Tuổi, tình trạng hôn nhân, tham gia trực đêm, mức độ ổn định công việc, làm việc trong môi trường thiếu sáng, áp lực vừa làm vừa học là những yếu tố liên quan đến tình trạng stress.. Các
Trang 1NG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
HOÀNG TUẤN ANH
NG STRESS CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠ LIÊN THÔNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI
NG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG NĂM 2018
ẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 8720301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS THÁI LAN ANH
Trang 2vừa làm vừa học ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất lao động, hiệu quả học tập
Mục tiêu: Mô tả thực trạng stress của sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm
vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018 và xác định một số yếu tố liên quan
Đối tượng: gồm có 266 sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học tại
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Kết quả:
Tỷ lệ stress của sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học là 5,6% Chủ yếu là stress nhẹ và vừa lần lượt là 35,0% và 11,7% Tuổi, tình trạng hôn nhân, tham gia trực đêm, mức độ ổn định công việc, làm việc trong môi trường thiếu sáng,
áp lực vừa làm vừa học là những yếu tố liên quan đến tình trạng stress
Kết luận:
Tỷ lệ stresscủa sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng chủ yếu là stress nhẹ và vừa Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở đối tượng nghiên cứu gồm: nhóm tuổi ≤30 tuổi (OR=1,7 ; 95%CI : 1,046 – 2,885), chưa lập gia đình (OR = 2,5 ; 95%CI : 1,102 – 6,107), có đi trực đêm (OR = 1,8 ; 95%CI : 1,016 – 3,24), công việc không ổn định (OR = 3,4 ; 95%CI : 1,266 – 9,165), làm việc trong môi trường thiếu sáng (OR = 3,3 ; 95%CI : 1,342 – 8,524), áp lực vừa làm vừa học (OR = 2,7 ; 95%CI : 1,51 – 5,07)
Từ khóa: stress, điều dưỡng viên, vừa làm vừa học
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau Đại học, các thầy/cô giảng viên trong nước và ngoài nước của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, các Phòng ban có liên quan, Ban Lãnh đạo Khoa Điều dưỡng và các đồng nghiệp tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã động viên, tạo điều kiện thời gian để tôi yên tâm học tập và hoàn thành đề tài Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS.Thái Lan Anh- Trưởng Khoa Điều dưỡng Trường Đại học Y Dược Hải Phòng - người thầy đã hướng dẫn tôi, dành nhiều thời gian quý báu để truyền đạt những kiến thức chuyên môn, tận tình hướng dẫn và luôn động viên tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn các anh/chị sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018 đã đồng ý tham gia nghiên cứu này
Và cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Nam Định, ngày 3 tháng12 năm 2018
Tác giả
Hoàng Tuấn Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được thực hiện một cách nghiêm túc, trung thực, đúng quy trình và đảm bảo tính khoa học
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu của tác giả nào khác trong, ngoài nước và chưa được công bố hoặc sử dụng ở bất kỳ đâu
Nam Định, ngày 3 tháng 12 năm 2018
Tác giả
Hoàng Tuấn Anh
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CẢM ƠN iii
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Stress nghề nghiệp ở điều dưỡng viên 4
1.2 Một số yếu tố liên quan đến stress của điều dưỡng viên 15
1.3 Đánh giá stress nghề nghiệp 18
1.4 Khung lý thuyết 19
1.5 Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu 23
Chương 2:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 25
2.6 Biến số trong nghiên cứu 28
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá stress 31
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 31
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 32
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 32
Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
Trang 63.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Thực trạng stress nghề nghề nghiệp của điều dưỡng viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Y Dược Hải Phòng 39
3.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng viên hệ vừa làm vừa học 47
Chương 4:BÀN LUẬN 54
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 54
4.2 Thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng viên vừa làm vừa học tại trường Đại học Y Dược Hải Phòng 58
4.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018 68
4.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 71
KẾT LUẬN 73
KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1:Bản đồng thuận
Phụ lục 2:Bộ câu hỏi khảo sát
Phụ lục 3:Kết quả so sánh điểm trung vị stress của các yếu tố
Phụ lục 4:Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 7iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NIOSH (National Institute for Occupational Safety and Health): Viện
sức khỏe và an toàn nghề nghiệp Hoa Kỳ NVYT Nhân viên y tế
NSS (Nursing stress scale): Thang đo stress điều dưỡng
SNN Stress nghề nghiệp
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
WHO (World Health Organization): Tổ chức y tế thế giới
OR (Odds Ratio): Tỷ suất chênh
CI (Confidence Interval): Khoảng tin cậy
Min (Minimum): Giá trị nhỏ nhất
Max (Maximum): Giá trị lớn nhất
KLCV Khối lượng công việc
BDDD Bất đồng với điều dưỡng
BDBS Bất đồng với bác sĩ
LQCC Liên quan đến cái chết
LQDT Liên quan đến điều trị
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Định nghĩa các biến số nghiên cứu 28
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 35
Bảng 3.3 Đặc điểm gia đình, môi trường của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 3.4 Đặc điểm công việc của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.5 Đặc điểm môi trường làm việc, học tập của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.6 Tỷ lệ stress của đối tượng nghiên cứu theo các mức độ 39
Bảng 3.7 Tác nhân gây stress do khối lượng công việc n(%) 40
Bảng 3.8 Tác nhân gây stress do mối quan hệ trong công việc n(%) 41
Bảng 3.9 Tác nhân gây stress do bất đồng với điều dưỡng cấp trên n(%) 42
Bảng 3.10 Tác nhân gây stress do bất đồng với bác sĩ n(%) 43
Bảng 3.11 Tác nhân gây stress do liên quan đến việc điều trị n(%) 44
Bảng 3.12 Tác nhân gây stress do liên quan đến cái chết của người bệnh n(%) 45
Bảng 3.13 Tác nhân gây stress do liên quan đến kiến thức và sự chuẩn bị của bản thân n(%) 46
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa stress và đặc điểm chung của đối tượng 47
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa stress và đặc điểm gia đình, môi trường 48
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa stress và đặc điểm công việc 49
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa stress và đăc điểm môi trường làm việc, học tập 50
Bảng 3.18 Mối tương quan giữa stress và các tác nhân gây stress 51
Bảng 3.19 Mối tương quan giữa 7 nhóm tác nhân gây stress và tần suất gặp 53
Bảng 3.21 So sánh điểm trung vị stress của các yếu tố đặc điểm chung của đối tượng 91
Bảng 3.22 So sánh điểm trung vị stress của các yếu tố đặc điểm gia đình, môi trường 92
Bảng 3.23 So sánh điểm trung vị stress của các yếu tố đặc điểm công việc 93
Bảng 3.24 So sánh giá trị trung vị của các yếu tố đặc điểm môi trường làm việc 93
Trang 9vi
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Mô hình sinh thái kết hợp ………20
Biểu đồ 1.2.Khung lý thuyết của nghiên cứu ……….22
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính của đối tượng nghiên cứu ……….32
Biểu đồ 3.2 Thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu ……… 33
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm thói quen sinh hoạt của đối tượng nghiên cứu ………… 34
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y thế giới (WHO) “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là chỉ không
có bệnh hay tàn phế”[52] Như vậy, sức khỏe tinh thần có vai trò rất quan trọng
Stress là vấn đề luôn tồn tại trong cuộc sống của con người, nó là một phần tất yếu và không thể tránh khỏi.Stress giúp con người chủ động ứng phó với các tác nhân từ môi trường sống đồng thời sẽ là động cơ thúc đẩy sự phát triển cá nhân, đó
là những stress có lợi [53] Tuy nhiên tình trạng stress với cường độ cao hoặc kéo dài hay lặp đi lặp lại nhiều lần có thể phá vỡ sự cân bằng sinh học của cơ thể con người, làm phát sinh thêm nhiều vấn đề sức khỏe về thể chất, tinh thần như trầm cảm, lo âu, …nặng sẽ dẫn tới các bệnh lý về tim mạch, hô hấp, tiêu hóa [38]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, hằng ngày điều dưỡng viênluôn phải tiếp xúc với một loạt các tình huống gây stress như khối lượng công việc lớn[11],[16] Họ luôn phải đối mặt với những tình huống cấp cứu, đa chấn thương, đôi khi còn chứng kiến nhiều trường hợp tử vong, trách nhiệm nặng nề; môi trường làm việc tiếp xúc với nhiều yếu tố gây hại (vi khuẩn, virus, nấm gây bệnh, hóa chất độc hại,…); thời gian làm việc liên tục, không kể ngày đêm hay ngày nghỉ lễ, chính những nguyên nhân này dẫn đến những áp lực, căng thẳng cho điều dưỡng viên[18]
Theo Lou và Shiau ước tính rằng stress gây ra một nửa tất cả các trường hợp
bỏ việc, giảm 40% doanh thu, và 5% tổng số lực lượng lao động làm giảm năng suất do stress (300 tỷ USD cho nền kinh tế Mỹ hàng năm) [47]
Tại Nam Phi,stresscủa điều dưỡng là do phong cách quản lý của cấp trên, phạm vi giới hạn cho công việc, điều kiện làm việc nghèo nàn, mối quan hệ giữa các cá nhân không tốt, giữa các bác sĩ và nhân viên điều dưỡng có nhiều xung đột (Makie, 2006) [49].Tại Hy Lạp nghiên cứu của Dimitra Chatzigianni trên 157 điều dưỡng làm tại các bệnh viện đa khoa cho thấy các điều dưỡng viên liên quan đến sự chịu đựng đau đớn và cái chết của người bệnh có mức độ stress cao nhất[36] Tại Ả Rập Xê Útnghiên cứu được thực hiện bởiAlenezi AM và Baker O (2018) cho thấy mức độ stress của điều dưỡng viên là khá cao nguyên nhân gây ra bởi khối lượng
Trang 112
công việc và thiếu sự hỗ trợ [29] Tác giả Hongxia Guo và cộng cự (2018) tại Trung Quốc nghiên cứu trên 1015 điều dưỡng cộng đồng từ 56 trung tâm chăm sóc sức khẻo cộng đồngcũng chỉ ra 5 yếu tố gây stress cho điều dưỡng viên trong đó nhiệm
vụ quá nhiều và môi trường làm việc thiếu nhân lực có mức độ stress cao nhất[40] Tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu trên đối tượng điều dưỡng vừa đi làm vừa
Tác giả Trần Thị Ngọc Mai (2013) nghiên cứu trên 299 sinh viên điều dưỡng lâm sàng hệ vừa làm vừa học tại Hà Nội chỉ ra quá tải công việc và chứng kiến cái chết của người bệnh là những tác nhân gây ra tình trạng stress cao nhất [11]
Hậu quả gây ra do stress là rất lớn.Tuy vậy các nghiên cứu trên nhóm đối tượng điều dưỡng vừa đi làm vừa đi học còn rất hạn chế không chỉ ở Việt Nam mà còn trên cả thế giới.Tại Hải Phòng cũng chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.Câu hỏi đặt ra cho nhóm nghiên cứu là tỷ lệ stress của điều dưỡng viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng là bao nhiêu? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng stress đó và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm giảm stress cho những điều dưỡng viên này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng stress của sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng stress của sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan tới stress của sinh viên điều dưỡng liên thông
hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018
Trang 134
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Stress ở điều dưỡng viên
1.1.1 Khái niệm về stress và stress nghề nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về stress
Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về sinh lý học nói về những thay đổi của cơ thể con người khi đau đớn, đói, sợ hãi và giận giữ của mình là Walter Bradford Cannon 1915 “Động vật phản ứng với các mối đe dọa và
sự kích thích của hệ thần kinh giao cảm, mồi động vật để chiến đấu hoặc chạy trốn”[34] Năm 1936, Hans Selye là nhà sinh lý học người Hung-ga-ri đã có công lớn trong việc chính thức đưa ra khái niệm stress một cách khoa học và được coi như cha đẻ của định nghĩa stress, theo Ông “Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng”[55] Hans Selyeđã sử dụng thuật ngữ stress để mô tả hội chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật, các nghiên cứu về sau của Hans Selye nhấn mạnh: “stress có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý”[55] Stress là phản ứng của cơ thể sống, là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ tác động nào, cũng theo ông stress có mặt lợi đó là kích thích tích cực, huy động sức mạnh để con người vượt qua khó khăn, nhưng cũng có mặt hại nếu quá mức đáp ứng của cơ thể, gây ra tình trạng ốm đau, bệnh lý, [55] Hans Selye đã nêu được bản chất sinh học của stress, tuy nhiên ông chưa đề cập đến khía cạnh tâm lý – xã hội của vấn đề này
Như vậy, có thể thấy stress được hiểu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu stress dựa trên định nghĩa của Hans Selye làm định hướng nghiên cứu chính cho đề tài này
1.1.1.2 Khái niệm về stress nghề nghiệp
Hans Selye đã từng nói “cuộc đời không có stress đó là cái chết” [54] Do đó, stress luôn song hành ở tất cả các phương diện của cuộc sống, đặc biệt nó luôn tồn tại cùng các hoạt động lao động của con người, bất kể lao động chân tay hay lao động trí óc Hiện nay, những yếu tố có nguy cơ cao gây stress nghề nghiệp và
Trang 14những ảnh hưởng của nó đối với sức khỏe con người cũng như hiệu quả công việc đang là vấn đề quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Theo tác giả Lê Trung định nghĩa rằng: “Stress nghề nghiệp là sự mất cân bằng giữa yêu cầu và khả năng lao động” [24]
Viện nghiên cứu sức khỏe và An toàn nghề nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ (NIOSH) năm 1999 cũng định nghĩa stress nghề nghiệp có thể là: những áp lực có hại về mặt cảm xúc và có thể xảy ra khi ta yêu cầu công việc không phù hợp với khả năng, nhu cầu và nguồn lực của người lao động Stress nghề nghiệp có thể dẫn tới sức khỏe kém và thậm chí là bị tổn thương [27]
1.1.2 Cơ chế sinh học của stress
Khi có hiện tượng stress xảy ra thì cơ thể có đáp ứng thông qua hệ thần kinh, nội tiết và thể dịch, riêng đáp ứng tức thì được điều hòa bởi hệ thần kinh thực vật, còn các đáp ứng trung gian được điều hòa bởi tuyến thượng thận, với đáp ứng dài hạn được điều hòa bởi hệ nội tiết và hệ miễn dịch Các đáp ứng này lại được kiểm soát bởi vùng hạ đồi.Hạ đồi cùng với hệ Limbic kiểm soát những chức năng cơ bản của cơ thể như ăn, uống nhưng chịu sự ảnh hưởng của vỏ não [1], [9], [20]
Hệ thần kinh thực vật của cơ thể con người bao gồm hệ giao cảm và hệ phó giao cảm Khi có các tác nhân gây stress, hệ giao cảm sẽ được hoạt hóa giúp cơ thể chuẩn bị ứng phó với các tác nhân bên ngoàilàmtăng nhịp tim, tăng sức co bóp của
cơ tim từ đó tăng cung lượng tim, đồng thời gây tăng hàm lượng oxy trong máu và tăng năng lượng cung cấp cho các cơ quan Đó là những đáp ứng tương đối tự động
và đã được lập trình về mặt sinh học để đáp ứng với những stress về thể chất và tâm
lý [1], [9]
Những đáp ứng tức thì xảy ra thông qua hệ thần kinh thực vật hay còn gọi là
hệ thần kinh tự trị Phản ứng cơ thể con người trước stress được duy trì bởi một cơ chế trung gian (đáp ứng trung bình) là sự phóng thích hai hoóc môn Epinephrine và Norepinephrine của tuyến tủy thượng thận ACTH (Adrenocorticotropic Hormone)
ở hệ thống dưới đồi – tuyến yên, được phóng thíchkích thích tuyến vỏ thượng thận, hai hoóc môn Epinephirne và Norepinephirne huy động đạm và mỡ từ các tổ chức
Trang 156
trong cơ thể đến gan để chuyển hóa thành đường glucose Hệ quả sau cùng của tác động này là tăng nhịp tim, tăng huyết áp, hô hấp, tăng đường huyết, cung cấp cho
cơ thể năng lượng cần thiết đáp ứng với các yếu tố stress
Những đáp ứng dài hạn xảy ra qua hệ nội tiết và hệ miễn dịch.Chúng điều hòa giai đoạn 3 của các biến đổi sinh lý trong đáp ứng với stress Bốn tuyến nội tiết bao gồm: tuyến yên, tuyến giáp, tuyến vỏ thượng thận và tuyến tụy nội tiết Khi cơ thể bị stress sẽ gây tăng tiết hoóc môn GH (Growth Hormone) từ tuyến yên làm tăng tiêu hao năng lượng và làm tăng đường huyết, đồng thời giải phóng ADH(Antidiuretic Hormone)tăng tái hấp thu nướcvào cơ thể để tăng khối lượng dịch trong cơ thể, việc này giúp bảo vệ cơ thể chống lại sự mất máu và làm tăng thể tích máu, tăng huyết áp Sự phóng thích hoóc môn Thyroxine từ tuyến giáp được kiểm soát bởi hoóc môn TSH (Thyroid-Stimualting Hormone) do tuyến yên tiết ra
có tác dụng làm tăng chuyển hóa và tăng sử dụng glucose Ngoài ra, thyroxine được tăng tiếtgiúp huy động các nguồn năng lượng sẵn có để cơ thể chuẩn bị các hoạt động ứng phó với stress, lúc này Insullin cũng được tuyến tụy tăng tiết giúp tăng đường huyết để chuẩn bị sẵn năng lượng cần thiết cho phản ứng của cơ thể với stress[1], [9]
1.1.3 Biểu hiện và mức độ của stress
1.1.3.1 Biểu hiện của stress
Stress thể hiện ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau rất đa dạng và phức tạp Khi người lao động bị stress trong công việc họ có những thay đổi cả về thể chất và tâm lý (nhận thức, cảm xúc, hành vi)
Biểu hiện về thể chất:Biểu hiện của stress về mặt thể chất rất đa dạng, phức
tạp nólà những thay đổi ở hệ thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu,… cụ thể như: tim đập nhanh, vã mồ hôi nhiều, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ, chán ăn hoặc ăn không ngon miệng, căng mỏi cơ bắp, đau nhức xương khớp, đau vùng dạ dày và buồn nôn,…[12],[9], [46]
Biểu hiện về mặt tâm lý: Những biểu hiện stress về mặt tâm lý thể hiện sự
thay đổi hoạt động của các quá trình nhận thức, xúc cảm và hành vi như: giảm sự
Trang 16tập trung, lơ đãng, hay quên, suy nghĩ kém linh hoạt, mệt mỏi về tinh thần và trí lực giảm sút, cảm giác về công việc bị áp lực đè nặng, tinh thần hoang mang, buồn chán, không hứng thú với công việc hay nói cách khác là sợ khi phải làm việc, làm việc uể oải chần trừ né tránh, thiếu linh hoạt giải quyết vấn đề, sai sót nhiều trong công việc, vì vậy dễ cáu gắt hay nổi khùng với những người xung quanh, có người lại biểu hiện gia tăng những hành vi có hại như: hút thuốc lá, uống rượu, ma túy,…ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, hủy hoại uy tín của bản thân, cũng như gia đình, cơ quan, tổ chức[8], [46]
1.1.3.2 Mức độ stress
Cho đến nay, có rất nhiều cách phân loại mức độ stress khác nhau:
Theo Đặng Phương Kiệt, stresscó 3 mức độ [9]:
Stressmức độ nhẹ: là mức độ chủ thể, có thể cảm nhận như một thách thức làm tăng thành tích trong công việc
Stressmức độ vừa: là mức độ phá vỡ những nguyên lý cơ bản của con người dẫn đến những biểu hiện không tốt lặp đi lặp lại nhiều lần
Stressmức độ nặng: là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ra những phản ứng lệch lạc gây tổn hại bản thân và người xung quanh
Cách phân loại này đã chỉ ra được dấu hiệu tâm lý của các mức độ stress
Theo Nguyễn Thị Hải[4], stressđược chia thành 3 mức độ như sau:
Mức độ ít trầm trọng: khi stress chỉ biểu hiện ở một mặt, không kéo dài, con người có thể tự khắc phục được
Mức độ trầm trọng: biểu hiện ở hai hay một số mặt, lặp đi lặp lại trong thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một thời gian nhất định
Mức độ rất trầm trọng: biểu hiện ở nhiều mặt, diễn ra rong thời gian dài, phải khắc phục trong thời gian rất dài
Tác giả Nguyễn Thành Khải [10] đưa ra cách phân loại stressthành 3 mức
độ dựa trên sự cảm nhận của chính chủ thể gồm:
Trang 178
Mức độ 1: rất căng thẳng, con người cảm nhận rất căng thẳng về tâm lý, đây
là trạng thái khó chịu của con người cảm nhận được và có nhu cầu được thoát khỏi
nó
Mức độ 2: căng thẳng, con người cảm nhận thấy có sự căng thẳng cảm xúc,
sự tập trung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhạy hơn, các chỉ số về sinh lý tăng mạnh Nếu trạng thái này kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang mức độ rất căng thẳng
Sự bền vững của mức độ này tùy thuộc vào mức độ và tính chất công việc hay tâm
lý của từng người
Mức độ 3: ít căng thẳng, ở mức độ này con người cảm nhận thấy bình thường hoặc căng thẳng nhẹ, mọi hoạt động tâm sinh lý diễn ra bình thường, sự thay đổi không đáng kể, cơ thể huy động năng lượng ở mức độ vừa phải
Theo Hans Selye, stresscó hai mức độ:
Mức độ eustress: là mức độ bình thường, là phản ứng thích nghi của cơ thể trước những tác nhân, đây là stress tích cực nó huy động khả năng tích cực của cơ thể để vượt qua tác nhân gây stress lấy lại sự cân bằng [55]
Mức độ distress: là mức độ stress bệnh lý, biểu hiện sự phản ứng thích nghi của cơ thể bị thất bại, con người không vượt qua được các tác nhân xấu gây ra tình trạng stress (biểu hiện ốm đau, bệnh tật,…) [55]
Cách phân loại stress của Hans Selye đã chỉ ra mức độ có lợi và có hại cho
cơ thể, dễ dàng đánh giá mức độ stress cũng như kết luận tình trạng stress trên đối tượng chúng tôi nghiên cứu.Đây là cách phân loại rất phù hợp với thực tế nghiên cứu của chúng tôi, giúp nhóm nghiên cứu phân loại được cụ thể stress trên điều dưỡng viên để từ đó tìm hiểu thêm về căn nguyên gây ra các tình trạng trên và có biện pháp can thiệp kịp thời Do vậy chúng tôi chọn cách phân loại theoHans Selye
1.1.4 Nguyên nhân gây stress
Có rất nhiều nguyên nhân, yếu tố gây ra stress Những nguyên nhân cơ bản gây ra stress được phân thành các nhóm như sau:
Nhóm nguyên nhân xuất phát từ điều kiện, môi trường làm việc:Đặc thù của
nghề nghiệp được xem là một nhân tố có nguy cơ cao gây stress như: những nghề
Trang 18có tính chất nguy hiểm, nghề liên quan đến tính mạng con người, nghề luôn luôn phải tiếp xúc với rất nhiều người, nghề mà môi trường làm việc luôn phải tiếp xúc với những mầm bệnh có thể lây truyền trực tiếp, đó là những nghề dễ gây stress cho người lao động[7], [26]
Nhóm nguyên nhân xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ công việc:Trong công việc
hằng ngày mỗi người đều có một nhiệm vụ riêng, nếu bản thân người đó không biết mình phải làm gì, hoặc không chắc chắn về những công cụ mình đang sử dụng cho công việc thì hậu quả dẫn đến tình trạng căng thẳng gây áp lực trong công việc, dễ gây stress[7]
Nhóm nguyên nhân xuất phát từ mối quan hệ giữa các cá nhân trong công việc:Các mối quan hệ cá nhân trong công việc như: sự quan tâm từ cấp trên với cấp
dưới, sự hỗ trợ chia sẻ từ đồng nghiệp sẽ làm cho nguy cơ stress giảm nhẹ[7], [11]
Nhóm nguyên nhân xuất phát từ sự phát triển nghề:Bất cứ ai khi bước chân
vào nghề đều mong muốn được làm việc ở một vị trí tốt, điều kiện làm việc tốt và
có cơ hội phát triển trong nghề nghiệp,…Tuy nhiên không phải ai cũng đạt được mong muốn đó, làm họ hụt hẫng, áp lực, nguy cơ stress rất cao[7]
Nhóm nguyên nhân xuất phát từ cơ cấu tổ chức:Các chính sách của tổ chức
(các quy định và thủ tục hành chính cứng nhắc, nhiều khi chưa hợp lý), cấu trúc tổ chức chưa phù hợp, sự luân chuyển nhân viên trái ngành nghề, thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác từ nhà quản lý,…là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng căng thẳng trong công việc của người lao động[7], [46]
Nhóm nguyên nhân xuất phát từ bản thân người lao động; điểm giao nhau giữa gia đình và nghề nghiệp:Một yếu tố chủ quan gây ra stress như: điều kiện sức
khỏe thể chất, đời sống xúc cảm, đặc điểm tính cách, vốn kinh nghiệm sống và kỹ năng giải quyết vấn đề, bên cạnh đó người lao động lại ít nhận được sự quan tâm giúp đỡ từ những người thân khi gặp khó khăn trong công việc, kinh tế sa sút, con cái đau ốm,… tất cả những điều đó góp phần làm tăng thêm sự mệt mỏi, chán nản, giảm động cơ và năng suất lao động [7], [46]
Trang 1910
Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân gây ra stress khác nhau, có thể bắt nguồn
từ môi trường làm việc, điều kiện làm việc, tính chất công việc, cơ cấu tổ chức trong cơ quan, hay nảy sinh từ bản thân người lao động Việc tìm hiểu nguyên nhân gây ra stress rất quan trọng giúp cho cá nhân và tập thể tìm ra giải pháp thích hợp để ứng phó, giải quyết phòng ngừa, giảm bớt sự căng thẳng trong quá trình lao động
1.1.5 Ảnh hưởng của stress
Ảnh hưởng tích cực:
Stressở mức độ vừa phải sẽ làm tăng sức chống đỡ và khả năng thích nghi của cơ thể với các tác nhân Con người cảm thấy phấn chấn, hăng hái, tích cực hơn trong công việc, đồng thời nâng cao khả năng ứng phó, giải quyết những tình huống khó khăn Chính nhờ vượt qua được stress đã làm con người tự tin hơn, vững vàng hơn trong công việc[35], [6]
Ảnh hưởng tiêu cực:
Stress chỉ gây hại khi cường độ mạnh, thời gian kéo dài vượt quá khả năng đáp ứng của cơ thể gây ra những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao động Stresscó thể khiến người lao động bị giảm sút về sức khỏe thể chất, ảnh hưởng trực tiếp lên cơ thể người lao động, biểu hiện qua các hoạt động của các cơ quan như: não, hô hấp, tim mạch, cơ xương khớp, thần kinh,…Đó là sự mệt mỏi về cơ bắp, đau xương cốt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ, đau ốm, các bệnh tật cũng vì thế mà gia tăng [24] Mặt khácstress còn ảnh hưởng đến tâm lý người lao động Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: trong quá trình làm việc, khi bị căng thẳng quá mức các thông số về trí nhớ, tư duy người lao động giảm một cách đáng kể Điều này dẫn đến những sai sót trong công việc gia tăng, chậm trễ, lúng túng trong công việc gây ra những tai nạn nghề nghiệp đáng tiếc Hơn thế nữa có những trường hợp thay đổi về hành vi, ứng xử: như nói quá nhiều hoặc lầm lì ít nói, trầm lặng xa lánh mọi người Ngoài ra còn có những trường hợp có hành vi bất cần trong công việc như: làm việc đối phó, bỏ bê công việc thậm chí là trốn tránh, hay phá hoại trong công việc[8], [6]
1.1.6 Stress của điều dưỡng viên trên thế giới và Việt Nam
Trang 201.1.6.1 Định nghĩa về nghề điều dưỡng
Hội điều dưỡng Mỹđã đưa ra định nghĩa: “Điều dưỡng là việc bảo vệ, thúc đẩy và tối ưu hóa sức khoẻ và khả năng phòng ngừa bệnh tật và thương tích, tạo điều kiện cho việc chữa bệnh, giảm đau thông qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng của con người trong việc chăm sóc cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và người dân” Định nghĩa này đã phản ánh rõ bản chất nghề nghiệp và các khía cạnh pháp luật về phạm vi thực hành của điều dưỡng và thể hiện xu hướng phát triển của ngành điều dưỡng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe[32]
1.1.6.2 Điều kiện lao động đặc thù của người điều dưỡng
Đối tượng hoạt động nghề nghiệp của người điều dưỡng
Hiện nay xã hội ngày một phát triển, đời sống của người dân ngày một nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần Vì vậy nhu cầu chăm sóc sức khỏe của con người càng được quan tâm hơn trước.Người điều dưỡng được tiếp xúc và làm việc với rất nhiều người ở mọi lứa tuổi, nhiều ngành nghề, và cả những người bị tước quyền công dân
Môi trường làm việc của Điều dưỡng
Ở mỗi vị trí làm việc của điều dưỡng đều mang tính chất đặc thù Song môi trường làm việc của các điều dưỡng đều có đặc điểm chung là thường xuyên tiềm
ẩn các yếu tố không tốt đến sức khỏe: thiếu không khí, nhiều vi khuẩn, virus, nấm bệnh và bức xạ ion hóa,… Hơn nữa nhân viên y tế nói chung, nhân viên điều dưỡng nói riêng có cường độ làm việc rất cao, trách nhiệm công việc lớn, khối lượng công việc nhiều, thời gian làm việc thường kéo dài và căng thẳng [14], [15]
Theo Tổ chức An toàn và sức khỏe Châu Âu: các điều kiện làm việc như thông gió kém, ánh sáng và các mức nhiệt độ không đầy đủ là một trong những yếu
tố gây căng thẳng liên quan đến công việc (theo trích dẫn của Εleni Moustaka [50])
Trong lĩnh vực này, Gray-Toft và Adderson tập trung vào những tình huống căng thẳng cụ thể cho điều dưỡng, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của họ, khi họ phát triển thang đo stress (NSS), xác định ba nguồn stress từ: vật lý, tâm lý và xã hội môi trường[39] Học tập nâng cao trình độ cũng là một nhiệm vụ không thể
Trang 2112
thiếu của mỗi điều dưỡng viên hiện nay, đặc biệt là những điều dưỡng viên vừa làm vừa học, họ vừa phải chịu áp lực từ công việc vừa phải chịu áp lực từ việc học hành vất vả trên ghế nhà trường
Như vậy, có thể thấy được rằng những người đang theo học cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm vừa học, ngoài gánh nặng trong công việc, họ còn phải chịu không ít những căng thẳng trong học tập (như đảm bảo đầy đủ giờ lên lớp, ôn tập để thi,…) Do đó, rất nhiều người trong số họ không tránh khỏi những căng thẳng và
có thể lâm vào trạng thái stress
1.1.6.3 Stress ở điều dưỡng viên
Mỗi cá nhân, mỗi ngành nghề có một đặc thù riêng kéo theo đó là những áp lực trong công việc riêng Làm việc trong lĩnh vực y tế nói chung và lĩnh vực điều dưỡng nói riêng luôn luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây áp lực và căng thẳng Bản thân người điều dưỡng luôn đối mặt với những tình huống đặc biệt, phức tạp đôi khi
là khẩn cấp Stress của người điều dưỡng được tích lũy từng ngày, ban đầu bản thân
họ phải thích nghi nhưng khi stress phát triển quá mức vượt quá khả năng thích nghi của cơ thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như: kiệt sức, giảm năng suất làm việc, làm ảnh hưởng tiêu cực cả về thể chất và tinh thần của điều dưỡng viên Theo nghiên cứu của Paille chỉ ra stress là yếu tố góp phần chính cho sự kiệt sức và tương quan tích cực với ý định từ chức (theo trích dẫn của Lin Tao [57])
1.1.6.4 Nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố làm gia tăng stress của điều dưỡng
(1) Theo nghiên cứu của Essmat Mansour và cộng sự (2014)nghiên cứu stress liên quan đến công việc và tác động của nó đến sự hài lòng công việc của điều dưỡng Nghiên cứu khảo sát 60 người đang làm việc tại ICU của cả người lớn
và nhi khoa tại King Saud Medical Complex và 40 người làm việc trong phòng lao động tại bệnh viện phụ sản Al-Yamamah bằng bảng câu hỏi stress điều dưỡng (NSS Gray –Toft & Anderson, 1981) Kết quả của nghiên cứu cho thấy gần một nửa sốđiều dưỡng (49%) cảm thấy được sựstress thường xuyên, trong khi chỉ 7% nhận
Trang 22thấy cực kỳ căng thẳng và 35% cảm thấy đã hài lòng Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa mức độ stress và mức độ hài lòng công việc đã được tìm thấy trong nghiên cứu này (p = 0,009) Tuy nhiên nghiên cứu cũng gặp phải hạn chế do một số điều dưỡng làm ở khoa hồi sức từ chối tham gia nghiên cứu và một
số điều dưỡng bị nhớ nhà do chuyển từ nơi khác đến để làm việc gây ảnh hưởng tới nguyên nhân gây stress[37]
(2) Nghiên cứu cắt ngang mô tả của Samar M Kamal và cộng sự khảo sát
148 điều dưỡng chỉ ra rằng “thường xuyên stress” của điều dưỡng xuất hiện ở hầu hết các trường hợp stress do ứng xử với người bệnh và gia đình người bệnh, điều dưỡng cảm thấy ít stress hơn khi chuẩn bị không đầy đủ kiến thức để giúp đỡ với các nhu cầu tình cảm của người bệnh và gia đình của họ ở mức độ “thỉnh thoảng stress” Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa nhận thức liên quan đến stressvà sự hài lòng công việc giữa các điều dưỡng với (Pearson correlation = - 437, P <0,05) Nghiên cứu không đề cập đến hạn chế của nghiên cứu [44]
(3) Nghiên cứu tổng quan củaΕleni MoustakavàTheodoros C Constantinidis nhằm tìm hiểu một số khía cạnh của cuộc sống làm việc có liên quan đến stress Kết quả chỉ ra rằng đã có sự gia tăng nhận thức vềstresscủa nhân viên điều dưỡng bệnh viện phát sinh từ các khía cạnh vật lý, tâm lý và xã hội của môi trường làm việc Mức độ căng thẳng cao dẫn đến kiệt sức và năng suất của điều dưỡng và ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc người bệnh[50]
(4) Nghiên cứu khám phá mức độ stress ở các điều dưỡng đã có chứng chỉ
hành nghề tại Philippines sử dụng thang đo stress điều dưỡng mở rộng (Expanded Nursing Stress Scale-ENSS) chỉ ra rằng “thỉnh thoảng stress và thường xuyên stress” là dothiếu sự ủng hộ từ chính phủ, thiếu thời gian để hoàn thành công việc điều dưỡng, thiếu sự dự đoán và lập kế hoạch, bác sĩ không có mặt khi cấp cứu, nhu cầu người bệnh chưa hợp lý[31]
1.1.6.5 Nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa có thống kê trong cả nước tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng stress đang ngày càng tăng cao
Trang 23(2) Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Liên Hương khảo sát tình trạng căng thẳng và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến căng thẳng ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2015 cho thấy tỷ lệ căng thẳng của điều dưỡng là 18,5% Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa căng thẳng của điều dưỡng và các yếu tố như: tham gia công tác quản lý, mối quan hệ với đồng nghiệp, và mâu thuẫn với cấp trên[22]
(3) Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy (2011) đánh giá trạng thái stress trên đối tượng nhân viên y tếkhối lâm sàng tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội Nghiên cứu trên 120 nhân viên y tế kết quả thu được có 36,9% nhân viên y tế có biểu hiện stress, 41,5% biểu hiện lo âu và 15,3% có biểu hiện trầm cảm [21]
(4) Theo Trần Thị Ngọc Mai (2013) nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng thang đoNursing stress scale (NSS) tiến hành trên 299 sinh viên điều dưỡng đang học hệ vừa học vừa làm cho thấy nhóm tác nhân liên quan đến cái chết và sự chịu đựng đau đớn của người bệnh và quá tải công việc là những yếu tố gây mức độstress và tần suất cao nhất có mức độ stress lần lượt là 2,37 tần suất 0,83 và 2,52 tần suất 1,51 Các điều dưỡng làm ở khoa cấp cứu có tần suất mắc stress cao hơn điều dưỡng làm ở các khoa khác[11]
Trang 24Vấn đề stress ở nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng viên nói riêng đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu những yếu tố gây stress ở sinh viên điều dưỡng liên thông đang học hệ vừa làm vừa học ở Việt Nam thì còn rất hạn chế Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu nhiều hơn, sâu hơn trên đối tượng này để tìm hiểu những yếu tố nguy cơ gây stress ở nhóm đối tượng này, để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp phòng ngừa stress tốt nhất góp phần bảo vệ, duy trì và nâng cao sức khỏe cho đội ngũ lao động trong ngành Y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng
1.2 Một số yếu tố liên quan đến stresscủa điều dưỡng viên
1.2.1 Yếu tố nghề nghiệp
Các nhóm yếu tố liên quan đến nghề nghiệp gây ra stress cho điều dưỡng viên gồm: điều kiện lao động, vai trò lao động, môi trường lao động và các yếu tố liên quan giữa cá nhân với nhau [3], [9] Stressliên quan đến điều kiện, vài trò trong lao động: quá tải trong công việc, làm việc ca kíp, sự hứng thú trong công việc, các mức độ động viên khuyến khích [16]
Làm việc ca kíp, trực đêm cùng với áp lực về thời gian làm việc chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng stress trong công việc thường gây mệt mỏi và buồn ngủ cho điều dưỡng viên khiến họ không tập trung, dễ mắc lỗi và hay xảy ra tai nạn, điều này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng sức khỏe như bệnh tim mạch hoặc rối loạn tiêu hóa [2] Trong nghiên cứu của Trần Thị Thúy đã chỉ ra số buổi trực ≥4 buổi/tháng là yếu tố nguy cơ làm tăng tình trạng stresscủa điều dưỡng [21] Cũng theo Lê Thành Tài (2008) khảo sát 378 điều dưỡng viên tại Cần Thơ và Hậu Giang
có mối liên quan giữa làm việc quá tảivới tình trạng stress[16]
Trong nghiên cứu của Sharifah Zainiyah SY và cộng sự cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ stressvà bộ phận làm việc khác nhau giữa các nhân viên điều dưỡng [56] Nhóm tác giả Magnavita N và Fileni A cũng chỉ ra mốiliên quan giữa vị trí làm việc và nguy cơ mắc các rối loạn sức khỏe tinh thần[48]
Trang 2516
Quá tải công việc hiện nay đang là vấn đề cấp thiết của ngành y tế cần giải quyết Đây là lý do dẫn đến tình trạng stress của điều dưỡng liên quan đến lượng (số lượng người bệnh phải chăm sóc hằng ngày) và chất (mức độ yêu cầu, đòi hỏi chính xác trong công việc) Nghiên cứu của Dương Thành Hiệp cho kết luận điều dưỡng làm việc với áp lực công việc lớn thì có nguy cơ bị stress cao gấp 2,53 so với nhóm đối tượng làm việc ít áp lực [5]
Hứng thú trong công việc là yếu tố cần thiết để đảm bảo người điều dưỡng gắn bó với công việc và hoàn thành tốt công việc được giao.Tuy vậy, khi phải làm những việc không đúng chuyên môn hay không đúng sở trường đó sẽ là những trở ngại cho điều dưỡng viên.Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng đối với điều dưỡng viên thì cảm nhận ít hứng thú với công việc là yếu tố làm tăng tình trạng stress.Theo Trần Thị Thúy điều dưỡng viên cảm nhận không/ít hứng thú với công việc có nguy
cơ bị SNN cao gấp 4,2 lần so với những điều dưỡng viên cảm thấy hứng thú với công, còn trong nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết nguy cơ đó là 13,4 lần [21], [19]
Không riêng ngành y tế mà tất cả các ngành nghề, người lao động mong muốn được học hỏi và nâng cao trình độ, có môi trường làm việc tốt Khi những mong muốn đó không được đáp ứng sẽ dẫn đến tâm lý chán nản với công việc và không hoàn thành nhiệm vụ được giao Nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần, và
Lê Thành Tài cũng chỉ ra mức độ hài lòng với công việc, cơ hội thăng tiến trong công việc có liên quan đến tình trạng stresscủa nhân viên y tế[16], [23]
Mỗi đơn vị đều có vị trí cụ thể cho từng nhân viên, nhưng tại một đơn vị nào
đó bản thân điều dưỡng không nắm được vai trò, nhiệm vụ của mình hoặc không biết phải hoàn thành những nhiệm vụ, công việc đó như thế nào Hậu quả của tính không rõ ràng trong vai trò sẽ bao gồm thành tích thấp kém, ít được toại nguyện với công việc, stressở mức độ cao và có ý muốn dời bỏ công việc hiện tại [9] Nghiên cứu của Lê Thành Tài chỉ ra khi điều dưỡng viên không được phân công rõ ràng trong công việc sẽ gặp tình trạng stresscao hơn [16]
Điều dưỡng là ngành nghề có nhiều yếu tố nguy hại, thường xuyên làm việc trong môi trường thiếu sáng, nhiều mầm bệnh và ồn àogây ảnh hưởng đến sức khỏe
Trang 26Có nhiều đề tài đã chỉ ra những mối nguy hại này thường gây ra tình trạng stress cho điều dưỡng viên Nghiên cứu của Mai Hòa Nhung chỉ ra việc nhân viên có cảm nhận tiếp xúc thường xuyên với yếu tố độc hại trong môi trường làm việc có nguy
cơ bị stress cao gấp 7,8 lần so với những điều dưỡng không bao giờ/thỉnh thoảng tiếp xúc [15] Theo Dương Thành Hiệp điều dưỡng viên làm việc trong môi trường không tốt có nguy cơ bị căng thẳng cao hơn so với đồng nghiệp khác Cụ thể, nguy
cơ bị stress cao hơn do làm việc trong môi trường ồn ào là 2,29 lần, nhiệt độ cao là 1,71, thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại là 2,82 lần, tiếp xúc với nguy cơ truyền nhiễm bệnh cao là 1,69 lần, nguy cơ cao tổn thương bởi vật sắc nhọn là 2,25 lần [5]
Stressdo các mối quan hệ trong công việc (mối quan hệ giữa các đồng nghiệp trong đơn vị, quan hệ với cấp trên và mối quan hệ với người bệnh, người nhà người bệnh): mối quan hệ cá nhân trong công việc đóng vai trò quan trọng cho sự toại nguyện nghề nghiệp [9] Theo nhóm tác giả Lê Thành Tài chỉ ra việc thường gặp phản ứng của người bệnh và người nhà người bệnh; mâu thuẫn với đồng nghiệp, cấp trên là những yếu tố có liên quan đến tình trạng stresstrong nhân viên điều dưỡng [16] Đặc biệt, trong nghiên cứu của Mai Hòa Nhung đã chỉ rõ mối quan hệ với cấp trên không tốt có nguy cơ bị stresscao gấp 2,4 lần so với những điều dưỡng
có mối quan hệ tốt với cấp trên [15] Còn trong nghiên cứu của Dương Thành Hiệp, nguy cơ bị stress của điều dưỡng do mối quan hệ không tốt với cấp trên là 1,93 lần thường xuyên gặp thái độ không tốt của người bệnh, người nhà người bệnh là 2,23 lần [5]
1.2.2 Yếu tố cá nhân, gia đình, môi trường sống
Ngoài các yếu tố kể trên thì yếu tố cá nhân cũng đóng góp một phần rất lớn đến tình trạng stress của điều dưỡng viên Trong 02 nghiên cứu của tác giả Mai Hòa Nhung và nghiên cứu của Dương Thành Hiệp thì tuổi và thâm niên công tác là các yếu tố nguy cơ làm tăng tình trạng stress của nhân viên điều dưỡng Theo tác giả điều dưỡng ≤30 tuổi có nguy cơ bị stress lần lượt cao gấp 6,6 lần và 2,28 lần so với các điều dưỡng trên 30 tuổi Thời gian làm việc ≤10 năm có nguy cơ bị stress lần
Trang 27so với điều dưỡng đang không phải chăm sóc con nhỏ[5] Tác giả Nguyễn Văn Tuyên thì chỉ ra rằng có mối liên quan giữa hoạt động thể lực và tình trạng stresscủa điều dưỡng viên có ý nghĩa thống kê [18]
Cùng với yếu tố cá nhân, các nghiên cứu cũng xét đến các yếu tố môi trường gia đình, xã hội và tình trạng stress củađiều dưỡng viên Nghiên cứu của tác giả Mai Hòa Nhung chỉ ra mối liên quan giữa tình trạng tắc đường, tai nạn giao thông với trộm cắp, cướp giật có liên quan đến stress trong điều dưỡng viên lâm sàng Cụ thể những điều dưỡng thường xuyên gặp tình trạng tắc đường, tai nạn giao thông và thường xuyên bị trộm cắp tại khu vực sinh sống có nguy cơ stress lần lượt cao gấp 2 lần và 2,7 lần [15]
1.3 Đánh giá stress
Trên thế giới, đến nay đã có nhiều nghiên cứu về stress ở nhiều lĩnh vực khác nhau và một số bộ công cụ đã được ứng dụng giúp hỗ trợ chẩn đoán như: Bộ câu hỏi đánh giá stress của David Fontana; chỉ số đánh giá stress của Belkic (OSI); bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp (JSQ); bảng câu hỏi stress học tập (ASQ) được đưa ra bởi Abouserie; thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS
42 và DASS 21) Tại Việt Nam, các nghiên cứu về stress còn chưa nhiều và chủ yếu
sử dụng bộ câu hỏi đánh giá stress của David Fontana và thang đánh giá stress, lo
âu, trầm cảm của Lovibond Trong đó, thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của
Lovibond (DASS 42 và DASS 21) được Viện sức khỏe tâm thần quốc gia dịch và
đã được xác nhận như một công cụ sàng lọc stress, lo âu và trầm cảm ở Việt Nam trong nghiên cứu thuần tập dựa vào cộng đồng phụ nữ nông thôn miền Bắc Việt Nam bởi Trần Đức Thạch, Trần Tuấn và Jane Fisher [58]
Trang 28Nursing stress scale (NSS) là thang đo đã được chứng minh là một bộ công
cụ có giá trị và đáng tin cậy để đánh giá yếu tố gây stress của các điều dưỡng mà rất nhiều tác giả trên thế giới đã sử dụng trong các nghiên cứu như: Kamal SM (2012) [44], ALnems Ayman (2005)[30] Nursing stress scale phiên bản tiếng Anh đã được dịch sang tiếng Việt và được sử dụng trong các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà (2011) [42] và Trần Thị Ngọc Mai (2013) [11] Để phù hợp với ngành nghề nghiên cứu chúng tôi chọn thang đo NSS để sử dụng trong nghiên cứu này
1.4 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ: (Risk and Protective factor framework)
Khung lý thuyết yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ được Robert W Blum và cộng sự tại
Tổ chức Y tế thế giới phát triển năm 2005 [33], [45]
Yếu tổ nguy cơ: Yếu tố bảo vệ, kháng cự (Resilience)
Yếu tố tổng thể, bao trùm Chức năng xã hội
Stress Các rắc rối, phiền nhiễu Chức năng nhà trường
Những chuyển trạng thái tới hạn Chức năng nhận thức
Mô hình sinh thái kết hợp (Ecological interactive model): Mô hình sinh thái
kết hợp của Urie Bronfenbrenner là một mô hình trong nghiên cứu phát triển con người, được áp dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau về hành vi liên quan đến sức khỏe Mô hình này là khung lý thuyết khái quát, xem xét chủ yếu các yếu tố nguy cơ tác động tới hành vi sức khỏe ở các cấp độ khác nhau với sự tương tác của yếu tố cá nhân, gia đình, môi trường và kinh tế xã hội [43]
Trang 2920
Sơ đồ 1.1 Mô hình sinh thái kết hợp
Cùng với tổng quan tài liệu và dựa trên khung lý thuyết về “Yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ” (Risk Protective factor) và mô hình sinh thái kết hợp (Ecological interactive model), nhóm nghiên cứu đưa ra mô hình khung lý thuyết cho vấn đề stress nghề nghiệp nhân viên điều dưỡng đang học hệ cử nhân vừa làm vừa học tại trường Đại học Y dược Hải Phòng bao gồm:
Yếu tố cá nhân: Tuổi, giới, tuổi nghề, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân,
tham gia quản lý, hút thuốc lá, uống rượu bia, hoạt động thể lực, tình trạng sức khỏe của bản thân
Yếu tố nghề nghiệp: nội dung công việc, mức độ khuyến khích, môi trường
làm việc, học tập và các mối quan hệ trong công việc, bất đồng với điều dưỡng, bất đồng với bác sĩ, tiếp xúc với hóa chất độc hại, tiếp xúc với vi khuẩn
- Việc làm
- Quan hệ đồng nghiệp
Kinh tế
Số thành viên Hôn nhân Môi trường nhà trường
- Tuổi
- Giới tính
- Thâm niên
- Thói quen sinh hoạt
Trang 30Yếu tố thuộc về gia đình, xã hội: nguồn thunhập, chăm sóc trẻ nhỏ, người
già, tình trạng kẹt xe
Trang 3122
Trang 321.5 Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu
1.5.1 Đại học Y Dược Hải Phòng
Đại học Y Dược Hải Phòng được thành lập từ tiền thân là phân hiệu của trường Đại học Y Hà Nội.Ngày 25/01/1999 Phó thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm đã ký quyết định số 6/1999/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Y Hải Phòng.Ngày 11/11/2013 Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã ký quyết định đổi tên trường thành trường Đại học Y dược Hải Phòng Tính đến thời điểm này, trường đã đào tạo được tất cả các mã ngành Y dược chính và quy mô gần
6000 sinh viên đang theo học Sau gần 40 năm hình thành và phát triển trường đang vươn mình ra thế giới để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về giảng dạy cũng như chuyên môn Nâng cao trình độ ngoại ngữ của cán bộ giảng viên cũng như sinh viên trong trường và thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đóng góp thành tựu cho nền y học nước nhà, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân trong khu vực
1.5.2 Ngành Điều dưỡng – Đại học Y Dược Hải Phòng
Khoa Điều dưỡng trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã trải qua 9 năm hình thành và phát triển (2009 – 2018).Hiện nay, khoa có 5 bộ môn và 1 đơn vị trực thuộc bao gồm: bộ môn điều dưỡng cơ bản, bộ môn điều dưỡng cộng đồng, bộ môn điều dưỡng người lớn, bộ môn điều dưỡng trẻ em, bộ môn điều dưỡng sản và đơn vị trực thuộc là Skillab Chương trình đào tạo gồm cử nhân điều dưỡng chính quy, cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm vừa học theo chương trình đào tạo tín chỉ Số lượng sinh viên điều dưỡng hệ vừa làm vừa học hiện đang theo học tại trường Đại học Y Dược Hải Phòng là 287 sinh viên
1.5.3 Sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học
Sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học là những điều dưỡng viên hiện đang công tác tại các cơ sở y tế được cử đi học để nâng cao trình độ lên bậc đại học, tuy nhiên vẫn tham gia các công việc của khoa, phòng nơi làm việc.Hình thức đào tạo tập trung 12 tuần trong 01 học kỳ, sau đó quay lại cơ quan
để làm việc.Thời gian đào tạo 4 năm.Mặc dù trong thời gian học tập trung các sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học đôi khi vấn tham gia trực đêm tại cơ
Trang 3324
sở y tế hoặc làm việc vào các ngày nghỉ cuối tuần.Hầu hết những sinh viên này đều sinh sống và làm việc tại Hải Phòng và các tỉnh, thành phố gần thành phố Hải Phòng
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ 287 điều dưỡng viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018
*Tiêu chuẩn lựa chọn
Là điều dưỡng viên đã làm tại các cơ sở y tế có người bệnh trước đó
Hiện là sinh viên điều dưỡng bậc đại học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018
Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 1/2018 đến 9/2018 tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.4.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Toàn bộ sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng trong thời gian nghiên cứu do vậy chúng tôi không tính cỡ mẫu Thực tế chúng tôi phỏng vấn được 266 điều dưỡng viên, đủ điều kiện và đồng
ý tham gia nghiên cứu
2.5.Công cụvà phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi (Phụ lục 2) Gồm 2 phần
Phần 1: Thông tin chung
Phần 2: Đánh giá tình trạng stress bằng bộ công cụ Nursing stress scale Gồm
35 câu hỏi liên quan đến các đặc điểm cá nhân và nghề nghiệp được tham khảo từ các nghiên cứu trước đây [11], [2], [15][14] Hệ số tin cậy tính bằng Cronbach’s alpha được tìm thấy là 0,86 Bộ công cụ đánh giá mức độ thường xuyên và mức độ căng thẳng trong các tình huống hay gặp trong thực hành điều dưỡng, nhằm đánh giá thực trạng stress nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu Phần này gồm có 35
Trang 3526
tình huống gây stress (tác nhân stress) hay gặp nhất trong công việc của điều dưỡng, được chia làm 7 nhóm tác nhân chính:
(1) Nhóm các tác nhân gây stress liên liên quan đến chứng kiến cái chết và
sự chịu đựng của người bệnh (7 tác nhân)
(2) Nhóm các tác nhân gây stress liên quan đến sự bất đồng với bác sĩ (4 tác nhân)
(3) Nhóm các tác nhân gây stress liên quan đến kiến thức và sự chuẩn bị của bản thân (3 tác nhân)
(4) Nhóm tác nhân gây stress liên quan đến mối quan hệ trong công việc (5 tác nhân)
(5) Nhóm các tác nhân gây stress liên quan đến điều dưỡng cấp trên (2 tác nhân)
(6) Nhóm các tác nhân gây stress liên quan đến khối lượng công việc (7 tác nhân)
(7) Nhóm các tác nhân gây stress liên quan đến việc điều trị (7 tác nhân) Mỗi tác nhân được đối tượng tự đánh giá về mức độ gây stress theo Gray-Toft [39]
và mức độ thường xuyên gặp tác nhân đó theo mức điểm cho trước
Trang 36Khá căng thẳng: là tình trạng căng thẳng thường xuyên và kéo dài Đến thời điểm nào đó khi cơ thể con người không thể đáp ứng lại sẽ dẫn đến tình trạng rất căng thẳng gây khó chịu và ảnh hưởng đến cuộc sống và sức lao động
Rất căng thẳng: ở mức này, cơ thể cảm nhận thấy rất căng thẳng về tâm lý, con người rơi vào trạng thái khó chịu và luôn muốn thoát khỏi nó
2.5.2 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu
Bộ công cụ đánh giá mức độ stress của điều dưỡng viên Nursing Stress Scale (NSS) là bộ công cụ với bản gốc là Tiếng Anh và đã được dịch sang Tiếng Việt Các chuyên gia sau đó đã thử nghiệm trên 35 đối tượng và kết quả Cronback alpha
là 0,86 Bộ công cụ này đã xin phép quyền tác giả Trần Thị Ngọc Mai tại Hà Nội được sử dụng và cùng trên đối tượng sinh viên điều dưỡng liên thông hệ vừa làm vừa học [11]
2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn bằng phiếu tự điền
Liên hệ Ban Giám Hiệu, phòng đào tạo trường Đại học Y Dược Hải Phòng đồng ý tham gia nghiên cứu.Xin danh sách tất cả điều dưỡng viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Y Dược Hải Phòng
Liên hệ với giáo viên chủ nhiệm, ban cán sự các lớp sinh viên vừa làm vừa học và hẹn gặp lớp để trao đổi về nghiên cứu sẽ làm
Lựa chọn địa điểm phỏng vấn, sắp xếp mỗi nhóm phỏng vấn gồm 3 nghiên cứu viên và 25 – 30 điều dưỡng viên
+ Nhóm nghiên cứu giới thiệu bộ câu hỏi tự điền và hướng dẫn cách điền phiếu, giải thích các nội dung trên phiếu trả lời
Trang 372.6.Biến số trong nghiên cứu
Được chia làm 3 nhóm biến số:
Nhóm 1: Thông tin chung
Nhóm 2: Các yếu tố liên quan (yếu tố nghề nghiệp, yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, môi trường)
Nhóm 3: Stress (nhóm tác nhân gây stress liên quan đến chứng kiến cái chết; bất đồng với bác sĩ; kiến thức và sự chuẩn bị của bản thân; mối quan hệ trong công việc; bất đồng điều dưỡng cấp trên; khối lượng công việc; liên quan đến điều trị)
Bảng 2.1Định nghĩa các biến số nghiên cứu
biến
Cách thu thập Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Tuổi Được tính bằng cách lấy năm
2017 trừ đi năm sinh Rời rạc
Phát vấn
Tuổi nghề (tại bệnh viện) Số năm từ khi bắt đầu công tác tại
bệnh viện đến năm 2018
Liên tục
Giới tính Giới tính được thừa nhận trên khai
sinh
Nhị phân
Trang 38Đơn vị công tác Cơ quan đang làm việc mục
Khối làm việc Khoa phòng đang làm việc
Tình trạng hôn nhân Tình trạng đăng ký kết hôn của
NVYT
Trình độ học vấn Bậc học cao nhất theo phân chia
của Bộ giáo dục Đánh giá về sức khỏe bản
thân
Đánh giá về tình trạng sức khỏe của bản thân
Môi trường gia đình và xã hội
Tổng thu nhập/tháng Tổng số tiền thu được trong 1
tháng
Liên tục
Phát vấn
Phải chăm sóc con, trẻ <5
tuổi Gia đình có trẻ <5 tuổi
Nhị phân
Phải chăm sóc ông/bà,
bố/mẹ bị bệnh tật
Gia đình có người già/bệnh cần chăm sóc
Tình trạng kẹt xe, tắc
đường, tai nạn giao thông
Tình trạng kẹt xe, tắc đường, tai nạn giao thông trên đường đi làm
Công việc, mức độ khuyến khích
Có trực tiếp chăm sóc
người bệnh Có trực tiếp chăm sóc người bệnh
Nhị phân
Phát vấn
Trang 3930
Công việc phù hợp với
chuyên môn
Sự phù hợp giữa trình độ đào tạo
và công việc hiện tại
Làm thêm ngoài giờ Làm các ngoài giờ hành chính để
kiếm thêm thu nhập Tham gia vào công tác
quản lý
Tham gia vào quản lý tại các bộ phận
Được bệnh viện tạo điều
kiện cho học tập nâng cao
trình độ
Cơ hội được tạo điều kiện học tập
từ phía bệnh viện
Môi trường làm việc
Làm việc trong môi
trường có tiếng ồn quá
mức
Mức độ tiếp xúc với cường độ ồn quá mức
Nhị phân
Phát vấn
Làm việc trong môi
trường có nhiệt độ quá
trường độc hại
Mức độ làm việc thường xuyên trong môi trường có yếu tố độc hại (hóa chất, tia X,…)
Làm việc trong môi
trường lây nhiễm
Mức độ thường xuyên làm việc với nguy cơ gây bệnh từ người bệnh
Vừa học vừa làm gây áp
lực
Cảm nhận thấy căng thẳng, luôn muốn có thời gian nghỉ ngơi, thời gian cho gia đình Không đạt kết
Trang 40quả tốt trong học tập và hiệu quả công việc không cao, độ tập trung thấp
Thời gian dành cho học
Liên tục
Thời gian làm việc tại cơ
quan
Tổng thời gian làm việc tại cơ quan một ngày
Số giờ ngủ Tổng số giờ ngủ một ngày
Chi phí học hành Ai chi trả chi phí học hành Danh
mục
bậc
Phát vấn
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá stress
Tự đánh giá stress gồm có 5 mức, mỗi câu hỏi tối đa là 4 điểm và được chia thành 5 khoảng Để đánh giá stress gồm có 7 lĩnh vực: khối lượng công việc (28 điểm), mối quan hệ trong công việc (20 điểm), bất đồng điều dưỡng cấp trên (8 điểm), liên quan đến điều trị (28 điểm), liên quan đến cái chết (28 điểm), bất đồng bác sỹ (16 điểm), kiến thức và chuẩn bị bản thân (12 điểm) Điểm stress chung gồm
35 câu hỏi (140 điểm) được chia thành các mức stress như sau:
0 – 28 điểm : Không stress
29 – 56 điểm: Stress nhẹ
57 – 84 điểm: Stress trung bình
85– 112 điểm: Khá stress
113–140: Rất stress
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
Các phiếu đã được kiểm tra và nhập bằng phần mềm SPSS 16.0, được nhập 2 lần để đảm bảo tính chính xác và được làm sạch số liệu trước khi phân tích.Phần mềm SPSS 16.0 được dùng để phân tích Nghiên cứu sử dụng test Kolmogorov-