1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thể lực và kiến thức về sức khỏe vị thanh niên của học sinh lớp 10 tại nam định năm 2013

106 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 4,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ số khối cơ thể Body Mass Index Bộ phận sinh dục Biện pháp tránh thai Câu lạc bộ sức khỏe vị thành niên Chăm sóc sức khỏe sinh sản Dân số/kế hoạch hoá gia đình Giáo dục sức khỏe vị th

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và làm luận văn tôi đã được sự quan tâm, giúp đỡ của nhà trường, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn: Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quản

lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y Thái Bình; Đảng

ủy, Ban Giám hiệu, Bộ môn Giải phẫu Mô và Bộ môn Y tế Cộng đồng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tôi học tập và làm luận văn

Tôi xin cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường trung học phổ thông Nguyễn Khuyến, trường trung học phổ thông Trần Văn Bảo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu của luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Giáo sư TS Lương Xuân Hiến, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Thái Bình và

TS Phạm Thanh Bình, Phó Chánh Văn phòng Bộ Y tế, những Thầy Cô đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành biết ơn các Thầy Cô trường Đại học Y Thái Bình, những người thầy tận tâm với các thế hệ học trò Các Thầy Cô luôn là tấm gương về tinh thần trách nhiệm, lòng say mê nghề nghiệp cho các thế hệ học trò chúng tôi noi theo

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người luôn bên cạnh, chia sẻ và động viên tôi trong thời gian qua

Trang 2

Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index)

Bộ phận sinh dục Biện pháp tránh thai Câu lạc bộ sức khỏe vị thành niên Chăm sóc sức khỏe sinh sản Dân số/kế hoạch hoá gia đình Giáo dục sức khỏe vị thành niên Human Immunodefciency Virus

Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người Lây truyền qua đường tình dục

Chỉ số thể lực Phương pháp thu thập Quan hệ tình dục Sức khỏe sinh sản Sức khỏe sinh sản vị thành niên Sức khỏe vị thành niên

Điều tra quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam Sexually Transmitted Infection

Bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục Trung học phổ thông

Tệ nạn ma tuý

Vị thành niên

Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

Mục lục

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chương I - TỔNG QUAN

1.1 Một số khái niệm

1.2 Tình hình nghiên cứu về thể lực và kiến thức SKVTN

1.2.1 Các nghiên cứu về chỉ tiêu nhân trắc

1.2.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi SKVTN

Chương II - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và địa bàn nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.2.3 Các vật liệu phục vụ cho nghiên cứu

2.2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.2.5 Quy trình thu thập số liệu

2.2.6 Điều tra viên và giám sát viên

2.2.7 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.2.8 Các tiêu chuẩn đánh giá

2.2.9 Thời gian nghiên cứu

2.2.10 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.3 Khống chế sai số

2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

1

3

3

8

8

11

22

22

23

23

24

26

26

26

28

28

30

31

31

31

32

Trang 4

Chương III - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Các chỉ tiêu về nhân trắc

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.1.2 Thực trạng thể lực của học sinh

3.2 Kiến thức, thái độ, hành vi về SKVTN

3.2.1 Nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh về SKSS

3.2.2 Nhận thức của học sinh về một số bệnh học đường

3.2.3 Nhận thức của học sinh về TNXH và những thói quen xấu 3.2.4 Thái độ, hành vi của học sinh đối với hoạt động ngoại khoá và tư vấn SKVTN ở trạm y tế xã/phường

Chương IV - BÀN LUẬN

4.1 Các chỉ tiêu nhân trắc

4.2 Kiến thức, thái độ, hành vi về SKVTN

4.2.1 Nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh về SKSS

4.2.2 Nhận thức của học sinh về một số bệnh học đường

4.2.3 Nhận thức của học sinh về TNXH và những thói quen xấu 4.2.4 Thái độ, hành vi của học sinh đối với hoạt động ngoại khoá và tư vấn SKVTN ở trạm y tế xã/phường

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

33

33

33

34

39

39

48

53

55

60

60

64

64

70

73

76

80

82

Trang 5

Phân bố học lực của học sinh theo vùng

So sánh chiều cao đứng của học sinh theo giới ở 2 vùng

So sánh cân nặng (kg) của học sinh theo giới ở 2 vùng

So sánh vòng ngực (cm) của học sinh theo giới ở 2 vùng

So sánh chỉ số Pignet của học sinh theo giới ở 2 vùng Phân loại pignet của học sinh theo giới và theo vùng

So sánh chỉ số BMI của học sinh theo giới ở 2 vùng

Tỷ lệ học sinh hiểu biết về những dấu hiệu dậy thì của nữ

Tỷ lệ học sinh hiểu biết về những dấu hiệu dậy thì của nam

Tỷ lệ học sinh hiểu biết về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh Hiểu biết về các biện pháp tránh thai theo giới

Ý kiến của học sinh về những nguyên nhân có thai ngoài ý muốn

Hiểu biết của học sinh về những tai biến do nạo hút thai Hiểu biết của học sinh về bệnh LTQĐTD

Hiểu biết của học sinh về con đường lây truyền HIV/AIDS Nguồn thông tin tìm hiểu về SKSS của học sinh

Những biểu hiện bệnh lý ở BPSD theo giới Biện pháp giải quyết của HS khi có biểu hiện bệnh lý ở BPSD Hiểu biết của học sinh đối với các bệnh về mắt

Hiểu biết của học sinh về cách phòng ngừa bệnh mắt hột Hiểu biết của học sinh về cách phòng ngừa bệnh cận thị Hiểu biết của học sinh về phòng ngừa bệnh răng miệng Hiểu biết của học sinh về phòng ngừa gù, vẹo cột sống Hiểu biết của học sinh về phòng ngừa các bệnh ngoài da

Trang 6

Sử dụng dịch vụ tư vấn SKVTN ở xã/phường Nguồn chủ động trao đổi thông tin về sức khỏe VTN

Trang 7

Đề nghị của học sinh về học ngoại khoá theo khu vực sinh sống Tổng điểm trung bình các nhận thức đúng về SKVTN theo vùng Tổng điểm trung bình các nhận thức đúng về SKVTN theo giới

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển đặc biệt, mạnh mẽ và có lẽ phức tạp nhất của cuộc đời con người Đặc trưng của lứa tuổi này là tăng trưởng nhanh về mặt thể chất với việc hoàn thiện bộ máy sinh sản và trưởng thành nhanh về mặt xã hội với việc hình thành những đặc tính cơ bản về nhân cách, đang trong giai đoạn quyết định hành vi về sức khỏe và cũng là tiền đề sức khỏe cho cả cuộc đời [39]

Theo Lê Thị Hợp, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết: chiều cao trung bình của người Việt Nam tăng thêm được 4cm sau 35 năm, tuy nhiên so với chuẩn quốc

tế, chiều cao của nam thanh niên Việt Nam 18 tuổi kém 13,1cm; chiều cao nữ thanh niên kém 10,7cm So với Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, tầm vóc thân thể của thanh niên Việt Nam đều thua kém rõ rệt Theo kết quả điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 cho thấy: Thanh niên còn thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, các biện pháp tránh thai, đặc biệt về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và thời điểm dễ thụ thai trong chu kỳ kinh nguyệt của nữ thanh niên Nam thanh thiếu niên có nhiều hành vi nguy cơ hơn so với nhóm nữ: 40% nam thanh niên đã từng hút thuốc trong khi nữ thanh niên chỉ có dưới 1%; tỷ lệ nam thanh niên đã từng say bia rượu là 60% còn ở nữ là 22% [51]

Trong điều kiện tình hình kinh tế của đất nước có nhiều đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân cũng dần được nâng cao, vấn đề sức khỏe được quan tâm nhiều hơn Nhưng với thời buổi bùng nổ thông tin như hiện nay, các giá trị văn hóa phương Tây xâm nhập vào từng thành phố, làng mạc ở các nước đang phát triển, làm thay đổi và ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ và hành vi của lứa tuổi

vị thành niên Việc trang bị không kịp thời các kiến thức cần thiết cho giới trẻ đã dẫn đến những hậu quả xã hội Các số liệu khảo sát hộ gia đình cho thấy ở các quốc gia đang phát triển (trừ Trung Quốc) có khoảng 11% nữ giới và 6% nam giới ở độ tuổi 15-19 cho biết đã từng có quan hệ tình dục trước khi 15 tuổi [42] Năm 2011, Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam đã công bố tỷ lệ nạo phá thai ở nước ta đang dẫn đầu khu vực Đông Nam Á trong đó lứa tuổi vị thành niên, thanh niên chiếm tới

Trang 9

22% và đang có xu hướng tăng mạnh Tổ chức Y tế thế giới cho biết trong tổng số người bị nhiễm HIV/AIDS trên thế giới có 50% là dưới 25 tuổi Ước tính có khoảng

150 triệu người hút thuốc lá ở lứa tuổi vị thành niên và một nửa trong số họ sẽ dẫn đến tử vong liên quan đến thuốc lá trong quá trình trưởng thành Hơn nữa những gì thanh niên làm ngày hôm nay sẽ có ảnh hưởng đến sức khỏe của họ và con cái của

họ sau này [55] Chính vì vậy việc xác định thực trạng thể lực và kiến thức sức khỏe

vị thành niên giúp cho các bậc cha mẹ, thầy cô giáo lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục một cách có hiệu quả, giúp các em được sống trong môi trường an toàn thuận lợi để có thể lớn lên và trưởng thành

Trong lứa tuổi vị thành niên, học sinh trung học phổ thông nằm trong nhóm tuổi thuộc giai đoạn: về thể chất có sự tăng nhanh và có thể kết thúc sự phát triển của chiều cao, về sinh lý thì đang phát triển và hoàn thiện bộ máy sinh sản Trong giai đoạn này, học sinh lớp 10 là đối tượng cần quan tâm đặc biệt vì đối tượng này mới rời khỏi cấp trung học cơ sở chuyển sang cấp trung học phổ thông, bắt đầu thay đổi và hòa đồng với môi trường sống, còn bỡ ngỡ và dễ bị tác động từ hoàn cảnh gia đình, xã hội, bạn bè

Để đóng góp những bằng chứng xác thực làm căn cứ cho các nhà hoạch định chính sách, các chương trình dự án liên quan đến việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe vị thành niên nói chung, đối tượng học sinh lớp 10 nói riêng tại địa

phương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng thể lực và kiến thức về

sức khỏe vị thành niên của học sinh lớp 10 tại Nam Định năm 2013 ” với các mục

tiêu sau:

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá một số chỉ tiêu nhân trắc của học sinh lớp 10 tại 2 trường trung học phổ thông ở Nam Định năm 2013

2 Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe vị thành niên của học sinh lớp 10 tại hai trường trung học phổ thông ở Nam Định

Trang 10

Có thể nói, vị thành niên là thời kỳ tràn đầy hứa hẹn và hy vọng nhất của cuộc đời Nó có thể là bệ phóng để sản sinh ra những người trẻ tuổi đầy tự tin nếu được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để tạo dựng tương lai tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội Hoặc đây có thể là thời gian mà ý thức và hành vi dễ

bị lệch lạc, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ trong tương lai

1.1.2 Thể lực

Thể lực là khái niệm phản ánh trạng thái tổng hợp của cơ thể, có liên quan chặt chẽ tới sức lao động và thẩm mỹ con người Sự tăng trưởng về thể lực là kết quả của sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể sống Chính vì vậy, vấn đề thể lực từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu [31]

Thể lực của con người là một chỉ tiêu tổng hợp Một trong những biểu hiện

cơ bản của thể lực là những số đo kích thước của cơ thể, trong đó chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực là ba chỉ số cơ bản phản ánh thể lực của con người [26] Từ

ba chỉ số này, người ta có thể tính thêm một số chỉ số khác thể hiện mối liên quan giữa chúng như chỉ số Pignet, chỉ số BMI

Trang 11

Dậy thì là thời kỳ có những biến động lớn về thể chất, tâm lý và đặc biệt là hoạt động chức năng của hệ thống sinh sản

- Ở em trai, mốc để đánh dấu tuổi dậy thì bắt đầu là thể tích tinh hoàn tăng

trên 4 ml, còn mốc để đánh dấu tuổi dậy thì hoàn toàn đó là lần xuất tinh đầu tiên Người Việt Nam, tuổi dậy thì hoàn toàn của nam thường vào khoảng từ 15 - 16 tuổi

Những biến đổi trong thời kỳ dậy thì: sau khi sinh, tuyến sinh dục nam (tinh hoàn) im lặng cho tới lúc này mới hoạt động Tinh hoàn bắt đầu sản sinh tinh trùng

và bài tiết testosteron Dưới tác dụng của testosteron, cơ thể lớn nhanh và xuất hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát như dương vật to, túi tinh và tuyến tiền liệt phát triển, cơ nở nang, da thô dày, giọng nói trầm, lông trên cơ thể và râu phát triển, sự phát triển chiều cao, cân nặng rất rõ rệt Trẻ vị thành niên bắt đầu có khả năng hoạt động tình dục và sinh sản [11] Mộng tinh là hiện tượng cương dương vật và xuất tinh ban đêm Cho thấy khả năng sinh sản của nam giới đã bắt đầu [2]

- Ở em gái, mốc để đánh dấu tuổi dậy thì được biểu hiện tuyến vú bắt đầu

phát triển Thời điểm dậy thì hoàn toàn được đánh dấu bằng lần có kinh đầu tiên Người Việt Nam hiện nay, thời điểm dậy thì này vào khoảng 13 - 14 tuổi

Những biến đổi về cơ thể ở em gái như: phát triển chiều cao, phát triển cân nặng, phát triển vú, da trở nên mỡ màng, mọc trứng cá ở trên mặt, hông nở rộng, vòng eo thu hẹp, đùi trở nên thon,… Ngoài ra trong cơ thể các em có sự hoạt động của tuyến sinh dục: hàng tháng dưới tác dụng của hormon tuyến yên, các nang noãn nguyên thuỷ của buồng trứng phát triển, có khả năng tiến tới chín và phóng noãn Như vậy thời kỳ này các em gái bắt đầu có khả năng sinh con Một dấu hiệu đặc biệt quan trọng đánh dấu thiếu nữ đã dậy thì đó là xuất hiện kinh nguyệt hàng tháng Thời gian chảy máu trung bình mỗi chu kỳ kinh nguyệt là 3-5 ngày Ở phụ nữ Việt Nam độ dài chu kỳ kinh nguyệt là 28 - 30 ngày [11]

Trang 12

Sức khỏe vị thành niên liên quan trực tiếp đến sự phát triển của mỗi con người từ lúc còn ở tuổi vị thành niên và cả tương lai duy trì nòi giống của họ sau này Theo Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 (Tổng cục Thống kê), thanh thiếu niên chiếm gần ¼ dân số Việt Nam (khoảng trên 20 triệu người, chiếm tỷ lệ 23,15% dân số cả nước) Vì vậy, họ là lực lượng chủ yếu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc trong những thập kỷ tới Sự phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần của nhóm dân số này quyết định tương lai và sự phồn vinh của dân tộc Do đó cần tăng cường chăm sóc sức khỏe VTN vì đây là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai

Sức khỏe vị thành niên bao gồm các lĩnh vực: sức khỏe thể chất, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, các bệnh học đường thường gặp và chịu ảnh hưởng bởi hành vi nguy cơ có hại cho sức khỏe đó là các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, tai nạn chấn thương và các thói quen xấu trong sinh hoạt của họ

* Những vấn đề sức khỏe thường gặp ở vị thành niên

- Sức khỏe sinh sản

Sức khỏe sinh sản là trung tâm của sức khỏe nó bao gồm quá trình sinh sản,

các chức năng ở mọi giai đoạn của cuộc sống

Có thai sớm làm gián đoạn quá trình phát triển sinh lý xã hội và trí tuệ của các cô gái do đó nó ảnh hưởng tới cơ hội học tập, học nghề, làm ăn kinh tế của họ

Sự có thai ngoài ý muốn có thể gây ra cái chết, bệnh tật hoặc chấn thương cho người mẹ hoặc đứa con hoặc dẫn tới đứa con bị bỏ rơi, bạo lực trong gia đình và sự nạo thai không an toàn

Trang 13

Hàng loạt vấn đề sức khỏe có thể ảnh hưởng tới việc học tập của các em bao gồm các bệnh truyền nhiễm của cơ quan sinh sản và tiết niệu, các vấn đề kinh nguyệt [57] Hậu quả nghiêm trọng của sức khỏe là có thai trước 18 tuổi, người mẹ càng trẻ tuổi thì nguy cơ tử vong của mẹ càng cao Việc nạo hút thai lén lút nhất là

ở những nơi dịch vụ Y tế yếu kém làm tăng nguy cơ bị nhiễm bệnh sinh dục và nhiễm HIV

- Bệnh lây truyền qua đường tình dục:

Cụm từ “bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục” hay STI (viết tắt

từ Sexually Transmitted Infection) là các bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng, đơn bào và các nguyên nhân khác gây nên và lây lan qua quan hệ tình dục không được bảo vệ, qua đường máu và lây truyền từ mẹ sang con Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục như: giang mai, lậu, HIV/AIDS…

HIV (Human Immunodeficiency Virus) là tên gọi tắt của một loại vi rút gây

ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người hay nói một cách khác là loại vi rút làm mất dần sức đề kháng của con người AIDS (Acquired Immuno Deficency Syndrome) hay còn gọi là SIDA là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV

- Sức khỏe răng miệng:

Những vấn đề răng miệng bao gồm: sâu răng, viêm lợi, viêm quanh miệng,… Tỷ lệ sâu răng của học sinh ở các nước phát triển giảm xuống rất nhanh trong vài thập kỷ qua và ở các nước đang phát triển thì ngược lại: tỷ lệ sâu răng tăng nhanh ở những nơi tiêu thụ nhiều đường mà lại thiếu các dịch vụ chăm sóc răng miệng

- Sức khỏe về cơ quan thị giác:

Cơ quan thị giác có nhiều mối liên quan với môi trường và quá trình học tập

Các bệnh về mắt bao gồm: mắt hột, cận thị, bệnh lác mắt… Tác hại của bệnh về mắt là:

hạn chế sự phát triển toàn diện của học sinh, giảm phần thẩm mỹ của con người, hạn chế các hoạt động thể dục thể thao nâng cao sức khỏe, hạn chế việc lựa chọn ngành nghề trong cuộc sống, hạn chế một số hoạt động, sinh hoạt hàng ngày của học sinh, dễ

Trang 14

dàng bị tai nạn trong lao động, hạn chế một phần kết quả học tập do mắt chóng bị mệt

mỏi khi đọc sách, làm bài, do nhìn bảng không rõ, viết chậm, đọc chậm [38]

- Bệnh có liên quan đến tư thế của cơ thể

Trong những năm gần đây khi kiểm tra sức khỏe học sinh, các thầy thuốc đã nhận thấy rằng tình trạng tư thế xấu ở trẻ em tuổi học đường đang có chiều hướng

tăng lên dần Bệnh cong vẹo cột sống là một hình thái nặng của tư thế xấu, là một

sự xoáy vặn thật sự của cột sống Độ tuổi học sinh phổ thông là tuổi có tỷ lệ mắc

nhiều nhất, vì có nhiều nguyên nhân do quá trình học tập gây ra

- Bệnh liên quan đến dinh dưỡng: thiếu máu, thiếu sắt, béo phì, bướu cổ

Thừa cân béo phì hiện nay đang tiếp tục gia tăng ở trên thế giới, cả ở những nước phát triển và đang phát triển Béo phì đang trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, là mối đe dọa lâu dài đến sức khỏe và tuổi thọ

Ở nước ta, khi nền kinh tế có chuyển hướng tăng trưởng đã ảnh hưởng không

ít đến dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ em Tỷ lệ trẻ em có biểu hiện thừa cân béo phì đã có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn

- Tai nạn chấn thương:

Chấn thương bao gồm: tai nạn xe cộ, hỏa hoạn, ngã, chết đuối (do không cố

ý), bạo lực và tự tử (do cố ý) xảy ra với tỷ lệ chết cao ở thanh niên Ở nhiều nước chấn thương là một trong năm nguyên nhân tử vong của trẻ em Trên thế giới có 2,7

triệu ca chết mỗi năm do chấn thương không cố ý, cứ 10 em thì có 1 em bị chấn

thương phải đi bệnh viện

- Tệ nạn xã hội và những thói quen xấu trong sinh hoạt:

+ Uống rượu: thanh niên uống rượu bia sẽ bị ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ, dễ bị tai nạn chấn thương, phạm pháp, quan hệ tình dục bừa bãi và sút kém trong học tập

+ Hút thuốc lá: các nghiên cứu cho thấy rằng, các trẻ em hút thuốc thường đạt kết quả học tập thấp hơn các em không hút thuốc Ở nhiều nước đang phát triển trên 1/2 thanh niên hút thuốc Nếu tỷ lệ này được giữ nguyên thì trong vài chục năm nữa sẽ có 10 triệu người chết mỗi năm do hút thuốc [38]

Trang 15

+ Sử dụng ma tuý: ma tuý học đường đang trở nên một vấn đề cần báo động ở nhiều nước Trẻ em bị nghiện ma tuý thì con đường học hành coi như chấm dứt Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy người nghiện ma tuý sức khỏe giảm sút nhanh chóng, giảm khả năng lao động, có thể rối loạn về dinh dưỡng, biếng ăn, không phân biệt được cảm giác nóng lạnh, nhiều trường hợp dùng ma tuý với liều cao làm tê liệt hệ thần kinh và dẫn đến cái chết Hàng năm trên thế giới có khoảng 100.000 người chết do nghiện ma túy, ở nước ta con số này từ 600 đến 800 người [38]

+ Nghiện game: là hành vi ngày nay diễn ra phổ biến, đặc biệt là giới trẻ,

do tiếp xúc với công nghệ thông tin từ sớm Nghiện game gây cho nhiều người khái niệm sống ảo, sống trong thế giới trò chơi của riêng mình, họ tiêu tốn nhiều thời gian vào game thay cho việc đọc sách báo, giải trí và tham gia những hoạt động lành mạnh khác Không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất, nghiện game còn dẫn đến độ sa sút của việc học hành, làm hại đôi mắt, giảm sút trí lực và hạn chế sự giao tiếp giữa người với người…

1.2 Tình hình nghiên cứu về thể lực và kiến thức về sức khỏe vị thành niên

1.2.1 Các nghiên cứu về chỉ tiêu nhân trắc

Nhân trắc học là một khoa học dùng các phương pháp toán học và thống kê

để nhận định và phân tích sự đo đạc các kích thước của cơ thể con người nhằm rút

ra kết luận phục vụ thực tiễn hàng ngày

Nhân trắc học được hình thành và phát triển ngay từ những năm cuối của thế

kỷ 19 ở châu Âu Cho đến nay đã có những cuốn sách đã được công bố coi là cẩm nang cần thiết cho những nghiên cứu nhân trắc học như cuốn “Thực hành nhân trắc học” của Olivier G hay cuốn “Nhân trắc học” của Vandervael

Ở Việt Nam nhân trắc học được quan tâm khá sớm ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX tại viện Giải Phẫu học Hà Nội và Ban nhân học thuộc viện Viễn Đông Bác cổ với những công trình của Đỗ Xuân Hợp, Bigot, A.Huard được công

bố từ năm 1936 đến 1944 Tuy nhiên các công trình này còn có nhiều hạn chế do chưa sử dụng toán thống kê vào việc trình bày và nhận định kết quả

Trang 16

Sau 1954 khi hòa bình lập lại ở miền Bắc do nhu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, các công tác điều tra cơ bản về y tế đã được đẩy mạnh Trong đó điều tra nhân trắc đã có những tiến bộ đáng kể Hai hội nghị toàn miền Bắc về hằng số sinh học ở người Việt Nam bình thường đã được triệu tập (1967-1972), qua đó, các công trình

về nhân trắc học đã được tổng kết trong cuốn sách “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975) do GS Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên và được xem như chuẩn mẫu tham khảo đầu tiên của người Việt Nam

Sau ngày thống nhất đất nước, các nghiên cứu nhân trắc hình thái thể lực càng được tiếp tục thúc đẩy và hoàn thiện ở miền Bắc, bắt đầu mở rộng ở miền Trung và miền Nam Tập Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động của viện nghiên cứu Bảo hộ lao động do Võ Hưng chủ biên ra đời Đây là một nghiên cứu có qui mô lớn trên nhiều đối tượng ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, được xem như một chuẩn mẫu tham khảo đối chiếu cho thập niên 80 của thế kỷ XX

Bước sang thập niên 90, một cuộc điều tra cơ bản nhân trắc với qui mô lớn nhất đã triển khai và mở rộng trên phạm vi toàn quốc, theo dự án nhà nước Các số liệu nhân trắc thu thập được của hàng vạn đối tượng nghiên cứu đã được tổng kết trong cuốn sách “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế

kỷ XX” do GS Lê Ngọc Trọng làm tổng biên tập và được xem chuẩn mẫu tham khảo thứ 3 đại diện cho thập kỷ 90 [5]

Các nghiên cứu ở nước ta gần đây cho thấy các chỉ tiêu hình thái, thể lực của người Việt Nam như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, Pignet, BMI …gia tăng tốt hơn so với trước năm 1975 và trong thập niên 1990 Tuổi dậy thì chính thức trung bình của vị thành niên ở thành thị và nông thôn đồng bằng có chiều hướng sớm hơn

so với trước đây

Năm 2011, Nguyễn Thị Bích Ngọc và Tạ Thuý Lan nghiên cứu trên 1680 học sinh dân tộc Kinh và 1071 học sinh dân tộc Mường 11 - 17 tuổi về hình thái thể lực cho thấy: Chiều cao, cân nặng của học sinh dân tộc Kinh và Mường tăng dần từ

11 - 17 tuổi nhưng tốc độ tăng không đều Các chỉ số này của học sinh Kinh đều lớn hơn so với dân tộc Mường ở hầu hết các độ tuổi nghiên cứu Chiều cao của học sinh

Trang 17

Kinh và Mường tăng trung bình mỗi năm 4,78 - 4,93 cm đối với nam và 3,60 - 3,75

cm đối với nữ Cân nặng trung bình của học sinh Kinh và Mường tăng trung bình lần lượt là 3,11 - 3,12 kg/năm đối với nam và 2,75 - 2,84 kg/năm đối với nữ, cân nặng tăng nhanh nhất ở nam lúc 15 - 16 tuổi (tăng 3,94 - 4,86 kg/năm) Nghiên cứu

về chỉ số BMI cho thấy thể lực học sinh hai dân tộc đều thuộc loại trung bình và có

xu hướng tốt dần lên theo lứa tuổi [29]

Nghiên cứu trên học sinh nam và nữ lứa tuổi 16 - 18 của trường THPT Quế Võ

1, tỉnh Bắc Ninh cho thấy có sự khác biệt về các kích thước nhân trắc giữa học sinh nam và nữ như chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số BMI thuộc nhóm thể lực trung bình và hơi gầy, còn nhóm Pignet thuộc nhóm thể lực yếu [9]

Xu hướng tăng trưởng về chiều cao đối với người Việt Nam, đặc biệt là trẻ

em hiện nay không đồng đều Nghiên cứu về sự phát triển trẻ em từ sơ sinh đến 18 tuổi của viện dinh dưỡng cho thấy mức phát triển của trẻ em Việt Nam trong 3 tháng đầu là đạt tiêu chuẩn quốc tế nhưng sau đó lại giảm dần, nhất là thời kỳ 6 đến

12 tháng và 6 đến 11 tuổi Cùng đó sự phát triển thể lực tầm vóc con người Việt Nam giữa các vùng miền cũng khác nhau Trẻ em ở thành thị được chăm sóc tốt nên chiều cao, cân nặng khá hơn các em ở khu vực nông thôn Tỷ lệ thừa cân và béo phì

ở các thành phố lớn cao hơn có so với các thành phố nhỏ, các vùng nông thôn không nghèo và nông thôn nghèo [43]

Kết quả điều tra cắt ngang trên 21.626 học sinh từ 6 đến 17 tuổi thuộc 3 vùng miền tỉnh thành phía Bắc của tác giả Lê Thị Hợp và Lê Nguyễn Bảo Khanh cho thấy: học sinh thành thị cả nam và nữ đều cao hơn học sinh nông thôn và miền núi ở tất cả các lớp tuổi; ở tuổi 17: học sinh miền núi cả nam và nữ thấp hơn học sinh thành thị khoảng 3 cm Tuy nhiên, chiều cao của cả nam và nữ ở cả 3 vùng thành thị, nông thôn và miền núi đã điều tra đều thấp hơn chuẩn của WHO 2007; Trước

10 tuổi, chiều cao cả hai giới không có sự khác biệt Từ 10 tuổi trở lên, có sự khác biệt rõ rệt về chiều cao giữa hai giới: nhóm 10 - 11 tuổi nữ cao hơn nam, nhưng sau

11 tuổi thì ngược lại, nam luôn cao hơn nữ và tuổi càng cao sự chênh lệch này càng lớn [20] Theo dõi diễn tiến tình trạng suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì và sự gia

Trang 18

tăng tăng trưởng của học sinh thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2002-2009 của tác giả Trần Thị Minh Hạnh cho thấy: chiều cao của học sinh nam có xu hướng cải thiện ở các lứa tuổi nhưng vẫn còn thấp so với quần thể tham khảo WHO 2007 ở nhóm tuổi học sinh THPT [15]

1.2.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe vị thành niên

* Kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản

Xu hướng quan hệ tình dục sớm ở vị thành niên ngày càng gây ra nhiều vấn

đề xã hội trầm trọng như mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV/AIDS… Chính vì những lý do ấy, các em cần được quan tâm

và giáo dục sức khỏe vị thành niên sớm để tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của xã hội

Để có một sức khỏe sinh sản tốt cần sớm trang bị cho VTN các kiến thức về SKSS VTN như dậy thì, tình yêu, hôn nhân, tình dục, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS

Tác giả Trần Minh Hậu và Đặng Thị Kim Anh đã nghiên cứu về “Nhận thức, thái độ, thực hành của vị thành niên về sức khỏe sinh sản tại trường THPT Đông Thụy Anh, Thái Bình”, nghiên cứu cho thấy:

- Về kiến thức: có 20,6% nữ hiểu đúng cách tính một chu kỳ kinh nguyệt bình thường, 66,8% biết chu kỳ kinh nguyệt bình thường là 28-30 ngày, 100% nam biết về mộng tinh, 15,7% chưa biết về thủ dâm, có 57% hiểu đúng đây là hiện tượng bình thường, 82,1% biết BCS phòng được bệnh liên quan đến tình dục và 88,1% biết tác dụng của viên tránh thai, 20% hiểu đúng thời điểm dễ có thai nhất trong chu

kỳ kinh nguyệt 92,9% hiểu đúng về quan hệ tình dục không an toàn

- Về thái độ: 70,4% số đối tượng quan tâm đến vấn đề sức khoẻ; 62,7% lo lắng khi mắc bệnh LTQĐTD; 93,1% đồng ý với quan điểm sử dụng BPTT trong QHTD; 60,4% phản đối QHTD tuổi vị thành niên; 6,5% từng đi khám bệnh LTQĐTD [16]

Hiểu biết về các biện pháp tránh thai

Hiểu biết của VTN về BPTT còn hạn chế Hầu hết các em không biết biện pháp tính vòng kinh và xuất tinh ngoài âm đạo; sử dụng BCS là biện pháp được biết

Trang 19

đến nhiều nhất với 75%, gần 40% biết biện pháp đặt dụng cụ tử cung, một số ít VTN biết nhiều BPTT, nhưng hầu như các em chưa biết cách sử dụng [39] Nghiên cứu thực trạng kiến thức về các phương tiện tránh thai của học sinh trường THPT Chương Mỹ A của hai tác giả Trần Sỹ Minh và Trần Ngọc Tuấn, Hà Nội cho thấy:

tỷ lệ học sinh biết địa điểm cung cấp các biện pháp tránh thai chưa cao như trung tâm y tế trạm y tế xã/phường, hiệu thuốc [28]

Nguồn thông tin về chăm sóc SKSSVTN chủ yếu là thông tin đại chúng và nhà trường; thông tin từ cha mẹ còn ít Đối tượng ít biết đến cộng tác viên dân số và cũng ít được cộng tác viên dân số tư vấn về các vấn đề sức khỏe sinh sản, các biện pháp tránh thai Tỷ lệ VTN đã từng nghe nói đến các chủ đề CSSKSS chưa thực sự cao, còn thấp nhiều ở địa bàn nông thôn [33]

Thiếu kiến thức về thời điểm có thai trong chu kỳ kinh nguyệt, về các BPTT

và vấn đề có thai ngoài ý muốn là một trong những tác nhân làm cho tỷ lệ có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai ở VTN tăng cao trong những năm qua

Nạo phá thai

Khoảng 16 triệu trẻ em gái độ tuổi từ 15 đến 19 tuổi sinh con mỗi năm chiếm khoảng 11% của tất cả các ca sinh trên toàn thế giới Phần lớn các ca sinh của thanh thiếu niên tại các nước đang phát triển Nguy cơ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến mang thai cao hơn rất nhiều đối với thanh thiếu niên hơn là phụ nữ lớn tuổi Ở tuổi vị thành niên nguy cơ lại càng cao

Riêng ở Việt Nam, mỗi năm có từ 1,2 đến 1,4 triệu trường hợp nạo phá thai, trong số này có khoảng 300.000 là nữ thanh niên chưa có gia đình So với các nước trong khu vực, tỷ lệ nạo phá thai ở nước ta là quá cao Điều này không những chỉ tốn kém về kinh tế, vật chất mà còn đem lại những hậu quả nặng nề về mặt sức khoẻ cho vị thành niên Sự liên kết giữa dịch vụ phá thai với dịch vụ KHHGĐ còn thiếu

sự chặt chẽ, cụ thể là tư vấn sau phá thai còn yếu và không đầy đủ, chăm sóc sau phá thai chưa được quan tâm, đặc biệt là việc cung cấp phương tiện tránh thai cho khách hàng sau phá thai còn yếu kém [24]

Trang 20

Nạo hút thai là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ có vấn đề sức khỏe về sản phụ khoa ở những phụ nữ đã từng nạo hút thai: nghiên cứu 712 phụ nữ nạo hút thai có 28 người bị tai biến tức thì chiếm 3,6% trong đó 3,2% bị sốc; 0,3% chảy máu nặng; 0,1% kết hợp cả sốc và chảy máu nặng Tai biến do nạo thai cao hơn do hút thai Các vấn đề sức khỏe xảy ra ở đối tượng sau khi nạo hút thai như rối loạn kinh nguyệt 3,34%, viêm âm hộ âm đạo 1,14%, viêm cổ tử cung 2,15%, viêm phần phụ 2,28%, sót rau, viêm nội mạc tử cung, viêm phần phụ, rong kinh [35]

Năm 2011, Nguyễn Tuấn Hưng và Nguyễn Đức Vinh nghiên cứu các phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên phạm vi toàn quốc cho thấy số các ca phá thai giảm dần nhưng tình trạng để thai to mới đi phá thai tăng hơn so với năm 2010 Một số chỉ số liên quan đến phá thai tăng hơn so với năm 2010 ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Bắc [22]

* HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

HIV/AIDS

HIV/AIDS đang là đại dịch của toàn cầu, ảnh hưởng đến sức khỏe nhân loại Chương trình phối hợp của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) ước tính đến cuối năm 2007, thế giới ghi nhận 33,2 triệu người nhiễm HIV Riêng năm 2007, người lớn và trẻ em nhiễm mới 2,5 triệu và tử vong do AIDS là 2,1 triệu người [14]

Đối tượng VTN cho biết đường lây truyền HIV/AIDS được biết nhiều nhất là quan hệ tình dục không an toàn (91% ở nam và 97% ở nữ) [17] Lê Tự Hoàng và cộng sự phỏng vấn 561 đối tượng là nam giới, tuổi từ 15-49, tại 3 thành phố lớn Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ cho thấy: việc QHTD trước hôn nhân là một trong những hành vi nguy cơ chính lây truyền HIV/AIDS ở đối tượng nam giới (gần 30%); ngoài

ra các hành vi nguy cơ không thể không kể đến đó là việc QHTD với gái mại dâm (9,6%), QHTD bất chợt (6,1%) và tiêm chích ma túy (4,3%) Kết quả này chứng minh tầm quan trọng của việc cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu về hành vi nguy cơ lây truyền HIV trong quần thể chung, nơi vẫn còn nhiều đối tượng thường bị

bỏ ngỏ trong can thiệp nhằm giảm thiểu lây truyền HIV/AIDS [19]

Trang 21

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, hành vi nguy cơ cao bệnh HIV/AIDS xuất hiện ở các nhóm sau: ở người nghiện chích ma túy tỷ lệ cao dùng chung bơm kim tiêm

là 24 44%; ở gái bán dâm tại một số thành phố lớn tỷ lệ tiêm chích ma túy cao (20 43%) và tỷ lệ dùng bao cao su thường xuyên thấp (40 - 80%); ở người nghiện chích ma túy nhiễm HIV vẫn dùng chung bơm kim tiêm với tỷ lệ cao (35 - 70%) và tình dục không dùng bao cao su với các loại bạn tình chiếm tỷ lệ thấp (10 - 55%) [13]

-Phân tích trong Báo cáo Điều tra Quốc gia Vị thành niên và thanh niên lần thứ II cho thấy: phần lớn người được hỏi đã nghe nói về HIV, chủ yếu qua các phương tiện thông tin đại chúng, tivi là nguồn thông tin về HIV đối với VTN và thanh niên Trong những nguồn thông tin trực tiếp, thầy cô giáo, cán bộ y tế, dân số

và bạn bè là những nguồn thông tin quan trọng [59] Nhưng nghiên cứu trên đối tượng là người dân tộc thiểu số từ 15-49 tuổi, đang sinh sống trong bán kính 10 km vùng biên giới Việt - Lào, tỉnh Điện Biên cho thấy: 72,3% người dân thỉnh thoảng mới được nghe kiến thức về HIV/AIDS; 10,5% không bao giờ được nghe về HIV/AIDS [27]

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Tổ chức Y tế thế giới cho biết trong số 20 phụ nữ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục thì có 1 người ở tuổi vị thành niên Ở Mỹ, ước tính cho thấy những giới trẻ từ 15-24 chiếm gần 50% số mới mắc STI So với người lớn tuổi, thanh thiếu niên có quan hệ tình dục ở độ tuổi 15-19 và trong độ tuổi 20-24 có nguy cơ cao của bệnh STI Trong thời gian 2010- 2011, tỷ lệ STI tăng 4% cho những người 15-19 tuổi và 11% đối với người 20-24 tuổi Trong đó, tỷ lệ bệnh lậu về cơ bản không thay đổi cho những người từ 15-19 tuổi và tăng 5,8% cho những người 24-29 tuổi, tỷ lệ bệnh giang mai ở độ tuổi 15-19 tăng hàng năm, năm 2011 tăng 2,4% [54]

Tại Việt Nam trong 10 năm, từ năm 2001-2010, có 2.085.286 trường hợp STI báo cáo Trong đó có 22.016 trường hợp giang mai (chiếm 1,23%), 59.333 trường hợp lậu (chiếm 3,16%), 48.207 trường hợp nhiễm HIV/AIDS (chiếm 2,40%) 162.566 sùi mào gà (chiếm 7,74%) và 1.793.164 STI khác (chiếm 85,48%) Qua số liệu thống kê cho thấy các bệnh hoa liễu cổ điển là giang mai và lậu giảm dần, trong

Trang 22

khi các bệnh về lây truyền qua đường tình dục khác tăng lên, trong đó có bệnh sùi mào gà và nhiễm HIV/AIDS tăng nhanh theo các năm [21]

* Kiến thức một số bệnh học đường và tai nạn thương tích

- Các bệnh về mắt, răng miệng và bệnh ngoài da khá phổ biến ở vị thành niên Kết quả khảo sát thí điểm chiến lược tăng cường sức khỏe VTN năm 2003 cho thấy:

Hiểu biết của VTN đối với các loại bệnh về mắt như mắt hột, cận thị, lác,… tương đối tốt nhưng cách phòng ngừa ở các em chưa thật đầy đủ Chỉ có trên 60% biết dùng nước sạch và trên 50% biết sử dụng khăn mặt riêng để phòng ngừa bệnh mắt hột, chỉ có trên 70% cho rằng phải ngồi học đọc đúng tư thế và trên 60% cho biết đọc sách phải đủ ánh sáng để phòng cận thị [39]

Để phòng ngừa các bệnh về răng miệng, đa số VTN mới chú ý đến giải pháp đánh răng thường xuyên mà không nghĩ rằng phải đánh răng đúng cách Nhận thức của VTN về cách phòng ngừa gù, vẹo cột sống còn chưa toàn diện Đa số các em biết rằng ngồi học phải đúng tư thế nhưng chỉ có khoảng 1/5 cho biết kích thước bàn ghế phải phù hợp với từng lứa tuổi và rất ít em (6,8%) biết rằng ánh sáng trong lớp cũng có ảnh hưởng đến bệnh này Đối với cách phòng ngừa bệnh ngoài da, các điều tra cho thấy VTN chưa quan tâm đến việc sử dụng nước sạch [39]

- Thực trạng mắc các bệnh học đường gần đây của VTN tăng dần theo lứa tuổi: Nguyễn Thanh Triết và Nguyễn Văn Thành đã nghiên cứu 7.200 học sinh phổ thông năm học 2011-2012 tại thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định cho thấy: tỷ

lệ cận thị và loạn thị cao hơn ở nữ giới và vùng nội thị, tỷ lệ cận thị chiếm khá cao ở học sinh cấp III (21,21%) so với cấp II (11,84%) và cấp I (3,32%) [37] Áp lực học tập, thời gian học tập, giải trí bằng trò chơi điện tử, đọc chuyện đóng một vai trò quan trọng đối với sự gia tăng tình hình tật khúc xạ trong học sinh [40]

Năm 2012, Đào Thị Dung nghiên cứu khám răng miệng cho toàn bộ 6984 học sinh THPT Hà Nội sau khi sát nhập cho thấy tỷ lệ sâu răng của học sinh THPT

là 14,28%; chỉ số sâu mất trám là 0,32%; tỷ số viêm lợi là 16,04%; tỷ lệ răng sâu bị biến chứng là 17,06% Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn và viêm lợi của học sinh tăng dần theo lứa tuổi, tuổi càng cao nhu cầu điều trị răng miệng càng lớn [12]

Trang 23

Tai nạn thương tích

Chấn thương không chủ ý là nguyên nhân hàng đầu của tử vong và tàn tật

trong giới trẻ Tai nạn giao thông gây ra ước tính cướp đi mạng sống của 700 trẻ mỗi ngày Tại Mỹ có 25,4% trẻ em độ tuổi từ 12-17 đã nghỉ 3 hoặc 5 ngày học trong năm 2011 vì bệnh tật và chấn thương [45]

Chỉ trong năm 2007, có 7894 trẻ em và người chưa thành niên dưới 19 tuổi ở Việt Nam đã bị tử vong do tai nạn thương tích Những nguyên nhân chính dẫn tới tử vong do tai nạn thương tích là: đuối nước, thương tích giao thông đường bộ, ngộ độc và ngã [3]

Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Thị Tuyết Nhung nghiên cứu trên 9293 trường hợp tử vong năm 2008 tại 192 xã thuộc 16 tỉnh có 281 trường hợp tử vong ở tuổi vị thành niên, chiếm 3% Tai nạn thương tích là nguyên nhân chính gây tử vong ở tuổi

vị thành niên (64,4%) Trong đó, tai nạn giao thông chiếm 37,1% và đuối nước là 14,2% Nam giới có nguy cơ bị tử vong do tai nạn thương tích cao hơn so với nữ giới ở nhóm tuổi từ 18-21 Tai nạn giao thông và đuối nước là 2 nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở tuổi VTN tại Việt Nam [18]

* Kiến thức về tệ nạn xã hội và các thói quen xấu trong sinh hoạt

Tệ nạn ma túy

Bên cạnh hành vi nguy cơ bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS, tình hình tệ nạn ma tuý đang xâm nhập vào thế hệ trẻ ngày một gia tăng Trên thế giới hiện nay có 300 triệu người nghiện ma tuý Ở nước ta, con số này cũng không ngừng tăng lên Năm

1997 là 7.800 và năm 1998 là 10.000 Trong số 24.151 người nhiễm HIV/AIDS ở nước ta năm 2000 có tới 65% bị lây nhiễm qua tiêm chích ma tuý Năm 2005 con số này đã tăng lên gấp nhiều lần Theo kết quả điều tra của Brener và Collins (1998) cho rằng phần lớn VTN dưới 14 tuổi và 41% trẻ từ 14 - 17 tuổi đều không tán thành những những hành vi có ảnh hưởng đến sức khỏe (ví dụ như: hút thuốc, uống rượu

và sử dụng ma túy [50] Nếu gia đình và nhà trường không quan tâm đến việc giáo dục, hướng dẫn để thanh thiếu niên có những kiến thức, kỹ năng, thái độ phòng

Trang 24

chống các vấn đề xã hội thì sẽ trở thành gánh nặng trực tiếp ảnh hưởng đến lao động, kinh tế của đất nước trong tương lai không xa

Báo cáo của cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên Hiệp Quốc UNODC công bố vào năm 2012 có tới 5% dân số thế giới tức là khoảng 230 triệu người có sử dụng ma túy bất hợp pháp Heroin cocain và các loại ma túy giết chết khoảng 200 nghìn người mỗi năm và hàng chục triệu người nhiễm HIV, viêm gan

B, viêm gan C hay những căn bệnh khủng khiếp khác Còn ở Việt Nam độ tuổi người nghiện ma túy có xu hướng trẻ hoá một cách đáng quan ngại Cuối năm 2012

cứ 10 người nghiện ma túy thì có tới 5 người ở độ tuổi dưới 30, trong đó có cả những trẻ em dưới 16 tuổi Hơn 95% người nghiện ma tuý ở Việt Nam là nam giới tuy nhiên ngày càng có nhiều nữ giới mắc phải căn bệnh này

Trong những năm gần đây, tệ nạn nghiện ma tuý tại Việt Nam tăng lên, Đến ngày 31/12/2008, tổng số người nghiện có hồ sơ trong toàn quốc là 173.603 người Trong đó có 97.731 người (56,29%) đang ở ngoài xã hội; 31.225 người (17,99%) đang cai nghiện tại các cơ sở chữa bệnh giáo dục-lao động-xã hội và 44.647 người (25,72%) trong các cơ sở tại giam, trại tạm giam của ngành công an [30]

Nghiện game

Trên thế giới với nhiều người internet là một thứ không thể thiếu, một thói quen không kiểm soát nổi Riêng tại Mỹ đã có khoảng 15-20 triệu người mắc bệnh này Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của viện sức khoẻ tâm thần quốc gia, tỷ

lệ người mắc các bệnh liên quan tới nghiện trò chơi trực tuyến trên internet đang tăng mạnh và ngày càng trẻ hoá Đáng lo ngại hơn, có tới 50 - 70% số người nghiện game có các dấu hiệu về sức khoẻ tâm thần, với các dấu hiệu trầm cảm, lo âu, hung hăng Đặc biệt trong số này có tới 15% có ý tưởng tự sát

Nghiện trò chơi video đang là vấn đề được nhiều người quan tâm, chơi video hay game online quá nhiều ảnh hưởng đến học tập cũng như các mối quan hệ xã hội Điều đáng lo ngại, người nghiện game đa phần tập trung vào giới trẻ Họ bỏ ăn ngủ học hành, suốt ngày đêm miệt mài online Số người nghiện internet hiện vẫn không ngừng tăng lên Phạm Văn Trọng và cộng sự nghiên cứu thực trạng nhận

Trang 25

thức thái độ về một số hành vi không lành mạnh của học sinh trung học cơ sở tại 4

xã tỉnh Thái Bình năm 2010 cho thấy: tỷ lệ chơi game sẽ làm sức khỏe giảm sút là 25,3%; làm ảnh hưởng đến việc học hành là 77%; ảnh hưởng đến mắt là 64,7%

Theo Tara Nevins (2004), cha mẹ theo dõi môi trường phương tiện truyền thông bạo lực qua game online, giáo dục VTN hạn chế tiếp xúc để giảm bớt một số tác động tiêu cực của nó [53]

Hút thuốc lá

Hút thuốc lá là hành vi tương đối phổ biến trong thanh thiếu niên, đặc biệt là thanh thiếu niên nam Đại đa số người sử dụng thuốc lá trên toàn thế giới bắt đầu khi họ còn vị thành niên Tác dụng phụ và những rủi ro cao ở trẻ em có liên quan đến thuốc lá [60]

Theo Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ 2, tuổi bắt đầu sử dụng thuốc lá trung bình của thanh thiếu niên nam là 17 tuổi, có nhiều thanh thiếu niên bắt đầu hút thuốc khi chưa tròn 15 tuổi Lý do phổ biến nhất dẫn đến hành vi bắt đầu hút thuốc hiện nay là do tò mò với tỷ lệ 38%, tất cả bạn bè đều hút là 32%, quá nhiều stress và căng thẳng là lý do thứ 3 dẫn đến 15% thanh thiếu niên nam quyết định hút thuốc Các khu vực thành phố có tỷ lệ hút thuốc lá cao hơn so với khu vực nông thôn Các kết quả phân tích cho thấy từ bỏ hút thuốc là một việc rất khó làm Có tới trên 70% thanh thiếu niên hiện đang hút thuốc lá đã từng từ bỏ hút thuốc nhưng rõ ràng là họ đã bất thành [6]

Nghiên cứu trên 14.173 nam giới từ 15 tuổi trở lên tại thành phố Cần Thơ năm 2011 của tác giả Trương Trần Nguyên Thảo cho thấy phần lớn người hút thuốc

lá là những người bắt đầu hút thuốc lá ở tuổi vị thành niên và tuổi trẻ, số điếu thuốc hút trung bình một ngày là 11,7 điếu; mặc dù người dân hiểu biết về tác hại của hút thuốc lá là 92,7% và ủng hộ chính sách cấm hút thuốc lá nơi công cộng chiếm tỷ lệ cao (93,8%) nhưng tỷ lệ hút thuốc lá nơi công cộng vấn chiếm 31,1% [34]

Hút thuốc lá và uống rượu có ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản nam, đặc biệt ảnh hưởng đến các đặc điểm tinh dịch là một vấn đề sức khoẻ đáng quan tâm trên toàn thế giới [41]

Trang 26

Uống rượu bia

Uống rượu bia có hại trong giới trẻ là một mối quan tâm ngày càng tăng ở

nhiều nước Sử dụng rượu bắt đầu ở độ tuổi trẻ: 14% các cô gái VTN và 18% em trai tuổi từ 13 - 15 tuổi ở các nước thu nhập trung bình Nó làm giảm sự tự chủ và làm tăng nguy cơ Đó là một nguyên nhân chính của chấn thương (kể cả do tai nạn giao thông đường bộ), bạo lực (đặc biệt là bạo lực trong nước) và sớm tử vong

VTN từ 16 - 24 tuổi ở nước Anh vào năm 2005, 27% nam giới uống hơn 8 đơn vị rượu tương đối mỗi ngày và 20% nữ giới uống hơn 6 đơn vị tương đối mỗi ngày [49] Kết quả khảo sát điều tra 11.129 người từ 16 tuổi trở lên ở xã Cầu Lộc, tỉnh Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu là 3,77%; nghiện rượu là 0,92% Nguyên nhân dẫn đến lạm dụng rượu và nghiện rượu của các đối tượng chủ yếu là bắt chước bạn bè và cộng đồng, do thói quen tập quán Phần lớn các đối tượng lạm dụng rượu và nghiện rượu vẫn tiếp tục uống rượu dù biết tác hại của rượu đối với cơ thể, đối với sức khoẻ tâm thần [36]

Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 năm

2009 chọn mẫu thanh thiếu niên trong hộ gia đình ở 63 tỉnh/thành phố trên cả nước, kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ sử dụng rượu bia ở thanh thiếu niên Việt Nam nói chung khá cao và có xu hướng tăng lên, tỷ lệ sử dụng rượu bia của thanh thiếu niên nam cao hơn so với nữ nhưng tỷ lệ nữ sử dụng rượu bia trong nữ giới lại tăng nhanh hơn Kết quả phân tích cho thấy 80% thanh thiếu niên nam đã từng uống hết một cốc/vại bia hay một chén/ly rượu trong khi thì tỷ lệ này ở nữ giới thấp hơn nhưng vẫn ở mức tương đối cao là 37% [6] Sử dụng rượu bia của VTN nông thôn là một vấn đề xã hội phức tạp, sau khi kiểm soát một phạm vi rộng về rủi ro chính và yếu

tố phòng ngừa, rõ ràng không giải thích được sự tồn tại vấn đề sử dụng rượu của VTN nông thôn cao hơn VTN thành thị [48]

Lái xe sau khi sử dụng rượu bia là hành vi phổ biến trong thanh thiếu niên nam, tuy nhiên tỷ lệ nữ đã từng đi chung xe với người lái xe uống rượu bia cũng rất cao; 46% thanh thiếu niên đã từng lái xe sau khi uống rượu bia trong khi tỷ lệ này ở

Trang 27

nữ giới là 9%; 62% thanh thiếu niên nam và 43% thanh thiếu niên nữ đã từng đi chung xe với người lái xe uống rượu bia [51]

* Nguồn và sự chia sẻ thông tin

Kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh sinh viên còn nhiều hạn chế, trong khi nhu cầu được tìm hiểu về các vấn đề SKSS là rất cao [10] Khoảng cách giữa kinh nghiệm sống của VTN và định hướng nhận thức cuộc sống thực tế của họ thường gây ra nhiều tranh cãi [46]

Nguồn thông tin đại chúng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với thanh thiếu niên cả trong việc cung cấp các kiến thức, kỹ năng sống, bao gồm thông tin về kiến thức SKSS, sức khỏe tình dục, HIV/AIDS cũng như hoạt động vui chơi giải trí [23]

Nguồn đem lại thông tin nhiều nhất về sức khoẻ tình dục ở SAVY 2 là ti vi chiếm tỷ lệ 56,3%, tiếp theo là sách báo, tạp chí 47,7%; bạn bè 39,3% Thầy cô giáo còn có vai trò cao hơn nhân viên y tế, cộng tác viên dân số (14,6% so với 5,7%)

Theo tác giả Đỗ Duy Bình nghiên cứu “Kiến thức thái độ về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS của học sinh THPT, Thái Bình năm 2012” cho thấy: 39,1% là nguồn cung cấp thông tin về các bệnh LTQĐTD cho học sinh chủ yếu qua việc học ngoại khoá, học sinh nông thôn được học ngoại khoá nhiều hơn thành thị Nguồn cung cấp thông tin về HIV/AIDS chủ yếu là qua internet tiếp đến là tivi, nguồn thông tin từ các thầy cô giáo và cán bộ y tế chỉ chiếm tỷ lệ thấp Có 91,7% học sinh biết về cơ sở y tế nhà nước cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV/AIDS, tuy nhiên tỷ lệ học sinh không biết nơi nào cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV/AIDS còn khá cao (2,6%), nông thôn cao hơn thành thị (2,9% so với 2,3%) [1]

Gia đình là môi trường có thế mạnh để hình thành nhân cách mà xã hội kỳ vọng

và cung cấp những hiểu biết về sinh lý sinh sản cho VTN Không ai có thể làm tốt hơn người mẹ trong việc giúp con gái hiểu biết về sự phát triển thể chất, cơ chế kinh nguyệt

và cả những vấn đề về văn hoá ứng xử, giao tiếp Và người bố cũng có thuận lợi hơn người mẹ khi con trai đến tuổi dậy thì và gặp những vấn đề về giới tính [6]

Trang 28

Sự trao đổi giữa cha với VTN tương đối tốt trên 3 khía cạnh: lắng nghe và hiểu nhau khi trao đổi, bình đẳng và cởi mở trong trao đổi Tỷ lệ người cha trao đổi với VTN về tình dục, tình yêu, giới tính… rất thấp; tỷ lệ người cha trao đổi với VTN nữ về sử dụng chất gây nghiện cũng thấp [32]

Tóm lại, Tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng phát triển về thể chất và

trí tuệ, để hình thành nhân cách, trưởng thành và hoàn thiện về hình thể Trước những nguy cơ và thách thức trong cuộc sống hiện nay, các em cần được sự hỗ trợ của xã hội, cha mẹ, các thầy cô giáo và đoàn thể… để được phát triển lành mạnh và toàn diện Ngược lại, nếu các em mắc sai lầm trong thời kỳ này không những sẽ bị tổn thương lớn về thể chất, tinh thần mà có thể không bao giờ hồi phục lại được

Trang 29

CHƯƠNG II

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Nam Định là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, có 2.005.771 người với mật độ dân số 1.196 người/km2 Nam Định tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, giáp biển ở phía Đông Tỉnh Nam Định gồm có 1 thành phố và 09 huyện

Chúng tôi chủ định chọn thành phố Nam Định đại diện cho khu vực thành thị Chọn ngẫu nhiên một trong 9 huyện để lấy một huyện đại diện cho khu vực nông thôn vào nghiên cứu, bốc thăm ngẫu nhiên được huyện Nam Trực

Thành phố Nam Định là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của

tỉnh Nam Định, nằm ở khu vực đồng bằng sông Hồng trù phú Thành phố Nam Định cách thủ đô Hà Nội 90 km về phía Đông Nam, cách thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình 18km và cách thành phố Hải Phòng 90 km về phía Tây Nam, cách thành phố Ninh Bình 28 km về phía Đông

Thành phố Nam Định với dân số đông tập trung trên diện tích hẹp nên mật

độ dân số thuộc hàng cao nhất trong các thành phố của cả nước (xét về qui mô dân

số nội thành so với các thành phố của miền Bắc chỉ đứng sau Hà Nội và Hải Phòng) Năm 2011 Thành phố Nam Định có hơn 30 vạn dân đạt 17.221 người/km2

Thành phố Nam Định đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là đô thị loại I, đã và đang quy hoạch xây dựng thành phố Nam Định thành trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và xã hội của vùng Nam đồng bằng sông Hồng Nam Định cũng đã mở mang và phát triển nhiều khu công nghiệp mới với nhiều ngành nghề, trong đó nổi bật là ngành dệt may

Trên địa bàn thành phố có 5 trường THPT công lập với đối tượng học sinh hầu hết cư trú tại khu vực thành thị của thành phố Nam Định Chúng tôi bốc thăm

Trang 30

ngẫu nhiên lấy một trường vào nghiên cứu và kết quả là chọn được trường THPT Nguyễn Khuyến đại diện cho khu vực thành thị

Huyện Nam Trực là một huyện của tỉnh Nam Định, phía Đông giáp tỉnh

Thái Bình, phía Nam giáp huyện Trực Ninh, phía Tây giáp huyện Nghĩa Hưng và huyện Vụ Bản, phía Bắc giáp thành phố Nam Định Huyện Nam Trực có các sông lớn chảy qua như sông Hồng và sông Đào Đây vốn là mảnh đất màu mỡ, phù hợp cho việc phát triển của nông nghiệp Bên cạnh đó tiểu công nghiệp các ngành kim loại phát triển trở thành địa phương có cơ sở hạ tầng hoàn bị để sản xuất mọi mặt hàng như dao, kéo, đồ gia dụng, linh kiện xe đạp, xe máy, ô tô…

Huyện Nam Trực cũng có 5 trường THPT công lập, số học sinh của trường hầu hết sinh sống trên địa bàn của huyện Chúng tôi bốc thăm ngẫu nhiên lấy một trường vào nghiên cứu, kết quả là chọn được trường THPT Trần Văn Bảo đại diện cho khu vực nông thôn

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 10 tại 2 trường THPT công lập:

- Trường THPT Nguyễn Khuyến thuộc khu vực thành thị

- Trường THPT Trần Văn Bảo thuộc khu vực nông thôn

Tiêu chuẩn loại trừ: là số học sinh lớn hơn hoặc nhỏ hơn 16 tuổi và học sinh không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích nhằm đánh giá thể lực học sinh và mô tả nhận thức, thái độ hành vi về sức khoẻ vị thành niên của học sinh lớp 10 THPT tại địa bàn nghiên cứu

Trang 31

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

- Cách chọn mẫu

+ Chọn trường nghiên cứu:

Khu vực thành thị: chọn ngẫu nhiên theo hình thức bốc thăm lấy 01

trường trong 05 trường THPT trên địa bàn thành phố Kết quả là trường THPT Nguyễn Khuyến được chọn để điều tra

Khu vực nông thôn: huyện Nam Trực có 05 trường THPT, dùng thăm

chọn ngẫu nhiên 01 trường của huyện Kết quả là trường THPT Trần Văn Bảo được chọn để điều tra

+ Chọn khối: mỗi trường THPT có 3 khối (khối 10, 11, 12) chúng tôi chủ định chọn khối 10 tham gia vào nghiên cứu

+ Chọn đối tượng: chọn toàn bộ số học sinh của các lớp ở khối 10 tại 2 trường tham gia vào nghiên cứu

- Cỡ mẫu điều tra học sinh

Chọn mẫu chủ đích toàn bộ số học sinh khối 10 của 2 trường tham gia nghiên cứu bao gồm 621 học sinh

Cỡ mẫu này đều áp dụng đo chỉ số nhân trắc và phỏng vấn sức khoẻ VTN

Trang 33

2.2.3 Các vật liệu phục vụ cho nghiên cứu

- Cân Nhơn Hòa có mức độ chính xác đến 0,1kg, cân tối đa 120 kg

- Thước đo chiều cao theo mẫu của Unicef, độ chính xác đến 0,1cm đo chiều cao tối

đa 190 cm

- Thước dây mềm Việt Nam để đo vòng ngực, có độ chính xác tới 0,1cm

2.2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

- Bộ phiếu điều tra tự điền được chuẩn bị trước

Để các thông tin thu thập được có chất lượng tốt nhất, bộ câu hỏi được thiết

kế logic với những ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu để học sinh có thể dễ dàng trả lời Trước khi tiến hành điều tra hàng loạt, bộ câu hỏi được điều tra thử đối tượng trong một lớp, sau đó được điều chỉnh cho phù hợp

- Phiếu đo nhân trắc: bao gồm chỉ số đo cân nặng, chiều cao đứng và vòng ngực

2.2.5 Quy trình thu thập số liệu

* Các bước thu thập như sau:

- Bước 1: công tác chuẩn bị

Liên hệ với 2 trường THPT đã chọn, thống nhất với Ban Giám hiệu, các giáo viên chủ nhiệm lớp về kế hoạch triển khai, khám nhân trắc, phỏng vấn học sinh, đồng thời ấn định thời gian về cách thức tổ chức đo và phỏng vấn học sinh

- Bước 2: tổ chức thực hiện

Đo các chỉ số nhân trắc: cân nặng, đo chiều cao đứng, đo vòng ngực Điều tra viên kết hợp với giáo viên chủ nhiệm lập danh sách, tập hợp học sinh để cân và

đo chiều cao đứng, đo vòng ngực

Phỏng vấn tìm hiểu các thông tin về sức khoẻ vị thành niên

* Kỹ thuật tiến hành khám nhân trắc

- Chiều cao đứng

Chiều cao đứng là một trong những chỉ tiêu cơ bản, phản ánh sự phát triển chiều dài của xương ống, được dùng để đánh giá sức vóc của trẻ em, tầm vóc của người lớn

Trang 34

Chiều cao đứng là chiều cao đo từ mặt đất đến điểm cao nhất trên đỉnh đầu Đối tượng được đo đi chân không, ở tư thế đứng thẳng, quay lưng vào thước

đo, hai gót chân chạm vào nhau, hai tay buông thõng tự nhiên theo hai bên mình, đầu thẳng sao cho đuôi mắt và lỗ tai ngoài tạo thành đường thẳng song song với mặt đất, bốn điểm chạm thước đo là: chẩm, lưng, mông và gót chân Nền để đứng không

gồ ghề, phải vuông góc với thước đo Dùng thước đo vuông góc áp sát đỉnh đầu và vuông góc với thước đo

Đọc kết quả và ghi số cm với 01 số lẻ phần thập phân

- Cân nặng

Cân nặng cơ thể là một thông số quan trọng có mặt trong tất cả các công trình điều tra cơ bản về hình thái người nói chung và thể lực học sinh nói riêng Nó liên quan nhiều đến chỉ tiêu khác, thường được dùng để đánh giá sự phát triển của

cơ thể

Đối tượng được cân chỉ mặc quần áo mỏng, không đi dép guốc, không đội

mũ hoặc cầm vật gì Cân đặt vị trí bằng phẳng, chỉnh cân đến mức thăng bằng ở số

0 Đối tượng đứng trên bàn cân, tay buông thõng, nhìn thẳng về phía trước Thực hiện cân vào buổi sáng, cân vào giờ thống nhất (9 giờ đến 10 giờ sáng)

Đọc kết quả trên bàn cân chính xác tới mức 0,1kg

- Vòng ngực trung bình

Vòng ngực cũng được dùng để đánh giá thể lực, thường một người có vòng ngực rộng thì thể lực tốt Sự phát triển của vòng ngực xảy ra song song với phát triển của chiều cao đứng, liên quan mật thiết đến phát triển của trọng lượng

Cách đo vòng ngực: dùng thước dây mềm, đo ở tư thế thẳng đứng, phía sau vuông góc với cột sống sát dưới xương bả vai, phía trước qua hai núm vú Người đo đứng về 1 bên của đối tượng được đo để có thể kiểm tra mặt phẳng của thước dây

Đo ở hai thì hít vào và thở ra hết sức sau đó lấy trung bình cộng lại Có thể lấy số đo

ở thì giữa lúc thở nhẹ nhàng bình thường

Đọc kết quả và ghi số cm với 01 số lẻ

Trang 35

* Cách thức tiến hành phỏng vấn học sinh: vì phỏng vấn SKVTN nên khi tiến hành

phỏng vấn, mỗi lớp được chia thành 2 nhóm nam và nữ Mỗi nhóm làm riêng một phòng học Tại mỗi nhóm, Điều tra viên phát phiếu hỏi cho từng đối tượng nghiên cứu, tiếp đến giới thiệu sơ lược từng câu hỏi và hướng dẫn cách trả lời cho học sinh

rõ, sau đó đọc lần lượt từng câu một để các em tự trả lời bằng cách khoanh tròn vào

ý mà các em tự lựa chọn và cho là phù hợp với mình Điều tra viên sẽ thu phiếu ngay sau khi đối tượng hoàn thành việc tự điền bộ câu hỏi

2.2.6 Điều tra viên và giám sát viên

- Điều tra viên là cán bộ và sinh viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

- Giám sát viên là nghiên cứu viên

Trước khi tiến hành điều tra, các điều tra viên được tập huấn, thống nhất phương pháp phỏng vấn, phương pháp cân đo… và điều tra thử trên 2 đối tượng Các công cụ như cân, thước đo sẽ được kiểm tra chính xác trước khi triển khai thu thập số liệu Quá trình điều tra được giám sát chặt chẽ

2.2.7 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

Biến số Khái niệm biến Phân loại PPTT

Thông tin chung cá nhân và nhân khẩu học

1 Tuổi Tính theo năm sinh dương lịch Thứ hạng P vấn

2 Giới Nam, nữ Danh mục P vấn

3 Khu vực Thành thị, nông thôn Danh mục P vấn

Chỉ tiêu nhân trắc

1 Chiều cao Đo chiều cao đứng Liên tục Đo

2 Cân nặng Cân mức tối đa Liên tục Đo

3 Vòng ngực Đo vòng ngực trung bình Liên tục Đo

4 BMI Chỉ số khối cơ thể Liên tục Tính

5 Pignet Chỉ số thể lực Liên tục Tính

Trang 36

Nhận thức, thái độ và hành vi của vị thành niên về giới tính và SKSS

1 Hiểu biết về dậy thì Nêu được 3 dấu hiệu chính Danh mục P vấn

2 Hiểu biết về quan

hệ tình dục và BPTT

Nêu được thời điểm dễ có thai, nguyên nhân có thai ngoài ý muốn, BPTT và tai biến do nạo hút thai

Nhận thức thái độ và hành vi của VTN về tệ nạn xã hội và thói quen xấu

Nhận thức và thái độ

về tệ nạn xã hội

Nêu tác hại của TNMT, hút thuốc

lá và nghiện rượu, bia, chơi game

Danh mục Phỏng

vấn

Thái độ, hành vi của vị thành niên đối với các hoạt động ngoại khoá

1 Hoạt động ngoại

khoá trong trường

Đưa ra nhận xét, đề nghị với bài giảng, cách trình bày của thầy cô

Danh mục Phỏng

vấn

Trang 37

2.2.8 Các tiêu chuẩn đánh giá

- Chỉ số BMI (Body Mass Index) là chỉ số khối cơ thể được sử dụng để xác định tình trạng cơ thể có bị béo phì, thừa cân hay không

Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng cách lấy trọng lượng (kg) chia cho chiều cao (m) bình phương

Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì theo khuyến cáo của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2000, sử dụng cho các quốc gia châu Á [43]

STT Phân loại BMI (kg/m2)

Trang 38

2.2.9 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2013

Thời gian tiến hành thu thập số liệu: tháng 4 năm 2013

2.2.10 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Làm sạch và nhập số liệu

+ Số liệu sau khi được thu thập sẽ được làm sạch và nhập bằng phần mềm Epi Data Entry Quá trình nhập số liệu được nhập 2 lần riêng biệt bằng 2 người khác nhau, sau đó so sánh giữa 2 bản số liệu để tìm ra những sai sót và sửa chữa

+ Các số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0

- Phân tích số liệu

Vì các biến có các loại khác nhau nên một loạt các phân tích thống kê đã được thực hiện Sử dụng các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn để mô tả các biến liên tục như: tuổi, chiều cao, cân nặng, BMI; biến danh mục như địa dư, giới tính, tần số và

tỷ lệ được dùng để tóm tắt các biến về sức khoẻ vị thành niên

- Kết quả phân tích số liệu

Số liệu phân tích được thể hiện bằng số trung bình (X), độ lệch chuẩn (SD), tỷ

lệ %, với các test so sánh t student và đánh giá mức ý nghĩa p

2.3 Khống chế sai số

Để giảm sai số khi thu thập số liệu chúng tôi sử dụng một số biện pháp sau:

- Cán bộ điều tra giải thích rõ lý do và cam đoan giữ bí mật cho người được phỏng vấn

- Lựa chọn người đo là những cán bộ, sinh viên nghiêm túc, mẫn cán, yêu công việc nghiên cứu khoa học

- Tất cả đều được tập huấn kỹ trước khi đi đo ở cộng đồng Thống nhất cách ghi, cách đọc cân và đọc thước đo Trước khi tiến hành cân và đo phải kiểm tra lại độ chính xác của cân và thước đo, chỉnh đồng hồ cân ở mức thăng bằng và sử dụng một vật nặng để kiểm tra lại cân

¯

Trang 39

2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:

- Nghiên cứu này được tiến hành sau khi thảo luận và được sự đồng ý của Ban Giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm lớp và các em học sinh ở 2 trường nghiên cứu

- Mục đích và cách thức thực hiện được thông báo rõ ràng với nhà trường và đối tượng nghiên cứu

- Các điều tra viên được quán triệt về hành vi, thái độ và đặc biệt là kỹ năng giao tiếp với học sinh lớp 10

- Đảm bảo tính bí mật, trung thực và chính xác đối với các thông tin thu thập từ cuộc nghiên cứu

- Tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, không bắt buộc đối với bất kỳ cá nhân nào

Trang 40

CHƯƠNG III

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Các chỉ tiêu về nhân trắc của học sinh lớp 10

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới, theo vùng

Bảng 3.2 Phân bố học lực của học sinh theo giới

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Duy Bình (2012), “Kiến thức thái độ về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS của học sinh một số trường trung học phổ thông tại tỉnh Thái Bình năm 2012”, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thái độ về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS của học sinh một số trường trung học phổ thông tại tỉnh Thái Bình năm 2012
Tác giả: Đỗ Duy Bình
Nhà XB: Trường Đại học Y Thái Bình
Năm: 2012
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), “Tài liệu giáo dục giới tính, phòng chống tệ nạn mại dâm”. Hà Nội, tr. 27-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài liệu giáo dục giới tính, phòng chống tệ nạn mại dâm”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2004
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam, Unicef unite for chidren, tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
4. Bộ môn Nhi - Trường ĐH Y Hà Nội (2001), Bài giảng nhi khoa tập I, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nhi khoa tập I
Tác giả: Bộ môn Nhi - Trường ĐH Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2001
5. Bộ Y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX, Nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2003
6. Bộ Y tế (2010), Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ II, Tổng cục dân số và Tổng cục thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ II
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
7. Bộ Y tế và Tổng cục thống kê (2005), Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam, Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục thống kê
Nhà XB: Tổ chức Y tế thế giới
Năm: 2005
8. Nguyễn Ngọc Châu (2009), “Nghiên cứu một số chỉ số thể lực, năng lực trí tuệ của học sinh Trường THPT Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh”, Luận văn Thạc sỹ Sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ số thể lực, năng lực trí tuệ của học sinh Trường THPT Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Ngọc Châu
Nhà XB: trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
9. Đỗ Hồng Cường và Nguyễn Thị Nga, (2012) "Nghiên cứu khảo sát một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông Quế Võ 1, Bắc Ninh". Tạp chí Sinh lý học Việt Nam, 1(16), tr. 21-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khảo sát một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông Quế Võ 1, Bắc Ninh
Tác giả: Đỗ Hồng Cường, Nguyễn Thị Nga
Nhà XB: Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
Năm: 2012
10. Đồng Ngọc Đức và Nguyễn Thanh Phong (2012), "Thực trạng kiến thức và sức khỏe sinh sản của học sinh sinh viên năm thứ nhất trường Cao đẳng Y tế Hà Nội", Tạp chí Y học thực hành, 818-819, tr. 720-724 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức và sức khỏe sinh sản của học sinh sinh viên năm thứ nhất trường Cao đẳng Y tế Hà Nội
Tác giả: Đồng Ngọc Đức, Nguyễn Thanh Phong
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2012
11. Phạm Minh Đức (2007), "Sinh lý - Sinh dục và Sinh sản", Nhà xuất bản Y Học Hà Nội, tr. 339-377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý - Sinh dục và Sinh sản
Tác giả: Phạm Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học Hà Nội
Năm: 2007
12. Đào Thị Dung (2012), "Thực trạng bệnh răng miệng của học sinh THPT Hà Nội sau khi sát nhập", Tạp chí Y học Việt Nam, 2(395), tr. 40-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh răng miệng của học sinh THPT Hà Nội sau khi sát nhập
Tác giả: Đào Thị Dung
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2012
13. Đào Văn Dũng (2013), "Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xây dựng chính sách dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS dựa trên bằng chứng", Tạp chí Chính sách y tế. 11, tr. 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xây dựng chính sách dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS dựa trên bằng chứng
Tác giả: Đào Văn Dũng
Nhà XB: Tạp chí Chính sách y tế
Năm: 2013
14. Phạm Thọ Dược (2013), "Tình hình nhiễm HIV qua giám sát phát hiện tại tỉnh Đắc Lắc, 2001-2010", Tạp chí Y học dự phòng, tập XXIII, 1(136), tr. 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm HIV qua giám sát phát hiện tại tỉnh Đắc Lắc, 2001-2010
Tác giả: Phạm Thọ Dược
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2013
15. Trần Thị Minh Hạnh, Vũ Quỳnh Hoa và Đỗ Thị Ngọc Diệp (2012), "Diễn tiến tình trạng dinh dưỡng và tăng trưởng học sinh TP. Hồ Chí Minh 2002- 2009", Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 4(8), tr. 17-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn tiến tình trạng dinh dưỡng và tăng trưởng học sinh TP. Hồ Chí Minh 2002- 2009
Tác giả: Trần Thị Minh Hạnh, Vũ Quỳnh Hoa, Đỗ Thị Ngọc Diệp
Nhà XB: Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
Năm: 2012
16. Trần Minh Hậu (2010), "Kiến thức thái độ thực hành của vị thành niên về sức khoẻ sinh sản tại trường trung học phổ thông Đông Thụy Anh, tỉnh Thái Bình", Tạp trí Sinh lý học Việt Nam, 3(14), tr. 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thái độ thực hành của vị thành niên về sức khoẻ sinh sản tại trường trung học phổ thông Đông Thụy Anh, tỉnh Thái Bình
Tác giả: Trần Minh Hậu
Nhà XB: Tạp trí Sinh lý học Việt Nam
Năm: 2010
17. Nguyễn Phương Hoa và Phạm Thị Lan (2012), "Kiến thức và thái độ đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS của vị thành niên tại huyện Phú Lương, Thái Nguyên", Tạp chí Y học Việt Nam. 2(395), tr. 46-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thái độ đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS của vị thành niên tại huyện Phú Lương, Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa, Phạm Thị Lan
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2012
18. Nguyễn Phương Hoa và Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012), "Khảo sát nguyên nhân tử vong ở tuổi VTN ở Việt Nam năm 2008", Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2(79), tr. 165-170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nguyên nhân tử vong ở tuổi VTN ở Việt Nam năm 2008
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Y học
Năm: 2012
19. Lê Tự Hoàng, Vũ Thị Hoàng Lan và Lê Cự Linh (2012), "Điều tra hành vi nguy cơ lây truyền HIV của nam giới tại Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ bằng phương pháp phỏng vấn với sự hỗ trợ của máy tính", tạp chí Y dược học Quân sự, HVQY. 7(37), tr. 16-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hành vi nguy cơ lây truyền HIV của nam giới tại Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ bằng phương pháp phỏng vấn với sự hỗ trợ của máy tính
Tác giả: Lê Tự Hoàng, Vũ Thị Hoàng Lan, Lê Cự Linh
Nhà XB: tạp chí Y dược học Quân sự
Năm: 2012
20. Lê Thị Hợp và Lê Nguyễn Bảo Khanh (2012), "Tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của học sinh phổ thông khu vực thành thị, nông thôn và miền núi tại 3 tỉnh thành phía Bắc", Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm, 2(8), tr. 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của học sinh phổ thông khu vực thành thị, nông thôn và miền núi tại 3 tỉnh thành phía Bắc
Tác giả: Lê Thị Hợp, Lê Nguyễn Bảo Khanh
Nhà XB: Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w