Theo tổ chức y tế thế giới WHO: Rửa tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng biện pháp VSBT đãgiảm 50% đến 7
Trang 1TRƯỜNG Đ
THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUY TRÌNH R
SINH VIÊN KHOÁ 10 TH
BÁO CÁO CHUYÊN Đ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin trân trọng gửi tới Đảng ủy, Ban Giám hiệu, các thầy cô đã nhiệt tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt quá trình học tập dưới mái trường Điều dưỡng Nam Định
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, các Thầy Cô trong khoa đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn này
Em xin cảm ơn TS.Bs Trịnh Hùng Mạnh đã hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Do thời gian thực hiện và kinh nghiệm còn hạn chế nên bản báo cáo không tránh khỏi thiếu xót, em rất mong được sự góp ý đóng góp của các Thầy Côvà các bạn
Sau cùng, con xin gửi lời cảm ơn Bố mẹ và các bạn sinh viên khóa 10 đã luôn đồng hành bên cạnh con trong suốt thời gian học tại trường
Nam Định, ngày 09 tháng 06 năm 2018
Đào Thị Thu Hà
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH 5
ĐẶT VẤN ĐỀ 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1 Cấu trúc giải phẫu da 8
2 Sinh thái học của lớp vi khuẩn trên đôi bàn tay 8
3 Rửa tay thường quy 9
CHƯƠNG 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN 16
1 Một số mốc lịch sử của vệ sinh bàn tay 16
2 Các nghiên cứu về kiến thức và thực hành rửa tay phòng bệnh 19
CHƯƠNG 4: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 22
1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 22
2 Thực trạng thực hành RTTQ của sinh viên khoá 10 thực tập tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định 23
3 Các ưu điểm và tồn tại 28
4 Nguyên nhân 28
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 30
1 Về Công tác quản lý 30
2 Về giáo dục truyền thông 30
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 32
1 Thực trạng 32
2 Giải pháp 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
PHỤ LỤC 1 35
PHỤ LỤC 2 36
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NKBV: Nhiễm khuẩn bệnh viện
NVYT: Nhân viên y tế
RTTQ: Rửa tay thường quy
VST: Vệ sinh tay
VSBT: Vệ sinh bàn tay
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Bảng 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu
Bảng 2: Kiến thức về quy trình RTTQ của sinh viên
Bảng 3: Kiến thức về VST theo năm thời điểm
Bảng 4: Thực hiện quy trình RTTQ
Bảng 5: Thực hành VST theo năm thời điểm
Biểu đồ 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tỷ lệ %
Hình 1: Sơ đồ năm thời điểm phải vệ sinh tay
Hình 2: Quy trình RTTQ
Hình 3: Lễ phát động chiến dịch “Bảo vệ sự sống: Hãy vệ sinh tay” tại Bệnh viện
Bạch Mai năm 2014
Hình 4: Hình ảnh sinh viên thực hiện sáu bước trong quy trình RTTQ
Hình 5: Sinh viên thực hiện RTTQ tại khoa Ngoại tổng hợp
Hình 6: Sinh viên thực hiện RTTQ tại khoa Nội tổng hợp
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Rửa tay phòng bệnh là rửa tay sạch đúng cách bằng xà phòng và nước, tại các thời điểm (như trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi tiếp xúc với máu/dịch cơ thể ) nhằm loại trừ các vi khuẩn gây bệnh bám trên tay người do quá trình tiếp xúc mang lại Rửa tay phòng bệnhbao gồm rửa tay bằng xà phòng trong sinh hoạt và rửa tay thường quy tại bệnh viện [3]
Các nhà khoa học đã xác định, trên 1cm2 da của người bình thường chứa tới 40.000 vi khuẩn Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): Rửa tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng biện pháp VSBT đãgiảm 50% đến 70 % nguy cơ gây nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) cũng như nguy cơphơi nhiễm bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế [4].Với hiệu quả trong dự phòngNKBV các biện pháp VSBT đã tích cực góp phần giảm chi phí trong điều trị,giảm thời gian điều trị nội trú… Theo Tổ chức Y tế
thếgiới: Rửa tay được coi là liều vacxin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệuquả về chi phí cũng như có thể cứu sống hàng triệu người Tổ chức Y tế thế giới ướctính, tại bất kỳ thời điểm nào đều có trên 1,4 triệu ca nhiễm khuẩn liênquan tới chăm sóc y tế [3].Nhiễm khuẩn bệnh viện ngày nay đã trở thành mộtthách thức mang tính toàn cầu, được ngành y tế các quốc giatrên thế giới hết sức quan tâm
Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã phát động phong trào vệ sinh bàn tay tại tất cả các bệnh viện và cộng đồng Các báo cáo của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước thì các bệnhtruyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòngngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh ( vệ sinh tay thường quy).Theo đó, chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây
truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy làm tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới [4] Vệ sinh bàn tay trong nhân viên y tế hiện nay đã được coi như một chiến lược quan trọngnhằm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn tại các bệnh viện
Đại học Điều dưỡng Nam Định là một trong những trường đại học hàng đầu trong công tác đào tạo điều dưỡng tại Việt Nam, nơicó hàng trăm sinh viên điều
Trang 7dưỡng ra trường hàng năm, cung cấp nhân lực trong lĩnh vực chăm sóc y tế.Sinh viên
Y hằng ngày vẫn có mặt tại bệnh viện, tiếpxúc trực tiếp với rất nhiều bệnh nhân, nguy cơ nhiễm khuẩn cao Hiện naynhững nghiên cứu về rửa tay thường quy chưa
nhiều và chưa có hệ thống do đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng thực hành quy trình rửa tay thường quy của sinh viên khoá 10 thực tập tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2018” với các mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng thực hành quy trình rửa tay thường quy của sinh viên khoá 10 thực tập tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2018
2 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành quy trình rửa tay thường quy
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Cấu trúc giải phẫu da
- Da là cơ quan của hệ bài tiết, có nhiệm vụ bao bọc cơ thể, che chở cơ thể khỏi
sự tác động, sự ảnh hưởng không có lợi của môi trường bên ngoài đối với cơ thể Da
là lớp bao bọc cơ thể, da người trưởng thành có diện tích khoảng 2m2, bề dày dao động từ 0,5 đến 3 mm Da rất dai và đàn hồi để bảo vệ cho các mô dưới da, nó là cơ quan chủ động và đa năng, nó không thấm nước [5]
- Ngoài ra, chức năng chính của da còn để điều hòa, cảm nhận nhiệt độ, tổng
hợp vitamin B và D Da được coi là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể Da dai và mềm để bảo vệ cơ thể và dễ chuyển động, da bảo vệ cơ thể khỏi bức xạ
có hại của ánh sáng, ngăn không cho vi khuẩn và vi sinh vật có hại xâm nhập cơ thể
Da giữ vai trò quan trọng trong điều hòa thân nhiệt và là diện cảm giác chủ yếu [5]
2 Sinh thái học của lớp vi khuẩn trên đôi bàn tay
2.1 Lớp vi khuẩn cư trú thường xuyên
- Bình thường trên bàn tay người có lớp vi khuẩn cư trú thườngxuyên Chúng
nằm trên bề mặt và sâu dưới da; ổn định về mặt số lượng vàchủng loại
- Theo các nhà khoa học, dù không nhìn thấy bằng mắt thường,nhưng quan sát
qua kính hiển vi trên 1cm² da tay người bình thường chứahơn 40.000 vi khuẩn các loại Chúng thường là vi khuẩn không gây bệnh trênngười lành như:
Staphylocoque coagulase negative
2.2 Lớp vi khuẩn cư trú tạm thời
- Hằng ngày, thông qua những tiếp xúc với bệnh nhân và môi trườngxung
quanh; số lượng vi khuẩn trên bàn tay các NVYT còn tăng lên gấp nhiềulần Lớp vi
Trang 9khuẩn này có mặt ngay trên bề mặt da bàn tay, chúng rất phong phúvề chủng loại cũng như số lượng Chúng thường là những vi khuẩn gây bệnh cơhội như:
- Trong số đó, có rất nhiều vi khuẩngây bệnh, lan truyền nhanh và có thể
pháttriển thành dịch rất nhanh chóng như:
Rotavirus,Pseudomonas,Adenovirus Người lành mang lớp vi khuẩn này cũng có thể gặp nguy hiểm, rấtcó khả năng sẽ bị mắc bệnh Nếu chúng ta không rửa tay để loại bỏ lớp vi khuẩnnày thì đôi bàn tay chúng ta sẽ là môi trường sinh sôi của vi khuẩn, là nguồn lâytruyền bệnh dịch cho bản thân, những người xung quanh và làm gia tăng tỷlệ các bệnh nhiễm trùng [8]
- Kết quả kiểm tra ngẫu nhiên của bệnh viện Chợ Rẫy tại thành phốHồ Chí
Minh năm 2001 ở 77 nhân viên y tế, số vi trùng đếm được trungbình trên bàn tay hộ
lý là 481.273 vi trùng, trên bàn tay bác sĩ 275.110 vànhóm điều dưỡng sạch nhất cũng là 126.875 vi trùng [8]
3 Rửa tay thường quy
3.1 Định nghĩa
Vệ sinh tay (Hand hygiene): Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà
phòng thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn
- Rửa tay (Hand washing): Là rửa tay với nước và xà phòng thường
Trang 10- Rửa tay khử khuẩn (Antiseptic handwash): Là rửa tay với nước và xà phòng
khử khuẩn
- Sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn (Hand rub)
- Rửa tay/sát khuẩn tay phẫu thuật: phương pháp mà phẫu thuật viên rửa tay
sát khuẩn hay chà tay bằng dung dịch chứa cồn trước khi phẫu thuật [2]
3.2 Mục đích của vệ sinh tay
- Loại bỏ vết bẩn nhìn thấy bằng mắt thường trên bàn tay
- Phòng ngừa sự lan truyền mầm bệnh từ cộng đồng vào Bệnh viện
- Ngăn ngừa sự lan truyền mầm bệnh từ Bệnh viện ra cộng đồng
- Ngăn ngừa các nhiễm khuẩn người bệnh có thể mắc phải trong Bệnh viện
3.3 Chỉ định vệ sinh tay (các thời điểm vệ sinh tay)
Hình 1: Sơ đồ năm thời điểm phải vệ sinh tay [2]
- Chỉ định 1: Trước khi tiếp xúc bệnh nhân
Bắt tay, cầm tay, xoa trán trẻ, thăm khám
Giúp nâng đỡ, xoay trở, dìu, tắm, gội, xoa bóp cho người bệnh
Bắt mạch, đo huyết áp, nghe phổi, khám bụng, ghi điện tâm đồ…
Trang 11- Chỉ định 2: Trước khi thực hiện thủ thuật hoặc quy trình sạch/vô khuẩn
Ðánh răng, nhỏ mắt cho bệnh nhân
Tiêm, truyền, cho người bệnh uống thuốc
Chuẩn bị dụng cụ, phương tiện chăm sóc, khám bệnh, điều trị
Chăm sóc vùng da tổn thương, thay băng
Ðặt thông dạ dày, thông tiểu, mở hệ thống dẫn lưu, hút đàm
Chuẩn bị thức ăn, pha thuốc, dược phẩm
- Chỉ định 3: Sau khi có nguy cơ tiếp xúc dịch cơ thể
Vệ sinh răng miệng, nhỏ mắt, hút đàm cho nguời bệnh
Chăm sóc vùng da tổn thương, thay băng, tiêm dưới da
Lấy bệnh phẩm hoặc thao tác liên quan tới dịch cơ thể, mở hệ thống dẫn lưu, đặt và loại bỏ ống nội khí quản
Loại bỏ phân, nước tiểu, chất nôn, xử lý chất thải (băng, tã, đệm, quần áo, drap giường ở người bệnh đại/tiểu tiện không tự chủ), làm sạch các vật liệu hoặc khu vực dây chất bẩn nhìn thấy bằng mắt thường (đồ vải bẩn, nhà vệ sinh, ống đựng nước tiểu làm xét nghiệm, bô, dụng cụ y tế)
- Chỉ định 4: Sau khi tiếp xúc bệnh nhân
Ðánh răng, nhỏ mắt cho bệnh nhân
Tiêm, truyền, cho nguời bệnh uống thuốc
Chuẩn bị dụng cụ, phương tiện chăm sóc, khám bệnh, điều trị
Chăm sóc vùng da tổn thương, thay băng
Ðặt thông dạ dày, thông tiểu, mở hệ thống dẫn lưu, hút đàm
Chuẩn bị thức ăn, pha thuốc, dược phẩm …
- Chỉ định 5: Sau khi tiếp xúc bề mặt vật dụng xung quanh bệnh nhân
Tiếp xúc giường, bàn, ghế xung quanh người bệnh
Tiếp xúc các máy móc xung quanh giường người bệnh
Thay drap giường, thay chiếu
Trang 12 Ðiều chỉnh tốc độ dịch truyền
Tiếp xúc vào bất cứ vật gì trong bán kính 1m xung quanh nguời bệnh [2]
3.4 Quy trình vệ sinh tay thường quy
Theo công văn số 7518/ BYT- ĐT ngày 12/10/2007 về việc hướng dẫn thực hiện quy trình RTTQ và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn
- Có hai phương pháp VST:
1 Rửa tay với nước và xà phòng
2 Sát khuẩn tay nhanh với dung dịch chứa cồn
- Rửa tay với nước và xà phòng khi nhìn thấy bẩn hoặc có dính dịch tiết
- Sát khuẩn tay nhanh với dung dịch chứa cồn khi bàn tay không nhìn thấy bẩn
- Phải đảm bảo bàn tay khô hoàn toàn trước khi bắt đầu bất kỳ hoạt động chăm sóc nào cho người bệnh [2]
3.4.1 Phương tiện rửa tay
- Bồn rửa tay: Ðủ sâu (50cm) để tránh nước bắn ra bên ngoài và bắn vào người rửa, không có góc, nhẵn, nghiêng về phía trung tâm bồn rửa tay Chiều cao từ mặt đất lên mặt bồn rửa từ 65-80cm (phù hợp với chiều cao trung bình của người rửa tay)
- Vòi nước: Gắn cố định vào trong tường, chiều cao so với bề mặt của bồn khoảng 25 cm Nên sử dụng vòi khóa tự động hoặc có cần gạt
- Hệ thống nước: tốt nhất là nước máy
- Giá để xà phòng rửa tay: lắp đặt phù hợp với kích cỡ xà phòng hoặc lọ chứa dung dịch rửa tay
- Khăn lau tay sử dụng 1 lần Nếu có điều kiện có thể sử dụng khăn lau tay giấy
Trang 13- Thùng đựng khăn đã sử dụng: Thiết kế sao cho thao tác bỏ khăn vào thùng được dễ dàng, không phải chạm tay vào nắp [2]
3.4.2 Quy trình rửa tay bằng nước và xà phòng
Quy trình này được thực hiện khi bắt đầu hoặc kết thúc một ngày làm việc, khi tay dây bẩn mà mắt nhìn thấy được hoặc cảm giác có dính bẩn, dính máu, dịch cơ thể
Phải tháo trang sức ở tay trước khi tiến hành các bước sau:
- Bước 1: Lấy 3 - 5ml dung dịch rửa tay hoặc chà bánh xà phòng lên lòng và mu hai bàn tay Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho dung dịch và xà phòng dàn đều
- Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ các ngón của bàn tay kia và ngược lại
- Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay
- Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia
- Bước 5: Dùng lòng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
- Buớc 6: Xoay đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại
Ghi chú: Mỗi bước chà tối thiểu 5 lần, thời gian rửa tay tối thiểu là 30 giây
Trang 14Hình 2: Quy trình r
3.4.3 Sát khuẩn tay bằng dung d
Sát khuẩn tay bằng dung d
nhất để tăng số lần rửa tay c
đựng dung dịch chứa cồn có s
thiểu ở các vị trí sau đây:
- Ðầu giường bệnh các khoa C
nhiễm, khoa Gây mê - Hồ
- Trên các xe tiêm, xe thay băng, xe d
ng dung dịch chứa cồn là một trong những giải pháp quan tr
a tay của nhân viên y tế Vì vậy, các khoa cần trang b
n có sẵn ở những nơi cần thiết để nhân viên y ttrí sau đây:
nh các khoa Cấp cứu, khoa Hồi sức tích cực, khoa Truy
ồi sức
Trên các xe tiêm, xe thay băng, xe dụng cụ làm thủ thuật
Trên các bàn khám bệnh
a ra vào, cửa chính của mỗi khoa [1]
y 3ml dung dịch chứa cồn Chà hai lòng bàn tay vào nhau cho
7518/BYT-ĐT)
i pháp quan trọng
n trang bị các lọ nhân viên y tế sử dụng Tối
c, khoa Truyền
n Chà hai lòng bàn tay vào nhau cho
Trang 15- Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ các ngón của bàn tay kia và ngược lại
- Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay
- Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia
- Bước 5: Dùng lòng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
- Bước 6: Xoay đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại Chà sát tay đến khi tay khô
Ghi chú: Mỗi bước chà tối thiểu 5 lần, thời gian chà sát tay từ 20-30 giây,
hoặc chà sát cho đến khi tay khô [1]
Trang 16CHƯƠNG 3: CƠ SỞTHỰC TIỄN
1 Một số mốc lịch sử của vệ sinh bàn tay
- Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại bệnh
viện đã tử vong do sốt hậu sản Nguyên nhân mà sau này mãi sau này, nhờ tiến bộcủa khoa học mới phát hiện ralà do vi khuẩn Streptococcus pyogenes Năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (Mỹ) yêu cầu một bác sĩ của khoa sản (nơi ông làm việc) nghỉ việc một tháng sau 2 trường hợp bà mẹ tử vong mà ông cho rằng liên quan đến vệ sinh bàn tay của bác sĩ đó Ý kiến của ông đã bị nhiều bác sĩ cùng thời phản đối
- Vào những năm 1840 Semmelweis, một bác sĩ người Hungari gốc Áo làm
việc tại bệnh viện (ở Áo) có hai khoa sản, ông đã quan sát sản phụ đượcnhập viện tại hai khoa sản mà không phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng Ở khoa thứ nhất, sản phụ được thăm khám bởi các sinh viên y đi từ phòng mổ xác đi sang phòng đỡ đẻ Còn ở khoa thứ hai, sản phụ được khám bởi các nữ hộ sinh không có tiếp xúc với phòng mổ xác Tỷ lệ tử vong cho mẹ ở khoa đầu tiên là 18%, với nguyên nhân chính là sốt sản khoa; trong khi ởkhoa thứ hai chỉ là 2% Semmelweis cũng quan sát thấy rằng một đồng nghiệp làm tại khoa sản bị chết, vì một bệnh giống với trường hợp sốt sản khoa, sau khi bị cắt phải tay khi đang mổ xác Ông có kết luận rằng, các hạt gây nhiễm nhỏ gây ra sốt sản khoa có nguồn gốc từ tử thi và được lây truyền cho sản phụ ở khoa thứ nhất qua bàn tay thăm khám của sinh viên y.Vì vậy ông đã cho những người đi từ phòng mổ xác khử khuẩn tay bằng vôi chlorinate, sau đó thì tỷ lệ tử vong cho mẹ ở khoa thứ nhất đó giảm xuống bằng khoa thứ hai Tuy nhiên, tại thời điểm đó, nhiều người cho rằngkhuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với người bệnh của Semmelweis là quá nhiều và không bác sĩ nào chấp nhận đôi bàn tay học hính là nguyên nhân gây tử vong hậu sản Một số người khác thì cho rằng kết quả nghiên cứu của ông thiếu bằng chứng khoa học
- Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác sĩ Louis Pasteur đã lên
tiếng: “Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu sản chính là các bác sĩ đã sử dụng bàn tay khám các bà mẹ bị bệnh rồi khám các bà mẹ mạnh khỏe”
Trang 17Sau đó, ông đưa ra Lý thuyết về “Mầm bệnh”và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tới ngày nay [4]
- Trong những năm đó, khuyến cáo rửa tay đã gặp rất nhiều khó khăn bởi thiếu
phương tiện rửa tay, thiếu nước sự gia tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn cộng với nhân viên y tế rất thiếu kiến thức về vệ sinh bệnh viện là những giải thích cho sự phản ứng của các bác sĩ trước khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với những bệnh nhân khác nhau nêu trên Họ cho rằng rửa tay như vậy là quá nhiều Năm 1910, Bác sĩ Rosephine Baker tại Mỹ đã tổ chức khoá tập huấn đầu tiên giảng dạy về vệ sinh bàn tay cho những cán bộ y tế chăm bệnh nhi Năm 1992, một báo cáo khoa học của New England đưa ra kết quả một nghiên cứu về rửa tay tại khoa hồi sức cấp cứu Báo cáo cho thấy, mặc dù đã áp dụng những biện pháp giáo dục và giám sát đặc biệt, nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở cán bộ y tế chỉ sấp xỉ 30% và tỷ lệ cao nhất chỉ đạt 48% Cũng năm đó CDC (Mỹ) cho biết tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giao động từ 5- 15% tại các bệnh viện, điều này dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải trên nhân viên y tế và năm 1993 đã có 11 nhân viên y tế mắc bệnh viêm gan A do không rửa tay sau khi tiếp xúc với 1 trong 2 bệnh nhân viêm gan A [5]
- Chưa đầy một thế kỉ sau, một nghiên cứu quan trọng khác đã được tiến hành
Theo dấu đại dịch tụ cầu những năm 1950, Rammekamp và cộng sự đã chứng minh rắng sự tiếp xúc trực tiếp là nguyên nhân chính lây truyền Staphylococus aurenus Họ cũng chứng minh rằng: Việc rửa tay giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân đã làm tỉ
lệ nhiễm Saureus giảm xuống mức thấp hơn so với lây qua không khí Trong nghiên cứu của họ, tỷ lệ mang tụ cầu ở nhóm chỉ rửa thường quy là 10% trong khi tỷ lệ mang tụ cầu ở nhóm chỉ rửa tay khi cảm thấy cần lên tới 43%
- Tại Việt Nam, kết quả điều tra về vấn đề nhiễm khuẩn bệnh viện năm 2000 do
Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các chuyên gia y tế Pháp tiến hành cho thấy: Trong 9.900 bệnh nhân của 24 đơn vị bệnh viện trên toàn địa bàn thành phố phát hiện được 864 ca nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện (chiếm 8,6%), trong đó cao nhất là viêm phổi nhiễm khuẩn (chiếm 26,5%), nhiễm khuẩn do đặt thông tiểu là
Trang 1818,8% [9].Nhiễm khuẩn bệnh viện là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian nằm viện mà lý do nhập viện không phải lý do nhiễm trùng ấy, thường xuất hiện sau
48 giờ nhập viện Nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện là kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí nằm viện, tăng tỷ lệ bệnh nhân tử vong, tăng nguy cơ tạo các chủng vi khuẩn kháng thuốc Nhiễm khuẩn bệnh viện đang trở thành một gánh nặng thực sự của ngành y tế Tăng cường sự tuân thủ vệ sinh tay thường quy là điều quan trong nhất trong các cơ sở y tế, các bệnh viện [6]
- Việc tăng cường thực hành rửa tay thường quy trong các bệnh viện ở Việt
Nam đã ghi nhận nhiều thành công Tại bệnh viện Bình Dân, sau khi phát động
chương trình vệ sinh bàn tay, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện đã giảm từ 17,1% xuống còn 2,1%, thời gian nằm viện và chi phí sử dụng kháng sinh cũng giảm [5] Bệnh viện Bạch Mai trong những năm gần đây đã chú trọng công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện, đồng thời tiến hành tuyên truyền, tập huấn v công tác vệ sinh bàn tay khi thăm khám bệnh nhân Nhờ vậy, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện từ 1,5% (1995) giảm xuống còn 0,8% (2006) [5]
- Năm 2009, Tổ chức Y tế Thế giới đã phát động cuộc vận động toàn cầu tham
gia chiến dịch “Bảo vệ sự sống bằng rửa tay” Nhận thức được tầm quan trọng của vệ sinh bàn tay trong khám, chữa bệnh, ngày 20/04/2009, Bộ Y tế gửi văn bản ủng hộ phong trào vệ sinh bàn tay và kiểm soát nhiễm khuẩn do Tổ chức Y tế thế giới phát động, Việt Nam đã trở thành nước thứ 118 tuyên bố triển khai cuộc vận động toàn cầu này Cũng trong năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 18/2009/TT-BYT về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh Đặc biệt là điều đầu tiên của thông tư đã quy định về rửa tay
thường quy [3]