc giáo dục mọi lúc, mọi nơi để công tác chăm sóc, giáo dục trẻ đạt hiệu quả

- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng việc phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ tuổi mầm non ở một số trường MNTT quận Cầu Giấy – Hà Nội, trường mầm non công lập phường 3 quận 10, cả hai tác giả đều nhận thấy Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền cũng như lãnh đạo Nhà trường đã chú ý, quan tâm và đầu tư nhiều hơn Các biện pháp nội dung cũng như hình thức phối hợp được Nhà trường sử dụng đa dạng, phong phú, đạt hiệu quả hơn Để hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, trở thành một hoạt động có tính tự giác, chủ động đem lại hiệu quả và hỗ trợ tích cực cho công tác CSGD trẻ cần phải tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp

Trang 30

chuyên sâu và sát với sự phát triển không ngừng của nền giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng

Ngày nay, xu hướng giáo dục mầm non ở nước ta đã có một số thay đổi trong cách tiếp cận về tư tưởng và nội dung giáo dục, nhiều mô hình dạy học ra đời như Montessori, Regio Emilia, High Scope, dạy học theo dự án, ngày càng được lan rộng trên thế giới và Việt Nam Mỗi mô hình có những đặc điểm riêng nhưng đều có một nét chung đó là “dạy học lấy trẻ làm trung tâm” đều “hướng vào đứa trẻ” đều tổ chức hoạt động học cho trẻ xuất phát từ nhu cầu và hứng thú của chính đứa trẻ và được áp dụng linh hoạt, mềm dẻo phù hợp với đặc điểm của từng cá nhân trẻ, từng vùng miền, với các phương pháp và hình thức khác nhau nhằm giúp trẻ tích cực, hứng thú trong hoạt động học tập, hình thành những kĩ năng chung để trẻ có khả năng giải quyết những tình huống, hoàn cảnh có ý nghĩa trong cuộc sống thực tế của đứa trẻ Trong đó, việc kết hợp với cha mẹ trong chăm sóc, giáo dục trẻ có tầm quan trọng đáng kể Đặc biệt, trong Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT ngày 25 tháng 01 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra 5 nội dung trong đó sự hợp tác với phụ huynh được đề cập trong nội dung 5: Sự phối hợp giữa nhà trường, cha mẹ và cộng đồng trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.(Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017a) Tháng 6 năm

2017 nhóm tác giả Hoàng Thị Dinh, Nguyễn Thị Thanh Giang, Bùi Thị Kim Tuyến, Lương Thị Bình, Nguyễn Thị Quyên, Bùi Thị Lâm, Hoàng Thị Thu Hương đã cho ra đời Tài liệu Hướng dẫn thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong trường mầm non ra đời với 6 nội dung trong đó nội dung 5: Tiêu chí thực hành

áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong hợp tác với cha mẹ chăm sóc giáo dục trẻ gồm 12 tiêu chí và 27 chỉ số (phụ lục 1)

Một trong nhiệm vụ của giáo viên mầm non là xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa giáo viên với cha mẹ trẻ Xây dựng mối quan hệ tốt trong sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình là một nhiệm vụ quan trọng của trường mầm non Giáo viên là người đại diện nhà trường có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này nhằm tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Đồng thời giúp nhà trường phát huy được thế mạnh của gia đình trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em, tạo nên sự thống nhất giáo dục trẻ giữa hai lực lượng giáo dục

Trang 31

Hướng nghiên cứu thứ hai: Những nghiên cứu đánh giá sự hợp tác giữa trường

MN với cha mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Hiện nay ở Việt Nam đã tồn tại một số dự án nghiên cứu mô hình hỗ trợ cha mẹ trẻ trong chăm sóc, phát triển toàn diện trẻ thơ và lấy trẻ làm trung tâm của các tổ chức như: Unicef, Plan, Save the chidren, Tầm nhìn thế giới, Giáo dục sớm,… Các nghiên cứu này đã vận dụng các mô hình để hỗ trợ cha mẹ trẻ được hiểu biết kiến thức, kỹ năng thực thành để chăm sóc và giáo dục con trẻ tốt hơn và đánh giá được những ưu, nhược của các loại mô hình này trên góc độ thực tiễn Theo kết quả nghiên cứu có hai loại mô hình cơ bản trong việc hỗ trợ cha mẹ trẻ trong chăm sóc, giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non

Mô hình hỗ trợ cha mẹ trong chăm sóc phát triển toàn diện trẻ mầm non ở gia đình

Mô hình nhóm trẻ gia đình ra đời từ những năm 2000 do tổ chức Tầm nhìn Thế

giới tài trợ Thực hiện Đề án 404 của Thủ tướng Chính phủ về “Hỗ trợ, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020”, Ban quản

lý đề án của Thành phố Đà Nẵng đã nghiên cứu xây dựng 20 nhóm trẻ gia đình nhằm cung cấp dịch vụ có sự thỏa thuận với các gia đình có nhu cầu gửi trẻ và được chính quyền địa phương cấp giấy phép hoạt động

Mô hình nhóm cha mẹ do tổ chức Plan tài trợ nghiên cứu cùng với Hội liên hiệp

Phụ nữ Việt Nam tại 9 tỉnh thuộc miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên nhằm xây dựng các diễn đàn để cha mẹ trẻ chia sẻ, trao đổi các vấn đề liên quan đến cuộc sống

và phát triển của trẻ em và hướng dẫn thực hành các kỹ năng chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non

Mô hình hỗ trợ cha mẹ trong chăm sóc phát triển toàn diện trẻ ở cộng đồng

Mô hình nhóm trẻ vui chơi tại cộng đồng được nghiên cứu và ứng dụng tại Việt Nam dành cho trẻ dưới 3 tuổi do tổ chức Plan International tại Việt Nam làm cơ quan chủ trì đề tài Mô hình này được triển khai tại 8 tỉnh từ năm 2011 Qua đánh giá kết quả nghiên cứu thì 162 nhóm trẻ dưới 3 tuổi đã được thành lập với sự tham gia của

3804 cha mẹ/ người chăm sóc và 3.764 trẻ được chơi các trò chơi dân gian, vận động nhằm phát triển thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ và quan hệ xã hội (Plan Việt Nam, 2014)

Trang 32

Mô hình câu lạc bộ gia đình giáo dục sớm cho trẻ em từ 0 đến 3 tuổi Năm 2014 Viện nghiên cứu phát triển tiềm năng con người đã nghiên cứu “Đề xuất chính sách

và giới thiệu mô hình Câu lạc bộ gia đình giáo dục sớm cho trẻ từ 0-3 tuổi tại cộng đồng” với mục tiêu nâng cao nhận thức cho cộng đồng về trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ sức khỏe hạnh phúc của cha mẹ trẻ (Chu Thị Hồng Nhung và nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam., 2018)

Nghiên cứu đã đánh giá những thành công, hạn chế của các mô hình gia đình và cung cấp kết quả nghiên cứu về thành công trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái của các bà mẹ, các hoạt động của các nhóm đã thu hút sự tham gia tích cực của cha

mẹ trẻ, các thành viên trong gia đình và nâng cao nhận thức của cha mẹ trẻ trong việc chăm sóc, giáo dục cho con trẻ tại gia đình và phối hợp chặt chẽ với trường mầm non trong các hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục hướng về từng cá nhân trẻ Tuy nhiên, nghiên cứu cũng đã đánh giá những hạn chế của các mô hình như một số mô hình giáo dục có chuyên môn cao đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia có chuyên môn nghiệp vụ về các vấn đề chăm sóc giáo dục trẻ mầm non vì thế khó triển khai sâu rộng ở các địa phương Bên cạnh đó, sự vào cuộc của các bộ, ngành trung ương đến các cấp chính quyền ở cơ sở, các tổ chức cá nhân còn hạn chế chưa đồng bộ nên sự lan tỏa ra nhiều địa phương trên phạm vi toàn quốc còn nhiều khó khăn, vướng mắc Mỗi mô hình chỉ chú trọng vào một nội dung chính mà chưa mang tính đồng bộ và phối hợp thống nhất để tạo cơ hội phát triển toàn diện trẻ em

Năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Ngân hàng Thế giới triển khai dự án nghiên cứu “Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non” Trong đó có 2 module “Hợp tác với cha mẹ trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non” cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non và kết quả nghiên cứu được phản ánh trong tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình Giáo dục Mầm non theo Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BGDĐT đã xác định các nội dung phối hợp giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ:

- Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ

- Phối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ

- Phối hợp kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc giáo dục trẻ của trường mầm non

Trang 33

- Tham gia xây dựng cơ sở vật chất

- Tài liệu cũng chỉ ra các hình thức phối hợp giữa nhà trường và gia đình như: bảng tuyên truyền cho cha mẹ trẻ, trao đổi thường xuyên hàng ngày, tổ chức các buổi sinh hoạt, phổ biến kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ theo chuyên đề, họp phụ huynh định kỳ 3 lần/năm, thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe, đến thăm trẻ tại gia đình, hộp thư cha mẹ trẻ, cha mẹ tham gia các hoạt động của trường MN, thông qua phương tiện thông tin đại chúng

Tác giả Bùi Nữ Mai Hoa trong đề tài Luận văn Thạc sĩ “Thực trạng công tác phối hợp giữa giáo viên mầm non với cha mẹ trẻ tại Quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2018 đã đánh giá các yếu tố thuận lợi và những khó khăn trong công tác phối hợp giữa giáo viên mầm non với cha mẹ trẻ Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng công tác phối hợp giữa giáo viên và cha mẹ trẻ đã được sự quan tâm sâu sát, chỉ đạo của Ban Giám hiệu trường MN, nhà trường luôn chủ động, tích cực trong hoạt động phối hợp, đội ngủ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức đáp ứng cho hoạt động phối hợp giữa trường MN với cha mẹ trẻ, có chính sách

xã hội đối với những gia đình khó khăn Cha mẹ trẻ quan tâm, tích cực tham gia các hoạt động đóng góp cơ sở vật chất, hoạt động lễ hội của trường MN, có kiến thức, kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Vì vậy, công tác phối hợp giữa trường MN với cha mẹ trẻ ở Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đạt hiệu quả ở mức khá Bên cạnh đó, công tác này đã bộc lộ những khó khăn như: chưa có sự đồng bộ về nhận thức của các lực lượng giáo dục trong nhà trường về hoạt động phối hợp, giáo viên chưa thể hiện vai trò chủ đạo của mình trong hoạt động phối hợp, kỹ năng giao tiếp của giáo viên còn hạn chế khi giải quyết các tình huống với cha mẹ trẻ, cơ sở vật chất trang thiết bị chưa phục vụ tốt cho hoạt động phối hợp Từ đó, tác giả đã đề xuất ba biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa GVMN với cha mẹ trẻ ở trường MN (Bùi Nữ Mai Hoa, 2018)

Nhìn chung trên bình diện lý luận và thực tiễn nghiên cứu về sự hợp tác giữa trường mầm non và cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ đều các chuyên gia trong ngành quan tâm nghiên cứu trên thế giới cũng như Việt Nam Tuy nhiên, chưa

có đề tài, công trình đi sâu nghiên cứu về đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non

Trang 34

với cha mẹ theo tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Vì vậy, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài này nhằm đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ bằng công cụ đánh giá là tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm lấy trẻ làm trung tâm Từ đó đề xuất một số biện pháp cải tiến, nâng cao hiệu quả hợp tác giữa giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở Củ Chi

1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Đánh giá

a Khái niệm

Mark K.Smith cho rằng “Đánh giá là sự khám phá có hệ thống và sự phán xét

về quá trình làm việc, kinh nghiệm và kết quả” (K.Smith, 2005) Theo ông, đánh giá

gắn liền với việc thu thập thông tin từ đó sắp xếp và đưa ra phán xét về nó một cách

có phương pháp

Theo Đỗ Thị Thúy Hằng (2012), đánh giá được hiểu là “thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy bên cạnh các tiêu chuẩn, tiêu chí để xác định tính phù hợp với các tiêu chuẩn, tiêu chí đề ra ban đầu, hay đã điều chỉnh để

đảm bảo tính phù hợp nhằm đưa ra một quyết định” (Đỗ Thị Thúy Hằng, 2012)

Trong cuốn “Assessment in Early childhood Education” của Sue C.Wortham

“Đánh giá là quá trình thu thập thông tin về trẻ em từ nhiều hình thức minh chứng, sau đó sắp xếp và diễn giải thông tin đó” (McAfee, Leong, & Bodrova, 2004, p.3)

(Wortham, 2008)

Tác giả Nguyễn Thị Kim Anh nhận định “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của quá trình giáo dục: Phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm cải thiện thực trạng và điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục trẻ” (Nguyễn Thị Kim

Anh, 2015)

Trong cuốn “Đánh giá trong giáo dục mầm non” của tác giả Bùi Thị Việt thì

“Đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị của một người hoặc một vật, một hiện tượng , là quá trình đối chiếu cái được đánh giá với cái chuẩn, là quá trình xếp được

cái được đánh giá vào một loại, một dạng” (Bùi Thị Việt, 2016)

Trang 35

Trên cơ sở đó, Tác giả cho rằng “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông

tin thu được, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chí đã đề ra trong một thời gian nhất định

để có thể đưa ra được những kết luận phù hợp” Đánh giá sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ theo tiêu chí thực hành áp dụng theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm là quá trình thu thập và xử lý thông tin thu được đối chiếu với các tiêu chí, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm cải thiện thực trạng và điều chỉnh, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ

1.2.2 Trường mầm non

Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc giáo dục mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân – đây là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi người Trường có vị trí quan trọng: xây dựng cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển nhân cách và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ em bước vào trường phổ thông (Phạm Thị Châu & Trần Thị Sinh, 2006)

Trong điều 21 của Luật Giáo dục năm 2005 thì cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:

- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi

- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi

- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em

từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi

Tại điều 3, chương I, Điều lệ Trường mầm non ban hành kèm theo Quyết định

số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi rõ “Trường mầm non, trường mẫu giáo (sau đây gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tư thục”

- Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập: do cơ quan nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên

- Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập: do cộng đồng dân cư ở

cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động và được chính quyền địa phương hỗ trợ

Trang 36

- Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục: do tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008a)

Theo nhóm tác giả Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Võ Văn Tảo thì Trường mầm non là cơ sở giáo dục có nhiệm vụ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi để giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 bậc tiểu học (Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh,

& Võ Văn Tảo, 2001)

Qua đó, chúng tôi cho rằng Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc giáo dục

mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Trường mầm non có nhiệm vụ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, nhận thức, ngôn ngữ, đồng thời hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách; chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một

Trách nhiệm, vai trò của trường mầm non trong sự hợp tác với cha mẹ trẻ

Điều lệ trường mầm non ban hành kèm theo quyết định số BGDĐT ngày 7/4/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định trách nhiệm của nhà trường tại điều 46 “tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ cho cha mẹ

14/2008/QĐ-và cộng đồng; thực hiện phòng bệnh, khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập” và nhiệm vụ của trường mầm non tại điều 2 “Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi

dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em” Trường MN, GV cần trao đổi với cha mẹ trẻ

những thông tin cần thiết về trẻ, đặc biệt chú ý đến những trẻ có nhu cầu đặc biệt để công tác chăm sóc, giáo dục trẻ được thực hiện đạt kết quả tốt hơn

Trong sự hợp tác với cha mẹ, trường mầm non giữ vai trò trung tâm, chủ động, nòng cốt Điều 93, Luật Giáo dục năm 2005 đã nêu rõ “Nhà trường phải có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” cho thấy trường MN, GV chủ động tư vấn, trao đổi về nội dung, chương trình chăm sóc giáo dục trẻ ở trường MN đồng thời hỗ trợ cha mẹ trẻ thực hiện việc chăm sóc,

Trang 37

giáo dục trẻ tại gia đình Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà trường với cha mẹ trẻ

Sự hợp tác giữa trường MN với cha mẹ trẻ có vai trò quan trọng đối với chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ Kết quả chăm sóc giáo dục trẻ phụ thuộc một phần lớn vào việc chia sẻ trách nhiệm chăm sóc, giáo dục trẻ của trường mầm non đối với cha

mẹ trẻ

1.2.3 Cha mẹ trẻ

Theo Từ điển tiếng Việt (1992) “Cha là người đàn ông có con, trong quan hệ với con” “Mẹ là người đàn bà có con, trong quan hệ với con” (Hoàng Phê, 1992) Vai trò đầu tiên của người mẹ là yêu thương, người mẹ là người đầu tiên đem lại yêu thương, đó là một trong ba trụ cột tạo ra sự yên ổn cần thiết cho sự phát triển tình cảm của con trẻ Trong thời gian dài người ta đã thừa nhận người cha có vai trò quan trọng ngang hàng với người mẹ trong quan hệ với con (Nguyễn Khắc Viện, 1994) Tác giả Lê Thi cho rằng, về mặt huyết thống thì cha mẹ và con cái có quan hệ máu mủ, ruột thịt rất sâu đậm Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thành người, từ lúc sinh ra đến tuổi trưởng thành Người mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ Quan hệ tình cảm mẹ con đặt nền tảng cho sự phát triển tình cảm gắn bó với gia đình và cộng đồng xã hội Người mẹ thường tỉ mỉ, gần gủi con hàng ngày, khi cho ăn, tắm rửa, ru ngủ,…phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai lệch của con Với thái độ dịu dàng, kiên nhẫn, tế nhị, người mẹ có khả năng cảm hóa, thuyết phục con, giáo dục tình yêu cho con, kể cả khi con đã trưởng thành (Lê Thi, 1999)

Người cha biểu hiện cho lý trí, kỷ cương của gia đình, là tấm gương để các con noi theo Do đó, người cha cần tham gia vào việc nuôi dạy con từ nhỏ, dành thời gian chơi với con, chăm sóc hướng dẫn dạy sỗ cho con Thực tế, đây là trách nhiệm cao cả của cha mẹ trong việc nuôi dạy con trẻ (Lê Thi, 1999)

Khi nói đến cha và mẹ là đang nói đến mối quan hệ của họ với con cái, là mối quan hệ vừa mang tính tự nhiên (tư chất, bản năng sinh học của “cha”, “mẹ” vừa mang tính xã hội (quyền, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ) (Ngô Công Hoàn, 2014)

Với những phân tích như trên, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi hiểu: Cha mẹ

trẻ là những người có cùng huyết thống với trẻ và có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm

Trang 38

sóc, giáo dục con thành người, từ lúc sinh ra đến tuổi trưởng thành

Trách nhiệm, vai trò của cha mẹ trong hợp tác với trường mầm non

Điều 47 thuộc điều lệ trường mầm non ban hành kèm theo quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 7/4/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định trách nhiệm của cha mẹ như sau “thường xuyên liên hệ với nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập để được thông báo kịp thời tình hình của trẻ em nhằm phối hợp trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; tham gia các hoạt động của nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, nhà trường, nhà trẻ góp phần nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008b)

Cha mẹ trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ Cha

mẹ là những người quan trọng nhất trong cuộc sống của trẻ Cha mẹ là nhịp cầu nối kết giữa cuộc sống bên ngoài và cuộc sống bên trong trẻ Trong giai đoạn này sự kết nối giữa cha mẹ và trẻ có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là người mẹ Sự hợp tác giữa trường mầm non với cha mẹ trẻ sẽ thúc đẩy sự phát triển, kết tinh tiềm năng của trẻ Vì vậy, với mối quan hệ này cha mẹ trẻ có trách nhiệm cung cấp thông tin cho GV về đặc điểm, tính cách của con cũng như những kì vọng của mình đối với đặc biệt cha mẹ trẻ cần mạnh dạn, thẳng thắn trao đổi với GV về những hạn chế, nhu cầu đặc biệt của con trẻ Cha mẹ trẻ có trách nhiệm thường xuyên cập nhật thông tin về chương trình giáo dục, sự phát triển của trẻ và lựa chọn mức độ tham gia vào các hoạt động của trường, mức độ hợp tác với trường MN theo khả năng

Cha mẹ trẻ có trách nhiệm thống nhất với giáo viên về nội dung phương pháp cách thức tổ chức, chăm sóc giáo dục trẻ ở lớp học cũng như ở gia đình như: Tham

dự đầy đủ các buổi họp phụ huynh do nhà trường tổ chức để hiểu và cùng thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ tránh những mâu thuẫn về cách chăm sóc giáo dục trẻ giữa gia đình và nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành thói quen và các phẩm chất nhân cách ban đầu cho trẻ Trao đổi hàng ngày với giáo viên

về tình hình sức khỏe, ăn uống và tình hình học tập của trẻ ở nhà cũng như ở lớp để

có kế hoạch chăm sóc giáo dục kịp thời cho trẻ Cha mẹ trẻ cần thông cảm, hiểu được công việc của giáo viên ở lớp, trao đổi chia sẽ để giáo viên hiểu được hoàn cảnh và

Trang 39

điều kiện sống của trẻ ở gia đình để có biện pháp giáo dục phù hợp, tạo nên mối quan

hệ thân thiết cởi mở, thân thiện giữa phụ huynh và giáo viên Hỗ trợ xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và khuyến khích tất cả thành viên trong gia đình tích cực tham gia vào các hoạt động ở trường mầm non Phối kết hợp với nhà trường trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội và các sự kiện đặc biệt ở trường mầm non

Sự hợp tác giữa cha mẹ trẻ với trường MN sẽ tạo được một mối quan hệ tích cực, tương tác hai chiều từ phía cha mẹ trẻ với nhà trường Từ đó rút ra được những kinh nghiệm rất thiết thực và hiệu quả giúp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non

1.2.4 Hợp tác

Theo Từ điển tiếng Việt (1992) thì “Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung” (Hoàng Phê, 1992)

Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Như Ý chủ biên năm 1995 thì hợp tác là chung sức, trợ giúp qua lại với nhau (Nguyễn Như Ý (chủ biên), 1995)

Theo Bastiani (1993) mối quan hệ hợp tác bao gồm chia sẻ trách nhiệm, quyền lực, đặt ra các mục tiêu chung và hợp tác (Devjak & Ber, 2009)

M.Golby (1993) cho rằng quan hệ hợp tác liên quan đến sự đóng góp tương đương của một cái gì đó đáng để đạt được mục đích chung (Devjak & Ber, 2009) Roschelle & Teasley (1995) định nghĩa hợp tác là hoạt động có tính phối hợp, đồng bộ và là kết quả của nỗ lực kiến tạo và giữ gìn một quan niệm chung về một vấn

đề nào đó

Các nghiên cứu về sự hợp tác giữa các đối tượng cho thấy sự hợp tác thành công luôn bao gồm sự giao ước qua lại, sự tham gia ra quyết định và thảo luận (Rogoff, 1990)

Theo Gardner, Griffin&West (2009), sự hợp tác được định nghĩa là bất kỳ sự thích ứng nào đã phát triển, ít nhất là một phần, để tăng khả năng tái sinh của các đối tác xã hội của chủ thể hành động Hay nói cách khác, trong sự hợp tác luôn có yếu tố thích ứng của chủ thể hành động với các đối tác của hoạt động (Gardner, 2009)

Trang 40

Vodopivec (2011) và Kozel (2011) đều nhận định rằng, hợp tác có liên quan đến những hành động chung để đạt mục tiêu chung Trong hoạt động hợp tác, những mục tiêu của các thành viên thuộc nhóm được liên kết một cách tích cực với nhau Các thành viên nhận thức rằng, họ chỉ đạt được mục tiêu cá nhân khi mà những thành viên còn lại cũng đạt được mục tiêu của mình Chính vì vậy mà trong một nhóm, các thành viên luôn tìm kiếm những phương pháp phù hợp với bản thân họ và những cá nhân khác của nhóm để họ cùng cộng tác để đạt mục tiêu chung (Kmetec.E, 2001)

Brownell, Ramani và Zerwas (2006) định nghĩa sự hợp tác là sự phối hợp tương tác giữa những hai bên để đạt mục tiêu chung và đòi hỏi: (i) điều tiết hành vi của bản thân (Brownell,2011., Meyer, Bekkering, Paulus&Hunnius, 2010); (ii) dự đoán và giám sát hành vi của người khác (Brownell C.A, 2006)

Ramani (2012) đã nghiên cứu và thấy rằng các yếu tố chi phối sự hợp tác: Tuổi tác; Giới tính; Văn hóa; Trình độ; Thu nhập Sự hợp tác có liên quan đến việc: Giao tiếp tích cực như đề xuất ý tưởng, đồng thuận với hành động của cộng sự; Hiểu quan điểm của nhau để đạt mục tiêu chung (J Piaget, 1932)

Tomasello (2009) cho rằng: sự hợp tác thành công đòi hỏi mọi thành viên trong hoạt động tương tác phải có sự hiểu biết lẫn nhau, hiểu rõ và thống nhất mục tiêu chung để tìm cách đạt được mục tiêu đó (Tomasello M, 1999)

Hợp tác bao gồm sự tham gia tích cực trong việc thiết lập và đạt được các mục tiêu Hợp tác còn được hiểu là cộng tác, trong đó các đối tác có những thỏa thuận về cách thức và kế hoạch nhằm đạt được một mục đích chung Trong quá trình hợp tác, thành công của các đối tác phụ thuộc vào sự tham gia đóng góp của tất cả các thành viên liên quan (Phạm Minh Hạc, 2013)

Trong phạm vi của đề tài thì “Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ

trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung”

1.3 Lý luận về quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

1.3.1 Khái quát về quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trên thế giới và ở Việt Nam

Từ những buổi đầu tiên của nhân loại, giáo dục đã xuất hiện Đặc biệt bắt đầu xuất hiện mầm móng của giáo dục chú trọng vào người học với ba nhà triết học vĩ đại

Ngày đăng: 19/02/2021, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w