BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ THỰC TRẠNG MỆT MỎI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN CÓ LỌC MÁU CHU K
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
THỰC TRẠNG MỆT MỎI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN CÓ LỌC MÁU CHU KỲ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN Ở THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH NĂM 2017
Nam Định, tháng 11 năm 2017
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO TỔNG KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ
SỞ
THỰC TRẠNG MỆT MỎI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN CÓ LỌC MÁU CHU KỲ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN Ở THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH NĂM 2017
Tên chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Dung
Nam Định, tháng 11 năm 2017
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thu nhập bình quân, tham gia bảo
hiểm y tế, nơi cư trú 28
Bảng 4.2 Đặc điểm về tình trạng lọc máu của người bệnh 29
Bảng 4.3 Điểm trung bình về mệt mỏi của NB 30
Bảng 4.4 Liên quan giữa đặc điểm của người bệnh và tình trạng mệt mỏi 31
Bảng 4.5 Liên quan giữa tình trạng lọc máu và tình trạng mệt mỏi 33
Bảng 4.6 Liên quan giữa trầm cảm và tình trạng mệt mỏi 34
Bảng 4.7 Liên quan nhận hỗ trợ xã hội và tình trạng mệt mỏi 34
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Khung nghiên cứu mệt mỏi ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu
chu kỳ ……… 20
Biểu đồ 4.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới 26
Biểu đồ 4.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi 26
Biểu đồ 4.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 27
Biểu đồ 4.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ văn hóa 27
Biểu đồ 4.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân 28
Biểu đồ 4.6 Phân loại mức độ mệt mỏi 31
Trang 6MỤC LỤC
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về bệnh suy thận mạn 3
2.2 Một số phương pháp điều trị suy thận mạn hiện nay 9
2.3 Tổng quan về mệt mỏi ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ 12
2.4 Khung lý thuyết 18
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 20
3.4 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin 21
3.5 Các biến nghiên cứu 23
3.6 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn đánh giá 23
3.7 Xử lý và phân tích số liệu 25
3.8 Khía cạnh đạo đức nghiên cứu 25
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 26
4.2 Thông tin về tình trạng lọc máu của người bệnh 29
4.3 Một số thực trạng về mệt mỏi ở NB suy thận mạn có lọc máu chu kỳ 30
4.4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng mệt mỏi ở NB suy thận có lọc máu chu kỳ 31
5 BÀN LUẬN 35
5.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 35
5.2 Một số thông tin về tình trạng lọc máu của người bệnh 37
5.3 Thực trạng mệt mỏi của người bệnh 38
5.4 Một số yếu tố liên quan tới tình trạng mệt mỏi ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ 39
6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
6.1 Kết luận 45
Trang 76.2 Kiến nghị 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: Phiếu điều tra
Phụ lục 2: Các biến số nghiên cứu
Trang 81 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới tình hình suy thận mạn ngày càng gia tăng Theo Hội Thận học thế giới, hiện nay trên thế giới có trên 500 triệu người trưởng thành (chiếm 10%) bị bệnh thận mạn tính với một số mức độ khác nhau Trong đó trên 4,5 triệu người được điều trị thay thế bằng lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng liên tục ngoại trú hoặc ghép thận Ước tính con số này sẽ tăng gấp đôi trong thập niên tới[3]
Tại Việt Nam, theo thống kê năm 2014 cả nước có khoảng 6 triệu người
bị bệnh thận mạn chiếm 6,73% dân số Trong đó có khoảng 800.000 người bệnh
ở tình trạng suy thận mạn giai đoạn cuối cần điều trị thay thế nhưng chỉ có 10% người bệnh được điều trị lọc máu[7], trên thực tế, tỷ lệ này có thể cao hơn và ngày càng gia tăng Ở Việt Nam, điều trị bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối như lọc màng bụng, đặc biệt là ghép thận còn nhiều hạn chế, nên lọc máu chu kỳ là lựa chọn phổ biến, vì vậy mà số người bệnh lọc máu tăng nhanh trong những năm gần đây Theo thống kê năm 2014 cả nước có khoảng 20.000 người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị bằng lọc màng bụng và lọc máu chu kỳ[7]
Điều trị và chăm sóc cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối đang đặt ra những thách thức lớn với ngành y tế không chỉ với một số nước đang phát triển mà còn là gánh nặng của một số nước phát triển Tại Mỹ, trong năm 2008
có 362 người bệnh mới mắc bệnh thận giai đoạn cuối trên một triệu dân, trong
đó chỉ có 57,2 người bệnh trên 1 triệu dân được ghép thận, còn lại 92% người bệnh lọc máu ở một số trung tâm, 1% lọc máu tại nhà, 7% thẩm phân phúc mạc[9] Ở Úc, chi phí điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối đến năm 2020 ước tính 12 tỷ USD, chi phí hàng năm cho chạy thận nhân tạo của mỗi người bệnh từ 50.000 - 80.000 USD[9]
Đối với những người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ, chất lượng cuộc sống đang được quan tâm hàng đầu đối với hệ thống y tế nhằm đảm bảo người bệnh có cuộc sống gần như người bình thường trong xã hội Bên cạnh những khó khăn về mặt y học: Huyết áp, kiểm soát cân nặng, chế độ dinh dưỡng hợp
Trang 9lý,…người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ còn phải đối diện với hàng loạt thách thức xã hội: Thay đổi việc làm, thay đổi lịch sinh hoạt, phải đến viện 3 lần/tuần để lọc máu, tốn kém về kinh tế,… điều này cũng góp phần làm gia tăng tình trạng mệt mỏi trên người bệnh
Mệt mỏi là một trong những phàn nàn thường gặp nhất của người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ Mệt mỏi làm cho chất lượng cuộc sống người bệnh suy giảm Tầm quan trọng của sự mệt mỏi đối với người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ đã được chứng minh bởi thực tế 94% người bệnh lọc máu chu kỳ mong muốn chạy thận nhiều hơn nếu có sự tăng mức năng lượng liên quan và giảm sự mệt mỏi [8] Tỷ lệ mệt mỏi dao động từ 60% đến 97% ở người bệnh điều trị bằng phương pháp lọc máu[8]; [9]; [10] Tuy nhiên hầu hết người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ không được đánh giá đầy đủ về vấn
đề mệt mỏi Do đó việc tìm ra thực trạng mệt mỏi và một số yếu tố làm gia tăng mệt mỏi ở người bệnh suy thân mạn có lọc máu chu kỳ là cần thiết ở cả một số nước phát triển cũng như một số nước đang phát triển
Tại thành phố Nam Định, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định và Bệnh viện Công tỉnh Nam Định là hai bệnh viện lắp đặt máy thận nhân tạo sớm nhất Đây chính là cơ sở tạo tạo điều kiện cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối trong và ngoài tỉnh đến điều trị Tuy rất nhiều người bệnh có than phiền về mệt mỏi nhưng các đề tài về vấn đề này còn rất hạn chế Để giúp cho cán bộ điều dưỡng nói riêng và cơ quan quản lý y tế nói chung có thêm thông tin về vấn đề này để xây dựng kế hoạch quản lý, hỗ trợ, điều trị và chăm sóc kịp thời cho người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng mệt mỏi và một số yếu tố liên quan trên người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại một số bệnh viện ở Thành phố Nam Định” với 2 mục tiêu:
1 Khảo sát thực trạng mệt mỏi ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ tại một số bệnh viện ở Thành phố Nam Định
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng mệt mỏi trên người bệnh suy thận imạn có lọc máu chu kỳ
Trang 102 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về bệnh suy thận mạn[4]
2.1.1 Định nghĩa
Suy thận mạn là sự giảm dần mức lọc cầu thận (3 hay 6 tháng cho đến nhiều năm) và không hồi phục toàn bộ chức năng của thận: Rối loạn nước điện giải, thăng bằng kiềm toan, ứ đọng một số sản phẩm aceton máu…
Suy thận mạn là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa tiến triển mạn tính qua nhiều năm, hậu quả của sự xơ hóa một số nephron chức năng gây giảm sút
từ từ mức lọc cầu thận dẫn đến tình trạng tăng nitơ phi protein máu như urê, creatinin máu, acid uric
Đặc trưng của suy thận mạn là:
- Có tiền sử bệnh thận tiết niệu kéo dài;
- Mức lọc cầu thận giảm dần;
- Nitơ phi protein máu tăng dần;
- Kết thúc trong hội chứng urê máu cao
2.1.2 Nguyên nhân suy thận mạn
- Bất kỳ bệnh nào trước thận, tại thận, sau thận lâu dài => tổn thương thận
+ Trước thận: Cao huyết áp, bệnh mạch máu thận,
+ Tại thận: Viêm cầu thận, bệnh thận do thuốc giảm đau, bệnh thận do tiểu đường,
+ Sau thận: Sỏi thận, lao niệu, viêm thận bể thận mạn
- Nguyên nhân gây suy thận mạn khác nhau tùy theo nước, ở Mỹ và Anh bệnh gây suy thận mạn nhiều nhất là tiểu đường và cao huyết áp trong khi đó tại Trung Quốc nguyên nhân hàng đầu gây suy thận là do viêm cầu thận
- Một số yếu tố gây suy thận tiến triển:
+ Một số bệnh thận tiến triển
+ Do còn tồn tại bệnh miễn dịch
+ Một số yếu tố tăng nguy cơ tổn thương thận
Trang 11+ Bội nhiễm, tắc nghẽn hệ niệu (CT, siêu âm giúp phát hiện bệnh), thuốc độc thận (gentamycin, tetracycline, hypothiazid)
+ Tăng huyết áp hệ thống
+ Tiểu đạm: Hiện diện đạm trong mô kẽ, tế bào ống thận gây viêm xơ hóa ống thận mô kẻ => xơ hóa cầu thận Đây là phản ứng chống lại chất lạ của vi cầu thận khi có sự hiện diện của protein
+ Loạn dưỡng mỡ
+ Một số yếu tố gây tổn thương ống thận mô kẻ: Ca++, P, Creatinine + Một số yếu tố khác: Hút thuốc lá, nam giới, béo phì …
2.1.3 Triệu chứng lâm sàng suy thận mạn
Ở giai đoạn đầu của suy thận mạn (độ I, độ II) một số biểu hiện thường nghèo nàn như thiếu máu nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, tức 2 bên hố lưng Trong thời gian này, người bệnh thường không biết là mình đã bị suy thận Một số biểu hiện lâm sàng bắt đầu xuất hiện rõ vào giai đoạn III khi mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 20 ml/phút, creatinin máu tăng trên 300 μmol/l Suy thận càng nặng thì biểu hiện lâm sàng càng rầm rộ Một số triệu chứng thường gặp ở người bệnh suy thận mạn là:
- Phù: Do nguyên nhân suy thận mạn, tình trạng giữ muối nước, suy tim kết hợp
- Thiếu máu: Xảy ra sớm (khi creatinine máu > 2mg/dl), mức độ thiếu máu tùy theo giai đoạn suy thận Suy thận càng nặng thiếu máu càng tăng
- Tăng huyết áp: 80% người bệnh suy thận mạn có tăng huyết áp
Một số biểu hiện của hội chứng ure máu cao
- Buồn nôn, nôn, chán ăn, ngứa, mệt mỏi, cảm giác yếu, lạnh
- Khám thấy
Da vàng tái (do ứ tụ urochrom)
Hơi thở có mùi ammoniac hoặc mùi giống nước tiểu
Liệt dây thần kinh, thay đổi tâm thần: Lú lẫn hoặc hôn mê (bệnh thần kinh
do ure máu cao)
Xuất huyết
Trang 12Vôi hoá mô mềm, hoại tử mô mềm
Tiếng cọ màng ngoài tim có thể kèm tràn dịch màng tim
Tóm tắt một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của hội chứng
urê máu cao
2.1.4 Một số giai đoạn của suy thận
Tiến triển của suy thận mạn có thể từ 5-10 năm hoặc lâu hơn tùy theo sự giảm sút từ từ số lượng nephron chức năng và mức lọc cầu thận Có thể chia suy thận mạn thành 4 giai đoạn dựa vào mức lọc cầu thận:
- Suy thận nhẹ (giai đoạn 1)
- Suy thận vừa (giai đoạn 2)
- Suy thận nặng (giai đoạn 3)
- Suy thận giai đoạn cuối (giai đoạn 4)
Một số giai đoạn suy thận (Phân loại mức độ suy thận mạn và chỉ định điều trị theo Nguyễn Văn Xang)
Trang 13Mức độ
suy thận
MLCT (ml/phút)
Creatinin máu (mg/dl)
Creatinin máu (μmol/l)
* Biến chứng tim mạch:
Những biến chứng tim mạch ở người bệnh suy thận chiếm tỷ lệ cao và là nguyên nhân tử vong chính (40-60%) Ở nhóm người bệnh suy thận mạn điều trị lọc máu ngoài cơ thể, nguy cơ của nhóm này cao hơn nhiều so với quần thể dân
số bình thường Việc đánh giá đúng một số biến chứng về tim mạch có vai trò quan trọng trong điều trị và kéo dài cuộc sống của những người bệnh này: Tăng huyết áp, viêm màng ngoài tim, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, rối loạn nhịp tim, suy tim,
* Rối loạn cân bằng nước, điện giải và kiềm toan:
+ Natri: Sự cân bằng (lượng vào = lượng ra) vẫn được duy trì ở những nephron còn lại do tăng lượng lọc và giảm hấp thu ở ống thận từng phần Tuy nhiên, có thể có giữ muối khi suy thận giai đoạn cuối do đưa nhiều muối vào cơ thể qua chế độ ăn hoặc truyền dịch Ngược lại, có khi gặp ở bệnh thận kèm theo
Trang 14mất muối như thận đa nang, viêm kẽ thận mạn tính và thường gặp ở người lớn tuổi và khi điều trị lợi tiểu Cần chú ý đến cân bằng lượng muối vào và ra, thường chỉ cho 2 g NaCl/ngày
+ Nước: Một số rối loạn chủ yếu là tiểu nhiều và tiểu đêm, liên quan đến giảm hormon kháng bài niệu ADH và giảm chênh lệch thẩm thấu ống - kẽ thận,
do hiện tượng thải sạch “wash out” của một số nephron còn lại Thường không thấy có hiện tượng thừa nước Thiểu niệu nặng nề thường ít xuất hiện ở suy thận giai đoạn cuối, nhưng sẽ gặp sau khi bắt đầu lọc máu vài tháng đến vài năm Khi uống ít nước quá, lưu lượng nước tiểu sẽ giảm và có nguy cơ tăng thẩm thấu máu Nên đưa nước vào khoảng 1,5-2 lít/24giờ nếu còn tiểu tốt, giảm nước đưa vào khi thiểu niệu
+ Kali: Bình thường giữ cân bằng kali được thực hiện do tăng tiết kali ở ống lượn xa, do sự tham gia của một số yếu tố ngoài thận (thải qua đường tiêu hóa và tăng chuyển đổi vào trong tế bào) Trong trường hợp đặc biệt, tăng kali máu là do một số yếu tố phối hợp vào như: vô niệu, dùng một số thuốc (kháng Aldosteron, ức chế men chuyển, kháng viêm không Steroid, ức chế bêta giao cảm) đưa vào quá nhiều kali, toan chuyển hóa …
+ Cân bằng kiềm toan: Rối loạn toan - kiềm thường xuất hiện khi mức lọc cầu thận giảm dưới 25 ml/phút Khi đó xuất hiện toan chuyển hóa với khoảng trống anion tăng (bình thường từ 8-17 mmol/l) Đôi khi xuất hiện toan máu có kali máu cao và toan máu tăng clo kèm theo kali máu bình thường, xảy ra ở những người bệnh bị bệnh thận có mất muối Khi mức lọc cầu thận giảm sẽ làm tích tụ một số acid hữu cơ dẫn đến toan máu, tùy theo mức độ suy nặng nhẹ cần
bổ sung Bicarbonat
* Thay đổi về huyết học trong suy thận mạn:
+ Thiếu máu: Thiếu máu là một biểu hiện thường xuyên của suy thận mạn
và không hồi phục Thận càng suy thiếu máu càng nặng, thường xuất hiện khi mức lọc cầu thận còn dưới 25 ml/phút Đến giai đoạn cuối, hồng cầu chỉ còn khoảng 1,5 tera/lít, huyết sắc tố còn khoảng 50-60 g/l, hematocrit < 0,20 l/l
Trang 15Một số yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh của thiếu máu trong suy thận mạn:
- Giảm đời sống hồng cầu
- Mất máu
- Thiếu hụt erythropoietin
+ Rối loạn đông máu: Nguy cơ xuất huyết ở người bệnh suy thận mạn đã được nói đến từ nhiều năm nay, trước khi xuất hiện phương pháp điều trị lọc máu, dường như rất thường gặp trong suy thận giai đoạn cuối Xuất huyết tiêu hóa thường là nguyên nhân tử vong ở những người bệnh này
+ Thiếu hụt miễn dịch trong suy thận mạn: Đó là tình trạng giảm miễn dịch vừa phải Nhiễm trùng thường hay gặp ở những người bệnh này Ở những người bệnh được lọc máu chu kỳ, nhiễm trùng do tụ cầu cũng thường gặp, ngoài
ra nhiễm virus viêm gan B cũng là vấn đề cần chú ý ở những người bệnh này
* Biến chứng tiêu hóa:
Vào giai đoạn cuối, chán ăn là triệu chứng phổ biến, nhất là đối với thức
ăn protid Buồn nôn và nôn là dấu hiệu của urê máu cao cần xem xét lọc máu
Xuất huyết tiêu hóa và thủng tạng rỗng do loét có tiên lượng rất nặng Viêm loét dạ dày có xuất huyết chiếm gần 1/3 số người bệnh suy thận mạn Cơ chế bệnh sinh rất phức tạp, một phần do một số độc tố gây cho niêm mạc, một phần do rối loạn đông máu gây ra Tiết gastrin tăng lên ở những người bệnh có creatinin máu cao trên 300 μmol/l Sự tăng tiết gastrin không được điều chỉnh lại sau khi chạy thận nhân tạo chu kỳ, nhưng bình thường trở lại sau khi ghép thận
* Biến chứng ở phổi:
Phù phổi, viêm phế quản, viêm phổi và tràn dịch màng phổi là những biến chứng cũng thường gặp ở người bệnh suy thận mạn
* Loạn dưỡng xương:
- Cường cận giáp thứ phát với tổn thương viêm xơ xương
- Loạn dưỡng xương do thận bao gồm nhuyễn xương và bệnh xương bất hoạt
* Biến chứng thần kinh:
Trang 16Thường là một số biến chứng nặng nề như phù não, tai biến mạch não đặc biệt do tăng huyết áp; rối loạn ý thức, lú lẫn thứ phát sau rối loạn điện giải nặng
nề như hạ natri máu
Viêm đa dây thần kinh xuất hiện khi MLCT < 10 ml/phút, gặp ở một số
ít người bệnh lọc máu chu kỳ, biểu hiện bằng giảm tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động và cảm giác Triệu chứng lâm sàng thường là mệt mỏi toàn thân, cảm giác nóng bỏng chân, chuột rút và teo cơ, có thể cả 2 bên, thường gặp nhất ở chi dưới
* Rối loạn về chuyển hóa: Kháng Insulin, tối loạn lipip máu, rối loạn dinh dưỡng, rối loạn nội tiết
2.2 Một số phương pháp điều trị suy thận mạn hiện nay
Áp dụng các biện pháp điều trị dành cho người bệnh suy thận mạn phụ thuộc vào giai đoạn hay nói cách khác là mức độ nặng, nhẹ của suy thận mạn Trong giai đoạn sớm của suy thận mạn điều trị bao gồm chế độ dinh dưỡng, thuốc, điều trị nguyên nhân Những biện pháp điều trị này được gọi là điều trị bảo tồn, với mục đích làm chậm suy thận mạn diễn tiến đến giai đoạn cuối Trong giai đoạn cuối của suy thận mạn cần thiết phải phối hợp giữa điều trị bảo tồn và các biện pháp gọi là điều trị thay thế thận suy như lọc màng bụng, lọc máu chu kỳ, ghép thận
Các biện pháp điều trị trong suy thận mạn có quan hệ chặt chẽ với nhau,
hỗ trợ và bổ sung cho nhau: Ở các giai đoạn đầu của suy thận mạn thì điều trị bảo tồn, đến một giai đoạn nào đó không còn đủ hiệu quả thì người bệnh được điều trị bằng lọc máu ngoài thận (lọc màng bụng, lọc máu chu kỳ), khi cần thiết,
có chỉ định cũng như có thận phù hợp thì ghép thận Sau khi ghép thận nếu thận ghép bị đào thải thì người bệnh lại được lọc máu Ngay cả sau ghép thận vẫn
phải điều trị bảo tồn
2.2.1 Điều trị thay thế thận suy[7]
Hầu hết người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối cần điều trị thay thế bằng lọc máu hoặc ghép thận Việc xác định sớm những người bệnh cần điều trị thay thế là quan trọng, bởi vì việc chuẩn bị chu đáo có thể giảm tỷ lệ bệnh tật và cũng
Trang 17cho phép người bệnh và gia đình chuẩn bị tâm lý tốt Chỉ định điều trị thay thế thận suy khi nức lọc cầu thận < 10ml/phút Việc lựa chọn biện pháp điều trị thay thế nào: Lọc máu (lọc máu chu kỳ hoặc lọc màng bụng) hoặc ghép thận dựa vào các tiêu chí như nguyên nhân gây bệnh, các bệnh đi kèm, tình trạng tim mạch, điều kiện kinh tế xã hội
2.2.2 Lọc máu chu kỳ
2.2.2.1 Đại cương lọc máu chu kỳ
Lọc máu chu kỳ là phương pháp thông qua bầu lọc đào thải một số sản phẩm của quá trình chuyển hóa các chất, trong đó có ure, creatinin và một số chất điện giải ra ngoài cơ thể
Kể từ năm 1960, lọc máu chu kỳ đã được áp dụng cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối Cho đến nay, đây được coi là một trong những phương pháp hiệu quả giúp người bệnh giai đoạn cuối kéo dài tuổi thọ và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới
2.2.2.2 Kỹ thuật lọc máu chu kỳ
* Nguyên tắc chạy thận nhân tạo
Chạy thận nhân tạo được thực hiện bằng máy lọc máu theo cơ chế khuếch tán thụ động và siêu lọc:
- Khuếch tán thụ động: Xảy ra khi xuất hiện sự chênh lệch nồng độ của một chất giữa máu người bệnh và dung dịch thẩm tách Chỉ có các chất tan có trọng lượng phân tử thấp và nước mới có thể đi qua màng bán thấm do đó tế bào hồng cầu không bị mất đi
- Siêu lọc đảm bảo cho chất lỏng dư thừa được loại bỏ khỏi cơ thể thông qua sự chênh lệch áp suất, chuyển dịch chất lỏng từ nơi có áp suất cao đến nơi có
Trang 18Thành phần dịch lọc bicarbonate như sau (mmol/l): Natri 137-143; kali 0 – 4; clo 100 – 110; canxi 0 - 3,5; magiê 0,75 - 1,5; acetate 2 - 4,5; bicarbonate
30 – 35; glucose (mg/dl) 0 - 0,25
* Hệ thống phân phối máu
- Hệ thống phân phối máu bao gồm hệ tuần hoàn ngoài cơ thể trong máy thận nhân tạo (bơm máu, hệ thống ống dẫn máu và rất nhiều điểm cảnh báo an toàn ) Tốc độ bơm máu thay đổi từ 200-400 ml/phút Áp lực âm tính bên khoang dịch lọc tạo thuận lợi cho dịch từ máu chuyển sang (siêu lọc) Mỗi màng lọc có hệ số siêu lọc khác nhau (tức là số ml được chuyển qua màng /phút/mmhg)
- Có ba cách lấy máu chạy thận nhân tạo: Nối thông động-tĩnh mạch, ghép động-tĩnh mạch, lấy qua ống thông (catheter) Nối thông động-tĩnh mạch thường làm ở tĩnh mạch đầu với động mạch quay vùng cổ tay để động mạch hoá tĩnh mạch đầu, tạo thuận lợi cho việc chọc hút máu bằng kim to Biến chứng hay gặp nhất tại chỗ nối thông là nghẽn mạch do tăng sinh nội mạc làm hẹp lòng tĩnh mạch
* Hoạt động của thận nhân tạo
Máu của người bệnh được chống đông bằng heparin, được bơm vào bộ lọc từ 200-400 ml/phút, dịch lọc được làm nóng lên 37oC và bơm vào khoang đối diện với máu theo chiều ngược lại, với tốc độ 500-800 ml/phút để hệ số thanh lọc urê từ 200-350 ml/phút, β2 microglobulin từ 20-25 ml/phút Hiệu quả của việc lọc phụ thuộc vào tốc độ máu, dịch lọc qua bộ lọc và đặc tính của bộ lọc Thời gian lọc máu được xác định dựa vào độ lớn của hệ số thanh thải urê trong cuộc lọc, trọng lượng người bệnh, chức năng còn lại của thận, chế độ protein ăn vào, mức độ chuyển hoá, dị hoá, những biến chứng của bệnh, sự ứ dịch giữa hai lần chạy thận Với đa số người bệnh suy thận mạn đòi hỏi chạy thận từ 9-12 giờ/tuần và thường chia làm 3 lần chạy bằng nhau Mỗi lần lọc máu được coi là tốt khi urê máu sau cuộc lọc còn tối đa là 65% lúc trước lọc
2.2.2.3 Chỉ định, chống chỉ định
* Chỉ định
Trang 19- Người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối (mức lọc cầu thận< 10ml/p;
<15ml/p ở người bệnh đái tháo đường)
- Chỉ định sớm hơn khi người bệnh có suy tim sung huyết, tăng kali máu khó kiểm soát
* Chống chỉ định
Không có chống chỉ định hoàn toàn, tùy từng nguyên nhân và tình trạng người bệnh để điều chỉnh cho phù hợp
2.2.2.4 Biến chứng lọc máu chu kỳ
- Biến chứng tim mạch: Trầm trọng hơn suy tim sung huyết, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, tụt huyết áp đặc biệt ở người bệnh đái tháo đường, tăng huyết
áp (ở những người bệnh đã có tha trước đó, do chế độ ăn)…
- Rối loạn tiêu hóa: Chán ăn, buồn nôn, xuất huyết tiêu hóa do sử dụng heparin
- Thiếu máu: Do thiếu hụt erythropoietin, thiếu sắt
- Các bệnh lý về xương do thiếu hụt vitamin D tự nhiên và cường cận giáp thứ phát
- Biểu hiện thần kinh: Viêm dây thần kinh ngoại biên
- Rối loạn chuyển hóa glucid, lipid, điện giải (tăng kali máu)
Trang 20Theo quan điểm về sinh lý mệt được định nghĩa như sự suy yếu chức năng cơ quan nội tạng Suy cơ quan thường là do tiêu thụ năng lượng quá mức
và có thể được đặc trưng bởi sự suy giảm hormone dẫn truyền thần kinh hoặc các chất thiết yếu của chức năng sinh lý Mệt sinh lý đã được kết hợp với sốt, nhiễm trùng, thiếu máu, rối loạn giấc ngủ và mang thai Mệt, một trạng thái trong đó chức năng có thể được phục hồi bằng cách nghỉ ngơi[12]
2.3.2 Mệt mỏi và bệnh tật
Mệt mỏi là dấu hiệu hay gặp trong cả sức khỏe và bệnh tật Trong bệnh mạn tính, mệt mỏi là triệu chứng phổ biến đã được mô tả trong rất nhiều mặt bệnh như: Ung thư, viêm khớp dạng thấp, đau cơ xơ, bệnh thận, bệnh đa xơ cứng, viêm cột sống dính khớp, lupus, và hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS)[12]
Ngoài kết hợp với bệnh mạn tính, mệt đã được mô tả như là một triệu chứng kéo dài mà xảy ra sau phẫu thuật, cụ thể là phẫu thuật tim và ảnh hưởng đến tâm sinh lý người bệnh rất nhiều Mệt cũng xảy ra với những căng thẳng như môi trường nhu cầu, sinh con và gánh nặng chăm sóc cho[12] Với bệnh suy thận mạn mệt xảy ra với rất nhiều yếu tố liên quan
2.3.3 Mệt mỏi ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ
Mệt mỏi là một trong những triệu chứng phổ biến nhất ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ[12] Mệt mỏi được một số nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế (Achlberg và cộng sự, 2005) thừa nhận là rất khó điều trị, hoặc điều trị kém do tính chất ẩn náu, vô hình của nó Người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ xác định mức độ mệt mỏi là một trong những triệu chứng khó chịu nhất mà họ chứng kiến (Jablonski, 2007) với tỷ lệ hiện nhiễm từ 60% đến 97% (Bossola và cộng sự, 2009) Mệt mỏi ở người bệnh lọc máu có liên quan đến chất lượng cuộc sống thấp hơn và tỷ lệ sống sót thấp hơn (Jhamb và cộng
sự, 2007)[8]
Mặc dù lọc máu là một phương pháp điều trị tối ưu, tiết kiệm, tuy nhiên nó cũng không thể thay thế hoàn toàn chức năng của thận khỏe mạnh Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về sự mệt mỏi và ảnh hưởng của mệt mỏi đến chất lượng
Trang 21cuộc sống của người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ[8]; [9], [10] Nhìn chung một số nghiên cứu đều cho thấy rằng, ở người bệnh suy thận có lọc máu chu kỳ thể hiện mức độ hoạt động thể chất và năng lượng kém hơn, dẫn đến cảm giác mệt mỏi nói chung
Một số biện pháp có thể đóng góp vào sự sự giảm mệt mỏi ở người bệnh suy thận có lọc máu chu kỳ đã được nghiên cứu: Điều chỉnh thiếu máu (Jhamb
và cộng sự, 2011), tập thể dục thể thao (Koufaki và cộng sự, 2002 , Sakkas và cộng sự, 2003) và bổ sung dinh dưỡng (Kalantar-Zadeh và cộng sự, 2011) làm cải thiện tình trạng mệt mỏi cho người bệnh Tuy nhiên, mặc dù có những cải thiện như vậy, chúng tôi nhận thấy rằng ở người bệnh suy thận có lọc máu chu
kỳ, một số chức năng nói chung không thể bằng so với người khỏe mạnh không
có bệnh lý về thận
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời gian chạy thận (Caplin và cộng
sự, 2011) góp phần làm người bệnh suy thận có lọc máu chu kỳ mệt mỏi Một phần ba số người bệnh báo cáo rằng họ cảm thấy tồi tệ hơn trong những giờ tiếp theo sau khi chạy thận, trong khi một trong bốn báo cáo cho thấy mức độ mệt mỏi nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng sau khi chạy thận (Gordon và cộng
sự, 2011)[8]
Một số yếu tố khác góp phần gia tăng sự mệt mỏi trên người bệnh được nhắc đến như sự thiếu ngủ (Sakkas và cộng sự, 2008), cân nặng trước lọc máu (Sklar et al., 1999), tình trạng dinh dưỡng kém (Jhamb et al., 2011) (Giannaki và cộng sự, 2011) và tình trạng trầm cảm của người bệnh (Jhamb và cộng
sự, 2011) Rõ ràng, trong tất cả một số yếu tố này có thể góp phần làm quá trình mệt mỏi gia tăng, một vòng tròn luẩn quẩn, mệt mỏi vì không hoạt động và không hoạt động thêm do mệt mỏi Cảm giác mệt mỏi kéo dài này cản trở một
số hoạt động thể chất - xã hội, cung cấp những nhận thức về những hạn chế, rào cản gia tăng (Delgado và Johansen, 2012) và dẫn tới giảm đáng kể hoạt động thể chất và năng lực chức năng, do đó góp phần làm tăng nguy cơ tim mạch và tỷ lệ
tử vong cao ở những người bệnh này (Sarnak và cộng sự, 2003)
Trang 22Andrade và Sesso đã nghiên cứu trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn điều trị bảo tồn và người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ dựa vào thang điểm BDI Kết quả cho thấy: Tỷ lệ trầm cảm ở nhóm người bệnh có lọc máu chu kỳ cao hơn (41,6%) so với nhóm người bệnh điều trị bảo tồn (37,3%) Trầm cảm liên quan đến tình trạng hôn nhân, thu nhập, hoạt động thể lực, các bệnh lý tim mạch kèm theo[8]
Hayah và cộng sự (2015), tiến hành nghiên cứu mô tả ở 59 người bệnh
suy thận mạn có lọc máu chu kỳ ở Bệnh viện Đại học Qena ở Thượng Ai Cập
Kết quả cho thấy 26 người bệnh (44,1%) đang trải qua sự mệt mỏi vừa phải và
33 người bệnh (55,9%) đang bị mệt mỏi nghiêm trọng Nhìn chung, nam giới có nhiều mệt mỏi hơn nữ khi được điều trị bằng lọc máu chu kỳ; không có sự khác biệt đáng kể giữa tuổi, tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp với mệt mỏi Trong nghiên cứu này cho thấy mệt mỏi có liên quan với sự gia tăng với sự gia tăng của lịch sử lọc máu chu kỳ[10]
Bossola và cộng sự (2009) tiến hành nghiên cứu ở 22 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ, bằng phương pháp đánh giá sự mệt mỏi thông qua thang
đo chất lượng cuộc sống SF-36 và thang đo trầm cảm (BDI), kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trầm cảm và mức độ nghiêm trọng của trầm cảm có tương quan với sự mệt mỏi ở người bệnh suy thận mạn[9]
2.3.4 Một số thang đo mệt mỏi áp dụng cho người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ
Mệt mỏi là biểu hiện rất thường gặp ở người bệnh suy thận mạn, mặc dù không đặc hiệu nhưng có tác động không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Trong nhiều nghiên cứu các người bệnh suy thận mạn cho rằng mệt mỏi là biểu hiện chính làm suy yếu khả năng hoạt động của họ Sự mệt mỏi có một số mức độ khác nhau, để đánh giá và phân loại mức độ mệt mỏi cần phải sử dụng các bộ công cụ về mệt mỏi để đo lường
Dụng cụ được sử dụng rộng rãi nhất trong lọc máu chu kỳ là thang đo sinh lực của SF-36 Bộ câu hỏi này được xây dựng bởi Ware và cộng sự (1992),
có 36 mục tự đánh giá và có thể sử dụng được với nhiều bệnh lý, nhiều cộng
Trang 23đồng và tình huống khác nhau SF-36 đánh giá 8 nhóm vấn đề: Chức năng thể chất, chức năng xã hội, sự hạn chế vai trò do các vấn đề thể chất, sự hạn chế vai trò do các vấn đề cảm xúc, sức khỏe tinh thần, nghị lực sống, sự đau đớn và cảm nhận chung về tình hình sức khỏe, trong đó điểm được chia thành 2 nhóm chính: Điểm tóm tắt của thành phần thể chất và điểm tóm tắt của thành phần tinh thần Vấn đề của sinh sống SF-36 bao gồm 4 mặt hàng, được coi là khởi đầu của sự mệt mỏi Kết cấu sức sống thu được mức giảm nhẹ về năng lượng; tuy nhiên công cụ này không hiện được một số khía cạnh tiêu cực của sự mệt mỏi như điểm yếu, thiếu động lực và khó tập trung[8]
Trong khi hầu hết một số công cụ mệt mỏi đo trải nghiệm tổng thể của sự mệt mỏi trong một khoảng thời gian từ vài tháng đến vài năm trở lên, một số người bệnh chạy thận cũng trải nghiệm sự biến đổi ngày và mệt mỏi hàng ngày Đánh giá mệt mỏi bằng một số công cụ truyền thống có thể không nắm bắt được sự thay đổi này Đánh giá tạm thời về sinh thái (FSS) cung cấp một công
cụ đo lường quan trọng để đánh giá mức độ mệt mỏi chủ quan lặp đi lặp lại và đáng tin cậy đồng thời tránh được sự thiên vị của sự hồi sinh FSS kết hợp một
số phép đo thời gian thực lặp lại một số hiện tượng như triệu chứng, hành vi, hoặc một số quá trình sinh lý, như chúng xảy ra trong môi trường tự nhiên Bộ công cụ này gồm có 9 câu hỏi, được đánh giá theo thang đo Likert 7 với một số mức độ từ rất không đồng ý đến rất đồng ý Điểm trung bình cộng các câu trả lời càng cao, mức độ mệt mỏi người bệnh càng cao[8]; [13]
2.3.5 Các yếu tố liên quan đến mệt mỏi ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ
Trong thực tế có rất nhiều nguyên nhân có thể làm cho người bệnh mệt mỏi Hayah và cộng sự, (2015) chỉ ra các yếu tố mệt mỏi bao gồm: Giới và tình trạng lọc máu[10]; Bossola và cộng sự, (2009) chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến mệt mỏi bao gồm: Trầm cảm, giới, tuổi, nghề nghiệp, hỗ trợ xã hội[9], Trong nghiên cứu này chúng tôi xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ mệt bao gồm: Các yếu tố nhân khẩu học: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, ; các yếu tố về thông tin lọc máu của người bệnh: Khoảng cách tới viện, ca lọc, thời
Trang 24điểm lọc, thời gian đã tiến hành lọc máu tới nay,… tình trạng trầm cảm của người bệnh và hỗ trợ xã hội
- Một số nghiên cứu cho thấy khó khăn về tài chính, thay đổi trong các mối quan hệ xã hội và hôn nhân, thất nghiệp, thường xuyên phải nhập viện, tăng
sự phụ thuộc vào máy chạy thận, lo sợ về cái chết, thời gian lọc máu kéo dài, khoảng cách từ nhà di chuyển tới bệnh viện xa đi lại khó khăn làm người bệnh căng thẳng, mệt mỏi[8], Theo Hayah và cộng sự, cho thấy có sự gia tăng về mệt mỏi với sự gia tăng của lịch sử thẩm phân máu, những người bệnh lọc máu lâu năm hơn mệt mỏi hơn so với người bệnh khác[10]
- Nhận thức về bệnh: Có sự liên quan giữa các yếu tố tâm lý và mệt mỏi phụ thuộc vào giới tính, tuổi và trình độ học vấn Một khóa học xác định về tâm
lý cho người bệnh trước khi tiến hành chạy thận nhân tạo có thể làm tăng hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống và làm giảm tỷ lệ mệt mỏi ở người
bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ[8]
- Sự hỗ trợ xã hội: Hỗ trợ xã hội từ gia đình, bạn bè và người thân cũng như chăm sóc sức khỏe là một trong hầu hết các thành phần cần thiết để giảm mệt ở người bệnh suy thận mạn tính có lọc máu chu kỳ[8] Nghiên cứu của Sutcliffe và cộng sư cho thấy, mức độ hỗ trợ xã hội cao liên quan với chất lượng cuộc sống làm giảm sự mệt mỏi cho người bệnh Sự hài lòng của người bệnh đối với hệ thống chăm sóc y tế càng cao thì chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe cũng càng tốt khi đánh giá bằng thang điểm SF-36 Nhiều nghiên cứu cho thấy trợ cấp xã hội có thể ảnh hưởng đến kết quả lâm sàng ở nhiều bệnh mạn tính, như bệnh tim mạch, viêm gan và các bệnh ác tính Mối quan hệ giữa trợ cấp xã hội và sự sống còn ở người bệnh bệnh thận mạn chưa được nghiên cứu rộng rãi Bossola và cộng sự đã chứng minh rằng người bệnh lọc máu có trợ cấp
xã hội nhiều hơn có tiên lượng tốt hơn so với những người không có trợ cấp xã hội[8], [9]
- Trầm cảm: Lọc máu chu kỳ là một phương pháp điều trị duy trì sự sống cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối; tuy nhiên, trầm cảm đã được công nhận là một bệnh kèm theo ở những người bệnh này, gây ra các hậu quả như lo
Trang 25lắng, cảm giác mệt mỏi, giảm khả năng tự chăm sóc và giảm chất lượng cuộc sống[7] Trầm cảm và lo âu làm tăng số lần nhập viện của người bệnh, tăng chi phí cho điều trị, chăm sóc; đặc biệt tự tử là hậu quả trầm trọng nhất ở nhóm đối tượng này[7] Theo nghiên cứu của Kurella và cộng sự năm 2005 ở Mỹ, tỷ lệ tử vong do tự tử là 0,24%/1.000 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ Bên cạnh đó, Chen và cộng sự (2010) đã chứng minh rằng trong số 200 người bệnh với lọc máu chu kỳ, 21,5% có ý tưởng tự tử; 3,5% đã lên kế hoạch một cố gắng
tự tử trong tháng và 3,5% đã cố gắng tự tử trong suốt cuộc đời của họ[7] Do vậy, trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ cần được phát hiện sớm Kết quả nghiên cứu của Bossola và cộng sự (2009), Hayah và cộng sự (2015) đã cho thấy mối liên quan giữa trầm cảm và mệt mỏi ở người bệnh có lọc máu chu kỳ Do vậy nhân viên y tế không nên bỏ qua tầm quan trọng của trầm cảm trong mệt mỏi và tâm trạng người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ, nên theo dõi chặt chẽ, nếu cần thiết họ nên được chuyển đến sức khỏe tâm thần
để đánh giá thêm và điều trị thích hợp
2.4 Khung lý thuyết
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu và thực tiễn về chăm sóc người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ Khung lý thuyết được hình thành bao gồm các yếu tố dưới đây
Trang 26Khung nghiên cứu:
Thông tin lọc máu:
Ca lọc máu, ngày lọc máu,
khoảng cách từ nhà tới viện lọc,
Trầm cảm
Trang 273 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh suy thận mạn đang lọc máu chu kỳ tại một số bệnh viện ở Thành phố Nam Định có triển khai lắp đặt máy thận nhân tạo từ tháng 5/2017-
8/2017
* Tiêu chuẩn chọn người bệnh
- Người bệnh được chẩn đoán xác định suy thận mạn đang lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định và Bệnh viện Công An tỉnh Nam Định từ tháng 5/2017-8/2017
- Người bệnh tỉnh táo và đồng ý tham gia trả lời câu hỏi
- Người bệnh có thể nói, hiểu, biết đọc tiếng Việt
*Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh đang bị một số biến chứng nặng của suy thận mạn: Huyết
áp tâm thu > 220mHg; phù phổi cấp, suy hô hấp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim
- Người bệnh có bệnh lý về tâm thần
* Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa thận nhân tạo tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định; Bệnh viện Công An tỉnh Nam Định
- Thời gian thu thập số liệu: 5/2017-8/2017
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2017-12/2017
3.2 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
3.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu ước lượng:
Được tính theo công thức của Fisher và cộng sự (1991):
Với p = 0,8 là tỷ lệ người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ có tình trạng mệt mỏi (dựa theo kết quả của tác giả Bossola)[9]; d=0,05 là sai số cho phép
Trang 28Thay thế các giá trị ta được: n = 125
Ước lượng 10% (13 người) người bệnh không trả lời nên cỡ mẫu cần chọn là 138 người bệnh
* Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
Dựa vào tiêu chuẩn chọn mẫu, tiêu chuẩn loại, chúng tôi chọn đủ 138 người bệnh tham gia nghiên cứu thì dừng lại
3.4 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin
3.4.1 Công cụ thu thập số liệu
Gồm 5 phần:
* Phần 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
Bao gồm 8 câu hỏi từ A1 đến A8 gồm một số nội dung
- Tham gia bảo hiểm y tế
* Phần 2: Thông tin về tình trạng lọc máu của người bệnh:
Bao gồm 6 câu hỏi từ B1 đến B7 gồm một số nội dung:
- Thời gian đã lọc máu;
- Thời gian phát hiện ra suy thận đến nay;
- Khoảng cách từ nhà đến viện lọc máu;
- Số ca lọc máu/tuần;
- Thứ tự ca lọc máu của người bệnh;
- Ngày lọc máu trong tuần
* Phần 3: Bộ câu hỏi về mệt mỏi:
Trang 29Đây là bảng câu hỏi dựa theo thang đo FSS của Lauren B Krupps[13] Bao gồm 9 câu hỏi từ C1 đến C9 gồm một số nội dung:
- Tần xuất mệt mỏi của người bệnh;
- Hoạt động gây mệt mỏi;
- Ảnh hưởng của mệt mỏi
* Phần 4: Bộ câu hỏi về trầm cảm
Dựa theo thang đo PHQ-9 được phát triển bởi các tác giả Robert L.Spitzer, MD, and Janet B W Williams gồm câu hỏi nói về cảm nhận của người bệnh về cuộc sống trong 2 tuần qua Bao gồm 9 câu hỏi từ D1 đến D9 gồm một số nội dung:
- Có ý tưởng, suy nghĩ tìm đến cái chết
* Phần 5: Bộ câu hỏi về hỗ trợ xã hội
Bộ câu hỏi về hỗ trợ xã hội (Multidimensional Scale of Perceived Social Suppor) được phát triển bởi tác giả Zimet và cộng sự năm 1988[15] Được tác giả Hoàng Nam Phong dịch sang tiếng Việt Nam Bộ câu hỏi gồm: 12 câu hỏi từ D1 đến D12 với 3 nhóm về hỗ trợ xã hội của người thân (4 câu hỏi), gia đình (4 câu hỏi) và bạn bè (4 câu hỏi)
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp người bệnh để đánh giá tình trạng mệt mỏi và một số yếu tố liên quan đến mệt mỏi của người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ bằng
việc sử dụng một số bộ câu hỏi có sẵn theo phiếu điều tra
* Tiến trình thu thập số liệu
Bước 1: Lựa chọn được 138 người bệnh đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu Bước 2: Người bệnh tham gia nghiên cứu được giới thiệu mục đích, ý
Trang 30nghĩa của nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu
Bước 3: 138 người bệnh được phỏng vấn trực tiếp để đánh giá tình trạng mệt mỏi và các yếu tố liên quan đến mệt mỏi thông phiếu điều tra
+ Thời điểm phỏng vấn: Trung bình một ca lọc máu chu kỳ của người bệnh mất 4 giờ Thời gian chúng tôi sẽ phỏng vấn là từ sau khi người bệnh được lắp máy và tiến hành lọc khoảng 1 giờ đến trước khi kết máy cho người bệnh
+ Thời gian phỏng vấn: Khoảng 30 phút/1 người bệnh
3.5 Các biến nghiên cứu
do sự mất cân bằng của các yếu tố cần thiết để thực hiện các hoạt động
- Đánh giá tình trạng mệt mỏi của người bệnh: Đây là bảng câu hỏi dựa theo thang đo FSS của Lauren B Krupps[13] Bao gồm 9 câu hỏi từ C1 đến C9, được đánh giá theo thang đo Likert 7 với một số mức độ từ rất không đồng ý đến rất đồng ý Mỗi câu có 7 phương án trả lời, điểm từng câu được tính như sau
"1 = Rất không đồng ý", "2 = Không đồng ý", , "6 = Đồng ý", "7 = Rất đồng ý" Điểm mệt mỏi bằng điểm trung bình cộng các câu trả lời của người bệnh
- Tiêu chuẩn đánh giá:
Điểm trung bình từ 1- 3 điểm: Không mệt mỏi;
Trang 31Điểm trung bình từ 3,1-5 điểm: Mệt mỏi vừa;
Điểm trung bình từ 5,1-7 điểm: Rất mệt mỏi
3.6.2 Trầm cảm
- Định nghĩa: Tổ chức y tế thế giới (2016), trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp, đặc trưng bởi nỗi buồn, mất hứng thú hoặc niềm vui, cảm giác tội lỗi hay hạ thấp giá trị bản thân, ngủ không yên giấc hoặc chán ăn, cảm giác mệt mỏi và kém tập trung Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, làm suy yếu khả năng hoạt động của cá nhân tại nơi làm việc hay trường học hoặc đối phó với cuộc sống hàng ngày[7]
- Cách thu thập: Sử dụng bộ câu hỏi về trầm cảm Với mỗi câu hỏi sẽ đo theo 4 mức độ được ghi điểm từ 0 đến 3 điểm "Không = 0", "một vài ngày = 1", "hơn nửa các ngày = 2", "gần như mỗi ngày = 3" Tương ứng với 0 điểm, 1 điểm, 2 điểm và 3 điểm
- Tiêu chuẩn đánh giá:
Hỗ trợ xã hội được định nghĩa là các nguồn lực xã hội mà người bệnh nhận được
sự giúp đỡ có thể là người trong gia đình, người thân hoặc bạn bè[8]
- Cách thu thập: Sử dụng bộ câu hỏi hỗ trợ xã hội Bảng câu hỏi gồm 12 câu hỏi E1 đến E12 Mỗi câu có 7 phương án trả lời, điểm từng câu được tính như sau "1 = Rất không đồng ý", "2 = Không đồng ý", , "6 = Đồng ý", "7 = Rất đồng ý" Điểm hỗ trợ xã hội được tính bằng điểm trung bình cộng các câu trả lời của người bệnh
- Tiêu chuẩn đánh giá
Từ 1-3 điểm: Hỗ trợ xã hội thấp;
Trang 32Từ 3,1-5 điểm: Hỗ trợ xã hội mức trung bình;
Từ 5,1-7 điểm: Hỗ trợ xã hội cao
3.7 Xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập hoàn toàn, số liệu sẽ được kiểm tra, làm sạch, mã hóa, nhập vào phần mềm SPSS 16.0 trên máy tính và phân tích tất cả các dữ liệu sử dụng một gói thống kê cho chương trình khoa học xã hội Cả hai thống kê mô tả
và tương quan đã được sử dụng để phân tích dữ liệu Các phân tích đã được thực hiện như sau:
- Đối với các biến số định tính (biến nhị phân, biến định danh, biến thứ tự): Mô tả bằng tần suất và tỷ lệ
- Phân tích Anova để xác định tương quan Với mức ý nghĩa p<0,05
3.8 Khía cạnh đạo đức nghiên cứu
- Việc thực hiện nghiên cứu được sự chấp thuận của Hội đồng duyệt đề cương của Trường đại học Điều dưỡng Nam Định; được sự cho phép của lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, Bệnh viện Công an tỉnh Nam Định
- Người bệnh tham gia vào nghiên cứu này được giải thích rõ mục đích, lợi ích và quá trình phỏng vấn Đối tượng nghiên cứu có quyền đồng ý hay từ chối tham gia phỏng vấn mà không ảnh hưởng đến chất lượng khám và chữa bệnh của họ Sự tham gia của đối tượng nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện
- Một số thông tin thu thập phải được người bệnh chấp thuận sử dụng làm kết quả nghiên cứu Thông tin thu thập chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu