1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện nội tiết tỉnh yên bái năm 2020

104 156 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và yếu tố liên quan ở người bệnh ĐTĐ type 2.. Tình trạng sức khỏe ở mọi khía cạnh của người bệnh ĐTĐ được đề cập qua khái niệm về “chất lượng cu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

ĐẶNG THU THỦY

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH YÊN BÁI NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

ĐẶNG THU THỦY

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH YÊN BÁI NĂM 2020

Ngành: Điều Dưỡng

Mã số: 8720301 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 TS NGUYỄN THỊ HOA HUYỀN

2 TS NGUYỄN NGỌC NGHĨA

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 3

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 275

người bệnh trưởng thành đang điều trị ngoại trú đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020 Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn qua bộ câu hỏi SF-36 (thang đo chất lượng cuộc sống), thang đo đa chiều nhận thức hỗ trợ xã hội (MSPSS) và bộ câu hỏi đánh giá dấu hiệu trầm cảm (7 câu hỏi)

Số liệu được nhập làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS.24

Kết quả nghiên cứu: Điểm chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu

có giá trị trung bình 60,76± 0,8 điểm trong đó điểm sức khỏe tinh thần (62,55± 0,7) cao hơn so với sức khỏe thể chất (58,98 ± 1,1điểm) Nghiên cứu xác định được các yếu tố ảnh hưởng nghịch với chất lượng cuộc sống có ý nghĩa thống kê (p<0,05) gồm tuổi (ß= - 0,317), HbA1c (ß= - 0,145) Sự hiện diện của trầm cảm bao gồm sự buồn rầu (ß= - 0,245); sự mệt mỏi (ß= - 0,221) và một số biến chứng của bệnh đái tháo đường bao gồm biến chứng thận (ß= - 0,023) và/ hoặc biến chứng bàn chân (ß= - 0,090) làm giảm chất lượng cuộc sống hơn tăng huyết áp Nữ giới có chất lượng cuộc sống thấp hơn so với nam (ß= - 0,089)

Kết luận: Sử dụng bộ câu hỏi SF-36 trong nghiên cứu này đã mô tả được thực trạng chất lượng cuộc sống của 275 người bệnh đái tháo đường type 2 tham gia nghiên cứu ở mức trung bình (60,76 ± 0,8 điểm trên thang đo từ 0 - 100 điểm) đồng thời nghiên cứu đã xác định được các yếu tố tuổi cao, nữ giới, có biểu hiện trầm cảm và xuất hiện biến chứng làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh

Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, đái tháo đường type 2, trầm cảm, hỗ trợ xã hội

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các thầy, cô trong Ban giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo sau đại học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, cho phép tôi được bày tỏ sự trân quý và biết ơn tập thể thầy/ cô hướng dẫn gồm TS Nguyễn Thị Hoa Huyền và TS Nguyễn Ngọc Nghĩa đã tận tâm giảng dạy, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi trang bị thêm kiến thức trên con đường nghiên cứu khoa học

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô trong ban Giám hiệu, lãnh đạo khoa, phòng cùng các thầy cô giáo khoa Điều dưỡng trường Cao đẳng y tế Yên Bái đã luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới Ban Giám đốc Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái, cùng lãnh đạo, nhân viên khoa Khám bệnh, các điều tra viên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu Đồng thời tôi cũng xin gửi lời trân trọng cảm ơn tới những người bệnh đã đồng ý tham gia nghiên cứu và hợp tác rất tốt nhất là đã dành cho tôi những tình cảm đáng trân trọng trong suốt quá trình thu thập số liệu tại bệnh viện

Tôi xin cảm ơn bạn bè đồng học tại lớp Cao học khóa 5, chuyên ngành Điều dưỡng đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ giúp tôi thêm quyết tâm trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin ghi nhớ công ơn, tình cảm yêu thương tới gia đình đã luôn

là chỗ dựa tinh thần, điểm tựa vững chắc, khích lệ và động viên để tôi vượt qua mọi khó khăn, mệt mỏi phấn đấu nỗ lực trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Yên Bái, ngày 11 tháng 11 năm 2020

Tác giả

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của tập thể thầy cô hướng dẫn TS Nguyễn Thị Hoa Huyền và TS Nguyễn Ngọc Nghĩa

2 Các số liệu và kết quả trong nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố trước đây

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi thực hiện nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam đoan trên

Yên Bái, ngày 11 tháng 11 năm 2020

Học viên

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đại cương bệnh đái tháo đường 4

1.2 Dịch tễ mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới và ở Việt nam 6

1.3 Chất lượng cuộc sống 8

1.4 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và yếu tố liên quan ở người bệnh ĐTĐ type 2 13

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 19

1.6 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 24

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 25

2.6 Biến số nghiên cứu (phụ lục 1) 31

2.7 Phân tích số liệu 32

2.8 Sai số và hạn chế sai số 32

2.9 Đạo đức nghiên cứu 33

Trang 7

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Đặc điểm cá nhân của nhóm nghiên cứu 34

3.2 Đặc điểm biểu hiện trầm cảm của người bệnh đái tháo đường type 2 37

3.3 Đặc điểm chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 38

3.4 Đặc điểm hỗ trợ xã hội của đối tượng nghiên cứu 38

3.5 Mối tương quan các lĩnh vực chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường type 2 với một số yếu tố qua phân tích đơn biến 39

3.6 Ảnh hưởng của các yếu tố đối với các lĩnh vực chất lượng cuộc sống trong phân tích hồi quy đa biến 53

Chương 4 BÀN LUẬN 57

4.1 Thực trạng chất lượng cuộc sống ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020 57

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú 59

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 65

KẾT LUẬN 66

KHUYẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Biến số cho nghiên cứu

Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn người bệnh

Phụ lục 3 Bộ câu hỏi SF – 36

Phụ lục 4 Bộ câu hỏi đánh giá triệu chứng trầm cảm

Phụ lục 5 Bộ câu hỏi về hỗ trợ xã hội

Phụ lục 6: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tiếng Anh

BMI : Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index )

DqoL: Chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường (Diabetes

quality of life)

HbA1c: Hemoglobin glycosylat hóa

IDF: Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes

Federation)

MSPSS: Thang đa chiều nhận thức xã hội (Multidimensional Scale of

Perceived Social Support)

WHO: Tổ Chức Y tế Thế Giới (World health Organization)

Tiếng Việt

CLCS: Chất lượng cuộc sống

CLCS- SK: Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe

ĐTĐ: Đái tháo đường

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Câu hỏi tương ứng với các lĩnh vực cuộc sống 27

Bảng 2.2 Tính điểm cho mỗi câu hỏi trong bộ công cụ 27

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.2 Đặc điểm liên quan đến bệnh của đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.3 Đặc điểm các chỉ số liên quan đến bệnh của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.4 Đặc điểm trầm cảm của người bệnh đái tháo đường type 2 37

Bảng 3.5 Điểm trung bình các lĩnh vực chất lượng cuộc sống 38

Bảng 3.6 Đặc điểm hỗ trợ xã hội của người bệnh ĐTĐ type 2 38

Bảng 3.7 Mối tương quan sức khỏe thể chất và đặc điểm nhân khẩu học 39

Bảng 3.8 Mối tương quan SKTC và yếu tố đặc điểm bệnh 40

Bảng 3.9 Mối tương quan lĩnh vực sức khỏe thể chất và trầm cảm 42

Bảng 3.10 Mối tương quan lĩnh vực SKTT và các yếu tố nhân khẩu học 44

Bảng 3.11 Mối tương quan lĩnh vực SKTT và các yếu tố đặc điểm bệnh 45

Bảng 3.12 Mối tương quan lĩnh vực SKTT và các dấu hiệu trầm cảm 47

Bảng 3.13 Mối tương quan CLCS chung với đặc điểm nhân khẩu học 49

Bảng 3.14 Mối tương quan CLCS chung với đặc điểm bệnh 50

Bảng 3.15 Mối tương quan CLCS chung với dấu hiệu trầm cảm liên quan

đến bệnh 51

Bảng 3.16 Tương quan các lĩnh vực CLCS và hỗ trợ xã hội 52

Bảng 3.17 Ảnh hưởng các yếu tố với lĩnh vực SKTC qua phân tích hồi quy đa biến 53

Bảng 3.18 Ảnh hưởng của các yếu tố với lĩnh vực SKTT qua phân tích hồi quy đa biến 54

Bảng 3.19 Ảnh hưởng các yếu tố với CLCS chung qua phân tích hồi quy đa biến 55

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Mô hình chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe của Ferrans (2005) 20 Hình 1.2 Khung lý thuyết chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan 22 Hình 2.3 Cấu trúc về sự tương quan giữa 2 thành phần với 8 lĩnh vực trong SF-36 26

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới, đặc trưng bởi tăng đường huyết Là tác nhân chính gây ra các bệnh tim mạch, gây tàn tật phổ biến thứ mười trên toàn thế giới [44],[79] Trong thế kỷ 21, tỷ lệ mắc ĐTĐ đang gia tăng đều đặn ở các quốc gia trên thế giới, loại phổ biến nhất là ĐTĐ type 2 Đường huyết cao gây gần 4 triệu ca tử vong mỗi năm, ước tính chi phí chăm sóc sức khỏe toàn cầu cho những người mắc bệnh ĐTĐ là 850 tỷ USD vào năm 2017 [44] Thống kê của WHO (2019) tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành năm 2014 là 8,5% tăng gần gấp đôi so với 1980 (4,7%) có xu hướng phát triển rất nhanh tại các nước có sự thay đổi nhanh về kinh tế, lối sống, tốc độ đô thị hóa trong

đó có Việt Nam Đồng thời Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ người mắc ĐTĐ lớn nhất trong số các nước Đông Nam Á với 3,299 triệu người chiếm khoảng 5,8% người trưởng thành từ 20-79 tuổi [44],[79]

Tình trạng sức khỏe ở mọi khía cạnh của người bệnh ĐTĐ được đề cập qua khái niệm về “chất lượng cuộc sống” (CLCS), cụ thể hơn là “chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe” Nhận thức về CLCS ở người ĐTĐ type 2 nảy sinh do sự căng thẳng về bản chất mạn tính của bệnh và ảnh hưởng đáng kể bởi sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của biến chứng và dấu hiệu trầm cảm [17] Tỷ lệ lo lắng và trầm cảm khá cao ở người bệnh ĐTĐ type 2 và có ảnh hưởng nghiêm trọng đến CLCS của họ [33], [37]

Nghiên cứu tại các nước phát triển và một số nước Châu Á cho thấy, các hỗ trợ từ gia đình và xã hội có ý nghĩa thống kê trong việc giảm lo âu, trầm cảm đồng thời tăng CLCS cho người bệnh mắc các bệnh mạn tính gồm bệnh ĐTĐ [39],[67] Sàng lọc và xác định các vấn đề sức khỏe tạo điều kiện tự quản lý giữa các người bệnh có khả năng làm tăng CLCS của họ [62] Nhận thức của người bệnh về CLCS của chính họ là cơ sở để xác định các mục tiêu để cải thiện sức khỏe được đo bằng thang đo chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe [84] Điều này có ý nghĩa trong thực hành chăm sóc lâm sàng ở người lớn bị bệnh mạn tính, tập trung vào các

Trang 12

yếu tố có tác động đến CLCS Kết quả đo lường là bằng chứng quan trọng giúp người điều dưỡng đưa ra quyết định lâm sàng phù hợp để cải thiện chất lượng chăm sóc, hạn chế tối đa biến chứng, nâng cao nhận thức sức khoẻ và CLCS cho người bệnh [47],[53],[72]

Tại Việt Nam đã có nghiên cứu về CLCS của người bệnh ĐTĐ nhưng đa số

đề cập đến các yếu tố liên quan, chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng đối với CLCS người bệnh [3],[7],[11] Rất ít nghiên cứu tìm hiểu sự ảnh hưởng của vấn đề trầm cảm ở người mắc ĐTĐ và hỗ trợ xã hội tác động đến CLCS của họ Trong khi các nghiên cứu được thực hiện trên thế giới cho thấy, trầm cảm và nhận thức hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng đến CLCS ở người mắc các bệnh mãn tính gồm cả người bệnh mắc ĐTĐ type 2

Yên Bái là tỉnh miền núi với nhiều dân tộc sinh sống có số lượng người mắc bệnh ĐTĐ type 2 khá lớn Thống kê của bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái, riêng trong năm 2019, có trên 1000 người mắc ĐTĐ type 2 trong tổng số người đến khám

và điều trị bệnh tại bệnh viện (Lê Thanh Hải, 2019) Đặc điểm bệnh ĐTĐ thường phát hiện muộn, bệnh có thể không được chẩn đoán trong một thời gian dài hoặc được phát hiện bởi một biến chứng nào đó [44] Đây cũng và yếu tố gây khó khăn cho quản lý, đánh giá chăm sóc người bệnh ngoại trú Tìm hiểu CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 giúp cung cấp cơ sở dữ liệu, bằng chứng khoa học cho chăm sóc, điều trị nhằm nâng cao chất lượng của dịch vụ chăm sóc, khám chữa bệnh tại bệnh viện Kết quả nghiên cứu sẽ giúp đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố (cá nhân, đặc điểm bệnh hay một số yếu tố khác) đến các lĩnh vực CLCS gồm sức khỏe thể chất và tinh thần, cung cấp thông tin cho các chương trình, nghiên cứu can thiệp tác động lên các yếu tố này để nâng cao CLCS cho người bệnh Vì những lý do trên

nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Thực trạng chất lượng cuộc sống của người

bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Tỉnh Yên Bái năm 2020” nhằm 2 mục tiêu sau:

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương bệnh đái tháo đường

1.1.1 Khái niệm

Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) 2017, đái tháo đường (ĐTĐ)

là một tình trạng bệnh mạn tính xảy ra khi nồng độ glucose trong máu tăng cao vì

cơ thể không thể sản xuất đủ lượng hormone insulin hoặc sử dụng insulin hiệu quả Tăng đường huyết mạn tính trong thời gian dài có thể gây tổn thương các cơ quan khác nhau, dẫn đến sự phát triển của các biến chứng sức khỏe và đe dọa tính mạng như bệnh tim mạch, bệnh thần kinh, bệnh thận và bệnh mắt, dẫn đến bệnh võng mạc

a) Glucose huyết tương lúc đói ( FPG) ≥ 7,0 mmol/ L (126 mg/dl)

b) Glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g OGTT (Oral Glucose Tolerance Test) ≥ 11,1 mmol/ L (200 mg/dl)

c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol)

d) Đường huyết ngẫu nhiên ≥ 11,1 mmol/L (200 mg/dl) khi có dấu hiệu và triệu chứng được coi là mắc bệnh ĐTĐ [22],[32],[79]

1.1.2.2 Phân loại: Theo ADA (2019) và IDF (2017) ĐTĐ gồm 3 loại chính:

- ĐTĐ type 1 (Tế bào β bị phá hủy, đưa đến thiếu hụt insulin hoàn toàn), đa

số xảy ra ở trẻ em, người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự miễn

- ĐTĐ type 2 (Suy giảm chức năng tế bào beta, không phụ thuộc insulin) là loại ĐTĐ phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% trong tất cả các trường hợp mắc bệnh

- ĐTĐ thai kỳ và các thể đặc biệt khác như hội chứng ĐTĐ đơn độc: ĐTĐ sơ

sinh và ĐTĐ khởi phát ở tuổi trẻ, các bệnh về tuyến tụy ngoại tiết (viêm nang và

Trang 15

viêm tụy), thuốc hoặc bệnh ĐTĐ do hóa chất [22],[44]

1.1.3 Các yếu tố nguy cơ ĐTĐ type 2

Tuổi, thừa cân, béo phì là những yếu tố nguy cơ chính gây bệnh Tuổi càng cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 và các bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh thận Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ khuyến cáo rằng mọi người nên được kiểm tra bệnh ĐTĐ type 2 bắt đầu ở tuổi 45, đặc biệt khi có thừa cân hoặc béo phì [22] Chu vi và chỉ số khối cơ thể cao (BMI ≥25kg/m2) tăng nguy cơ mắc bệnh mặc dù mối quan hệ

có thể khác nhau ở các quần thể khác nhau [78]

Chế độ ăn uống không lành mạnh, không kiểm soát được đường huyết và trọng cơ thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [54] Một số loại thực phẩm giàu carbohydrate như các loại ngũ cốc qua tinh chế, đồ uống có đường sau khi sử dụng sẽ làm tăng lượng đường trong máu [66] Các hoạt động thể chất góp phần giảm đáng kể nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2 do có thể kiểm soát được lượng đường trong máu và cân nặng của người bệnh [81]

Căng thẳng tâm lý, trầm cảm: dấu hiệu rối loạn trầm cảm và lo âu có liên quan hội chứng chuyển hóa, tăng nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 [48]

+ Bệnh võng mạc ĐTĐ: liên quan tới mức đường huyết tăng cao và tăng huyết áp gây tổn thương mạch máu nhỏ ở lớp mắt sau, võng mạc gây mất dần thị

Trang 16

lực, thậm chí mù lòa Đồng thời có mối liên quan đáng kể giữa HbA1c, chỉ số khối

cơ thể, thời gian mắc bệnh ĐTĐ và protien niệu [30]

Bệnh mạch máu lớn: xơ vữa mạch vành, mạch não [51]; xơ vữa động mạch ngoại vi gây tắc mạch [13] Ngoài ra, ĐTĐ cũng liên quan đến tăng tỷ lệ ung thư, khuyết tật về thể chất và nhận thức, bệnh lao, trầm cảm [44], [79]

Phối hợp bệnh lý thần kinh và mạch máu: loét bàn chân ĐTĐ [13] dẫn đến tăng tỷ lệ cắt cụt sau khi loét chân hoặc chấn thương trên 80% [30]

1.1.5 Điều trị đái tháo đường

Mục tiêu điều trị bệnh ĐTĐ ở người trưởng thành (không có thai) được khuyến cáo theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2 của Bộ Y tế [13] :

► Glucose máu (mmol/L) lúc đói: Kiểm soát mức tốt từ 4,4- 7.2 mmol/l

► Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ < 10.0 mmol/L

► HbA1c (%): Kiểm soát mức < 7%

► Huyết áp (mmHg): Kiểm soát huyết áp tâm thu < 140 mmHg, huyết áp tâm trương < 90 mmHg hoặc dưới 130/85- 90 mmHg (có biến chứng suy thận)

Trên toàn cầu cứ khoảng 11 người trưởng thành có 1 người bị ĐTĐ Bệnh không chỉ phổ biến ở các nước phát triển mà ngày nay đại đa số xảy ra ở thành phố

Trang 17

của các nước thu nhập trung bình và thấp chiếm khoảng 80% Điều này được lý giải

do tình hình đô thị hóa nhanh chóng, chế độ dinh dưỡng không lành mạnh, lối sống trì trệ dẫn đến tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì là một yếu tố nguy cơ cao của ĐTĐ Số người trưởng thành mắc bệnh tăng liên tục mỗi năm từ 108 triệu người (1980) lên tới 422 triệu (năm 2014) [76] Ước tính mới nhất năm 2017 của IDF cho thấy, số người mắc bệnh ĐTĐ là 425 triệu (8,8%) Dự kiến số lượng người trưởng thành mắc ĐTĐ sẽ tăng lên 629 triệu người (10,1%) vào năm 2045 với tỷ lệ gia tăng của bệnh ĐTĐ là 48% mỗi năm [44] Ở các nước Châu Á, tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ chiếm hơn 60%, riêng Trung Quốc và Ấn độ đã chiếm gần nửa tổng số mắc trong

đó tỷ lệ mắc ở Trung Quốc là 121 triệu người (chiếm 28%) và ở Ấn Độ có 74 triệu người mắc (chiếm 17%) [61]

1.2.2 Dịch tễ mắc bệnh ĐTĐ tại Việt Nam

Bệnh ĐTĐ tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tại các khu vực thành thị Điều tra năm 2000 tại 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ ĐTĐ ở độ tuổi 30 – 64 là 4,0% Ở các vùng địa lý khác nhau tỷ lệ mắc bệnh cũng khác nhau Năm 2002, tỷ lệ ĐTĐ ở độ tuổi này là 4,4% ở thành phố, tỷ lệ mắc ở vùng đồng bằng cao hơn vùng trung du, ven biển và miền núi (báo cáo của bệnh viện Nội tiết Trung ương) Theo kết quả điều tra bản đồ dịch tễ học ĐTĐ toàn quốc năm 2012, tỷ lệ ĐTĐ lứa tuổi 30 – 69 là 5,4% vùng có tỷ lệ ĐTĐ thấp nhất là Tây nguyên (3,8%), tỷ lệ mắc bệnh ở Tây nam bộ cao gấp 2 lần (7,2%) Tỷ lệ mắc bệnh phản ảnh khá rõ tốc độ phát triển kinh tế và đời sống của người dân các vùng kinh tế khác nhau Sau 10 năm từ 2002 đến 2012,

tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng gấp đôi từ 2,7% lên 5,4% [12]

Theo kết quả điều tra năm 2018 của Bộ Y tế, tỷ lệ ĐTĐ chưa được phát hiện chiếm phần lớn (68,9%) chỉ có 31,1 % người bệnh được chẩn đoán và quản lý tại cơ

sở y tế Qua đó thấy rõ sự chênh lệch giữa nhu cầu chăm sóc sức khỏe của dân số ĐTĐ Từ đó cho thấy hoạt động kiểm soát các biến chứng của người bệnh ĐTĐ tại Việt Nam chưa thực chặt chẽ khiến tỷ lệ tử vong do ĐTĐ năm 2017 tăng cao với số

Trang 18

lượng 29,000 (đứng thứ 3 trong các nguyên nhân tử vong khác) [14] Trong tổng số các bệnh không lây nhiễm ước tính có 3% người bị tử vong do ĐTĐ năm 2012 [77] Một số nghiên cứu của các tác giả cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành một số tỉnh là khác nhau: nghiên cứu tại tỉnh Thừa Thiên Huế (2011) tỷ lệ mắc là 6,91% [6]; Nguyễn Bá Trí (2016) tại Sa Thầy tỉnh Kontum tỷ lệ 3,5% [15]

1.3 Chất lượng cuộc sống

1.3.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống (CLCS) là khái niệm rộng “đặc trưng bởi sự hài lòng với cuộc sống nói chung phụ thuộc vào nhận thức của mỗi người về điều đó” [65]

Trong những năm 1960 và 1970 các thuộc tính của CLCS xác định trên toàn cầu bởi các yếu tố sự hài lòng hay không hài lòng và hạnh phúc hay không hạnh phúc [34] Theo Haas (1999) CLCS là một đánh giá đa chiều về sự cảm nhận chủ quan các giác quan chủ yếu về hạnh phúc một cá nhân về hoàn cảnh sống hiện tại nơi họ sinh sống và những giá trị họ có gồm vật chất, tinh thần, tâm lý, xã hội [40]

Có rất nhiều định nghĩa xác định các thuộc tính đặc trưng của CLCS đều đề cập đến 5 khía cạnh: “(a) CLCS là một đánh giá về hoàn cảnh sống hiện tại của một

cá nhân,(b) có bản chất đa chiều, (c) dựa trên các giá trị và động lực, (d) bao gồm các chỉ số chủ quan và/ hoặc khách quan và (e) và ở những người có khả năng tự đánh giá các chỉ số đánh giá này là đáng tin cậy nhất” [40]

WHO định nghĩa: “CLCS là nhận thức của từng cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ” [80] Đây cũng là định nghĩa sử dụng nhiều trong các nghiên cứu CLCS trên thế giới và tại Việt Nam CLCS là một thuật ngữ mang ý nghĩa tổng thể, bao gồm các khía cạnh của hạnh phúc và hài lòng với tất cả mọi mặt của cuộc sống Khái niệm CLCS được chấp nhận bao gồm những đo lường cá nhân về sự hài lòng trước các yếu tố đa dạng của cuộc sống Sự đánh giá này bao gồm những phản ứng của cảm xúc trước các sự kiện của đời sống, cảm giác hài lòng với công việc cũng như những mối quan hệ cá nhân [43] CLCS là sự cảm nhận chủ quan của con người và bị tác động bởi nhiều

Trang 19

yếu tố như sức khỏe thể chất, tâm lý, mức độ độc lập, các mối quan hệ xã hội, môi trường, tâm linh/ tôn giáo/ tín ngưỡng cá nhân Việc đo lường CLCS cần lưu ý đến những đặc trưng của CLCS về tính toàn diện, đa khía cạnh [80] Trong đó các khía cạnh của CLCS tập trung vào vấn đề sức khỏe

1.3.2 Khái niệm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (CLCS - SK) được định nghĩa

là những đánh giá chủ quan của một người về các khía cạnh của CLCS (sức khỏe xã hội, tình cảm và thể chất) liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe [26]

Từ quan điểm về sức khỏe của WHO (1948) “sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật" cho thấy sự tương đồng với các khía cạnh của CLCS, từ đó chỉ ra hướng

đi mới trong nghiên cứu CLCS Đây là một khái niệm đa chiều “là một người hoạt động tốt như thế nào trong cuộc sống của họ và người đó cảm nhận được sự lành mạnh trong các lĩnh vực thể chất, tinh thần và xã hội của sức khỏe” [70] Định nghĩa này đề cập đến sự cảm nhận chủ quan của mỗi cá nhân về khía cạnh cuộc sống của họ và khả năng thực hiện các hoạt động xác định trước Định nghĩa khác

về CLCS - SK chủ yếu vào các lĩnh vực của CLCS - SK [49],[80] Thuật ngữ CLCS

- SK không được định nghĩa rõ ràng và hầu như không phân biệt với thuật ngữ sức khỏe hoặc CLCS [49]

Khái niệm CLCS đặc biệt có ý nghĩa trong công tác điều dưỡng Cohen & cộng sự (1996) nhấn mạnh ''CLCS luôn quan trọng đối với người bệnh'', tác động tích cực nếu người bệnh được cải thiện nhận thức bản thân về CLCS của họ [29]

1.3.3 Chất lượng cuộc sống của người bệnh ĐTĐ type 2: Gánh nặng xã hội

đáng kể của bệnh ĐTĐ và tác động của nó lên CLCS là một vấn đề sức khỏe quan tâm của cộng đồng gồm người bệnh, gia đình, người sử dụng lao động, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Tác hại của bệnh ĐTĐ đến CLCS - SK được mô tả liên quan bởi ảnh hưởng của tình trạng bệnh, các biến chứng, phương pháp điều trị, cảm xúc của người bệnh đến giảm nhiều ở các khía cạnh của CLCS - SK bao gồm chức năng thể chất, vai trò, xã hội [18]

Trang 20

1.3.4 Một số yếu tố liên quan đến bệnh đáí tháo đường type 2

1.3.4.1 Trầm cảm ở bệnh đái tháo đường type 2

Trầm cảm là thuật ngữ bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 19, để chỉ ra trạng thái buồn bã Vào cuối thế kỷ này Kraeplin đã mô tả đầy đủ các triệu chứng lâm sàng của một giai đoạn trầm cảm trong bệnh rối loạn tâm thần Các triệu chứng của trầm cảm được phân trong 2 loại chính là: bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD - 10: International Classification of Diseases) và cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần- tái bản lần thứ 4 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders DSM-IV)

Các triệu chứng chính của trầm cảm là tâm trạng chán nản và mất hứng thú hoặc khoái cảm ( một trong tiêu chuẩn theo phân loại DSM-IV) và giảm năng lượng hoặc mệt mỏi (theo phân loại ICD-10) [64] Trầm cảm là một rối loạn thường gặp đặc biệt trong một số quần thể đặc biệt như quần thể người già, người bệnh điều trị nội trú hay quần thể mắc các bệnh cơ thể mạn tính trong đó có bệnh ĐTĐ Trầm cảm ở người mắc bệnh ĐTĐ hiện được quan tâm trong nhiều nghiên cứu trên thế giới Tỷ lệ trầm cảm khá phổ biến ở người mắc bệnh ĐTĐ type 2 thường gặp ở mức

độ vừa và nhẹ (71,8%) [1] Nghiên cứu của Ganasegeran (2014) ở 169 người mắc bệnh độ tuổi từ 18 - 90 được điều trị theo dõi từ phòng khám Nội tiết tại Malaysia

có 40,3% biểu hiện triệu chứng trầm cảm Tình trạng biểu hiện trầm cảm có liên quan đến việc giảm kiểm soát trao đổi chất, tuân thủ kém với chế độ thuốc và chế

độ ăn uống, làm giảm CLCS và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe [58]

1.3 4.2 Hỗ trợ xã hội với đái tháo đường type 2

“Hỗ trợ xã hội là nhận thức cá nhân về các nhu cầu đã biết và chưa biết đó là hài lòng bởi sự giúp đỡ đáng kể từ người khác thông qua tương tác cá nhân hoặc cộng đồng và sự giao tiếp” [31] Hỗ trợ xã hội có nhiều khía cạnh ảnh hưởng khác nhau đến các kết quả và hành vi liên quan đến sức khỏe của người bệnh ĐTĐ [71] Các khía cạnh đó bao gồm tình trạng hôn nhân, mạng lưới xã hội và quan hệ cộng đồng Đánh giá nhận thức hỗ trợ xã hội ở người bệnh ĐTĐ type 2 giúp nâng cao hoạt động tự quản lý bệnh ĐTĐ đồng thời góp phần cải thiện hoạt động tự quản lý

Trang 21

và điều chỉnh tâm lý xã hội cho bệnh ĐTĐ Điểm nhận thức hỗ trợ xã hội cao tương ứng với cải thiện tình trạng CLCS của họ [39]

Trong nghiên cứu này hỗ trợ xã hội đề cập đến nhận thức của người bệnh ĐTĐ type 2 với sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và những người đặc biệt khác (như nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe)

1.3.5 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống

CLCS - SK có thể đo lường kết quả chăm sóc sức khỏe góp phần phòng ngừa và kiểm soát các bệnh mạn tính, khả năng tự quản lý của người bệnh Thang

đo dựa trên định nghĩa về sức khỏe, hạnh phúc và đánh giá cá nhân [41]

Hiện có rất nhiều bộ công cụ đã được triển khai và sử dụng để đánh giá CLCS, trong đó các bộ công cụ thường được sử dụng chia thành 2 loại gồm bộ công

cụ đo lường CLCS chuyên biệt và bộ công cụ đo lường CLCS chung

1.3.5.1 Bộ công cụ đo lường CLCS chuyên biệt:

Thiết kế nhằm đo lường CLCS cho người mắc một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe cụ thể, tập trung vào các khía cạnh có tầm quan trọng trong cuộc sống của người bệnh như:

- Công cụ KDQOL (Kidney Disease Quality of Life): đánh giá CLCS người mắc bệnh thận

- QoL-AD (Quality of Life Alzheimer Disease): đánh giá CLCS người bệnh Alzheimer

- AQLQ (Asthma Quality of Life Questionnaire): đánh giá CLCS ở người bệnh hen suyễn

- EORTC QLQ - C30 (European Organization for Research and Treatment of Cancer – EORTC): đánh giá CLCS người bệnh ung thư

1.3.5.2 Bộ công cụ đo lường CLCS chung:

* Công cụ đo lường CLCS của WHO gồm WHOQOL-100 & WHOQOL, những công cụ này có nhiều công dụng sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực thực hành y tế, nghiên cứu Đây là công cụ phát triển đa văn hóa, chú trọng đến nhận thức cá nhân Đồng thời đã được kiểm tra chặt chẽ giá trị

Trang 22

về độ tin cậy và tính hợp lệ ở nhiều quốc gia trên các nhóm người mắc các bệnh khác nhau Trong thực hành lâm sàng, công cụ này được sử dụng để đo lường CLCS trong quá trình người bệnh điều trị hoặc các yếu tố liên quan để từ đó cán bộ

y tế có thể tùy chỉnh sự lựa chọn để cải thiện chất lượng chăm sóc BREF là bộ công cụ đa ngôn ngữ, là phiên bản ngắn 24 khía cạnh phát triển từ WHOQOL-100, gồm 4 lĩnh vực chính được đánh giá gồm thể chất, tâm lý, xã hội

WHOQOL-và môi trường Ở bộ công cụ này, đánh giá CLCS của con người có tính chủ quan, điểm CLCS khi sử dụng bộ công cụ có sự khác nhau tùy thuộc và ngôn ngữ, văn hóa mỗi quốc gia [69],[80]

* EUROQOL (CLCS Châu Âu hay EQ-5D EQ-5D): là bộ công cụ tự đánh giá CLCS của người bệnh được chứng minh có giá trị đánh giá CLCS của cá nhân

và cộng đồng do nhóm nghiên cứu CLCS châu Âu phát triển Bộ câu hỏi gồm có 5 khía cạnh phản ánh sức khỏe thể lực và tinh thần bao gồm đi đứng, đau nhức, tự chăm sóc, lo lắng và hoạt động hàng ngày Mỗi câu hỏi có 3 câu trả lời Tổng cộng

có 245 tình trạng sức khỏe Hiện tại bộ công cụ được dịch ra 60 thứ tiếng khác nhau Các tình trạng sức khỏe được chuyển đổi sang điểm CLCS từ -0,594 đến 1 theo phương pháp “Trao đổi thời gian” (Time trade off)

* Ngoài ra nghiên cứu CLCS đối với người bệnh ĐTĐ có bộ công cụ “CLCS của người bệnh đái tháo đường Châu Á”- Asian DQoL Bộ công cụ này đã được xây dựng và thử nghiệm tại Malaysia Bộ công cụ đánh giá CLCS cho dân số chung

ở khu vực Đông nam á, được dịch bởi các tiếng Anh, tiếng Malaysia và tiếng Trung tương ứng với 3 bảng câu hỏi khác nhau [38] DQoL phát triển để đánh giá CLCS -

SK cho bệnh ĐTĐ type 1&2 Bộ công cụ bằng tiếng Anh và tiếng Malaysia được soạn thảo ban đầu bao gồm 30 câu hỏi Các lựa chọn câu trả lời nằm trong thang điểm 5 từ ''rất không hài lòng'' đến ''rất hài lòng'' Các bản chỉnh sửa sau áp dụng các nước khác nhau được sửa đổi, bổ sung số câu hỏi khác nhau cho phù hợp [38]

* Công cụ CLCS SF-36 (Short Form-36 điều tra y tế): là một thước đo toàn cầu về CLCS - SK, thuộc dự án đánh giá CLCS thế giới, được đánh giá tính giá trị

và độ tin cậy bởi các nhà khoa học trên thế giới từ năm 1991 Bộ công cụ được báo

Trang 23

cáo ngày càng nhiều trong các tài liệu khoa học trên nhiều tạp chí nổi tiếng [56],[73] Bộ câu hỏi bao gồm 36 mục đánh giá 8 khía cạnh sức khỏe

Để rút gọn có công cụ SF-12 sử dụng trong một số tình huống cần đánh giá nhanh với 12 câu hỏi có ưu điểm ngắn gọn, dễ trả lời, được sử dụng để đánh giá CLCS của người bệnh, bao gồm hai lĩnh vực sức SKTC và SKTT Công cụ SF-12 thường được sử dụng với những nghiên cứu có cỡ mẫu lớn, khi nghiên cứu cần tìm hiểu nhiều thông tin khác nữa Tuy nhiên công cụ này chưa đi vào chi tiết các khía cạnh thể chất và tâm thần nên có hạn chế trong việc đo lường các khía cạnh của CLCS một cách toàn diện và chi tiết

Bộ công cụ SF-36, một trong những công cụ đánh giá tiêu chuẩn được sử dụng để đo lường chất lượng cuộc sống, ngắn gọn, thiết thực và có tính giá trị và độ tin cậy cao Đây là thước đo CLCS được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới Nó đánh giá tám khía cạnh CLCS liên quan đến sức khỏe và đã được sử dụng trong các nghiên cứu cộng đồng và lâm sàng Hiện nay SF -36 đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau, bao gồm cả Tiếng Việt, đồng thời đã được sử dụng trong nghiên cứu dân số lớn liên quan đến nhiều loại quần thể người mắc bệnh mạn tính trong đó

có người bệnh ĐTD ở Việt Nam Do đó, bộ công cụ được xác định phù hợp để đánh giá thực trạng CLCS ở người bệnh ĐTĐ type 2 tại Việt Nam nói chung và tại Yên Bái nói riêng Từ các lý do trên, nhóm nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đo lường CLCS SF- 36 cho nghiên cứu này

1.4 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và yếu tố liên quan ở người bệnh ĐTĐ type 2

1.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Chủ đề CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 hiện nay đã được các tác giả quan tâm nghiên cứu rất nhiều trên thế giới Trong các nghiên cứu, CLCS được đánh giá bằng các bộ công cụ khác nhau và phương pháp tiến hành khác nhau Kết quả của một số nghiên cứu đã cho thấy có sự khác biệt về điểm CLCS giữa các nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân gồm đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm bệnh

Trang 24

Một số nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố liên quan tác động tiêu cực đến CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 làm giảm CLCS của họ

- Zurita-Cruz JN và cộng sự (2018) nghiên cứu trên 1394 người bệnh bao gồm, tuổi trung bình là 62 tuổi cho thấy gần nửa số người bệnh ĐTĐ type 2 có CLCS - SK kém (điểm CLCS 49,4%) thang đo SF-36; các yếu tố như tuổi tác, tình trạng hôn nhân, giới tính, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, triệu chứng trầm cảm và bệnh đi kèm có ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS - SK Trong số đó có liên quan nhiều nhất là trầm cảm (74,8%) Tuổi cao, trầm cảm ảnh hưởng tiêu cực CLCS – SK [84]

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hiện diện các bệnh kèm theo làm giảm CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 giảm liên quan đến số bệnh đi kèm Wermeling

và cộng sự (2012) đánh giá trên 2215 người bệnh ĐTĐ type 2 ở Hà Lan và thấy rằng những người có bệnh đi kèm có tình trạng sức khỏe thấp hơn đáng kể so với những người không có bệnh đi kèm [75] Levterova (2018) rằng thời gian mắc bệnh kéo dài trên 5 năm, có bệnh đi kèm như tăng huyết áp (76%), bệnh tim thiếu máu cục bộ (44%); các biến chứng mạn tính như bệnh thần kinh ĐTĐ (17%), bệnh võng mạc ĐTĐ (13%) là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến giảm CLCS của người bệnh và có ý nghĩa thống kê [53]

Jenny (2019), sử dụng bộ câu hỏi ngắn (WHOQOL-BREF) nghiên cứu mối tương quan của kiểm soát trao đổi chất đến CLCS trong bệnh ĐTĐ loại 2 được nghiên cứu trên 135 người bệnh ĐTĐ type 2 độ tuổi từ 18 tuổi Nghiên cứu cho thấy điểm CLCS trung bình là 54,07 điểm thấp nhất ở các yếu tố đau đớn, cảm giác tiêu cực, hoạt động tình dục và hỗ trợ tài chính (đều có điểm đạt <50) Phân tích mối tương quan giữa các lĩnh vực thuộc CLCS với kiểm soát trao đổi chất, kết quả cho thấy có mối tương quan nghịch giữa lĩnh vực tâm lý và đường huyết lúc đói và HbA1c với đường huyết lúc đói ( p <0,05) có ý nghĩa thống kê [27]

Ảnh hưởng của biến chứng đến CLCS: Ligda Georgia (2019) sử dụng công

cụ WHOQOL – BREF đánh giá CLCS trên 2 nhóm đối tượng cho thấy người bệnh

có biến chứng võng mạc ĐTĐ ở các mức độ khác nhau đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến các lĩnh vực của chất lượng cuộc sống Khi so sánh các miền CLCS của

Trang 25

nhóm mắc biến chứng và nhóm kiểm soát cho thấy sức khỏe nói chung, tinh thần và tâm lý, cũng như các mối quan hệ xã hội và môi trường tồi tệ hơn đáng kể ở những người mắc biến chứng võng mạc (p< 0,001) Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy tuổi, thu nhập và tình trạng giáo dục là yếu tố quyết định cho một cuộc sống tốt hơn ở cả người bệnh có và không có bệnh võng mạc ĐTĐ [55]

Peian Lou và cộng sự (2015) nghiên cứu trên 944 người bệnh mắc bệnh ĐTĐ type 2 tại Trung Quốc (thang đo DSQL) để đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng giấc ngủ và CLCS ở Trung Quốc DSQL trung bình là 50,7 ± 12,9 và nam có DSQL thấp hơn nữ (48,8 ± 12,7 so với 51,9 ± 13,1; p <0,01) Nghiên cứu cho thấy một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê của đặc điểm chung của người tham gia với chất lượng cuộc sống kém của họ bao gồm nữ giới, những tuổi cao, mắc bệnh ĐTĐ kéo dài, số lượng biến chứng và bệnh kèm theo nhiều, uống rượu, có triệu chứng trầm cảm và lo lắng, giấc ngủ kém (tất cả p <0,01) Ngoài ra người sử dụng insulin, kiểm soát đường huyết kém [57]

Tác giả Arditi và cộng sự (2019) đánh giá tình trạng sức khỏe và CLCS của

506 người bệnh ĐTĐ type 2 ở Thụy sĩ Sử dụng bộ câu hỏi SF- 12, kết quả cho thấy điểm CLCS sức khỏe thể chất trung bình là 43,1 ± 10,4 và điểm tinh thần trung bình

là 46,7 ± 11,1 Yếu tố ảnh hưởng nhiều đến CLCS thấp nhất là mong muốn tự do

ăn, uống và đời sống tình dục của họ Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra tuổi cao, thu nhập thấp, thời gian mắc bệnh ĐTĐ trên 10 năm, điều trị bằng insulin và các biến chứng có ảnh hưởng đến giảm CLCS của người bệnh [23]

Tác giả Bourdel và cộng sự (2013) sử dụng bộ công cụ SF-12 cho sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất Thực hiện nghiên cứu chọn mẫu trên toàn quốc với

2832 người bệnh ĐTĐ type 2, tuổi trung bình là 64 tuổi trong số nam giới chiếm số đông (56%) nhằm mục đích phân tích các yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh Nghiên cứu cho thấy: Các yếu tố liên quan đến CLCS với điều kiện kinh tế xã hội, hỗ trợ xã hội, biến chứng, khuyết tật và hạn chế tham gia xã hội Trong đó đặc điểm nhân khẩu học liên quan đến sức khỏe tinh thần bởi các yếu tố thu nhập thấp, trình độ học vấn thấp, thời gian mắc bệnh dài, hạn chế sinh hoạt hàng ngày, điều trị

Trang 26

bằng insulin, tiền sử hạ đường huyết nặng, mức độ hài lòng thấp đối với hỗ trợ xã hội, kiểm soát đường huyết kém…Sức khỏe thể chất ảnh hưởng bởi tuổi cao trên 65 tuổi, giới tính nữ, béo phì (BMI >25), thu nhập thấp hơn, biến chứng [25]

Tác giả Dhillon và cộng sự (2019) thực hiện nghiên cứu cắt ngang được trên

150 người bệnh ĐTĐ type 2 tại Malaysia Một số đặc điểm cá nhân của những người tham gia có liên quan đến điểm CLCS kém trong đó điều trị bằng insulin & OHA, kiểm soát đường huyết kém (HbA1> 6,5%), không hoạt động thể chất, có biến chứng có bệnh võng mạc, bệnh thần kinh, hạ đường huyết, có trầm cảm và lo lắng, và không tuân thủ thuốc (đều có p <0,05) Nghiên cứu này có một số hạn chế: (1) thiết kế cắt ngang không cho phép vì bất kỳ nguyên nhân nào và hiệu ứng hoặc một mối quan hệ tạm thời được thiết lập; (2) việc sử dụng một số dụng cụ không thể đánh giá khách quan kết quả, có thể đã ảnh hưởng đến tính nhất quán của kết quả của chúng tôi; (3) liên kết giữa các biến nhất định có thể chưa được thiết lập do kích thước mẫu nhỏ đại diện cho các loại này; (4) nghiên cứu chỉ được thực hiện trên các mẫu từ một trung tâm duy nhất được tuyển dụng thông qua lấy mẫu thuận tiện, do

đó hạn chế tính hợp lệ bên ngoài của các kết quả này [33]

♦ Trầm cảm với chất lượng cuộc sống người bệnh ĐTĐ type 2: Nghiên cứu của Akena (2015) về mối liên quan giữa trầm cảm và CLCS của người bệnh ĐTĐ thực hiện trên 437 người mắc bệnh ĐTĐ tại Uganda cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 34,8% phần lớn trong số đó là nữ giới (64,8%) [19] Tác giả Dhillon (2019) nghiên cứu trên 150 người bệnh được chẩn đoán mắc ĐTĐ type 2 tại Malaysia cũng chỉ ra các yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh ĐTĐ trong đó yếu tố bị trầm cảm ở các mức độ đều làm giảm đáng kể điểm trung bình CLCS của họ ( p = 0,002 có ý nghĩa thống kê) [33] Trong nghiên cứu của Juárez-Rojop I.E (2018) ở 173 người bệnh Mexico mắc bệnh ĐTĐ type 2 tỷ lệ nữ (72.3%) là chủ yếu và tuổi trung bình

là 55 tuổi cho thấy tỷ lệ trầm cảm trong số đối tượng nghiên cứu là 19,1% [53] Trầm cảm phát hiện và điều trị có thể làm giảm CLCS cụ thể các điểm giới hạn vai trò sức khỏe thể chất, cảm nhận đau đớn, sức khỏe tổng quát và các mục sức khỏe

Trang 27

tinh thần (p<0,001) có ý nghĩa thống kê, ảnh hưởng tiêu cực đến tự quản lý ở người bệnh ĐTĐ type 2 [47]

♦ Hỗ trợ xã hội với CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2: Các nghiên cứu đã chứng minh hỗ trợ xã hội đóng một vai trò trong chất lượng cuộc sống của bệnh ĐTĐ và tự quản lý thực hành, nghiên cứu Tác giả Tang (2008) cho thấy người bệnh ĐTĐ type 2 được đáp ứng hỗ trợ xã hội ở các mặt khác nhau đều ảnh hưởng tích cực đến CLCS của người bệnh (p< 0,001) Sự hỗ trợ mức cao có thể cải thiện chất lượng và kiểm soát đường huyết (đều có p <0,05) Hành vi hỗ trợ tích cực hỗ trợ người bệnh tuân theo chế độ ăn uống lành mạnh hay các hoạt động thể chất (đều có

P <0,05) Hành vi hỗ trợ tiêu cực là một yếu tố dự đoán cho việc không tuân thủ điều trị (P <0,01) [71]

Tác giả Fugen Go¨ z (2007) trong nghiên cứu về ảnh hưởng của hỗ trợ xã hội với CLCS của người bệnh ĐTĐ kết quả cho thấy điểm CLCS đo bằng bộ công cụ SF- 36 cao hơn ở nam giới, mối quan hệ tích cực giữa điểm nhận thức hỗ trợ xã hội của người bệnh và điểm CLCS chung của họ (r = 0,450; p < 0,01) Nghiên cứu còn cho thấy mối tương quan tích cực giữa cấp độ giáo dục của người bệnh và nhận thức về hỗ trợ xã hội với điểm chung r s = 0,445; p <0,01 (có ý nghĩa thống kê) [39] Như vậy điểm CLCS và nhận thực hỗ trợ xã hội từ gia đình, bạn bè, người đặc biệt

sẽ được cải thiện thông qua cấp độ giáo dục

1.4.2 Tại Việt Nam

Đánh giá CLCS nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên các nhóm người bệnh ở các bệnh khác nhau Ví dụ, sử dụng bộ công cụ SF- 36 đã có nhiều tác giả nghiên cứu áp dụng: Trần Công Duy và cộng sự (2015) nghiên cứu CLCS ở người bệnh tăng huyết áp [2] Nguyễn Bích Ngọc (2014) nghiên cứu CLCS của người bệnh Alzheimer [8] Đánh giá CLCS và tìm ra sự ảnh hưởng của các yếu tố lên CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 hiện cũng được quan tâm nghiên cứu tại Việt Nam nhưng chưa nhiều

Tác giả Trần Ngọc Hoàng (2014) sử dụng bộ câu hỏi SF-36 Việt hóa đánh giá CLCS dựa trên 8 khía cạnh sức khỏe, nghiên cứu trên 200 người bệnh nhằm

Trang 28

đánh giá ảnh hưởng của các biến chứng đối với CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị tại bệnh viện Nhân Dân 115 cho kết quả điểm CLCS thấp nhất ở lĩnh vực sức khỏe tổng quát (41,09) và cao nhất ở hoạt động xã hội (62, 63) Nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của một số biến chứng tới các khía cạnh CLCS của người bệnh Tuy nhiên nghiên cứu còn điểm hạn chế đó là (1) không đánh giá sự ảnh hưởng của trầm cảm và các yếu tố tâm lý như sự hài lòng của người bệnh về các dịch vụ y tế đối với CLCS của người bệnh; (2) chưa đánh giá điểm CLCS chung và điểm CLCS thuộc hai lĩnh vực sức khỏe thể chất và tinh thần; (3) cỡ mẫu nhỏ nên chỉ mang tính chất đại diện cho địa bàn nghiên cứu chứ không đại diện cho các địa bàn khác [4] Tác giả Nguyễn Thị Hương (2017) sử dụng bộ câu hỏi SF-36 việt hóa đánh giá CLCS nghiên cứu trên 413 người bệnh điều trị ngoại trú ĐTĐ type 2 tại thành phố Hà Tĩnh với mục đích đánh giá CLCS và các yếu tố liên quan Nghiên cứu cho thấy điểm CLCS mức trung bình (58,51 ± 20,5) và tỷ lệ chưa đạt chiếm 30,5% không có sự khác biệt điểm CLCS ở 2 lĩnh vực thể chất, tâm thần Nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố thuộc đặc điểm cá nhân và đặc điểm bệnh ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS như nữ giới, tuổi cao, trình độ học vấn thấp, thời gian mắc bệnh kéo dài; có biến chứng có ý nghĩa thống kê (đều có p<0,05) Những hạn chế của nghiên cứu: (1) sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp không tránh khỏi sai lệch về thông tin như thông tin cá nhân và thông tin bệnh tật; (2) nghiên cứu chỉ mang tính đại diện tại một quần thể nhỏ và được thực hiện cắt ngang tại một thời điểm nên chưa cho kết quả về thay đổi chất lượng cuộc sống; (3) nghiên cứu chưa tiến hành phân tích đa biến để xác định yếu tố thực sự liên quan đến chất lượng cuộc sống người bệnh ĐTĐ type 2

Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải (2019) sử dụng bộ công cụ Asian DQoL đánh giá CLCS cho 357 người bệnh ĐTĐ type 2 tại thành phố Vĩnh Yên Nghiên cứu cho thấy CLCS chung mức trung bình khá (62,79 ± 7,69); đánh giá được một số yếu tố liên quan với một số đặc điểm cá nhân (tuổi cao, tình trạng độc thân, học vấn thấp,

nữ giới và phải sống một mình) và đặc điểm lâm sàng (thời gian mắc bệnh dài, mắc biến chứng, phương pháp điều trị có insulin và người bệnh có chỉ số đường huyết

Trang 29

cao (đều có p<0,05 có ý nghĩa thống kê) Nghiên cứu cũng còn một số hạn chế: (1) chưa mang tính đại diện cho tất cả các đơn vị khác; (2) chưa giải thích sâu hơn các kết quả nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu thực sự của người bệnh [3]

Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương (2018) sử dụng bộ công cụ EQ-5D-3L đánh giá CLCS ở 171 người bệnh ĐTĐ type 2 độ tuổi từ trên 60 tuổi tại Việt Nam Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của bệnh và bệnh đi kèm là nguyên nhân quan trọng giảm CLCS đồng thời đánh giá được các yếu tố liên quan khác tác động tiêu cực đến CLCS (thời gian mắc bệnh kéo dài, tuổi già, phương pháp điều trị bằng insulin) và các yếu tố tác động tích cực (nam giới, sống ở khu vực thành thị, có thể

đủ khả năng điều trị, uống ít thuốc hơn và theo dõi huyết áp thường xuyên Một số hạn chế: (1) nghiên cứu mô tả cắt ngang hạn chế phân tích các mối quan hệ nhân quả giữa CLCS - SK và các yếu tố liên quan; (2) cỡ mẫu nhỏ chưa đại diện cho quần thể rộng; (3) sử dụng phương pháp phỏng vấn có sai số khi người bệnh mô tả nhớ lại ảnh hưởng đến kết quả báo cáo [62]

Về ảnh hưởng của trầm cảm đến chất lượng cuộc sống: Trần Thị Hà An (2018) nghiên cứu tỷ lệ trầm cảm ở người bệnh ĐTĐ type 2, nhóm trầm cảm nhẹ tỷ

lệ cao nhất với 47,1% và thấp nhất là nhóm trầm cảm nặng chiếm 19,3% [1]

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu

Có nhiều mô hình CLCS - SK được áp dụng dựa trên điều kiện sức khỏe và bệnh tật khác nhau, qua tuổi thọ và mong muốn cá nhân, gia đình và cộng đồng CLCS - SK chỉ các khía cạnh là năng động, chủ quan và đa chiều và kích thước thường bao gồm các yếu tố thể chất, xã hội, tâm lý và tinh thần Bệnh ĐTĐ cũng như các bệnh mạn tính khác tiến triển gây những hậu quả trầm trọng cho người bệnh, gia đình và xã hội Vai trò tự quản lý của người bệnh và sự hỗ trợ của xã hội

có hiệu quả góp phần cải thiện CLCS cho họ [24]

Theo thống kê của Bakas và cộng sự (2012) có 3 mô hình CLCS - SK thường được sử dụng là: (1) mô hình của Wilson& Cleary; (2) Ferrans & cộng sự; (3) Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Trong số đó, mô hình của Ferrans & cộng sự (2005) có tiềm năng nhất để hướng dẫn nghiên cứu và thực hành CLCS – SK, được

Trang 30

điều chỉnh từ mô hình Wilson và Cleary (1995) giải thích cụ thể về CLCS - SK nhưng vẫn giữ được 5 lĩnh vực trong mô hình cũ: sinh học, triệu chứng, chức năng, nhận thức về sức khỏe nói chung và CLCS - SK tổng thể Ferrans đã đưa ra các định nghĩa rõ ràng cho các đặc điểm cá nhân và môi trường, ngoài ra cũng đơn giản hóa việc mô tả mô hình bằng cách loại bỏ các yếu tố phi y tế Vì vậy chúng tôi lựa chọn mô hình làm khung lý thuyết cho nghiên cứu này

Hình 1.1 Mô hình chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe của Ferrans

(2005) Nguồn I.B Wilson and P.D Clearly, 1995 Copyright by JAMA Used with

Tình trạng chức năng

Sức khỏe tổng quát

CLCS chung

Đặc điểm môi trường

Trang 31

Đặc điểm môi trường: gồm môi trường vật chất và môi trường xã hội Đặc trưng của môi trường xã hội là sự ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe Hỗ trợ xã hội bao gồm gia đình, bạn bè và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe là một trong yếu môi trường xã hội đã chứng minh ảnh hưởng lớn đến người bệnh ĐTĐ [71]

Chức năng sinh học: là yếu tố chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất

cả các thành phần của sức khỏe đề cập đến chức năng của các tế bào, cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể (đặc điểm bệnh) Có thể đo lường được thông qua đánh giá thể chất, cận lâm sàng và chẩn đoán bệnh

Triệu chứng: cảm nhận của người bệnh về thể chất, thay đổi cảm xúc hoặc trạng thái nhận thức Có thể phân loại là triệu chứng thể chất, chức năng và tâm lý

Tình trạng chức năng: đánh giá khả năng của người bệnh thực hiện nhiệm vụ trong các lĩnh vực bao gồm: chức năng thể chất, xã hội, vai trò và chức năng tâm lý Sức khỏe tổng quát: là đánh giá chủ quan của cá nhân về tổng thể các khía cạnh khác nhau của sức khỏe

CLCS chung: là cảm giác chủ quan của một người về hạnh phúc hay hài lòng với các lĩnh vực trong cuộc sống [35]

Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên mô hình CLCS - SK của Ferrans, trên cơ sở tìm hiểu, xem xét kỹ các đặc điểm lâm sàng, các nghiên cứu trong nước

và quốc tế về vấn đề CLCS người bệnh ĐTĐ type 2 CLCS ở 2 khía cạnh sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần liên quan với nhóm biến chủ yếu là đặc điểm cá nhân gồm cả rối loạn tâm lý và hỗ trợ xã hội Khung lý thuyết của nghiên cứu như sau:

Trang 32

Hình 1.2 Khung lý thuyết chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan

1.6 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện Nội tiết tỉnh là bệnh viện chuyên khoa hạng 3, quy mô 55 giường bệnh, địa bàn tỉnh Yên Bái Tại địa điểm 150 đường Yên Ninh - phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, Yên Bái Bệnh viện có chức năng khám, điều trị các bệnh nội tiết, các rối loạn chuyển hoá cho người bệnh ở địa bàn thành phố Yên Bái

và vùng lân cận Về tổ chức, bệnh viện có 3 phòng chức năng và 5 khoa trong đó Khoa Khám bệnh thực hiện chức năng tiếp nhận khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú đồng thời tư vấn thuốc điều trị, chế độ ăn uống luyện tập cho người bệnh; có 01 phòng tư vấn dinh dưỡng tại khoa khám bệnh Tính đến thời điểm 30/9/2019 bệnh viện có tổng số 25.056 lượt người bệnh đến khám và

Đặc điểm cá nhân

- Nhân khẩu học: Tuổi, giới,

nghề nghiệp, trình độ học

vấn, tình trạng hôn nhân…

- Đặc điểm bệnh: Thời gian

phát hiện bệnh; BMI; Biến

chứng; Bệnh kèm theo;

Phương pháp điều trị; Chỉ số

đường huyết, HbA1c

Tâm lý: các dấu hiệu trầm

Trang 33

chữa bệnh, trong đó phần lớn số người bệnh có BHYT 22 412 có BHYT (chiếm khoảng 90%) Ngoài số người bệnh điều trị nội trú, số điều trị ngoại trú chiếm đa số 95% Hiện bệnh viện đang quản lý 1160 người bệnh ĐTĐ type 2 Hàng tháng người bệnh đến khám tư vấn theo lịch hẹn Quản lý và theo dõi người bệnh qua hồ sơ bệnh

án ngoại trú Hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh điều trị ngoại trú ĐTĐ type 2 do các bác sĩ trực tiếp khám, giải thích những vấn đề thắc mắc của người bệnh kết hợp hướng dẫn sử dụng thuốc trong quá trình người bệnh đến khám, cấp thuốc Số lượng người bệnh ĐTĐ type 2 tại Yên Bái khá nhiều vì vậy để tìm hiểu CLCS của họ chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá CLCS cũng như tìm hiểu các yếu tố có tác động đến CLCS ở đối tượng này, qua đó tăng cường công tác tự quản lý của người bệnh, nâng cao CLCS cho người bệnh và công tác chăm sóc y tế

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu

Người bệnh từ 18 tuổi trở lên được điều trị ngoại trú ĐTĐ type 2 từ 6 tháng trở lên;

Người bệnh đồng ý tham gia và đủ khả năng trả lời phỏng vấn khi điều tra viên hỏi

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

Người đang điều trị bệnh tâm thần kèm theo, hoặc đang sử dụng các thuốc ảnh hưởng đến hoạt động tâm thần (thuốc an thần, chống trầm cảm…)

Người có tình trạng bệnh lúc đến tái khám phải điều trị nội trú

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 1/9/2019 đến 30/5/2020

Thời gian thu thập số liệu từ tháng 01/1/2020 đến 30/3/ 2020

Địa điểm Phòng khám Nội tiết, bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có

p: Tỷ lệ người bệnh ĐTĐ type 2 có CLCS mức dưới trung bình 50 điểm (trung bình kém, kém) theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hải (2018) tỷ lệ này

là 23,3% [3] p= 0, 233; q= (1-p) = 0,767;

∆: Khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu nghiên cứu và tỷ lệ

Trang 35

của quần thể Độ sai lệch 5%, ∆ = 0,05

Zα/2 : Giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị α được chọn

α: Mức ý nghĩa thống kế với α =0,05 thì hệ số Z1-α/2 = 1,96;

Thay vào công thức trên, mẫu cần thiết là:

n = Z2 (1- α/2)

đủ mẫu

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập thông tin

2.5.1.2 Bộ câu hỏi về chất lượng cuộc sống SF-36 (phụ lục 3)

Theo các kết quả nghiên cứu y tế, công cụ SF-36 là một trong những công cụ thường được sử dụng nhất để đánh giá CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 [18] SF-

36 đã được dịch phiên bản tiếng Việt và sử dụng tại Việt Nam về đo lường CLCS của người ĐTĐ type 2, gồm 36 câu hỏi đo lường 8 khía cạnh sức khỏe chia 2 thành phần: sức khỏe thể chất (SKTC) và sức khỏe tinh thần (SKTT):

- Sức khỏe thể chất (Physical Component Summary: PCS) gồm các lĩnh vực: Hoạt động chức năng (Physical Functioning: PF)

Giới hạn chức năng (Role Physical: RP)

Cảm nhận đau đớn (Bodily Pain: BP)

Cảm nhận sức khỏe chung (General Health: GH)

Trang 36

- Sức khỏe tinh thần (Mental Component Summary: MCS) gồm các lĩnh vực: Hoạt động xã hội (Social Functioning: SF)

Hạn chế vai trò chức năng cảm xúc (Role Emotion: RE)

Cảm nhận sức sống (Vital: VT)

Sức khỏe tâm thần (Mental Health: MT)

Thời gian mỗi đối tượng hoàn thiện trả lời hết khoảng 5-10 phút Các câu hỏi

so sánh "có / không" hoặc đánh giá 6 điểm theo thang điểm của Likert từ "Không" cho đến "rất nghiêm trọng" Kết quả 36 điểm sau đó được tổng kết và chuyển đổi thành theo thang điểm từ 0 (tử vong ) đến 100% (hoàn toàn khỏe mạnh) [74] Nghiên cứu viên khoanh tròn vào ý mà người bệnh lựa chọn trong các câu hỏi sau phỏng vấn người bệnh CLCS đánh giá theo bộ công cụ SF -36 gồm 36 câu hỏi, được chuyển đổi thành 8 khía cạnh sức khỏe và chuyển sang thang điểm 100

Hình 2.3 Cấu trúc về sự tương quan giữa 2 thành phần với 8 lĩnh vực

8 lĩnh vực đánh giá CLCS tương ứng với nhóm câu hỏi tổng hợp (bảng 2.1) Chỉ riêng một mục duy nhất (câu hỏi 2) xác định sự khác biệt được nhận thức về tình trạng sức khỏe trong năm qua

Tinh thần tổng quát

Hoạt động

xã hội

Giới hạn tâm lý

Sức khoẻ thể chất

Sức khoẻ tinh thần

Trang 37

Bảng 2.1 Câu hỏi tương ứng với các lĩnh vực cuộc sống

TT Khía cạnh sức khỏe Số câu Câu hỏi Sức khỏe chung

Nguồn: RAND 36-Item Health Survey 1.0 [42],[73]

Bảng 2.2 Tính điểm cho mỗi câu hỏi trong bộ công cụ

Số câu hỏi Các lựa chọn Điểm CLCS tương đương

Trang 38

Số câu hỏi Các lựa chọn Điểm CLCS tương đương

Nguồn: RAND 36-Item Health Survey 1.0 [42]

- Cách tính điểm: SF-36 được cho điểm bằng cách mã hóa điểm số cho mỗi câu hỏi và hiệu chỉnh lại, tổng hợp và chuyển thành thang điểm từ 0 đến 100 tương ứng (CLCS kém nhất có thể đến CLCS tốt nhất có thể)

+ Hai điểm thành phần sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần được chuẩn hóa điểm trung bình là 50, với điểm trên 50 thể hiện chức năng tốt hơn trung bình

và dưới 50 thể hiện chức năng kém hơn trung bình [46]

+ Điểm mỗi mục đánh giá CLCS được tính theo trung bình cộng của các mục tương ứng

♦ Tình trạng sức khỏe thể chất: điểm trung bình cộng của các mục gồm hoạt động chức năng, giới hạn chức năng, cảm nhận đau đớn, sức khỏe chung (bảng 2.1)

♦ Tình trạng sức khỏe tinh thần: điểm trung bình cộng các mục gồm cảm nhận sức sống, hoạt động xã hội, giới hạn tâm lý, sức khỏe tinh thần (bảng 2.1)

+ Điểm CLCS chung được tính bằng điểm trung bình cộng của điểm sức khỏe thể chất và điểm sức khỏe tinh thần

- Đánh giá độ tin cậy: Thang đo SF - 36 được sử dụng phù hợp cho người

bệnh ĐTĐ type 2 ở châu Á Các hệ số độ tin cậy bên trong của hai yếu tố sức khỏe

Trang 39

thể chất và tinh thần trong thang đo đã được chứng minh với hệ số Cronbach’s α dao động từ 0,85 đến 0,87 [52]

Bộ công cụ đã được tác giả đồng ý cho sử dụng cho nghiên cứu này

2.5.1.3 Bộ câu hỏi dấu hiệu trầm cảm (phụ lục 4)

Vấn đề trầm cảm ở người bệnh ĐTĐ được đo lường qua thang đo dấu hiệu

trầm cảm được phát triển với 7 câu hỏi nhằm xác định các dấu hiện trầm cảm ở

người bệnh ĐTĐ type 2

Thang đánh giá trầm cảm gồm 7 câu hỏi ghi từ 1 đến 7, mỗi câu hỏi gồm có

4 câu trả lời được cho điểm từ 0 đến 3 theo mức độ nặng dần của các triệu chứng

Tư vấn viên phỏng vấn mỗi đối tượng tham gia nghiên cứu và khoanh tròn vào chữ

số tương ứng với câu đã chọn tại mục nhỏ nào phù hợp nhất với trạng thái cảm xúc hiện tại của người bệnh Hoặc cũng có thể đánh dấu các câu khác trong mục nếu như những câu đó cũng phù hợp với mình

Kết quả đánh giá dựa trên các mục mà người thực hiện đã đánh dấu (mỗi mục chỉ chọn một câu có điểm cao nhất) cho các câu hỏi về: sự buồn rầu; sự bi quan; sự không hài lòng; sự dễ bồn chồn hoặc kích động; sự thay đổi giấc ngủ; sự thay đổi cảm giác ăn và sự mệt mỏi

Bộ câu hỏi đã được kiểm định hệ số tin cậy Cronbach α trong nghiên cứu này với hệ số ở 0,682

2.5.1.4 Thang đo nhận thức hỗ trợ xã hội (phụ lục 5)

Sự hỗ trợ xã hội của người bệnh ĐTĐ type 2 qua thang đa chiều nhận thức

xã hội MSPSS (Multidimensional Scale of Perceived Social Support) được phát triển bởi tác giả Zimet (1988) [82] MSPSS là công cụ đánh giá nhận thức về hỗ trợ

xã hội gồm các thành phần: gia đình, bạn bè và những người quan trọng (người đặc biệt) khác Trong đó gia đình được hiểu là cha mẹ, vợ / chồng, con cái, anh chị em

và ông bà Thuật ngữ “ người đặc biệt” tức ai đó bên ngoài gia đình và bạn bè (như bạn trai/ bạn gái, người thân, hàng xóm và cán bộ y tế) [39]

MSPSS bao gồm 12 mục, chia làm 3 nhóm: các mục đánh giá nhận thức hỗ trợ từ gia đình (câu 3, 4, 8, 11), bạn bè (câu 6, 7, 9, 12) và những người quan trọng

Trang 40

khác (câu 1, 2, 5, 10) Đánh giá sự hỗ trợ xã hội mỗi mục theo thang điểm 7 từ rất không đồng ý (1) đến rất đồng ý (7) Tổng điểm càng lớn tương ứng với người bệnh nhận được sự hỗ trợ xã hội càn nhiều Bộ công cụ được sử dụng phù hợp để đo lường nhận thức về hỗ trợ xã hội ở người ĐTĐ type 2 trên thế giới [82]

Bộ câu hỏi MSPSS mất 5 - 10 phút để mỗi đối tượng hoàn thành phần trả lời Thang đo đã được đánh giá độ tin cậy với hệ số 0,84 - 0,92 cho cả thang đo và hệ số

> 0,8 ở mỗi nhóm trong thang đo [83] Thang đo đã dịch sang tiếng Việt và được sử dụng trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Huyền (2013) ở quần thể người mắc bệnh suy tim [5]; tác giả Vũ Thị Hồng Nhung (2019) ở quần thể người bệnh tăng huyết áp [10]

Cách tính điểm: Điểm nhận thức hỗ trợ từ gia đình được tính bằng tổng điểm các câu 3, 4, 8, 11 Điểm nhận thức hỗ trợ từ bạn bè được tính bằng tổng điểm các câu 6, 7, 9, 12 Điểm nhận thức hỗ trợ từ người quan trọng khác là tổng điểm các câu 1, 2, 5, 10 Điểm trong mỗi nhóm từ 4 - 28 điểm Điểm nhận thức xã hội là tổng điểm của tất cả 12 câu hỏi, trong đó thấp nhất là 12 điểm và cao nhất là 84 điểm

Bộ công cụ được cho phép sử dụng miễn phí cho nghiên cứu này trên trang web: https://gzimet.wixsite.com/mspss; kiểm định hệ số tin cậy Cronbach α cho nghiên cứu này là 0,704

2.5.2 Quy trình thu thập thông tin

Nghiên cứu viên hướng dẫn tập huấn cho nhóm cộng sự là 02 cán bộ điều dưỡng tại khoa Khám bệnh, bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái có nhiều kinh nghiệm làm việc với các người bệnh

Thử nghiệm bộ công cụ trên 10 đối tượng (không nằm trong danh sách nghiên cứu) nhằm chuẩn hóa công cụ nghiên cứu về sự phù hợp của câu hỏi, ngôn ngữ…trong bộ công cụ

Các công cụ đo lường sức khỏe (bộ câu hỏi SF36), thang đo đa chiều nhận thức hỗ trợ xã hội (MSPSS), thang đo dấu hiệu trầm cảm đã được đánh giá độ tin cậy cao, được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu trên thế giới Những bộ công cụ này đã có phiên bản tiếng Việt và được sử dụng trong một số nghiên cứu

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Hà An; (2018). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2
Tác giả: Trần Thị Hà An
Năm: 2018
2. Trần Công Duy và Châu Ngọc Hoa; (2015). Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân Tăng huyết áp. Y học TP. Hồ Chí Minh, 19(1), 6-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Công Duy và Châu Ngọc Hoa
Năm: 2015
3. Nguyễn Thị Bích Hải; (2019). Chất lượng cuộc sống của người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh V ĩ nh Phúc n ă m 2018, Luận văn Thạc sĩ Quản lý bệnh viện, ĐH Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Năm: 2019
4. Trần Ngọc Hoàng và Nguyễn Thị Bích Đào; (2014). Đánh giá ảnh hưởng của các biến chứng trên chất lượng cuộc sống bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị tại bệnh viện nhân dân 115. Nghiên cứu y học, 18(2), 161-167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu y học
Tác giả: Trần Ngọc Hoàng và Nguyễn Thị Bích Đào
Năm: 2014
5. Nguyễn Ngọc Huyền và Nguyễn Tiến Dũng; (2013). Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của người già suy tim tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên. Tim mạch học Việt Nam(64) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tim mạch học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Huyền và Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2013
6. Lê Thị Sông Hương, Nguyễn Đình Sơn, Lê Đình Quang và cộng sự (2012). Nghiên cứu tình hình bệnh Đái tháo đường xã Phú Hải- Huyện Phú Vang- Thừa Thiên Huế. T ạ p chí Y h ọ c th ự c hành(805) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Lê Thị Sông Hương, Nguyễn Đình Sơn, Lê Đình Quang và cộng sự
Năm: 2012
7. Nguyễn Thị Hương; (2017). Đ ánh giá ch ấ t l ượ ng cu ộ c s ố ng và m ộ t s ố y ế u t ố liên quan trên người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đ a khoa thành ph ố Hà T ĩ nh n ă m 2017, Luận văn Thạc sỹ Điều dưỡng, Trường ĐH Điều dưỡng Nam Định, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng cuộc sống và một số yếu tốliên quan trên người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa thành phố Hà Tĩnh năm 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2017
8. Nguyễn Bích Ngọc; (2014). Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Alzheimer, người chăm sóc và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp không dùng thuốc, Luận án tiến sĩ Vệ sinh, xã hội học và Tổ chức y tế, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Alzheimer, người chăm sóc và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp không dùng thuốc
Tác giả: Nguyễn Bích Ngọc
Năm: 2014
9. Hoàng Thị Tuyết Nhi và Tô Gia Kiên; (2019). Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viên Đa khoa Đồng Nai năm 2018. T ạ p chí Y h ọ c TP. H ồ Chí Minh, 2(23), 31-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Thị Tuyết Nhi và Tô Gia Kiên
Năm: 2019
10. Vũ Thị Hồng Nhung; (2018). Th ự c tr ạ ng ch ấ t l ượ ng cu ộ c s ố ng và m ộ t s ố y ế u t ố liên quan c ủ a ng ườ i b ệ nh T ă ng huy ế t áp đ i ề u tr ị ngo ạ i trú t ạ i b ệ nh vi ệ n đ a khoa t ỉ nh Nam Đị nh, Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng, Trường ĐH Điều dưỡng Nam Định, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của người bệnh Tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
Tác giả: Vũ Thị Hồng Nhung
Năm: 2018
11. Nguyễn Thanh Sơn; (2017). Chất lượng cuộc sống và hiệu giải pháp quản lý, chăm sóc người bệnh Đái tháo đường type 2 tại nhà tỉnh Thái Bình, Luận án Tiến sĩ công cộng, Trường Đại học Y dược Thái Bình, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống và hiệu giải pháp quản lý, chăm sóc người bệnh Đái tháo đường type 2 tại nhà tỉnh Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn
Năm: 2017
16. Luyster F. S., Dunbar-Jacob J. (2011). Sleep quality and quality of life in adults with type 2 diabetes. Diabetes Educ, 37 (3), 347-355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes Educ
Tác giả: Luyster F. S., Dunbar-Jacob J
Năm: 2011
17. Timar R., Velea I., Timar B. et al (2016). Factors influencing the quality of life perception in patients with type 2 diabetes mellitus. Patient Prefer Adherence, 10, 2471-2477 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patient Prefer Adherence
Tác giả: Timar R., Velea I., Timar B. et al
Năm: 2016
18. A Luscombe F. (2000). Health-Related Quality of Life Measurement in Type 2 Diabetes. Value in Health, 3 (s1), 15-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Value in Health
Tác giả: A Luscombe F
Năm: 2000
19. Akena D., Kadama P., Ashaba S. et al (2015). The association between depression, quality of life, and the health care expenditure of patients with diabetes mellitus in Uganda. Journal of affective disorders, 174, 7-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of affective disorders
Tác giả: Akena D., Kadama P., Ashaba S. et al
Năm: 2015
14. Bộ Y tế; (2018). Gánh nặng bệnh Đái tháo đường tại Việt Nam, tại trang web http://daithaoduong.kcb.vn/wp-content/uploads/2018/01/daithaoduong_VN.pdf, truy cập ngày Link
15. Nguyễn Bá Trí, Đào Duy Khánh, Lê Nam Khánh và cộng sự (2016). Thực trạng bệnh đái tháo đường ở người 45-69 tuổi và một số yếu tố liên quan tại thị trấn Sa Thầy, tỉnh Kontum năm 2016, tại trang web http://syt.kontum.gov.vn/Uploads/files/NCKH/N%C4%83m%202017/1_Nguyen%20Ba%20Tri_Thuc%20trang%20benh%20dai%20thao%20duong%20o%20nguoi%2045-69%20tuoi.pdf, truy cập ngày.TIẾNG ANH Link
12. Bộ Y tế; (2015). Chiến lược quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015-2025 1-19 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w