1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiến thức thực hành về kiểm soát tăng huyết áp ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh nam định

45 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 684,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chính xác hành vi tuân thủ điều trị kiểm soát huyết áp là hết sức cần thiết cho việc theo dõi kết quả điều trị và giúp các bác sĩ đưa ra những phác đồ điều trị phù hợp cho người

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THỰC HÀNH VỀ KIỂM SOÁT TĂNG HUYẾT ÁP Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN MINH NGỌC

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THỰC HÀNH VỀ KIỂM SOÁT TĂNG HUYẾT ÁP Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH

Ngành : Điều Dưỡng

Mã số : 7720301

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Ths BÙI CHÍ ANH MINH

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận được

sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi của toàn thể quý thầy

cô Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ths.Bùi Chí Anh Minh đã

hướng dẫn tôi tận tình, chu đáo trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp Chân thành cảm ơn các nhân viên y tế bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện để hỗ trợ tôi thu thập thông tin làm khóa luận tốt nghiệp

Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, trình độ của bản thân còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏi những thiếu xót

Vì vậy tôi mong muốn nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy

cô và các bạn để bài luận văn này được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Nam Định, tháng 7 năm 2020

Sinh viên

Nguyễn Minh Ngọc

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

CDC (Centers for Disease Control and Prevention) – Trung tâm

kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh

LDL (Low-Density Lipoprotein) - Lipoprotein có tỷ trọng thấp

WHO (World heath organization) - Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG i

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

2.1 Cơ sở lý luận về tăng huyết áp 3

2.1.1 Khái niệm 3

2.1.2 Chẩn đoán 3

2.1.3 Các yếu tố nguy cơ của THA 4

2.1.4 Triệu chứng tăng huyết áp 5

2.1.5 Biến chứng của tăng huyết áp 5

2.1.6 Cơ sở lý luận về kiến thức kiểm soát tăng huyết áp 6

2.2 Cơ sở thực tiễn về kiến thức tuân thủ điều trị tăng huyết áp 9

2.2.1 Thế giới 9

2.2.2 Tại Việt Nam 11

Chương 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 14

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 14

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 14

3.1.2 Đặc điểm liên quan đến điều trị THA 15

3.2 Thực trạng kiến thức thực hành kiểm soát tăng huyết áp 16

3.2.1 Thực trạng về kiến thức bệnh, chế độ điều trị tăng huyết áp 16

3.2.2 Thực trạng về kiến thức kiểm soát tăng huyết áp 17

3.2.3 Các yếu tố liên quan đến kiểm soát tăng huyết áp 23

Chương 4: KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 26

4.1 Bệnh nhân và gia đình 26

4.2 Cán bộ y tế 26

4.3 Bệnh viện và dự án phòng chống tăng huyết áp 27

Trang 6

Chương 5: KẾT LUẬN 28 5.1 Thực trạng kiến thức thực hành tuân thủ kiểm soát tăng huyết áp 28 5.2 Các yếu tố liên quan 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục: PHIẾU PHỎNG VẤN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân loại huyết áp ở người lớn theo WHO 2004 4

Bảng 2.2 Phân loại huyết áp ở người lớn ≥ 18 tuổi 4

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học 14

Bảng 3.2 Đặc điểm liên quan đến điều trị 15

Bảng 3.3: Kết quả kiến thức về bệnh và chế độ điều trị 16

Bảng 3.4: Kết quả kiến thức dùng thuốc 17

Bảng 3.5: Kết quả kiến thức về chế độ ăn 19

Bảng 3.6 Kiến thức sử dụng rượu/bia 20

Bảng 3.7: Kết quả kiến thức về tập thể dục, thể thao 21

Bảng 3.8: Kết quả kiến thức về theo dõi huyết áo 22

Bảng 3.9 Mối liên quan tuân thủ thuốc và các yếu tố nhân khẩu học 23

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tuân thủ thuốc với kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA 24

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tuân thủ thuốc với các loại tuân thủ khác 25

Trang 8

Chương 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bệnh lý tim mạch, tăng huyết áp (THA) là bệnh lý thường gặp Năm

2000, tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới là 1 tỷ người và dự kiến năm 2025 khoảng 1,56 tỷ người và phần lớn gặp ở người có độ tuổi từ 50 trở lên [22] Tăng huyết áp

là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh tim mạch, đột quỵ Theo ước tính của WHO, biến chứng của THA liên quan tới 9,4 triệu ca tử vong mỗi năm, THA gây nên 45% ca tử vong do các bệnh tim mạch và ít nhất 51% số ca tử vong do đột quỵ Đáng chú ý là gần 80% các ca tử vong do bệnh tim mạch tập trung ở các nước có thu nhập thấp trong đó có Việt Nam

Một thống kê tại Mỹ (2007) cho thấy có khoảng 72 triệu người bị THA [36]

Và tại các nước khu vực Châu Âu con số này cũng không phải là nhỏ lên tới 40,8%

ở người trưởng thành Trong khi đó khu vực Đông Nam Á cũng là 36% người trưởng thành bị tăng huyết áp Thống kê của WHO cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp cao nhất là ở châu Phi (46% người lớn), trong khi tỷ lệ thấp nhất được tìm thấy ở châu

Mỹ (35% người trưởng thành) Nhìn chung, các nước thu nhập cao có tỷ lệ tăng huyết áp thấp hơn (35% người lớn), theo đó WHO đã đồng ý về việc kiểm soát huyết áp là một trong các mục tiêu của ngày “Sức khỏe thế giới” [23]

Tại Việt Nam, một số thống kê cũng đã cho thấy tần suất THA cũng gia tăng, Tại Huế, thống kê cho thấy tỉ lệ THA tại bệnh viện Trung Ương Huế năm 1980 là 1%, năm 1990 là 10%, 2007 là 21% [9] Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thiện Thuần và cộng sự năm 2005 tỉ lệ THA độ tuổi từ 25 đến 65 ở thành phố Hồ Chí Minh là 26,52% [10]

Ngược với tình trạng THA ngày càng gia tăng, sự nhận thức, điều trị dự phòng và kiểm soát của nhiều người bệnh (NB) ở nhiều nước cũng như ở Việt Nam còn chưa đầy đủ điều đó dẫn đến biến chứng của bệnh đang ngày càng gia tăng Tại một số nước phát triển như Hoa Kỳ, trong năm 2006, trong tổng số người bị THA

có khoảng 77,6 % được biết bị THA Trong tổng số người bệnh bị THA chỉ có 67,9% được điều trị và chỉ có 44,1% là được khống chế tốt trong khi có tới 55,9% không được khống chế tốt [24] Tại một số nước như Canada; Anh, Đức Tỷ lệ người bệnh THA được điều trị cũng chỉ từ 23-49%

Trang 9

Tại Việt Nam điều tra năm 2008 [13] thấy rằng trong số những người bị tăng huyết áp có 52% là không biết mình bị tăng huyết áp; 39% những người biết bị tăng huyết áp nhưng không điều trị và 64% những người đó tăng huyết áp đã điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu Tại Thái Nguyên gần 1/4 số người lớn có tăng huyết áp, nhưng lại có rất ít người nhận thức được tình trạng này, chỉ ít người trong số họ có nhận thức về việc kiểm soát huyết áp Chiến lược y tế là cần tăng cường nhận thức về tăng huyết áp, cũng như cải tiến trong điều trị và kiểm soát tăng huyết áp giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong

Phân tích tổng hợp 55 nghiên cứu can thiệp đa yếu tố nguy cơ phòng bệnh tim mạch cho thấy: can thiệp bằng tư vấn và giáo dục thay đổi hành vi nguy cơ (hút thuốc lá, lạm dụng rượu, dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực) có thể có hiệu quả trong giảm tử vong do bệnh THA [17]

Vì vậy phòng ngừa và điều trị tăng huyết áp được ưu tiên trong hệ thống chăm sóc sức khỏe do tỷ lệ cao và tỷ lệ kiểm soát thấp, đặc biệt là ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình Đánh giá chính xác hành vi tuân thủ điều trị kiểm soát huyết áp là hết sức cần thiết cho việc theo dõi kết quả điều trị và giúp các bác sĩ đưa ra những phác đồ điều trị phù hợp cho người bệnh, tại Việt Nam hiện nay có rất

ít nghiên cứu về hành vi tuân thủ kiểm soát huyết áp của người bệnh THA theo khuyến cáo mà Bộ y tế đưa ra, đặc biệt tại địa bàn tỉnh Nam Định chưa có nghiên cứu về tuân thủ điều trị kiểm soát huyết áp Xuất phát từ những lí do trên chúng

tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng kiến thức thực hành về kiểm soát tăng

huyết áp ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa

tỉnh Nam Định” nhằm hai mục tiêu sau:

1 Thực trạng kiến thức về kiểm soát tăng huyết áp ở người bệnh tăng huyết

áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định

2 Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiểm soát tăng huyết áp của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định

Trang 10

Chương 2

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận về tăng huyết áp

2.1.1 Khái niệm

Định nghĩa tăng huyết áp (THA)

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) một người trưởng thành (≥ 18 tuổi) được gọi là tăng huyết áp (THA) khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết á p tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg [23]

đo tại nhà (đo nhiều lần) HATT ≥ 135 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 85 mmHg được gọi là THA [1]

Phân loại

Có nhiều cách phân loại tăng huyết áp

Phân loại theo nguyên nhân gồm có tăng huyết áp vô căn hay nguyên phát (chiếm khoảng 95%) THA thứ phát là THA có nguyên nhân (chiếm khoảng 5%);

(1) THA tâm trương hoặc tâm thu đơn độc;

(2) Phân theo mức độ THA: theo WHO 2003 hoặc JNC VII 2003 (Bảng 2.1; 2.2);

(3) Phân loại theo mức độ tổn thương cơ quan đích

Trang 11

Bảng 2.1 Phân loại huyết áp ở người lớn theo WHO 2004

HATT(mmHg)

HATTr(mmHg)

Bảng 2.2 Phân loại huyết áp ở người lớn ≥ 18 tuổi (JNC VII 2004)

Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình

Theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy bệnh THA có yếu tố di truyền Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn

Hút thuốc lá: nicotin trong khói thuốc l gây co mạch ngoại biên tăng nồng độ serotonin cathecholamin ở não tuyến thượng thận Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh

Trang 12

Uống nhiều rượu/bia: rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA

Ăn mặn: lượng muối ăn hàng ngày quá cao là một nguyên nhân gây ra

THA Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện pháp phòng ngừa THA và là cách điều trị không dùng thuốc tốt nhất

Ít vận động, sang chấn tâm lý, béo phì, đái tháo đường, rối loạn lipid máu

là những yếu tố nguy cơ thói quen lối sống gây ảnh hưởng đến huyết áp và bệnh

lý tim mạch

Hội chứng chuyển hóa: THA là một trong những biểu hiện của hội

chứng chuyển hóa Hội chứng chuyển hóa bao gồm béo phì rối loạn chuyển hóa glucose rối loạn chuyển hóa lipid và THA

2.1.4 Triệu chứng tăng huyết áp [1]

Phần lớn người bệnh THA không có triệu chứng cơ năng phát hiện bệnh

có thể do đo huyết áp thường quy hoặc khi đã có biến chứng

- Tuy nhiên có một số biểu hiện do chính mức huyết cao gây ra như là: đau đầu xây xẩm hồi hộp dễ mệt và bất lực (ở nam giới) Đau đầu thường chỉ xảy ra khi có THA nặng thông thường ở vùng chẩm sau gáy và thường vào buổi sáng

- Chảy máu mũi tiểu ra máu, mờ mắt cơn yếu hay chóng mặt do thiếu máu não thoáng quá cơn đau thắt ngực khó thở do suy tim …

- Có thể có các biểu hiện do bệnh căn gây ra gồm: uống nhiều tiểu nhiều yếu cơ do hạ kali máu ở người bệnh cường aldosteron tiên phát; hoặc tăng cân

dễ xúc động ở người bệnh bị hội chứng Cushing Ở người bệnh u tủy thượng thân thường bị nhức đầu hồi hộp toát mồ hôi xây xẩm tư thế, …

2.1.5 Biến chứng của tăng huyết áp

THA thường không có triệu chứng không gây khó chịu cho người bệnh nên ít người biết để đề phòng hoặc biết mà vẫn chủ quan Khi có triệu chứng thì cũng là lúc có biến chứng rồi và THA đã ở giai đoạn muộn Một số biến chứng xảy ra thì những cơ quan chịu ảnh hưởng nhiều nhất của THA là:

Biến chứng não

Tăng huyết áp có thể gây tai biến mạch não như xuất huyết não, nhồi máu não…[1]

Trang 13

Biến chứng tim

Dày cơ tâm thất trái thiếu máu cơ tim cục bộ nhồi máu cơ tim loạn nhịp

suy tim, nhồi máu cơ tim liên quan nhiều đến tình trạng THA [1]

Biến chứng mắt

Một nghiên cứu cho thấy rằng gần 10% người trưởng thành tăng huyết áp bị bệnh lý về võng mạc Tăng huyết áp có ảnh hưởng sâu rộng trên trên các bộ phận của mắt như là tổn thương của võng mạc, điển hình là bệnh lý xuất huyết võng mạc, nặng hơn có thể gây mù Kiểm soát huyết áp là một biện pháp ngăn ngừa bệnh lý võng mạc

Biến chứng thận

Thận là cơ quan bị ảnh hưởng muộn nhất THA có thể dẫn đến tổn thương thận và là nguyên nhân của bệnh thận mạn tính Tuy nhiên rất khó phân biệt suy thận do THA hay THA là do bệnh thận mạn tính gây nên

Phình tách động mạch chủ, xơ vữa động mạch

THA là thủ phạm gây ra 67% nhồi máu cơ tim 77% đột quỵ 74% suy tim

và 26% suy thận mạn tính Nguyên nhân chính là xơ vữa động mạch ở người bệnh THA [23] THA làm thay đổi cấu trúc mạch xơ hóa và xơ vữa hẹp lòng mạch rồi dẫn tới phình tách mạch

2.1.6 Cơ sở lý luận về kiến thức kiểm soát tăng huyết áp

Lợi ích của điều trị và kiểm soát được huyết áp:

Các nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy điều trị hạ huyết áp sẽ giảm trung bình 35% đến 40% đột quỵ giảm 20-25% nhồi máu cơ tim và giảm trên 50% suy tim Trên người bệnh THA có kèm theo đái tháo đường điều trị tích cực THA không những giảm các biến cố tim mạch mà còn giảm biến chứng suy thận mạn tính của bệnh đái tháo đường

Các biện pháp điều trị:

Điều trị không dùng thuốc:

Điều trị không dùng thuốc là phương pháp điều trị kết hợp dù có kèm theo dùng thuốc hay không để ngăn ngừa tiến triển của bệnh giảm được huyết

áp và giảm số thuốc cần dùng bao gồm [1]

Chế độ ăn giảm muối natri, hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo bão hòa

Trang 14

Tuy nhiên hạn chế tuyệt đối muối natri trong thức ăn là điều không thể thực hiện được Do đó nên hạn chế vừa phải bằng cách tránh thức ăn chế biến sẵn tránh thêm muối nước mắm khi nấu món ăn không ăn mỡ động vật…Lợi ích của chế độ ăn giảm muối vừa phải bao gồm: gia tăng hiệu quả của thuốc

hạ huyết áp giảm mất kali do thuốc lợi tiểu giảm phì đại thất trái giảm protein niệu giảm nguy cơ đột quỵ giảm huyết áp Theo nghiên cứu DASH khi hiện chế độ ăn giảm muối và chế độ ăn DASH (nhiều rau và trái cây ít chất béo bão hòa, sữa giảm béo) đều giảm được huyết áp [20]

Hạn chế uống rượu/bia:

Nếu dùng quá nhiều rượu/bia có thể làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não ở người bệnh THA làm tăng trở kháng với thuốc điều trị THA Do đó lượng rượu dùng cần hạn chế dưới 3 cốc chuẩn/ngày với nam, dưới 2 cốc chuẩn/ngày với nữ và tổng cộng dưới 14 cốc chuẩn/tuần với nam và dưới 9 cốc chuẩn/tuần với nữ Một cốc chuẩn cho 10g ethanol tương đương 330 ml bia

120 ml rượu vang hoặc 30 ml rượu mạnh [1]

Ngừng hút thuốc lá/thuốc lào:

Ngừng hút thuốc lá/thuốc lào là một trong các biện pháp hiệu quả nhất

để giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch Hút thuốc hoặc khói thuốc do người khác hút làm tăng huyết áp Ngừng hút thuốc không những làm giảm huyết áp

mà còn giảm cả bệnh động mạch vành và đột quỵ Tất cả người bệnh THA cần phải bỏ thuốc Lợi ích cho tim mạch đạt được ngay trong năm đầu tiên ngừng hút thuốc [7]

Tăng cường vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 -60 phút mỗi ngày:

Hoạt động thể lực giúp hạ huyết áp đồng thời giảm các bệnh tim mạch hoặc nội khoa khác Tham gia vào các hoạt động thể chất thường xuyên như đi

bộ nhanh ít nhất 30 phút mỗi ngày, nếu tham gia các hoạt đọng vừa phải vào hầu hết các ngày trong tuần thì thời gian hợp lý là hơn 10 phút sẽ giúp làm giam huyết

áp từ từ 4 đến 9 mmHg [19]

Điều trị tăng huyết áp dùng thuốc:

Theo JNC VII các nhóm thuốc điều trị THA [19] bao gồm: thuốc lợi tiểu thuốc ức chế men chuyển và ức chế thụ thể angiotensin II thuốc ức chế calci thuốc

Trang 15

ức chế beta giao cảm, thuốc ức chế thần kinh trung ương, ức chế alpha 1 và ức chế alpha-beta giao cảm Phối hợp các loại thuốc hạ huyết áp thường được khuyến cáo

(1) Thuốc lợi tiểu: có 4 nhóm thuốc lợi tiểu sử dụng trong điều trị THA là lợi tiểu thiazid, lợi tiểu quai, lợi tiểu giũ kali và chẹn thụ thể aldosteron Tác dụng hạ

áp của thuốc lợi tiểu có được qua sự gia tăng bài tiết natri và giảm thể tích huyết tương, giảm thể tích dịch ngoại bào, giảm cung lượng tim Sau 6-8 tuần khi thể tích huyết tương dịch ngoại bào và cung lượng tim trở về bình thường thì tác dụng hạ huyết áp được duy trì của sự giảm sức cản mạch hệ thống ( có thể qua sự hoạt hóa kênh kali )

(2) Thuốc chẹn beta: là một trong những thuốc được khuyên là thuốc lựa chọn đầu tiên điều trị THA không có chỉ định bắt buộc Cần lưu ý thuốc có thể gây hạ huyết áp tư thế đứng

(3) Thuốc ức chế men chuyển: Ngoài tác dụng chính là giãn mạch, thuốc gây hạ

áp còn thông qua tăng bài tiết natri, giảm tăng hoạt giao cảm khi giãn mạch

do đó không làm tăng tần số tim giãm tiết chất co mạch nội mạc và cải thiện chức năng nội mạch

(4) Thuốc chẹn thụ thể angiotensin II

(5) Các thuốc ức chế calci: ngăn cản sự di chuyển ion calci vào trong tế bào do

đó có tác dụng giãn mạch

(6) Các thuốc hạ huyết áp khác: thuốc chẹn thụ thể alpha thuốc ức chế giao cảm trung ương không chọn lọc các thuốc ức chế thần kinh ngoại vi

Tầm quan trọng của kiểm soát huyết áp dựa trên chỉ số huyết áp:

Tự đo huyết áp có thể lợi cho người bệnh bằng cách cung cấp thông tin về phản ứng với thuốc hạ huyết áp, cải thiện sự tuân thủ của người bệnh với điều trị [21]

Theo khuyến cáo của CDC 2013 [15] thì người THA nên theo dõi huyết áp ít nhất hai lần trong ngày với ít nhất một lần vào buổi sáng và một lần vào buổi tối, các số đo nên ghi lại và báo cáo mỗi tuần cho cán bộ y tế chăm sóc

Kiểm soát huyết áp cần có sự tuân thủ điều trị

Theo khuyến cáo Bộ y tế về điều trị bệnh THA, tuân thủđiều trị không

Trang 16

những bao gồm dùng thuốc kéo dài theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ mà còn bao gồm thay đổi lối sống như chế độ ăn hạn chế muối natri, hạn chế thực phẩm

có nhiều cholesterol và acid béo bão hòa, giảm uống rượu/bia, không hút thuốc lá /thuốc lào, tập thể dục mức độ vừa phải khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày và cần đo huyết áp hàng ngày [1], những khuyến cáo này cũng hoàn toàn phù hợp với những khuyến cáo về điều trị giảm huyết áp bằng thay đổi lối sống của (Phân Hội THA /Hội Tim Mạch Việt Nam ) VSH/VNHA 2015 [6]

và JNC VII đưa ra năm 2003 [19] Cụ thể:

(1) Kiểm soát huyết áp (KSHA) bằng thuốc là dùng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng chỉ dẫn của cán bộ y tế;

(2) Kiểm soát huyết áp bằng chế độ ăn là ăn hạn chế muối natri, cholesterol và acid béo bão hòa;

(3) KSHA liên quan đến tập thể dục là tập thể dục ở mức độ vừa phải như đi bộ nhanh khoảng 30 -60 phút mỗi ngày và 5-7 lần/tuần;

(4) KSHA liên quan đến thuốc lá /thuốc lào là không hút thuốc lá /thuốc lào;

(5) KSHA liên quan đến rượu/bia là số lượng rượu/bia ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam) ít hơn 2 cốc chuẩn /ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần nam) ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) (một cốc chuẩn chứa 10 gram ethanol tương đương 330ml bia hoặc 120 ml rượu vang hoặc 30 ml rượu mạnh)

(6) KSHA liên quan đến đo huyết áp là đo và ghi lại số đo huyết áp hàng ngày để theo dõi sự biến động của huyết áp giúp thầy thuốc dễ điều chỉnh thuốc cho phù hợp

2.2 Cơ sở thực tiễn về kiến thức tuân thủ điều trị tăng huyết áp

2.2.1 Thế giới

Hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ tuân thủ thuốc kiểm soát huyết áp của người bệnh không cao và có sự thay đổi tương đối lớn giữa các nghiên cứu Sự thay đổi này liên quan đến sự khác biệt trong nhóm nghiên cứu, thời gian theo dõi, phương pháp đánh giá sự tuân thủ kiểm soát huyết áp và phác đồ thuốc được sử dụng giữa các nghiên cứu

Với phương pháp đo lường tuân thủ để kiểm soát huyết áp dựa vào hệ thống tự ghi nhận như thang đo của Donald và cộng sự (2008) gồm 8 mục để

Trang 17

đo lường tuân thủ thuốc hạ huyết áp Theo đó 8 câu hỏi về hành vi dùng thuốc của người bệnh được đưa ra để người bệnh tự trả lời… Theo thang đo này tỷ lệ tuân thủ thuốc để kiểm soát huyết áp là 67,8% [16]

Một nghiên cứu khác tại Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng cách đo lường tuân thủ thuốc là dùng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn trong vòng ít nhất

là 1 tuần cũng đưa ra tỷ lệ tuân thủ thuốc là 72% [14]

Ngoài ra một số nghiên cứu khác còn sử dụng các biện pháp gián tiếp khác như đánh giá sự thay đổi huyết áp và có đạt được huyết áp mục tiêu hay không Một phân tích tổng hợp của Hosie và Wiklund đánh giá 301 bác sĩ và

300 người bệnh ở Ý, Pháp và Anh đã chỉ ra hầu hết người bệnh (76%) kiểm soát huyết áp tốt là tuân thủ điều trị và số người bệnh còn lại không tuân thủ nên không kiểm soát được tốt huyết áp [18]

Kiểm soát huyết áp không dùng thuốc

Hiệu quả của điều trị không dùng thuốc thuốc như chế độ ăn hạn chế muối chất béo động vật giảm lượng bia /rượu tiêu thụ không hút thuốc, hoạt động thể lực ở mức độ vừa phải trong việc làm giảm huyết áp đã được nhiều nghiên cứu ghi nhận Tuy nhiên thông tin về phương pháp đánh giá đo lường và cũng như việc đưa ra tỷ lệ tuân thủ để kiểm soát được huyết áp còn tương đối ít

và đôi khi được giả định là tương tự như tuân thủ thuốc hạ huyết áp và đây chính

là vấn đề còn nghiên cứu thêm [19]

Thực tế chỉ có một vài nghiên cứu dẫn ra được tỷ lệ tuân thủ với điều trị không dùng thuốc để kiểm soát huyết áp của người bệnh THA Điển hình nhất

là nghiên cứu của Uzun S và CS (2009) [21] thực hiện trên người bệnh khám

và điều trị THA ngoại trú với 44 câu hỏi thì cho thấy việc tuân thủ kiểm soát huyết áp bằng chế độ ăn là 65% khi thực hiện chế độ ăn ít chất béo và ít muối; kiểm soát huyết áp liên quan với tập thể dục là tỷ lệ là 31% theo chế độ tập 30-60 phút/ngày, ít nhất là 3 lần mỗi tuần; không hút thuốc lá/thuốc lào có tỷ lệ là 83%; 63% đối tượng nghiên cứu có theo dõi huyết áp bằng cách đo và ghi lại số đo huyết áp ít nhất một lần một ngày

Một nghiên cứu khác trên 4910 đối tượng ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng đưa ra tỷ lệ kiểm soát huyết áp bằng cách tuân thủ chế độ ăn là 66,3%, tập thể dục là 35,1%

Trang 18

ở nữ giới và 54,7% ở nam giới [14]

2.2.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về nhận thức tuân thủ điều trị để kiểm soát THA ở người trưởng thành Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Hà thực hiện nghiên cứu nhận thức, theo dõi và tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại Hải Phòng cho thấy có 64,62% người bệnh không uống thuốc điều trị [3]

Năm 2005, Đàm Viết Cương và cộng sự tiến hành nghiên cứu đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam cho thấy có 45% NCT không biết gì về cách phòng chống bệnh THA [2]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hằng (2006) tìm hiểu về tuân thủ điều trị kiểm soát huyết áp trên 165 người bệnh THA thì tỷ lệ tuân thủ điều trị bao gồm chế độ ăn hợp lý, tập luyện hợp lý, đo huyết áp định kỳ và sử dụng thường xuyên thuốc điều trị THA là 25,9%, chế độ ăn của người bệnh là 22,2% đựợc đánh giá qua một câu hỏi mang tính chất chủ quan là có thực hiện chế độ ăn kiêng sau khi bị phát hiện THA không Về tuân thủ tập thể dục nghiên cứu cũng đưa ra tỷ lệ

là 61,8% có tuân thủ, nhưng chỉ dựa vào tập luyện thường xuyên và thời gian trên

30 phút mà chưa quan tâm đến mức độ tập Tuân thủ chế độ dùng thuốc được đánh giá dựa vào việc có sử dụng thuốc hạ huyết áp thường xuyên không và đưa ra tỷ lệ

là 52,7% Cũng có 69,7% NB có theo dõi số đo huyết áp định kỳ Nghiên cứu cũng chỉ ra được mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ điều trị kiểm soát huyết áp và đạt huyết áp mục tiêu [5]

Theo Vương Thị Hồng Hải (2007) nghiên cứu trên người bệnh THA điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ tuân thủ thuốc tốt là 73,4%; chế độ ăn kiêng và thay đổi lối sống là 63,3% [4]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt (2007) cho thấy chỉ có 34,6% người bị THA biết mình có bệnh còn 65,4% không biết mình bị THA Có 24,9% đối tượng nghiên cứu sử dụng thuốc điều trị bệnh Kiến thức của người dân về các yếu tố nguy cơ bệnh tăng huyết áp dao động từ 35% - 85,6% Kiến thức của người dân về biến chứng của bệnh tăng huyết áp dao động từ 52 % - 84,7% [12]

Nghên cứu của Nguyễn Minh Phương (2011) trên 250 người bệnh THA tuổi từ 25-60 ở 4 phường được triển khai Dự án phòng chống THA của thành

Trang 19

phố Hà Nội là Thụy Khê, Cầu Diễn, Phố Huế, Trung Tự cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị chung là 44,8% bao gồm tuân thủ thực hiện chế độ ăn, tập thể dục uống thuốc, đo huyết áp Với tỷ lệ từng loại là: Tuân thủ uống thuốc dừng lại ở uống thuốc đầy đủ là 45,6%, chế độ ăn đạt yêu cầu 36%, gồm 5 yếu tố là ăn nhạt, ăn nhiều rau, ăn ít chất béo, hạn chế rượu/bia, không hút thuốc và đánh giá đạt yêu cầu khi đạt trên 3 lựa chọn Có 66,4% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) hạn chế uống rượu/bia nhưng đây là nhóm đối tượng không uống rượu/bia như vậy là nghiên cứu này đã đưa ra tỷ lệ hạn chế rượu/bia thấp hơn thực tế (bao gồm tất

cả những đối tượng có uống) và chưa đầy đủ (chưa đánh giá ngày uống nhiều nhất và tổng số cốc/tuần) vì theo khuyến cáo mới nhất mà Bộ y tế đưa ra thì chỉ cần hạn chế lượng rượu/bia dưới mứ c quy định là dưới 3 cốc chuẩn/ngày đối với nam dưới 2 cốc chuẩn/ngày đối với nữ và tổng cộng dưới 14 cốc chuẩn/tuần với nam dưới 9 cốc chuẩn/tuần với nữ mà không cần phải ngừng hẳn 34% đối tượng đo huyết áp thường xuyên nhưng chưa có thông tin về ghi lại số đo để theo dõi Về tuân thủ không hút thuốc có 72%, tuân thủ tập thể dục 62,8% là tập thể dục thường xuyên và cũng chưa quan tâm đến 2 khía cạnh quan trọng khác của tập thể dục là thời gian tập theo khuyến cáo là từ 30 – 60 phút và cường độ tập ở mức độ vừa phải (tương đương đi bộ nhanh) Nếu có tập thường xuyên nhưng thời gian tập quá ngắn hoặc quá dài hoặc tập mức độ nhẹ hoặc quá nặng đều được coi là không tuân thủ điều trị và ít có hiệu quả kiểm soát huyết áp Nghiên cứu cũng chỉ ra được 2 yếu tố có liên quan đến tuân thủ điều trị sau khi loại trừ yếu tố nhiễu bằng phân tích hồi quy logistic là giới tính (đối tượng là nữ tuân thủ cao hơn) và kiến thức về THA (đối tượng có kiến thức đạt tuân thủ cao hơn) [11]

Theo nghiên cứu của gần đây nhất trên 345 người cao tuổi và có can thiệp trên 257 người của Trần Văn Long năm 2012 Thì cho thấy sự tuân thủ của người bệnh tăng huyết áp ở các chế độ tuân thủ để kiểm soát huyết áp là tương đối Trong nghiên cứu này cho thấy sự tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối là 15,6%, thể dục thể thao là 58,7%, hạn chế không uống rượu/bia ở cả nam và nữ và không hút thuốc là không có ý nghĩa thống kê [8]

Như vậy, ở nước ta tỷ lệ người bệnh THA không biết bị bệnh, hoặc biết bị

Trang 20

bệnh nhưng chưa được điều trị hoặc điều trị chưa đúng chiếm gần 70% Hầu hết các người bệnh THA chỉ điều trị khi thấy khó chịu và thường khi thấy con số huyết áp

về bình thường là tự ý bỏ thuốc, hoặc chỉ điều trị một đợt, không khám lại…Tỷ lệ người bệnh phải tái nhập viện, tàn phế hoặc tử vong do bệnh gây ra vẫn ngày càng gia tăng Nguyên nhân chính là do nhận thức của người dân về bệnh THA còn hạn chế Để góp phần hạn chế gánh nặng của bệnh là cần phải tăng cường giáo dục sức khoẻ cho người bệnh THA nói riêng và cho cộng đồng nói chung một cách thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm giúp mọi người dân thực hiện lối sống tích cực, hạn chế tỷ lệ bị THA, phát hiện sớm bệnh và tuân thủ điều trị để kiểm soát huyết áp

Trang 21

Chương 3

LIÊN HỆ THỰC TIỄN

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Do tiêu chí và thời gian làm khóa luận nên trong quá trình thu thập chúng

em thu thập mức tới thiểu là 30 người bệnh

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học (n=30)

Đặc điểm nhân khẩu học Số NB

Học vấn

Mù chữ Tiểu học Phổ thông cơ sở Trung học phổ thông Trung cấp cao đẳng

Hoàn cảnh gia đình

Sống với gia đình Sống một mình

27

3

90,0 10,0

Công việc hiện tại

Nghỉ hưu hoặc không đi làm

Còn đi làm

27

3

90,0 10,0

Các đặc trưng nhân khẩu học các ĐTNC được tóm tắt trong bảng 3.1 Theo đó tỷ lệ người bệnh nữ (60,0%) cao hơn so với người bệnh nam (40,0%) Phần lớn người bệnh có độ tuổi trên 60 và hơn một nửa có độ tuổi từ 70 trở lên Hầu hết NB tham gia nghiên cứu đều đã học từ trung học cơ sở (chỉ có khoảng 4 người bệnh chiếm tỷ lệ 13,3% là học hết tiểu học và không có bất kỳ người bệnh nào không biết chữ) Hầu hết người bệnh (90,0%) đều sống với gia đình (sống với vợ/chồng và/hoặc con cháu) chỉ có rất ít (3 người bệnh chiếm 10,0%) là sống một mình Có 27 người bệnh trong tổng số 30 người bệnh (90,0%%) đã nghỉ hưu hoặc không đi làm

Trang 22

3.1.2 Đặc điểm liên quan đến điều trị THA

Bảng 3.2 Đặc điểm liên quan đến điều trị (n=30)

Hoàn cảnh phát hiện THA

Có biểu hiện triệu chứng Phát hiện khi đi khám

19

11

63,3 36,7

Giai đoạn THA lúc bắt đầu điều trị

THA độ 1 THA độ 2 THA độ 3

4

12

14

13,3 40,0 46,7

Thời gian điều trị

Tiền sử có biến cố tim mạch

Người nhắc nhở tuân thủ điều trị

Bảng 3.2 cho thấy có đến khoảng 2/3 số người bệnh (NB) được phát hiện THA khi có biểu hiện triệu chứng Gần một nửa NB được phân loại THA độ 3 lúc bắt đầu điều trị (theo phân loại của JNC VII) Gần hơn một nửa số NB có thời gian điều trị từ 18 tuần đến 60 tháng Trong số 30 NB c ó đến hơn 46,7% đã từng có biến cố tim mạch như đột quỵ suy tim… Có đến 56,7% là không có ai trong gia đình nhắc nhở người bênh thực hiện các tuân thủ trong điêu trị THA

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w