1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng kiến thức của bà mẹ về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi tại 3 xã ngoại thành, thành phố lạng sơn năm 2020

104 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng kiến thức của bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp và Đánh giá sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về dự p

Trang 1

TRẦN VĂN ĐANG

KIẾN THỨC CỦA BÀ MẸ VỀ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC BỆNH TIÊU CHẢY CẤP CHO CON DƯỚI 12 THÁNG TUỔI TẠI 3 XÃ NGOẠI THÀNH, THÀNH PHỐ LẠNG

SƠN SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – NĂM 2020

Trang 2

TRẦN VĂN ĐANG

KIẾN THỨC CỦA BÀ MẸ VỀ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC BỆNH TIÊU CHẢY CẤP CHO CON DƯỚI 12 THÁNG TUỔI TẠI 3 XÃ NGOẠI THÀNH, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE

Ngành: Điều dưỡng

Mã số: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

HD1: PGS.TS VŨ PHONG TÚC

HD2 TS.BS TRƯƠNG TUẤN ANH

NAM ĐỊNH – NĂM 2020

Trang 3

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng kiến thức của bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp và Đánh giá sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi tại 3 xã ngoại thành, Thành phố Lạng Sơn năm 2020

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả kiến thức của

270 bà mẹ về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi tại 3 xã ngoại thành, Thành phố Lạng Sơn Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe

có so sánh trước sau tiến hành trên 90 bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi tại 3 xã ngoại thành, thành phố Lạng Sơn Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu

Kết quả: Trước can thiệp tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt về chăm sóc và phòng

bệnh tiêu chảy là 15,6%; tỷ lệ này tăng lên ngay sau can thiệp giáo dục sức khỏe và sau can thiệp 1 tháng thì tỷ lệ này lần lượt là 91,1%; 87,8% Kiến thức khá trước can thiệp chiếm tỷ lệ là 22,2% nhưng sau can thiệp tỷ lệ này còn 7,8%; sau can thiệp 1 tháng thì tỷ lệ là 8,9% Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức trung bình trước can thiệp

là 43,3%; giảm ngay sau can thiệp là 1,1%; sau can thiệp 1 tháng còn 3,3% Bà mẹ

có kiến thức kém trước can thiệp là 18,9% nhưng sau can thiệp và sau can thiệp 1 tháng thì tỷ lệ này là 0%.

Kết luận: Kiến thức của bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi về phòng và chăm

sóc trẻ tiêu chảy còn nhiều hạn chế ở thời điểm trước can thiệp, nhưng được cải thiện đáng kể sau can thiệp Điều này cho thấy tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe đã góp phần nâng cao hiệu quả điều trị tiêu chảy

Từ khóa: Kiến thức của bà mẹ; tiêu chảy cấp; giáo dục sức khỏe

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định bằng sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học và quý Thầy Cô trong trường đã tận tình giảng dạy, truyền đạt và trang bị những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn đã tận tình hỗ trợ, giúp

đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện thuận lợi nhất để giúp

em hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn cán bộ nhân viên trạm Y tế xã Hoàng Đồng, xã Mai Pha, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thập số liệu, phỏng vấn để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã cổ

vũ, động viên em trong học tập và trong cuộc sống

Em xin chân thành cảm ơn!

Nam Định, ngày tháng năm 2020

Học viên

Trần Văn Đang

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài do bản thân tôi thực hiện Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Các kết quả này chưa từng được công bố ở bất cứ một công trình nào khác

Nam Định, ngày tháng năm 2020

Học viên

Trần Văn Đang

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ,SƠ ĐỒ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tiêu chảy ở trẻ em 4

1.2 Dịch tễ học bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em 11

1.3 Một số biện pháp chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy 14

1.4 Kiến thức của bà mẹ về cách chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em 19 1.5 Địa bàn nghiên cứu 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu và biến số nghiên cứu 28

2.5 Bộ công cụ và cách đánh giá 30

2.6 Kỹ thuật can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe 31

2.7 Phương pháp thu thập số liệu 33

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 35

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35

2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 36

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 37

Trang 7

3.2 Thực trạng kiến thức cùa bà mẹ về dự phòng và chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp 41 3.3 Sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về dự phòng và chăm sóc tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi sau can thiệp giáo dục sức khỏe 47 Chương 4: BÀN LUẬN 57 4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 57 4.2 Thực trạng kiến thức của bà mẹ về dự phòng, chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi tại ngoại thành - Thành phố Lạng Sơn năm 2020 59 4.3 Sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về dự phòng, chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi tại ngoại thành - Thành phố Lạng Sơn năm 2020 65 4.4 Hạn chế của nghiên cứu 71 KẾT LUẬN 72 KHUYẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Phiếu điều tra bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổivề chăm sóc và phòng

bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em

Phụ lục 2: Tài liệu giáo dục sức khỏe chăm sóc và phòng bệnhtiêu chảy cấp

Phụ lục 3: Kiến thức phòng bệnh tiêu chảy cấp

Phụ lục 4: Kiến thức chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp

Phụ lục 5: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu

Phụ lục 6: Bảng đánh giá tính phù hợp của bộ công cụ nghiên cứu

Trang 8

UNICEF United Nations Children's Fund

(Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp quốc) WHO World Health Organization

(Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.2 Đặc điểm dân tộc của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.3 Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.4 Đặc điểm về số con trong gia đình của đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.5 Đặc điểm về nguồn nước, nhà tiêu hộ gia đình sử dụng 40

Bảng 3.6 Kiến thức về rửa tay phòng bệnh tiêu chảy 41

Bảng 3.7 Kiến thức về nguyên nhân mắc tiêu chảy 42

Bảng 3.8 Kiến thức về cách phòng bệnh tiêu chảy cấp 43

Bảng 3.9 Chế độ nuôi dưỡng khi trẻ bị tiêu chảy cấp 43

Bảng 3.10 Kiến thức về Oresol và tác dụng của Oresol 44

Bảng 3.11 Cách pha và sử dụng dung dịch Oresol, dung dịch thay thế Oresol 44

Bảng 3.12 Cách xử trí trẻ mắc tiêu chảy trong 24 giờ đầu 45

Bảng 3.13 Dấu hiệu đưa trẻ đến cơ sở y tế 45

Bảng 3.14 Cách xử lý phân của trẻ tiêu chảy 46

Bảng 3.15 Thay đổi mức độ kiến thức về dấu hiệu bệnh tiêu chảy của các bà mẹ

Bảng 3.16 Thay đổi mức độ kiến thức về nguyên nhân trẻ bị tiêu chảy 48

Bảng 3.17 Thay đổi mức độ kiến thức về cách phòng bệnh tiêu chảy 49

Bảng 3.18 Thay đổi kiến thức về tác dụng của dung dịch Oresol trước vàsau can thiệp 50

Bảng 3.19 Thay đổi kiến thức về cách pha và sử dụng dung dịch Oresol trước vàsau can thiệp 51

Bảng 3.20 Thay đổi kiến thức về chế độ nuôi dưỡng trẻ khi mắc tiêu chảy trước và sau can thiệp 53

Bảng 3.21 Thay đổi kiến thức về dấu hiệu đưa trẻ đến cơ sở y tếtrước và sau can thiệp 54

Bảng 3.22 Phân loại kiến thức về chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ của bà mẹ trước can thiệp, ngay sau can thiệp và sau can thiệp 1 tháng 55

Bảng 3.23 Điểm trung bình chung kiến thức về chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ của bà mẹ trước can thiệp, ngay sau can thiệpvà sau can thiệp 1 tháng 56

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ,SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Hấp thu, bài tiết nước và điện giải ở liên bào ruột 10

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về trình độ học vấn 38

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về thu nhập của đối tượng nghiên cứu 39

Biểu đồ 3.3 Số lần mắc tiêu chảy của trẻ 40

Biểu đồ 3.4 Kiến thức về dấu hiệu mắc tiêu chảy 42

Biểu đồ 3.6 Thay đổi kiến thức về các dung dịch thay thế Oresol trước và sau can thiệp 52

Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu 26

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêu chảy cấp (TCC) là một bệnh thường gặp ở nhiều trẻ em không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Tiêu chảy cấp là nguyên nhân dẫn đến tử vong ở trẻ em nhiều hơn bất cứ bệnh nào khác, ngoại trừ viêm phổi [52] Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trên toàn cầu, có gần 1,7 tỷ ca tiêu chảy cấp ở trẻ em mỗi năm Trong đó, tiêu chảy cấp gây ra khoảng

525000 ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi [55] Theo một nghiên cứu năm 2016, tiêu chảy cấp là nguyên nhân gây tử vong thứ 5 ở trẻ em dưới 5 tuổi, với khoảng 446000

ca tử vong [52] Bên cạnh đó, tiêu chảy cấp không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển trí tuệ của trẻ Tiêu chảy cấp thường làm cho trẻ em yếu ớt và là nguyên nhân chính dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi [55] Ở Việt Nam, tình hình bệnh tiêu chảy có chiều hướng gia tăng và tiêu chảy cũng là một trong mười bệnh mắc và chết cao trong nhiều thập niên qua với 12000 trường hợp tử vong do tiêu chảy Số ca bệnh tiêu chảy năm

2012 ở 28 tỉnh miền Bắc là 433000, chỉ đứng sau số ca có triệu chứng cúm (870000) Số ca tử vong ước tính (2005) là 9600-12400 ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi

do tiêu chảy Trong số trẻ dưới 5 tuổi, 15% sẽ phải nhập viện do tiêu chảy và 50% cần tới phòng khám [28] Một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Diệu Chi Mai tại bệnh viện Xanh Pôn cho thấy, tỷ lệ phân bố ca tiêu chảy cấp do Rota Virus thấp nhất ở nhóm dưới 6 tháng tuổi (15,4%) và tăng cao ở nhóm 6 đến 12 tháng và nhóm

từ 12 đến 24 tháng tuổi (42,3%) Tỷ lệ phân bố các ca tiêu chảy cấp do căn nguyên khác thấp nhất ở nhóm 12 đến 24 tháng tuổi (18,2%) [20]

Tiêu chảy cấp là một bệnh có nhiều biến chứng nguy hiểm đến tính mạng của trẻ Ngoài những nguyên nhân gây bệnh như Rota virus, vi khuẩn E.coli, cách chăm sóc trẻ và tập quán sinh hoạt cũng là những yếu tố làm tăng nguy cơ tiêu chảy Những yếu tố này bao gồm: trẻ không được bú mẹ, ăn nhân tạo không đúng phương pháp, trẻ bú bình, trẻ ăn dặm sớm và không đúng cách, thức ăn không hợp

vệ sinh, sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm , chế độ vệ sinh cá nhân và vệ sinh ăn uống

Trang 12

kém, dùng kháng sinh bừa bãi Bên cạnh đó, trẻ dưới 12 tháng tuổi, những trẻ suy dinh dưỡng, trẻ đẻ non hoặc yếu có nguy cơ mắc tiêu chảy cấp cao hơn [18] Tuy nhiên, nếu bà mẹ hoặc người chăm sóc có kiến thức và thực hành tốt về chăm sóc

và phòng bệnh tiêu chảy cấp cho trẻ, có thể làm giảm tỷ lệ mắc, giảm tỷ lệ tử vong

và giảm biến chứng cho trẻ mắc tiêu chảy cấp

Một số nghiên cứu đánh giá kiến thức của bà mẹ về chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cấp đã được thực hiện Một nghiên cứu của tác giả Mekonnen G K và cộng sự đánh giá kiến thức của bà mẹ về tiêu chảy cấp và cách phòng bệnh tiêu chảy cấp tại Ethiopia năm 2016 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có đến hơn 1/3 (chiếm 38%) bà mẹ có mức độ kiến thức kém về cách chăm sóc, xử trí và phòng bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em Bên cạnh đó, có 59,8% bà mẹ có kiến thức ở mức độ trung bình, và chỉ có 2,2% bà mẹ có kiến thức tốt Cụ thể, có 82,3% bà mẹ biết sử dụng ORS khi trẻ bị tiêu chảy cấp nhưng chỉ có 27,8% bà mẹ biết cách pha ORS đúng cách [46] Các kết quả nghiên cứu đó cho thấy, kiến thức của bà mẹ có con nhỏ đặc biệt là con nhỏ dưới 12 tháng tuổi về chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cần được cải thiện Thành phố Lạng Sơn có 3 xã Hoàng Đồng, Mai Pha và Quảng Lạc với đa số là người dân tộc Tày và Nùng, với trình độ học vấn còn hạn chế Do vậy, kiến thức của các bà mẹ về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới

12 tháng tuổi tại những xã này còn hạn chế và cần được cải thiện Câu hỏi đặt ra ở đây là kiến thức của các bà mẹ về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp cho con ở 3 xã này ra sao; Kết quả của biện pháp giáo dục sức khỏe trong việc cải thiện kiến thức của các bà mẹ này như thế nào? Để trả lời cho những câu hỏi đó, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu can thiệp “Kiến thức của bà mẹ về dự phòng và chăm sóc

bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi tại 3 xã ngoại thành, thành phố Lạng Sơn sau giáo dục sức khỏe”

Trang 13

bệnh tiêu chảy cấp cho con dưới 12 tháng tuổi tại 3 xã ngoại thành, thành phố Lạng Sơn sau giáo dục sức khỏe

Trang 14

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tiêu chảy ở trẻ em

1.1.1 Định nghĩa bệnh tiêu chảy

Tiêu chảy là tình trạng cơ thể rối loạn hấp thu nước và điện giải dẫn đến bài tiết quá mức các thành phần chứa trong ruột Theo định nghĩa của Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) bệnh tiêu chảy là tình trạng người bệnh đi ngoài phân lỏng nhiều hơn 3 lần mỗi ngày hoặc đi ngoài nhiều lần [54]

Bộ Y tế đưa ra định nghĩa: Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng bất thường từ 3 lần trở lên trong 24 giờ (Chú ý: Quan trọng là tính chất lỏng của phân, vì nếu chỉ đi ngoài nhiều lần mà phân bình thường thì không phải là tiêu chảy Ví dụ: trẻ được bú

mẹ hoàn toàn đi ngoài phân sệt là bình thường) [2]

1.1.2 Phân loại bệnh tiêu chảy

Tiêu chảy cấp: Là tình trạng đi ngoài phân lỏng ≥3 lần/ngày, kéo dài không quá 14 ngày, thường dưới 7 ngày, đây là thể hay gặp nhất, chiếm 80% có đặc điểm tiêu chảy phân lỏng, nhiều nước, không thấy máu, có thể gây tử vong chủ yếu do mất nước và điện giải Thể này là mục tiêu chính của chương trình Quốc gia phòng, chống bệnh tiêu chảy Các tác nhân quan trọng gây tiêu chảy cấp thường là

Rotavirus, E.coli, Shigella, Vibrio cholerae, Salmonella

Tiêu chảy kéo dài: Là tình trạng đi ngoài phân lỏng ≥3 lần/ngày, kéo dài trên

14 ngày Trung bình có 3%-5% tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài Người bệnh thường bị sút cân rõ rệt Lượng phân đào thải lớn gây mất nước nhiều Không

có tác nhân vi sinh vật riêng biệt nào gây tiêu chảy kéo dài E.coli, Shigella có thể

có vai trò quan trọng hơn các tác nhân gây bệnh khác Tiêu chảy kéo dài khác với tiêu chảy mãn tính, tính chất của tiêu chảy mãn tính là hay tái phát và kéo dài do các nguyên nhân không nhiễm khuẩn như mẫn cảm với gluten hay rối loạn chuyển hóa

di truyền

Hội chứng lỵ: Là tình trạng ngoài phân lỏng ≥3 lần/ngày với đặc điểm phân nhầy máu, thường là có sốt Tốt nhất đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế để có sự chỉ định

Trang 15

thuốc đặc hiệu tác nhân gây bệnh Tác hại chính của lỵ là bệnh nhân chán ăn, sụt cân nhanh, niêm mạc ruột bị tổn thương do sự xâm nhập của vi khuẩn Bệnh còn

gây các biến chứng khác Nguyên nhân quan trọng nhất của lỵ cấp là Shigella, ít gặp hơn là E.coli, Salmonella [24]

Bộ Y tế cũng đưa ra phân loại tiêu chảy như sau [2]:

* Phân loại tiêu chảy theo cơ chế bệnh sinh

- Tiêu chảy xâm nhập: yếu tố gây bệnh xâm nhập vào liên bào ruột non, ruột già, nhân lên, gây phản ứng viêm và phá huỷ tế bào Các sản phẩm này bài tiết vào

lòng ruột và gây tiêu chảy phân máu (Shigella, Coli xâm nhập, Coli xuất huyết,

- Tiêu chảy thẩm thấu: Rotavirus, Giardia lamblia, Cryptosp-ordium bám

dính vào niêm mạc ruột, gây tổn thương diềm bàn chải của các tế bào hấp thu ở ruột non, các chất thức ăn không tiêu hóa hết trong lòng ruột không được hấp thu hết sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu, hút nước và điện giải vào lòng ruột, gây tiêu chảy và bất dung nạp các chất trong đó có Lactose

- Tiêu chảy do xuất tiết: phẩy khuẩn tả tiết độc tố ruột, không gây tổn thương đến hình thái tế bào mà tác động lên hẻm liên bào nhung mao làm tăng xuất tiết Có thể cả tăng xuất tiết và giảm hấp thu

* Phân loại tiêu chảy theo lâm sàng

+ Tiêu chảy cấp phân nước (bao gồm cả bệnh tả): Là đợt tiêu chảy cấp, thời gian không quá 14 ngày, thường khoảng 5 - 7 ngày, chiếm khoảng 80% tổng số các trường hợp tiêu chảy Nguy hiểm chính là mất nước và điện giải Gây giảm cân, thiếu hụt dinh dưỡng nếu không được tiếp tục nuôi dưỡng tốt

+ Tiêu chảy cấp phân máu (hội chứng lỵ)

Nguy hiểm chính là phá huỷ niêm mạc ruột và gây tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc Nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết, suy dinh dưỡng và gây mất nước Chiếm khoảng 10% - 15%, có nơi 20% tổng số các trường hợp tiêu chảy Do vị trí tổn thương của niêm mạc ruột nên tính chất phân có thể khác nhau, nếu tổn thương

ở đoạn trên ống tiêu hóa (ruột non) thì phân có nhiều nước lẫn máu nhầy (như nước

Trang 16

rửa thịt) Nếu tổn thương ở thấp (đại tràng) phân ít nước, nhiều nhầy máu, có kèm theo mót rặn, đau quặn

+ Tiêu chảy kéo dài

Là đợt tiêu chảy cấp kéo dài liên tục trên 14 ngày, chiếm khoảng 5% - 10% tổng số các trường hợp tiêu chảy Nguy hiểm chính là gây suy dinh dưỡng, nhiễm khuẩn nặng ngoài đường ruột và mất nước Thường phân không nhiều nước, mức

độ nặng nhẹ thất thường, kèm theo rối loạn hấp thụ nặng hơn tiêu chảy cấp Tiêu chảy kèm theo suy dinh dưỡng nặng (Marasmus hoặc Kwashiokor) Nguy hiểm chính là nhiễm trùng toàn thân nặng, mất nước, suy tim, thiếu hụt vitamin và

vi lượng

* Phân loại dựa vào nồng độ Natri máu

- Mất nước đẳng trương

- Mất nước ưu trương (Tăng Na+ máu)

- Mất nước nhược trương

* Phân loại theo mức độ mất nước

- Mất dưới 5% trọng lượng cơ thể: Chưa có dấu hiệu lâm sàng

- Mất từ 5 -10% trọng lượng cơ thể: Gây mất nước từ trung bình đến nặng

- Mất trên 10% trọng lượng cơ thể: Suy tuần hoàn nặng

1.1.3 Nguyên nhân tiêu chảy

Tiêu chảy là một hội chứng lâm sàng của nhiều căn nguyên khác nhau liên quan tới tiêu chảy nhiều lần phân nước, thường kèm theo nôn và sốt tùy theo nguyên nhân gây bệnh Các nghiên cứu hiện nay về nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy cho rằng trên 75% các trường hợp tiêu chảy được xác định rõ tác nhân gây bệnh, được xếp thành các nhóm chủ yếu sau:

* Tác nhân do vi khuẩn

Có rất nhiều chủng loại khác nhau là tác nhân gây ra bệnh tiêu chảy, nhưng chủ yếu là một số vi khuẩn sau:

- E.coli: Quan trọng là E.coli sinh độc tố ruột gây tiêu chảy ở trẻ trong 3 tuổi

đầu của cuộc đời, nhất là ở các nước đang phát triển, ở trẻ em và người lớn ít gặp

Trang 17

Một nghiên cứu tại Sudan, tác giả cho thấy trong số các tác nhân gây tiêu chảy trẻ

Nghiên cứu của Nguyễn Kim Thoa và Nguyễn Thị Xuân Thu (năm 2012) cho thấy trong 111 trường hợp nhập viện do tiêu chảy thì chủ yếu là trẻ em dưới 12

tháng tuổi, và các trường hợp tiêu chảy này chủ yếu do nhiễm trùng E.coli, tỷ lệ

mắc ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ tập trung ở 6-12 tháng chiếm đến 50,5%[26] Nghiên cứu của tác giả Aria Kusuma và cộng sự cũng cho biết E.coli ô nhiễm vào thức ăn của trẻ và có thể gây tiêu chảy cho trẻ [43]

- Shigella: là tác nhân quan trọng nhất gây bệnh lỵ, được tìm thấy 60% các đợt lỵ, có 4 nhóm huyết thanh đó là S.dysenteria, S.feefnery, S.boydi, S.sonnei Theo

ước tính trong nghiên cứu tổng quan gần đây của Tổ Chức Y tế Thế giới hàng năm

có khoảng 165 triệu lượng người mắc lỵ do Shigella, trong đó 99% xuất hiện ở các

nước đang phát triển và cũng tại các nước này 69% lượt mắc bệnh là trẻ em dưới 12

tháng tuổi và trong 1,1 triệu người bị tử vong do nhiễm vi khuẩn Shigella ở các

nước đang phát triển thì 61% số ca tử vong là trẻ em dưới 12 tháng tuổi [54]

Nghiên cứu của một số tác giả khác cũng cho thấy kết quả tương tự tại Hồng

Kông từ năm 2003 đến năm 2012 tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng tuổi do Shigella chiếm 69% và 86% là ở độ tuổi trên 70 Trong số các trường hợp mắc lỵ do Shigella thì 69% thuộc nhómS.sonnei, 28% thuộc nhóm S.feefnery, 2% thuộc nhóm S.boydi và 1% thuộc nhóm S.dysenteria [36]

Trang 18

- Campylobacter Jejuni: Gây bệnh chủ yếu ở trẻ em, lây qua tiếp xúc trực

tiếp với phân người, uống nước bị vấy bẩn, uống sữa, ăn phải thực phẩm ô nhiễm

chứng lỵ kèm theo sốt

- Shalmonella không gây thương hàn, do lây từ súc vật nhiễm trùng, thực phẩm từ động vật bị ô nhiễm mầm bệnh Tiêu chảy do Shalmonella thường gây tóe

nước đôi khi cũng có biểu hiện như hội chứng lỵ và sốt

-Vi khuẩn tả (Vibrio cholera 01) có 2 typ sinh vật (typ cổ điển và typ Eltor),

2 typ huyết thanh (ogawa và Inaba) có thể gây thành dịch lớn

* Vi rút Rota (Rotavirus)

Trong số các tác nhân gây bệnh tiêu chảy do các vi sinh vật, thì nguyên nhân

do Rotavirus được cho là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tiêu chảy hiện nay Ngoài

ra cũng có nhiều vi rút khác như Adenovirus, Norwlkvirus cũng gây bệnh tiêu chảy

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thảo thấy ở miền Bắc tỷ lệ

nhiễm Rotavirus có xu hướng tăng cao vào các tháng 7, tháng 8 và từ tháng 11 đến

tháng 3; cao nhất là tháng 1 chiếm 69,23%; tháng 7 và tháng 8 chiếm 64,5% Tỷ lệ

nhiễm Rotavirus giảm dần vào các tháng mùa hè trong đó thấp nhất vào tháng 5 (41,67%) Khu vực miền Trung và miền Nam tỷ lệ nhiễm Rotavirus phân bố đồng

đều theo các tháng và tỷ lệ nhiễm tương đối cao từ 42,3% đến 84,1% Nghiên cứu

cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm Rotavirus chiếm tỷ lệ cao ở trẻ em chiếm 64,6% Trong

đó nhóm trẻ từ 13 đến 23 tháng tuổi nhiễm Rotavirus cao nhất chiếm 44,2% trên

tổng số trẻ[25] Nghiên cứu của một số tác giả khác cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ

nhiễm Rotavirus chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi từ 12 đến 36 tháng (chiếm 79,2% trên tổng số trẻ nhiễm Rotavirus trong tiêu chảy cấp) [13,28]

* Ký sinh trùng

Là tác nhân đóng góp một phần quan trọng gây tiêu chảy trẻ em, một số nguyên nhân chính được xác định như

- Entamoeba histolytica (Amíp): Xâm nhập vào liên bào đại tràng, hồi tràng

và gây bệnh khi ở thể hoạt động

Trang 19

- Giardia lambia: Là đơn bào bám dính lên liên bào ruột non gây tiêu chảy

do giảm hấp thu

- Cryptosporidium: gây tiêu chảy ở trẻ em và ở bệnh nhân gây suy giảm miễn dịch

* Nấm

Hay gặp hơn cả là Candida albicans loại nấm thường sống ký sinh trong ống

tiêu hóa không gây bệnh tự nhiên mà khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây tiêu chảy (ví dụ như sử dụng kháng sinh kéo dài…)

Các nguyên nhân khác như chế độ ăn không phù hợp, thiếu men tiêu hóa, biến chứng của một số bệnh khác như sởi, viêm tai giữa… Và không tìm thấy nguyên nhân chiếm khoảng 25% [3]

1.1.4 Sinh bệnh học của tiêu chảy

* Sinh lý ruột

- Bình thường nước và điện giải được hấp thu ở nhung mao và được bài tiết ở các hẽm tuyến của liên bào ruột, điều đó tạo ra luồng trao đổi hai chiều của nước và điện giải giữa lòng ruột và máu Bất kỳ sự thay đổi nào của luồng trao đổi này đều gây ra giảm hấp thu hoặc tăng bài tiết làm tăng khối lượng dịch xuống ruột già Nếu lượng dịch này vượt quá khả năng hấp thu của ruột già thì tiêu chảy sẽ xảy ra

- Khi tiêu chảy xảy ra, sự hấp thu muối natri bị cản trở Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rõ ràng rằng sự hấp thu natri nếu có hiện diện của glucose (phân hủy sucrose hoặc tinh bột nấu chín) sẽ tăng gấp 3 lần Dựa trên đặc điểm này

mà các loại dịch bù trong tiêu chảy cần phải có hai chất muối natri và đường glucose Các chất điện giải quan trọng khác như bicarbonate, citrate và kali được hấp thu độc lập với glucose trong tiêu chảy Hấp thu bicarbonate hay citrate làm gia tăng hấp thu natri và Clo

* Cơ chế tiêu chảy phân nước

- Tiêu chảy xuất tiết: Khi bài tiết dịch (muối và nước) vào lòng ruột không bình thường sẽ gây ra tiêu chảy xuất tiết Việc này xảy ra khi hấp thu Na+ (ở nhung

Trang 20

mao ruột bị rối loạn trong khi xuất tiết Cl- ở vùng hẽm tuyến vẫn tiếp tục hay tăng lên Sự tăng bài tiết này gây nên mất nước và muối của cơ thể qua phân lỏng

- Tiêu chảy thẩm thấu: Niêm mạc ruột non được lót bởi lớp liên bào bị "rò rỉ", nước và muối vận chuyển qua lại rất nhanh để duy trì sự cân bằng thẩm thấu giữa lòng ruột và dịch ngoại bào Vì vậy tiêu chảy thẩm thấu xảy ra khi ăn một chất

có độ hấp thu kém và độ thẩm thấu cao

Hình 1.1 Hấp thu, bài tiết nước và điện giải ở liên bào ruột

Trang 21

* Hậu quả tiêu chảy phân nước: Phân khi bị tiêu chảy chứa một số lượng lớn Na+, Cl-, K+ và bicarbonate Mọi hậu quả cấp tính do tiêu chảy phân nước là do mất nước, điện giải, càng tăng thêm nếu có nôn và sốt Tất cả sự mất mát này gây mất nước (do mất nước và NaCl), gây toan chuyển hoá (do mất bicarbonate) và thiếu Kali Tuy nhiên điều nguy hiểm nhất vẫn là mất nước vì gây giảm lưu lượng tuần hoàn, truỵ tim mạch, tử vong nếu không điều trị ngay

1.2 Dịch tễ học bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em

1.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do tiêu chảy cấp ở trẻ em

Tiêu chảy trẻ em dưới 5 tuổi thường chiếm tỷ lệ cao ở các nước thu nhập thấp và các nước đang phát triển[35] Những năm gần đây do sự tiến bộ trong quản

lý bệnh tiêu chảy nên đã làm giảm rất mạnh tỷ lệ chế do bệnh tiêu chảy Các phương pháp mới trong điều trị và dự phòng mất nước, cho trẻ em bú, tiếp tục cho

ăn, sử dụng thuốc hợp lý đã giảm dần thời gian và tình trạng bệnh, đồng thời hạ thấp số trẻ phải nhập viện điều trị

Theo Tổ chức Y tế thế giới và UNICEF thống kê năm 2016, có 2,5 tỷ trường hợp mắc bệnh tiêu chảy trên toàn thế giới mỗi năm và là nguyên nhân của 8% trẻ tử vong dưới 5 tuổi trên toàn thế giới Điều này có nghĩa là hơn 1.300 trẻ nhỏ tử vong mỗi ngày, tương đương khoảng 1,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm, mặc dù đã có phương pháp điều trị hiệu quả Trong đó các nước ở khu vực Châu Phi và Đông Nam khu vực Châu Á có tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy cấp cao nhất với trên 10% [53] Bệnh tiêu chảy vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tỷ

lệ mắc bệnh và tử vong cao ở trẻ [10]

Một số nghiên cứu cho thấy có tới 70% tử vong do tiêu chảy ở trẻ em lứa tuổi dưới 24 tháng và ở các nước đang phát triển [37] Nguyên nhân chính của tử vong do tiêu chảy là tình trạng kiệt nước và hậu quả thiếu dinh dưỡng nặng Trong

3 thể tiêu chảy: tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài và bệnh lỵ, phần lớn tử vong do tiêu chảy là ở thể tiêu chảy cấp, hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng tỷ lệ mắc và chết

do tiêu chảy gặp chủ yếu ở trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi, trong đó phần lớn xảy ra

Trang 22

trong 2 năm đầu của cuộc đời Chỉ số mắc và chết cao nhất ở nhóm 6-11 tháng tuổi [50]

Việt Nam có thời tiết nhiệt đới nóng ẩm, là một quốc gia đang phát triển, các điều kiện vệ sinh môi trường vẫn chưa thực sự đảm bảo Vì vậy, tỷ lệ mắc tiêu chảy

ở Việt Nam vẫn còn tương đối cao, đặc biệt là ở những vùng nông thôn, những hiểu biết về vệ sinh phòng bệnh cũng như điều kiện sinh hoạt của người dân sống ở vùng nông thôn còn thấp so với thành thị Tại Việt Nam tiêu chảy luôn là một trong mười bệnh có tỉ suất mắc và tử vong cao trong nhiều thập niên qua Các nghiên cứu về tiêu chảy tại Việt Nam tương đối khác nhau về kết quả, thời gian, địa bàn nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì

tỷ lệ mắc tiêu chảy ở Việt Nam chủ yếu là ở trẻ em ở độ tuổi dưới 5 tuổi [39]

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà và cộng sự: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại 4.698 hộ gia đình với 19.476 thành viên tại 6 tỉnh, thuộc 6 vùng sinh thái Việt Nam, năm 2014 Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc tiêu chảy trong 4 tuần của cộng đồng là 3,5%, khá cao ở Hòa Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Đắk Lắk (3,8%

- 4,9%) và khá thấp ở Bình Định, An Giang (1,4% - 1,6%); kết quả phân tích hồi quy logistic cho thấy bệnh tiêu chảy có liên quan chặt chẽ với độ bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh, độ bao phủ nước sạch, chất lượng nước sinh hoạt, hành vi rửa tay xà phòng, hành vi vệ sinh đảm bảo an toàn thực phẩm của người dân [8]

Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm mô tả thực trạng bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em từ 6 đến 23 tháng tuổi tại khoa Nhi bệnh viện Xanh Pôn năm 2013-2014 Kết quả cho thấy 121 trẻ nhập viện vì tiêu chảy cấp thì nam mắc bệnh nhiều hơn trẻ nữ với tỉ lệ tương ứng là 69,4% và 30,6% Độ tuổi nhập viện do tiêu chảy cấp thường gặp là 6-12 tháng tuổi với 63,6% Trong số những trẻ nhập viện

vì tiêu chảy cấp, có tới 67 trẻ chiếm 55,4% trường hợp tiêu chảy cấp do Rotavirus

và chỉ có 23,1% được uống vắc xin phòng vi rút này Có 116 trẻ nhập viện với triệu chứng lâm sàng nặng chiếm 95,9% Nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ tiêu chảy

cấp do Rotavirus cao, cần cho trẻ uống vắc xin phòng Rotavirus đầy đủ [22]

Trang 23

1.2.2 Các yếu tố nguy cơ làm gia tăng mắc bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em

* Các hành vi làm gia tăng sự lan truyền tác nhân gây bệnh

- Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu: Theo WHO, những trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ trong những tháng đầu tiên của cuộc đời

sẽ có nguy cơ mắc tiêu chảy gấp nhiều lần so với những trẻ được nuôi bằng sữa

mẹ hoàn toàn, nguy cơ tử vong do tiêu chảy ở những trẻ này cũng lớn hơn một cách đáng kể Sữa mẹ có chứa Globulin miễn dịch chủ yếu IgA (95%) và các kháng thể khác có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh do virus [53]

- Cho trẻ bú bình: Khi cho sữa vào một bình không sạch thì sẽ làm gia tăng nguy cơ trẻ bị nhiễm khuẩn đường tiêu hóa

- Bảo quản thức ăn đã nấu ở nhiệt độ phòng, dùng nước ăn uống đã bị nhiễm vi khuẩn đường ruột

- Không xử lý phân một cách hợp vệ sinh

* Các yếu tố vật chủ liên quan đến sự gia tăng chỉ số mắc, mức độ trầm

- Suy dinh dưỡng: Tiêu chảy và suy dinh dưỡng có mối liên quan mật thiết với nhau Những trẻ suy dinh dưỡng thường có sự hồi phục niêm mạc ruột chậm

do thiếu vitamin A, giảm sức đề kháng Ngược lại, tiêu chảy sẽ làm cho tình trạng suy dinh dưỡng trở nên trầm trọng hơn

- Sởi: Tiêu chảy thường gặp ở trẻ đang hoặc mới khỏi bệnh sởi trong vòng

4 tuần, do trong thời gian này hệ thống miễn dịch bị tổn thương

* Tính chất mùa

Có sự khác biệt theo mùa ở nhiều địa dư khác nhau Ở những vùng ôn đới, tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa nóng, ngược lại, tiêu chảy do virus lại xảy ra cao điểm vào mùa đông Ở những vùng nhiệt đới, tiêu chảy do virus xảy

ra quanh năm nhưng tăng vào các tháng khô và lạnh, ngược lại tiêu chảy do vi khuẩn lại có cao điểm vào mùa mưa và nóng

* Các yếu tố thuộc về bà mẹ và mức sống của gia đình

- Bà mẹ chưa có kiến thức phòng chống bệnh tiêu chảy là một trong các

Trang 24

nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy ở trẻ em [47,54]

- Trình độ học vấn của bà mẹ có ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức phòng bệnh tiêu chảy, cách chăm sóc từ đó ảnh hưởng tới nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy Nghề nghiệp của bà mẹ có ảnh hưởng tới thời gian cho trẻ bú, thời gian và cách chăm sóc trẻ, mức thu nhập của gia đình từ đó ảnh hưởng tới khả năng mắc tiêu chảy [21]

1.3 Một số biện pháp chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy

1.3.1 Chăm sóc bệnh tiêu chảy tại nhà

* Nguyên tắc chung

Khi bệnh tiêu chảy gây ức chế sự hấp thu nước và muối (chất điện giải Na+,

Cl- và K+) tăng tiết nước và muối trong lòng ruột, từ đó hiện diện một khối lượng dịch bất thường, kích thích gây tiêu chảy Do vậy vấn đề cơ bản của chăm sóc tiêu chảy là chạy đua với lượng nước đã mất vì vậy cần phải bù ngay một lượng nước, điện giải tương ứng và lượng dự phòng có thể mất tiếp theo

- Đề phòng mất nước và điện giải nếu có thể bù nước bằng đường uống Bù nước cho trẻ bị tiêu chảy bằng đường uống sẽ giảm tỷ lệ tử vong [50]

- Bù lượng nước, điện giải bằng đường truyền tĩnh mạch khi có mất nước nặng

Bộ Y tế cũng đã đưa ra tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy trẻ em ban hành kèm theo Quyết định số 4121/QĐ-BYT ngày 28 tháng 10 năm 2009 của Bộ Trưởng

Bộ Y tế, các nội dung được trình bày rất cụ thể đó là muốn xử trí tốt được tiêu chảy trẻ em phải phân loại được bệnh, đánh giá được mức độ mất nước, đưa ra phác đồ điều trị, quyết định điều trị, phòng tiêu chảy [2]

* Xử trí bệnh tiêu chảy tại nhà

Thực hành xử trí bệnh nhân tiêu chảy theo các nguyên tắc sau

- Nguyên tắc thứ nhất: Cho bệnh nhân mắc tiêu chảy uống các loại dịch nhiều hơn bình thường khi bị tiêu chảy, nếu là trẻ em còn bú hãy cho trẻ bú nhiều hơn bình thường, nếu mẹ thiếu sữa hãy cho trẻ uống thêm sữa bò pha loãng gấp đôi Cho người bệnh uống các loại dịch sẵn có tại gia đình hoặc dùng ORS pha theo

Trang 25

đúng hướng dẫn trên bao bì Đồng thời lưu ý dung dịch ORS không phải là thuốc điều trị tác nhân gây bệnh

Nếu không có sẵn ORS có thể dùng nước cháo muối thay thế, tuy nhiên nước cháo muối cũng không phải là thức ăn, nên không thể thay thế cho các bữa ăn bình thường được Nếu cháo muối không dùng hết trong 4-6 giờ (tuỳ theo mùa) thì đổ đi, ngoài ra còn một số dung dịch có thể thay thế như nước trái cây, nước muối đường

pha đúng hướng dẫn của bác sỹ

WHO đã khuyến nghị tiêu chuẩn của một dung dịch lý tưởng như sau: Thành phần dung dịch phải đảm bảo an toàn và có hiệu quả trong việc phòng mất nước, khi chế biến các thành phần quy định sẽ không được thay đổi và nằm trong khoảng cách an toàn, thành phần và dụng cụ pha chế phải có sẵn và dễ kiếm tại địa phương; các bà mẹ phải làm được dễ dàng (tốt nhất các dung dịch này thường vẫn được các

bà mẹ tự làm [44,54]

Đối với trẻ em thì các tác giả khuyến cáo về lượng bù dịch như sau:

Tuổi Lượng ORS cho uống sau

mỗi lần đi ngoài

Lượng ORS cần cung cấp

để dùng tại nhà

10 tuổi trở lên uống cho đến khi hết khát 2.000ml/1ngày

Nghiên cứu của tác giả Harrell và cộng sự cho biết dung dịch ORS là một loại dịch bù nước và điện giải tốt trong xử trí tiêu chảy cấp, giảm tỷ lệ tử vong, tuy nhiên không làm giảm triệu chứng tiêu chảy [40] Nghiên cứu của tác giả Hoston

KA và cộng sự còn cho biết ORS còn có tác dụng tốt cho trẻ bị suy dinh dưỡng cấp tính [41] Tuy nhiên, việc để cho các bà mẹ tiếp cận và hiểu biết được ORS các cán

bộ y tế cần phải có những hành động tích cực, nghiên cứu của tác giả Kadam DM

và cộng sự cho thấy tại vùng Vasind ở Ấn Độ các bà mẹ lại không hiểu rõ được cách dùng ORS và vai trò của ORS với con mình khi bị tiêu chảy [42] Một nghiên cứu khác của tác giả Rohit Anand và cộng sự cũng cho biết là các bà mẹ vẫn chưa

Trang 26

có đầy đủ các kiến thức về ORS, tại Ấn Độ chỉ có 18,7% các bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi được điều tra có thể nói đúng về ORS [34]

- Nguyên tắc thứ hai: Tiếp tục cho ăn Tùy theo đối tượng mà bổ sung các lượng thức ăn phù hợp Đối với trẻ 4-6 tháng tuổi nên tiếp tục ăn các loại thức ăn có

tỷ lệ sinh dưỡng và năng lượng cao nhất Tùy theo tuổi của trẻ phải cho thêm bột và loại đậu có sẵn ở địa phương hoặc cho thêm thịt, trứng, cá Nên cho thêm dầu vào thức ăn để thức ăn có nhiều năng lượng hơn Nước ép hoa quả và chuối tươi cũng rất cần vì chúng có chứa nhiều kali Tránh các thực phẩm có nhiều xơ hoặc ít chất dinh dưỡng Không nên ăn súp pha loãng vì chúng chỉ làm đầy dạ dày mà không cung cấp đủ chất dinh dưỡng Không nên ăn thức ăn có nhiều đường vì có thể làm tiêu chảy nặng thêm Đối với trẻ em cần khuyến khích cho trẻ ăn càng nhiều càng tốt, cho ăn ít nhất 6 lần một ngày và cho ăn thêm mỗi ngày một bữa trong 2 tuần sau khi khỏi bệnh

- Nguyên tắc thứ ba: Thường xuyên theo dõi các dấu hiệu mất nước, đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu sau 2 ngày chữa tại nhà không đỡ hoặc có các dấu hiệu sau:

đi ngoài quá nhiều lần, rất khát nước, mắt trũng, có sốt, không ăn hoặc không uống bình thường, trẻ có vẻ không tốt lên

Ba nguyên tắc trên rất có giá trị đối với các vùng xa, hẻo lánh, xa cơ sở y tế hoặc trong các dịch vụ có số lượng người mắc quá nhiều Điều trị tiêu chảy tại nhà được đánh giá là nguyên nhân chủ yếu hạ thấp tỷ lệ tử vong do tiêu chảy trong những năm qua và Tổ chức y tế thế giới vẫn coi đây là nền tảng khuyến cáo các quốc gia nỗ lực phòng chống tiêu chảy trong những năm tới [53,54]

1.3.2 Phòng bệnh tiêu chảy

Để giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy ở trẻ em, WHO đã thành lập Chương trình Phòng chống bệnh tiêu chảy toàn cầu Ngoài ra còn có các Trung tâm nghiên cứu bệnh tiêu chảy quốc tế và quốc gia cũng đã được thành lập Tại thủ đô Dhaka, Bangladesh có Trung tâm quốc tế nghiên cứu bệnh tiêu chảy Với sự hỗ trợ của Chương trình này, Bộ Y tế Việt Nam đã thành lập Chương trình Phòng chống bệnh tiêu chảy quốc gia, gồm hệ điều trị và hệ dự phòng

Trang 27

- Hệ điều trị gồm các bệnh viện từ tuyến Trung ương đến các tuyến tỉnh, huyện và trạm Y tế cấp xã/phường, với sự thành lập của các đơn vị điều trị bệnh tiêu chảy (DTU), đơn vị bù dịch bằng đường uống (đơn vị ORT), góc Điều trị bằng đường uống (góc ORT)

- Hệ dự phòng gồm Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Y tế dự phòng huyện và các Trạm y tế xã/phường

Nội dung huấn luyện xử trí bệnh tiêu chảy đã được đưa vào chương trình giảng dạy của các trường đại học Y, các trường Cao đẳng và Trung cấp Y tế Từ năm 1984 đến 1997, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích trong công tác phòng chống bệnh tiêu chảy, cụ thể là đã giảm được tỷ lệ nhập viện, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ SDD và ngăn ngừa bệnh tiêu chảy kéo dài nặng nhờ áp dụng liệu pháp bù dịch sớm,

sử dụng phác đồ điều trị hiệu quả cũng như cho trẻ ăn chế độ dinh dưỡng đúng trong và sau điều trị bệnh tiêu chảy

Phòng bệnh tiêu chảy là mục tiêu lâu dài nhằm làm giảm tỷ lệ mắc một cách bền vững Phòng bệnh tiêu chảy có rất nhiều biện pháp song những biện pháp sau đây được xem là có hiệu quả cao gắn liền với sinh hoạt và cuộc sống của cộng đồng: cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, vệ sinh cá nhân và vệ sinh thực phẩm thật tốt, nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn sam hợp vệ sinh, tăng cường giám sát và phòng chống bệnh tả và các bệnh dịch đường tiêu hóa

ở vùng nguy cơ, nhất là các ổ dịch cũ [49]

1.3.2.1 Cung cấp nước sạch cho sinh hoạt

Thống kê cho thấy rằng những gia đình, cộng đồng sử dụng nguồn nước sạch

ít có nguy cơ bị bệnh đường ruột, đặc biệt là bệnh tiêu chảy [53] Hầu hết các tác nhân gây bệnh tiêu chảy lây lan theo đường phân-miệng, thông qua thức ăn nước uống bị ô nhiễm hoặc lây lan trực tiếp từ người này sang người khác Vì vậy việc cung cấp nước sạch giúp vệ sinh tốt hơn như rửa tay, rửa thực phẩm, dụng cụ chứa thức ăn được sạch sẽ, những việc này sẽ góp phần ngăn ngừa các tác nhân của bệnh tiêu chảy [48]

Trang 28

1.3.2.2 Vệ sinh cá nhân và vệ sinh thực phẩm

Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, trước khi chế biến thức ăn và sau mỗi lần

đi đại tiện, tiểu tiện để tránh phát tán mầm bệnh Mọi người, mọi nhà đều thực hiện ăn chín, uống sôi Không ăn ra sống, không uống nước lã Không ăn thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn đặc biệt là mắm tôm sống, hải sản sống, gỏi cá, tiết canh, nem chua Tất cả những thói quen sinh hoạt lành mạnh, hợp vệ sinh sẽ giảm nguy cơ mắc tiêu chảy [51]

1.3.2.3 Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Nguyên nhân lây truyền bệnh tiêu chảy theo phương thức đường ăn uống Khi thức ăn và nước uống bị nhiễm phân có chứa mầm bệnh không được xử lý nhiệt hoặc đã xử lý nhưng dễ bị tái nhiễm [38] Phân người cần có nhà tiêu để quản lý chặt chẽ, mỗi hộ gia đình cần có một nhà tiêu hợp vệ sinh, cấm đi tiêu bừa bãi Các nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước đều minh chứng được là sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và xử lý phân đúng quy định sẽ ngăn ngừa được các bệnh truyền qua phân trong đó có tiêu chảy trẻ em [8]

1.3.2.4 Nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ từ khi sinh đến 6 tháng tuổi Sữa mẹ đảm bảo vệ sinh, chứa kháng thể bảo vệ là dịch tự nhiên không tốn kém và sữa mẹ dung nạp rất tốt

1.3.2.5 Cho trẻ ăn sam (ăn dặm)

Cho ăn sau 6 tháng nếu đủ sữa mẹ Thức ăn bổ sung thêm phải đủ chất dinh dưỡng, đủ năng lượng Chế biến, bảo quản và dùng nguồn nước hợp vệ sinh để chế biến Thức ăn khi chế biến phải đi từ loãng, sền sệt đến đặc (theo độ tuổi của trẻ) Nếu thực hiện theo đúng các hướng dẫn của cán bộ y tế sẽ giảm nguy cơ mắc tiêu chảy cho trẻ Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tình trạng dinh dưỡng ít bị ảnh hưởng bởi thời gian tiêu chảy kéo dài mà bị ảnh hưởng bởi chế độ nuôi dưỡng [22] Nghiên cứu của tác giả Ogbo FA và cộng sự cho thấy nếu cải thiện hành vi ăn uống của người mẹ sẽ làm giảm gánh nặng tiêu chảy ở trẻ [49]

Trang 29

1.3.2.6 Tiêm phòng

Hiện nay, một giải pháp khác để phòng bệnh tiêu chảy đó là tiêm vắc xin phòng bệnh Phải tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo lịch tiêm chủng mở rộng[2]

- Tiêm phòng sởi có thể giảm tỷ lệ mắc và mức độ trầm trọng của tiêu chảy Tất cả trẻ em cần tiêm phòng sởi ở độ tuổi khuyến nghị

- Vắc xin Rota: đã triển khai ở các nước phát triển cho thấy hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do Rotavirus rất tốt Hiện nay, có nhiều dạng chế phẩm vắc xin phòng Rotavirus, liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và

Chương trình tiêm chủng quốc gia Từ tháng 6 năm 2009, Tổ chức Y tế thế giới đã

chính thức khuyến cáo đưa vắc xin Rota vào trong chương trình tiêm chủng mở

rộng cho trẻ em trên toàn cầu Việt Nam đang cân nhắc việc đưa vắc xin phòng

cứu ở các nước châu Á cho thấy nếu tiêm vắc xin Rota có thể giảm tỷ lệ mắc tiêu

chảy trẻ em được 40% [35]

- Vắc xin tả uống và vắc xin thương hàn được chỉ định sử dụng cho những vùng có nguy cơ dịch theo chỉ đạo của Cục Y tế Dự phòng và Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia

Ngoài ra còn một số vắc xin khác như vắc xin lỵ, vắc xin E Coli đang được

nghiên cứu sản xuất và sẽ được đưa vào sử dụng trong tương lai

1.4 Kiến thức của bà mẹ về cách chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em

1.4.1 Thực trạng kiến thức của bà mẹ về cách chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em

Bệnh tiêu chảy vẫn luôn là một vấn đề thời sự của Y tế Thế giới từ nhiều năm nay Trên phạm vi toàn cầu, tiêu chảy là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây tử vong sau bệnh tim mạch cho mọi lứa tuổi và là nguyên nhân gây tử vong cho trẻ em [53] Ở những vùng đông dân cư, kém phát triển tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong là cao nhất Ở nước ta, trình độ học vấn đã được cải thiện, trình độ hiểu biết của đại đa số người dân tăng lên Tuy nhiên một số nơi dân trí vẫn còn thấp, đặc

Trang 30

biệt ở vùng miền núi và nông thôn, nên việc tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao dân trí nói chung và các vấn đề sức khỏe, bệnh tật nói riêng của các đối tượng này vẫn cần làm thường xuyên và tích cực hơn Nếu người dân có kiến thức tốt việc phối hợp với các thầy thuốc trong điều trị và phòng bệnh tiêu chảy sẽ đạt hiệu quả cao hơn, rút ngắn thời gian điều trị và giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy và tử vong do tiêu chảy

Các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng cho thấy các bà mẹ có con dưới 5 tuổi còn thiếu hụt kiến thức và thực hành về chăm sóc con nói chung và con bị tiêu chảy nói riêng Nghiên cứu của tác giả Akhtaruzzaman và cộng sự cho thấy tại một vùng của Sudan, khi tìm hiểu về kiến thức của bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi về ORS và thực hành cho ăn cũng như sử dụng các thuốc cho trẻ khi bị tiêu chảy có 77,5% bà mẹ sử dụng ORS theo kiến thức của họ và 53,06% bà mẹ sử dụng nước ít hơn khi trẻ bị tiêu chảy [32] Nghiên cứu của tác giả Digre P và cộng sự cũng cho biết có 80% các bà mẹ biết ORS nhưng chỉ có dưới 50% biết vai trò của ORS và một tỷ lệ nhỏ cho rằng việc cho trẻ uống ORS là khó khăn [37] Amare D và cộng

sự đã thực hiện nghiên cứu từ tháng 4-5 năm 2014 trên 846 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại bang Amhara, Tây Bắc Ethiopia với kết quả 63,5% bà mẹ có kiến thức tốt

về bệnh tiêu chảy nhưng lại có tới 54,1% bà mẹ thực hành kém về quản lý tiêu chảy [33]

Nghiên cứu của Agbolade và cộng sự (2015) đã nghiên cứu trên 403 bà mẹ

có con dưới 5 tuổi tại bang Oyo, Nigeria về kiến thức bệnh tiêu chảy ở trẻ em Kết quả cho thấy có 26,8% bà mẹ có kiến thức tốt, 60,8% bà mẹ có kiến thức trung bình

và 12,4% bà mẹ có kiến thức kém Nghiên cứu còn chỉ ra kiến thức về bệnh tiêu chảy và cách phòng bệnh của bà mẹ có ảnh hưởng tích cực đến quản lý bệnh tiêu chảy ở trẻ em [31]

Nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Hà và cộng sự cũng cho thấy kiến thức và thực hành của người dân về bệnh tiêu chảy cấp tại 2 xã tỉnh Yên Bái với điều tra cắt ngang trên 400 hộ gia đình: có trên 90,5% người dân được điều tra có biết bệnh tiêu chảy cấp, tuy nhiên chỉ có 44,5 cho là bệnh cần cách ly [7] Tác giả Trần Đỗ Hùng

Trang 31

và cộng sự đã nghiên cứu trên 335 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang cho thấy: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng là 26,9%, có 87,5% các bà

mẹ có kiến thức đúng về bù nước, 55,1% các bà mẹ có kiến thức đúng về gói ORS, 63,6% bà mẹ có kiến thức đúng về dinh dưỡng trong tiêu chảy cấp [15]

Năm 2017, Lưu Thị Mỹ Thục đã nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm

mô tả kiến thức về bệnh tiêu chảy cấp của 300 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp điều trị tại Bệnh Viện Nhi Trung ương từ tháng 6 đến tháng 10/2017 Kết quả cho thấy tỷ lệ bà mẹ biết về bệnh tiêu chảy cấp là 59,0%; 60,0-87,7% có thể nhận biết các dấu hiệu mất nước thông thường, nhưng chỉ có 15,7% có kiến thức tốt

về bệnh; 74% có hiểu biết đúng về hậu quả của bệnh; 93% bà mẹ biết về Oresol (ORS) trong đó, trong đó 90% biết cho trẻ uống ORS đúng cách, và 74,7% có thể pha ORS đúng như hướng; tỷ lệ bà mẹ rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với phân của trẻ là 75%, nhưng chỉ có 26,7% cho trẻ uống vắc xin phòng vi rút Rota Tình trạng thiếu kiến thức về tiêu chảy cấp trong nghiên cứu này có liên quan đến

độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp của mẹ Do đó, công tác truyền thông nâng cao kiến thức cho bà mẹ về tiêu chảy cấp cần chú ý đến những đặc điểm này để có những chiến lược truyền thông phù hợp [27]

Tóm lại: Đại đa số các đề tài nghiên cứu về dự phòng và chăm sóc trẻ tiêu chảy đều tập trung nhiều vào việc khảo sát kiến thức và một số yếu tố liên quan đến

dự phòng và chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp từ đó đưa ra các khuyến nghị thích hợp Trong khi đó có rất ít những đề tài về can thiệp như can thiệp giáo dục sức khỏe cho

bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi để góp phần nâng cao được hiệu quả điều trị bệnh tiêu chảy ở trẻ em

1.4.2 Các giải pháp can thiệp về thay đổi kiến thức của bà mẹ về cách chăm sóc

và phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em

Sarah Hanieh và cộng sự đã nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát

về việc bổ sung vi chất dinh dưỡng trước sinh cho 1049 bà mẹ đang mang thai ở nông thôn Việt Nam từ ngày 28/9/2010 đến ngày 08/01/2012, trẻ sơ sinh được theo dõi trong 6 tháng và cho kết quả với 32,8% trẻ sơ sinh được nuôi hoàn toàn bằng

Trang 32

sữa mẹ làm giảm đáng kể tỷ lệ nhập viện điều trị nội trú vì nghi ngờ viêm phổi (Tỷ

lệ lẻ (OR) 0,39, Khoảng tin cậy 95% (CI) 0,20 đến 0,75) và bệnh tiêu chảy (OR 0,37, 95% CI 0,15 đến 0,88)[39]

Tác giả Ejemot-Nwadiro và cộng sự năm 2015 đã tổ chức 12 cuộc thử nghiệm từ các trung tâm chăm sóc trẻ em hoặc trường học ở các nước chủ yếu có thu nhập cao (54.006 người tham gia), 9 thử nghiệm dựa trên cộng đồng ở LMIC (15.303 người tham gia) và 01 thử nghiệm dựa trên bệnh viện ở những người bị suy giảm miễn dịch mắc phải hội chứng (AIDS) (148 người tham gia) Tăng cường công tác rửa tay tại các cơ sở chăm sóc trẻ em hoặc trường học ngăn ngừa khoảng một phần ba các đợt tiêu chảy ở các nước thu nhập cao (tỷ lệ 0,70; CI 95% 0,58 đến 0,85; chín thử nghiệm, 4664 người tham gia , bằng chứng chất lượng cao) và có thể ngăn chặn tỷ lệ tương tự trong LMIC nhưng chỉ có hai thử nghiệm từ thành thị Ai Cập và Kenya đã đánh giá điều này (tỷ lệ 0,66, 95% CI 0,43 đến 0,99; hai thử nghiệm, 45.380 người tham gia, bằng chứng chất lượng thấp) 3490 bà mẹ tham gia nghiên cứu một thử nghiệm có sự giảm đáng kể tỷ lệ tiêu chảy cấp cho trẻ khi tăng cường tuân thủ quy trình rửa tay [38]

Mahama Saaka, năm 2014 đã nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên trên 991 bà

mẹ có trẻ trong độ tuổi từ 0 - 36 tháng về đánh giá mối quan hệ giữa kiến thức và thực hành đồng thời giáo dục sức khỏe cho bà mẹ chăm sóc trẻ tiêu chảy câp ở vùng nông thôn Kết quả cho thấy chương trình giáo dục góp phần rất đáng kể thay đổi kiến thức về chăm sóc trẻ của bà mẹ ở Ghana [45]

Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của tác giả Tưởng Thị Huế (2017) có thể thấy trước can thiệp giáo dục sức khỏe, các bà mẹ có kiến thức tốt chiếm tỷ lệ rất thấp 1,2%; kiến thức khá 37,8%, kiến thức trung bình 48,8%, kiến thức kém 12,2% Sau can thiệp giáo dục kiến thức chăm sóc và phòng bệnh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2017 được cải thiện đáng kể Ngay sau can thiệp: Các bà mẹ có kiến thức tốt là 93,9%, kiến thức khá là 4,9%,kiến thức trung bình là 1,2% và không còn kiến thức kém Sau can

Trang 33

thiệp 1 tháng: Các bà mẹ có kiến thức tốt là 50%, kiến thức khá là 47,1%, kiến thức trung bình là 2,9% và không có kiến thức kém [14]

Tóm lại: Giáo dục sức khỏe là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao kiến thức cho các bà mẹ nói chung cũng như các bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi về dự phòng và chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp

1.5 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khoẻ nâng cao kiến thức

1.5.1 Khái niệm

Truyền thông giáo dục sức khoẻ giống như giáo dục chung, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng [12]

Mục đích quan trọng cuối cùng của truyền thông giáo dục sức khoẻ là làm cho mọi người từ bỏ các hành vi có hại và thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe, đây là một quá trình lâu dài, cần phải tiến hành theo kế hoạch, kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, với sự tham gia của ngành y tế và các ngành khác Trong truyền thông giáo dục sức khoẻ chúng ta quan tâm nhiều đến vấn đề là làm thế nào

để mọi người hiểu được các yếu tố nào có lợi và yếu tố nào có hại cho sức khỏe, từ

đó khuyến khích, hỗ trợ nhân dân thực hành hành vi có lợi cho sức khỏe và từ bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe

1.3.2 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khoẻ

Vai trò của truyền thông:

- Truyền thông giúp trang bị cho người dân các thông tin về các sự việc, quan điểm và thái độ họ cần có để đưa ra các quyết định về các hành vi sức khỏe: Truyền thông diễn ra khi các thông điệp về sức khỏe được truyền đi và thu nhận Những thông điệp về sức khỏe là những điều quan trọng cần được cân nhắc cho mọi người trong cộng đồng biết và làm Nguồn phát thông tin về sức khỏe có thể từ các cán bộ

y tế địa phương hoặc trung ương, cũng có thể chính các thành viên trong cộng đồng nhận ra những nhu cầu cần thay đổi [12]

Trang 34

- Một vấn đề quan trọng là điều gì sẽ xảy ra khi thông điệp được chuyển đến đối tượng? Đó chính là mục đích của truyền thông giáo dục Nếu đối tượng nghe và hiểu thông điệp và tin tưởng vào nó chứng tỏ rằng quá trình truyền thông đã được thực hiện tốt Nếu như chỉ truyền thông đơn giản rất khó thay đổi được các hành vi Như chúng ta đã biết quá trình thay đổi hành vi rất phức tạp Nhưng các sự kiện và quan điểm được nghe, được hiểu và tin tưởng rất cần thiết để mở đường cho những thay đổi mong muốn trong hành vi và hình thành sự tham gia của cộng đồng

Vai trò của giáo dục sức khỏe

- Giáo dục sức khỏe là một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời của hệ thống y tế

là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế

từ trung ương đến cơ sở Giáo dục sức khoẻ cũng là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của cơ sở y tế [12]

- Giáo dục sức khỏe là một hệ thống các biện pháp Nhà nước, xã hội và y tế, nghĩa là phải xã hội hoá công tác này, nhằm lôi cuốn mọi ngành, mọi giới, mọi tổ chức xã hội cùng tham gia, trong đó ngành y tế làm nòng cốt và tham mưu [12]

1.6 Địa bàn nghiên cứu

Thành phố Lạng Sơn có diện tích khoảng 79 km² Thành phố nằm bên quốc

lộ 1A, cách thủ đô Hà Nội 150 km; cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 18 km; cách Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 15 km và Đồng Đăng 13 km về phía đông bắc Dân số của thành phố năm 2018 là 200.108 người, với nhiều dân tộc khác nhau như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa và các nhóm người Dao, Mường, Sán Dìu, Sán Chỉ, Thành phố Lạng Sơn bao gồm 5 phường, 3 xã Dân số của 3 xã Hoàng Đồng, Quảng Lạc và Mai Pha lần lượt là 12890 người, 4641 người và 7740 người

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi đang sinh sống tại 3 xã Hoàng Đồng, Mai Pha và Quảng Lạc, Thành phố Lạng Sơn

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi đang sinh sống tại 3 xã Hoàng Đồng, Mai Pha và Quảng Lạc, Thành phố Lạng Sơn trong thời gian thu thập số liệu từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020

- Có khả năng đọc hiểu được tiếng việt và trả lời được phỏng vấn

- Không bị rối loạn về nhận thức

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2020 đến tháng 9 /2020

- Thời gian lấy số liệu: Từ tháng 04/2019 đến tháng 6/2020

- Địa điểm: tại 3 xã Hoàng Đồng, Mai Pha và Quảng Lạc, Thành phố Lạng Sơn Là 3 xã ngoại thành của thành phố Lạng Sơn có dân cư đa số là người dân tộc thiểu số Do đó, kiến thức chung và kiến thức của bà mẹ về dự phòng và chăm sóc tiêu chảy cấp còn hạn chế và cần cải thiện

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau trên một nhóm đối tượng

Trang 36

Can thiệp (Giáo dục sức khỏe về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cho trẻ em)

Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu 2.3.2 Cỡ mẫu

2.3.2.1 Cỡ mẫu mô tả

Cỡ mẫu mô tả của nghiên cứu chọn toàn bộ bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi

ở 3 xã Hoàng Đồng, Mai Pha và Quảng Lạc, Thành phố Lạng Sơn, trong thời gian

từ tháng 04/2020 đến tháng 6/2020, phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu.Tại thời điểm thu thập số liệu, tổng số bà mẹ có con nhỏ dưới 12 tháng tuổi ở Hoàng Đồng là khoảng 132 người, tại xã Mai Pha là 78 người và tại xã Quảng Lạc là 60 người Do

đó tổng số bà mẹ có con dưới 12 tháng tại 3 xã là 270 người

2.3.1.2 Cỡ mẫu can thiệp

Chọn cỡ mẫu điều tra theo công thức

Đánh giá sau can thiệp

01 tháng (T2)

Đánh giángay sau can thiệp (T1)

So sánh, bàn luận, kết luận

2 2 1

2 2 1 1 2 1 2 / 1

)(

)1()1()(

p p

p p p p z

z n

−+

−+

Trang 37

n: Cỡ mẫu tối thiểu của nhóm nghiên cứu

thì z =1,96)

Z1-β: Lực mẫu nghiên cứu (Z1-β= 0,84)

(Lực mẫu thường được lựa chọn là 80%)

p1: tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cấp Chọn p bằng 0,442 (tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hiền và cộng sự năm 2014 là 44,2%)

p2: Ước lượng sau can thiệp, mong muốn tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cấp là 65%

Từ đó, tính ra được cỡ mẫu cho nghiên cứu là 90 người Tổng số bà mẹ có con nhỏ dưới 12 tháng tuổi tại thời điểm nghiên cứu ở Hoàng Đồng là 132 người, tại xã Quảng Lạc là 60 người và tại Mai Pha là 78 người.Tổng số đối tượng nghiên cứu trong được chọn ở cả 3 xã là 270 người, cỡ mẫu can thiệp là 90 người Do đó, khoảng cách chọn mẫu là k = N/n = 270/90 = 3 Do đó, để phù hợp với tỷ lệ trên và khoảng cách chọn mẫu ,cỡ mẫu can thiệp được lựa chọn tại xã Hoàng Đồng là 44 người, ở xã Mai Pha là 26 người và ở xã Quảng Lạc là 20 người

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu mô tả được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện

có chủ đích: chọn toàn bộ bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi ở 3 xã xã Hoàng Đồng, Mai Pha và Quảng Lạc, Thành phố Lạng Sơn trong thời gian nghiên cứu, phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu

Cỡ mẫu can thiệp được lựa chọn dựa theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Nghiên cứu viên sử dụng danh sách các bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi do trạm y

tế 3 xã cung cấp Với mỗi xã, nghiên cứu viên sẽ đánh số thứ tự đối tượng nghiên cứu tương ứng với tổng số đối tượng nghiên cứu được chọn trong nghiên cứu mô tả Tổng số đối tượng nghiên cứu trong được chọn ở cả 3 xã là 270 người, cỡ mẫu can thiệp là 90 người Do đó, khoảng cách chọn mẫu là k = N/n = 270/90 = 3 Sau đó,

Trang 38

với mỗi xã, các số thứ tự của từng đối tượng nghiên cứu được viết vào phiếu bốc thăm và cho vào hộp Sau đó, nghiên cứu viên bốc thăm ngẫu nhiên một phiếu tại mỗi xã, tương ứng với số thứ tự của đối tượng nghiên cứu được chọn đầu tiên tại mỗi xã Sau đó, cứ cách 3 số thứ tự lại chọn một đối tượng nghiên cứu cho đến khi

đủ 44đối tượng nghiên cứu ở xã Hoàng Đồng, 26 đối tượng nghiên cứu ở xã Mai Pha và 20 đối tượng nghiên cứu ở xã Quảng Lạc Như vậy, nghiên cứu viên chọn được 90 bà mẹ tham gia vào nghiên cứu can thiệp Sau khi có danh sách 90 bà mẹ, nghiên cứu viên mời họ tham gia vào nghiên cứu can thiệp

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu và biến số nghiên cứu

2.4.1 Chỉ tiêu nghiên cứu

- Tuổi: được đánh giá bằng số tuổi hiện tại của bà mẹ, tính theo năm

- Dân tộc: là dân tộc của đối tượng nghiên cứu

- Nghề nghiệp của bà mẹ: được tính là công việc chính về thời gian và thu nhập của đối tượng nghiên cứu

- Trình độ học vấn: được tính là mức độ bằng cấp cao nhất mà đối tượng nghiên cứu

- Kinh tế gia đình: Được tính là mức thu nhập bình quân /người/tháng

- Số lượng con trong gia đình

- Trẻ là con thứ mấy trong gia đình

- Số lần mắc tiêu chảy của trẻ

- Nguồn nước sử dụng: tính là nguồn nước chính để sử dụng trong ăn uống hàng ngảy của gia đình

Trang 39

2.4.2 Biến số nghiên cứu

Tên biến Định nghĩa biến Phân loại Phương pháp thu thập

Tuổi

Là tuổi của đối tượng nghiên cứu tính theo năm sinh dương lịch đến thời điểm hiện tại Được tính bằng công thức sau:

Tuổi = 2020 - năm sinh

Liên tục Phỏng vấn

Trình độ học

vấn

Là mức độ bằng cấp cao nhất mà đối tượng có được hiện tại Thứ hạng Phỏng vấn Dân tộc Là dân tộc của đối tượng nghiên cứu Định danh Phỏng vấn Công việc

hiện tại

Là công việc của đối tượng nghiên cứu ở thời điểm hiện tại và tạo ra thu nhập chính

Danh mục Phỏng vấn

Số con trong

gia đình

Là số lượng con trong gia đình của đối

Kinh tế gia

đình

Là thu nhập bình quân/người/tháng theo các mức nghèo, cận nghèo, không nghèo căn cứ vào quyết định số 59/2015/QĐ – TTG

đình sử dụng Loại nhà xí gia đình sử dụng hàng ngày Danh mục Phỏng vấn Kiến thức về

chăm sóc trẻ

tiêu chảy

Là biến ghi nhận những hiểu biết của bà

mẹ về chăm sóc trẻ tiêu chảy Thứ hạng Phỏng vấn Kiến thức về

Trang 40

2.5 Bộ công cụ và cách đánh giá

Bộ công cụ được tác giả xây dụng dựa vào hướng dẫn về phòng và xử trí tiêu chảy cấp trẻ em của WHO, Bộ Y tế và Chương trình CDD.Bộ công cụ gồm Bộ công cụ thu thập số liệu gồm 3 phần: phần thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, phần kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy cấp, Phần kiến thức của bà mẹ

về chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp

* Phần thông tin chung:thu thập về độ tuổi của bà mẹ, dân tộc, nghề nghiệp,

trình độ học vấn, số lượng con trong gia đình, trẻ là con thứ mấy, số lần bị tiêu chảy của trẻ, nguồn nước sử dụng,kinh tế gia đình, loại nhà xí sử dụng

* Phần kiến thức của bà mẹ về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp:

Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy cấp bao gồm 10 câu trong đó có 2 câu

có nhiều lựa chọn (câu Pk8, câu Pk10) và 8 câu 1 lựa chọn (câu Pk1, câu Pk2, câu Pk3, câu Pk4, câu Pk5, câu Pk6, câu Pk7, câu Pk9) bao gồm các nội dung về rửa tay, uống nước, bảo quản thức ăn, dấu hiệu , nguyên nhân mắc bệnh tiêu chảy và kiên thức về các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp bao gồm 17 câu hỏi, trong đó có 6 câu nhiều lựa chọn (câu Ck2, câu Ck9, câu Ck10, câu Ck11, câu Ck13, câu Ck15) và 11 câu 1 lựa chọn (câu Ck1, câu Ck3, câu Ck4, câu Ck5, câu Ck6, câu Ck7, câu Ck8, câu Ck12, câu Ck14, câu Ck16, câu Ck17) bao gồm các nội dung cách cho trẻ bú, cho trẻ ăn khi bị tiêu chảy, xử trí khi trẻ bị tiêu chảy, các dung dịch phòng mất nước, cách xử lý phân của trẻ tiêu chảy và đưa trẻ đến cơ sở y tế khi nào Bộ câu hỏi được tính điểm dựa vào câu trả lời của người bệnh để đánh giá kiến thức của bà mẹ Mỗi ý trả lời đúng của người bệnh được 1 điểm, trả lời không đúng hoặc không trả lời là 0 điểm Tổng điểm kiến thức cao nhất là 53 điểm, điểm thấp nhất là 0 điểm

* Phân loại kiến thức về dự phòng và chăm sóc bệnh tiêu chảy cấp của các

bà mẹ:

- Kiến thức tốt: Bà mẹ trả lời được ≥ 80% tổng số điểm (tương đương với bà

bà trả lời được từ 43 điểm trở lên)

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Phan Quốc Bảo (2010), Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tiêu chảy của trẻ em dưới 5 tuổi tại thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009, Luận văn Thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tiêu chảy của trẻ em dưới 5 tuổi tại thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009
Tác giả: Trần Phan Quốc Bảo
Năm: 2010
2. Bộ Y tế (2009), Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em, Ban hành kèm theo quyết định số 4121/QĐ-BYT ngày 28/10 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
4. Nguyễn Thị Gái và cộng sự (2011). Kiến thức, thái độ, hành vi xử trí tiêu chảy cấp tại nhà của những bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận năm 2011, Y học TP Hồ Chí Minh, tập 15, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Gái và cộng sự
Năm: 2011
5. Nguyễn Thị Xuân Dung (2019). Kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2018, Tạp chí Y học thực hành. 1102 (7), tr. 35 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Dung
Năm: 2019
6. Vũ Thùy Dương (2018), “Đặc điểm nhiễm E.Coli gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em miền nam Việt Nam”, Hội nghị khoa học Nhi khoa toàn quốc 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nhiễm E.Coli gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em miền nam Việt Nam”
Tác giả: Vũ Thùy Dương
Năm: 2018
7. Hoàng Thị Thu Hà và Lê Thị Thanh Xuân (2015), Kiến thức, thái độ và thực hành về bệnh tiêu chảy cấp của người dân tại 2 xã của tỉnh Yên Bái năm 2013, Tạp chí Y học dự phòng, 26(6), tr. 352 – 356 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hà và Lê Thị Thanh Xuân
Năm: 2015
8. Nguyễn Thanh Hà và Nguyễn Huy Cường (2016), Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến mắc bệnh tiêu chảy cộng đồng tại 6 tỉnh Việt Nam, Tạp chí Y học dự phòng. 26(11), tr. 273 – 276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà và Nguyễn Huy Cường
Năm: 2016
9. Nguyễn Thị Việt Hà và Đặng Thị Hải Vân (2016). Đánh giá hiệu quả của việc giáo dục sức khoẻ bệnh tiêu chảy cấp cho các bà mẹcó con bịtiêu chảy cấp tại khoa tiêu hoá bệnh viện Nhi Trung ương, Tạp chí Y học thực hành, 1015(7), tr.42 – 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hà và Đặng Thị Hải Vân
Năm: 2016
10. Phan Lê Thu Hằng và Phạm Tuấn Việt (2016), Cơ cấu bệnh tật của trẻ dưới 12 tháng tuổi tại 2 xã ven biển Vinh Quang và Tiên Hưng, Tiên Lãng Hải Phòng năm 2013, Tạp chí Y học Việt Nam. 442(1), tr. 21 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Phan Lê Thu Hằng và Phạm Tuấn Việt
Năm: 2016
12. Đàm Khai Hoàn (2007). Giáo dục và nâng cao sức khoẻ, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 7-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và nâng cao sức khoẻ
Tác giả: Đàm Khai Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
13. Vũ Thị Bích Hậu và Nguyễn Vân Trang (2013), Tỷ lệ nhiễm và biến động kiểugen của một số tác nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Thái Bình,2010-2012, Tạp chí Y học dự phòng. 23(3), tr. 18 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Vũ Thị Bích Hậu và Nguyễn Vân Trang
Năm: 2013
14. Tưởng Thị Huế (2017). Thay đổi kiến thức chăm sóc và phòng bệnh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy điều trị tại bệnh viện Nhi Nam Định sau can thiệp giáo dục, Luận văn thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi kiến thức chăm sóc và phòng bệnh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy điều trị tại bệnh viện Nhi Nam Định sau can thiệp giáo dục
Tác giả: Tưởng Thị Huế
Năm: 2017
15. Trần Đỗ Hùng (2012), Khảo sát kiến thức phòng chống tiêu chảy cấp của bà mẹcó con dưới 5 tuổi ở xã Thuận Hòa, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, Tạp chí Yhọc Thực hành, 824(4), tr. 130 - 134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Yhọc Thực hành
Tác giả: Trần Đỗ Hùng
Năm: 2012
16. Nguyễn Đức Hùng (2014). Thực trạng bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi và kiến thức thực hành của bà mẹ tại bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2013, Luận văn bác sỹ chuyê khoa cấp II, Trường Đại học Y dược Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi và kiến thức thực hành của bà mẹ tại bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2013
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng
Năm: 2014
17. Nguyễn Thị Thanh Huyền(2016). Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2016,Luận văn thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2016
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2016
19. Phan Hoàng Thùy Linh (2017). Kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp tại Bệnh viện trẻ em Hải phòng năm 2017, Tạp chí khoa học Điều dưỡng, 1(2). tr. 44 – 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học Điều dưỡng
Tác giả: Phan Hoàng Thùy Linh
Năm: 2017
20. Nguyễn Diệu Chi Mai và cộng sự (2017). Đặc điểm dịch tễ học của các cabệnh tiêu chảy cấp nhập viện ở trẻ em dưới 2 tuổi tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn,2012-2013, Tạp chí Y học dự phòng, 6(27), tr. 147 - 152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Nguyễn Diệu Chi Mai và cộng sự
Năm: 2017
21. Nguyễn Thị Kim Quyên (2016), Khảo sát sự hiểu biết của bà mẹ dân tộc ítngười về bệnh tiêu chảy ở trẻ em tại khoa Nhi bệnh viện Đa khoa Đắk Lắk, Tạ chí Y học Thành phố Hồ chí Minh, 20(4), tr. 81 - 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạ chí Y học Thành phố Hồ chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Quyên
Năm: 2016
22. Nguyễn Minh Sơn và Nguyễn Thị Thắng (2015), Thực trạng bệnh tiêuchảy cấp trẻ em từ 6 đến 23 tháng tuổi tại khoa Nhi bệnh viện Xanh Pôn năm 2013 2014, Tạp chí Y học dự phòng, 25(6), tr. 148 - 153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Nguyễn Minh Sơn và Nguyễn Thị Thắng
Năm: 2015
23. Mạc Hùng Tằng và Trần Đỗ Hùng(2012). Khảo sát kiến thức phòng chống tiêu chảy cấp của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã Thuận Hòa, huyện An Minh tỉnh Kiên Giang năm 2010. Tạp chí Y học thực hành, 816(4), tr. 230 -134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Mạc Hùng Tằng và Trần Đỗ Hùng
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w