TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Mục tiêu: 1Mô tả thực trạng nhận thức về phòng tái phát bệnh của người bệnh loét dạ dày tá tràng năm 2019.. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu can thiệp1
Trang 1N ĐA KHOA TỈNH HÀ NAM NĂM 2019 SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE
N VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH - 2019
PHÒNG TÁI PHÁTCỦA
TRÀNG
NH HÀ NAM NĂM 2019
Trang 2N ĐA KHOA TỈNH HÀ NAM NĂM 2019SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 8720301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS.BS NGÔ HUY HOÀNG
NAM ĐỊNH - 2019
PHÒNG TÁI PHÁT CỦA DÀY TÁ TRÀNG
NH HÀ NAM NĂM 2019SAU
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu: (1)Mô tả thực trạng nhận thức về phòng tái phát bệnh của người
bệnh loét dạ dày tá tràng năm 2019 (2) Nhận xét sự thay đổi nhận thức về phòng tái phát bệnh của người bệnh loét dạ dày - tá tràng sau can thiệp giáo dục sức khỏe
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu can thiệp1 nhóm có so
sánh trước - sau với 64 người bệnh loét dạ dày -tá tràng điều trị nội trú tại Khoa Nội Tiêu Hóa - Huyết học lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam Can thiệp giáo dục sức khoẻ trực tiếp cho từng người bệnhnhằm mục đích giúp người bệnh nhận thức đầy đủ về phòng tái phát bệnh Sử dụng bộ câu hỏi đánh giá kiến thức được thiết kế sẵn để đánh giá nhận thức của người bệnh trước và sau can thiệp giáo dục
Kết quả: Trước can thiệp, nhận thức của người bệnh còn nhiều hạn chế với
điểm trung bình kiến thức chỉ đạt 19,56 ± 6,4 điểm trên tổng số 42 điểm của thang
đo Sau can thiệp giáo dục, điểm trung bình kiến thức của người bệnh tăng lên rõ rệt đạt 36,73 ± 3,00 ngay sau giáo dục sức khoẻ và còn duy trì ở mức 35,97 ± 3,02 điểm tại thời điểm trước khi ra viện Cải thiện điểm trung bình kiến thức ở cả 2 thời điểm đánh giá sau can thiệp so với trước can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Tỷ lệ người bệnh trả lời đúng theo từng nội dung kiến thức cũng tăng đáng
kể sau can thiệp so với trước can thiệp
Kết luận: Can thiệp giáo dục sức khoẻ trong nghiên cứu bước đầu đã cho
thấy kết quả rõ rệt với sự cải thiện nhận thức về phòng tái phát bệnh cho người bệnh loét dạ dày - tá tràng vàcần tiếp tục duy trì và thực hiện như một hoạt động thường qui cho người bệnh
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS.BS.Ngô Huy Hoàng, người thầy đã tận tình dìu dắt và dành nhiều thời gian hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo và tập thể Phòng Tổ chức cán
bộ, Khoa Nội Tiêu hóa – Huyết học lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi được tiến hành thu thập số liệu tại bệnh viện
Tôi xin trân trọng biết ơn các Thày, Cô trong Hội đồng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đối tượng nghiên cứu tham gia nghiên cứu này đã tạo điều kiện để tôi phỏng vấn và hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ cho luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Nam Định, ngày tháng năm
2019
Học viên
Trang 5Hoàng Thị Lệ LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Hoàng Thị Lệ, học viên lớp Cao học điều dưỡng Khóa IV – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Tôi xin cam đoan:
Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS.BS.Ngô Huy Hoàng-Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác
đã được công bố ở Việt Nam
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Đã được đồng ý thu thập và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc thu thập số liệu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này
Nam Định, ngày tháng năm 2019
Học viên
Hoàng Thị Lệ
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh loét dạ dày – tá tràng 4
1.2 Tình hình dịch tễ loét dạ dày tá tràng 10
1.3 Các nghiên cứu về phòng tái phát loét dạ dày – tá tràng 13
1.4 Truyền thông - giáo dục sức khoẻ 15
1.5 Mô hình niềm tin sức khỏe 17
1.6 Khung lý thuyết 18
1.7 Tóm tắt địa bàn nghiên cứu 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 22
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.6 Can thiệp giáo dục sức khoẻ 24
2.7 Các biến số nghiên cứu 25
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 29
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 31
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu 33
3.2 Thực trạng nhận thức của NB loét dạ dày - tá tràng trước can thiệp 35
3.3 Thay đổi nhận thức về phòng tái phát loét DD - TT sauGDSK……
46 3.3.1 Thay đổi nhận thức theo từng nội dung kiến thức 46
3.3.2 Thay đổi nhận thức theo điểm kiến thức 51
Trang 73.3.3 Thay đổi mức độ nhận thức về phòng tái phát bệnh 53Chương 4: BÀN LUẬN 534.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 544.2 Thực trạng nhận thức của NB về phòng tái phát bệnh trước can thiệp GDSK 564.2.1 Thực trạng nhận thức về phòng tái phát bệnh của NB loét DD – TT qua các nội dung 564.2.2 Thực trạng nhận thức về phòng tái phát loét DD – TT trước can thiệp theo điểm đạt được 664.2.3 Mức độ nhận thức về phòng tái phát bệnh của NB trước can thiệp 68KẾT LUẬN 745.1 Thực trạng nhận thức về phòng tái phát bệnh của NB loét DD-TT trước can thiệp GDSK 745.2 Thay đổi nhận thức về phòng tái phát bệnh của người bệnh loét DD -
TT sau can thiệp GDSK 74KHUYẾN NGHỊ 75TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu đồng thuận của người bệnh
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi
Phụ lục 3: Nội dung giáo dục sức khỏe
Phụ lục 4: Tài liệu phát tay cho đối tượng
Phụ lục 5: Danh sách người bệnh tham gia nghiên cứu
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tuổi và giới tính của người bệnh tham gia nghiên cứu (n =64) 33Bảng 3.2 Nơi ở và nghề nghiệp của người bệnh tham gia nghiên cứu (n=64) 34Bảng 3.3 Đặc điểm mắc bệnh của người bệnh tham gia nghiên cứu (n=64) 34Bảng 3.4 Nhận thức về nguyên nhân gây loét và yếu tố bảo vệ (n=64) 35Bảng 3.5 Nhận thức về yếu tố nguy cơ gây loét và tái phát loét (n=64) 35Bảng 3.6 Nhận thức về triệu chứng, biến chứng hay gặp của bệnh (n=64) 36Bảng 3.7 Nhận thức về sử dụng chất xơ, các loại rau, trái cây (n=64) 37
Bảng 3.9 Nhận thức về sử dụng gia vị, thói quen ăn uống, nhiệt độ thích hợp (n=64) 40Bảng 3.10 Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến dạ dày (n=64) 41Bảng 3.11 Nhận thức về sử dụng thuốc phòng tái phát bệnh (n=64) 42
Bảng 3.13 Điểm trung bình nhận thức về phòng tái phát qua các nội dung (n=64) 44Bảng 3.14 Điểm nhận thức về phòng tái phát bệnh theo trình độ học vấn (n=64) 44Bảng 3.15 Điểm trung bình nhận thức về phòng tái phát bệnh theo nghề nghiệp 45Bảng 3.16 Thay đổi nhận thức về bệnh loét DD - TT sau can thiệp (n=64) 46Bảng 3.17 Thay đổi nhận thức về chế độ ăn phòng tái phát bệnh sau can thiệp (n=64 47Bảng 3.18 Thay đổi nhận thức về lối sống phòng tái phát loét DD - TT sau can thiệp
Trang 10DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Mô phỏng ổ loét loét dạ dày – tá tràng 4
Hình 1.2 Sơ đồ cơ chế sinh bệnh loét dạ dày – tá tràng 6
Hình 1.3 Mô hình niềm tin sức khỏe 17
Hình 1.4 Sơ đồ khung lý thuyết nghiên cứu 18
Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn của người bệnh tham gia nghiên cứu (n=64) 33
Biểu đồ 3.2 Nhận thức về vai trò của bản thân trong phòng tái phát bệnh (n=64) 37
Biểu đồ 3.3 Phân loại điểm nhận thức về phòng tái phát trước can thiệp 45
Biểu đồ 3.4 Phân loại mức độ nhận thức của NB trước và sau can thiệp (n=64) 53
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Loét dạ dày- tá tràng (DD - TT) là bệnh thường gặp ở nước ta và trên thế giới Trên thế giới hiện nay tỷ lệ mắc bệnh loét dạ dày – tá tràng ở các nước, các vùng là khác nhau và đã có những thay đổi trong vài thập kỷ qua Tỷ lệ mắc hàng năm cao nhất trên 100.000 người là 141,8 ở Tây Ban Nha và thấp nhất là 23,9 ở Anh [35] Tại Việt Nam theo Hội khoa học Tiêu hóa có tới 26% dân số mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, 70% dân số nước ta có nguy cơ mắc bệnh dạ dày, nguy cơ mắc viêm loét dạ dày ở nam giới gấp 4 lần so với nữ Loét dạ dày tá tràng có xuất huyết gặp ở lứa tuổi 50 ± 18,11 tuổi, tỉ lệ này xuất hiện tăng dần theo tuổi [7] Phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phác đồ bệnh loét DD – TT sẽ không gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh Tuy nhiên, nếu để bệnh viêm loét dạ dày
tá tràng kéo dài hoặc tái phát nhiều lần sẽ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh, thậm chí dẫn tới các biến chứng nguy hiểm như xuất huyết tiêt hóa, hẹp môn vị hay ung thư dạ dày Trong các biến chứng có biến chứng xuất huyết tiêu hóa là hay gặp nhất [36] Đặc biệt tỉ lệ chảy máu tái phát ở những người bệnh loét
dạ dày tá tràng xuất huyết sau nội soi cầm máu lên tới 19,8 % [7] Theo nghiên cứu của Kiatpapan P ở các bệnh viện tại Thái Lan trên người bệnh loét DD - TT từ năm
2003 đến năm 2013, tỉ lệ người bệnh có biến chứng xuất huyết tiêu hóa trên là 73,2%; đặc biệt tỉ lệ xuất huyết tiêu hóa trên người bệnh loét tái phát là 23,9% [39] Theo các nghiên cứu tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 500.000 ca mắc mới và 4 triệu ca tái phát mỗi năm [49] Theo nghiên cứu của Yoon H và cộng sự tại Hàn Quốc năm
2013 thì tỉ lệ tái phát loét dạ dày vô căn là 24,3% [56] Bên cạnh đó chi phí chăm sóc y tế trực tiếp cho người bệnh loét DD - TT là rất tốn kém Theo nghiên cứu tại Hàn Quốc của Kang JM và cộng sự (2012), chi phí chăm sóc y tế trực tiếp cho người bệnh loét dạ dày tá tràng vô căn là 2483,8 USD; còn của người bệnh loét DD
- TT liên quan đến Helicobacter Pylori (HP) và/hoặc liên quan đến NSAIDs là 1751,8 USD [38]
Trang 12Lối sống và những thói quen không lành mạnh, thất bại trong đối phó với các căng thẳng tinh thần đã được chứng minh làm tăng nguy cơ xuất hiện loét và tái phát loét DD - TT[32], [55].Thói quen hút thuốc hoặc uống rượu là yếu tố nguy cơ gặp trong 93,1% trường hợp loét và tái phát loét [40] Ngược lại, hạn chế sử dụng hoặc sử dụng đúng cách các thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAIDs), đảm bảo vệ sinh môi trường, có chế độ ăn uống cân bằng, tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, tránh các căng thẳng thần kinh, tránh hút thuốc, hạn chế dùng rượu bia và ngủ đủ giấc đã được chứng minh là rất cần thiết giúp phòng ngừa, chữa lành
và hạn chế tái phát loét.Bản thân người bệnh đóng vai trò rất quan trọng trong phòng tái phát bệnh[32], [39], [48]
Việc thay đổi lối sống và những thói quen hướng tới có lợi cho sức khoẻ giúp phòng tái phát bệnh là một quá trình lâu dài Để người bệnh có thể dần thay đổi được lối sống hướng tới những hành vi có lợi cho sức khoẻ phòng tái phát loét, trước hết cần làm cho người bệnh nhận thức đúng và đầy đủ những kiến thức liên quan đến loét DD - TT và cách phòng loét tái phát Các nghiên cứu về loét DD - TT hiện nay hầu hết tập trung vào nghiên cứu các phác đồ, thuốc để điều trị lành ổ loét
và tiệt căn Helicobacter pylori và thường do các bác sỹ thực hiện, rất ít đề tài nghiên cứu được công bố chính thức đề cập đến cải thiện nhận thức về phòng tái phát loét cho người bệnh đặc biệt là do điều dưỡng thực hiện[21],[44] Nhận thức về bệnh và phòng tái phát bệnh của người bệnh loét DD - TT tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam hiện ra sao và liệu một chương trình giáo dục sức khoẻ trực tiếp và trọng tâm
về phòng tái phát loét cho người bệnh có đạt được kết quả mong muốn
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thay đổi nhận thức về
phòng tái phát của người bệnh loét dạ dày tá tràng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Hà Nam năm 2019sau giáo dục sức khỏe”
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng nhận thức về phòng tái phát bệnh của người bệnh loét dạ dày - tá tràng điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2019
2 Nhận xét sự thay đổi nhận thức về phòng tái phát bệnh của người bệnh loét dạ dày - tá tràng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam sau can thiệp giáo dục sức khỏe
Trang 141.1.2 Nguyên nhân và cơ ch
Nguyên nhân gây
- Nhiễm trùng: Helicobacter pylori
phương thức lây truyền chính l
- Do thuốc: thường do sử dụng nhóm thuốc giảm đau chống vi
steroid (NSADIs)
- Loét do tự miễn
- Loét liên quan đến bệnh mạn tính hoặc suy đa tạng: x
- Ngoài ra do các nguyên nhân khác: do stress, do chi
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh[12], [26]
Nguyên nhân gây loét dạ dày tá tràng
Helicobacter pylori là chủ yếu Đây là loại vi khuẩn có
ức lây truyền chính là phân - miệng, ngoài ra là miệng - mi
ờng do sử dụng nhóm thuốc giảm đau chống vi
ến bệnh mạn tính hoặc suy đa tạng: xơ gan, suy thNgoài ra do các nguyên nhân khác: do stress, do chiếu xạ
ới hạn nhỏ, mất lớp niêm
ạc, lớp cơ thậm chí lớp
ại vi khuẩn có miệng
ờng do sử dụng nhóm thuốc giảm đau chống viêm không
ơ gan, suy thận
Trang 15Cơ chế bệnh sinh
Ngày nay người ta cho rằng bệnh loét DD - TT là do mất cân bằng giữa hai nhóm yếu tố: yếu tố gây loét và yếu tố bảo vệ
- Yếu tố gây loét:
+ Acid clohydric và pepsin dịch vị
+ Vai trò gây bệnh của Helicobacter pylori
+ Thuốc chống viêm không steroid và steroid
+ Vai trò của thuốc lá, rượu
- Yếu tố bảo vệ:
+ Vai trò kháng acid của muối kiềm bicacbonat
+ Vai trò của chất nhày mucin để bảo vệ niêm mạc
+ Mạng lưới mao mạch của niêm mạc dạ dày
+ Sự toàn vẹn và tái tạo của tế bào biểu mô và bề mặt niêm mạc DD - TT
Sự phá vỡ cân bằng giữa 2 nhóm yếu tố xảy ra khi nhóm yếu tố gây loét tăng cường hoạt động mà không củng cố đúng mức hệ thống bảo vệ, ngược lại hệ thống bảo vệ suy kém nhưng yếu tố tấn công gây loét lại không giảm tương ứng
- Bên cạnh đó còn có một số yếu tố thúc đẩy loét tiến triển:
+ Căng thẳng về thần kinh, tâm lý, chấn thương về tình cảm, tinh thần
+ Rối loạn chức năng nội tiết
+ Rối loạn tính chất và nhịp điệu bữa ăn: ăn không đúng giờ, ăn nhiều vị cay chua, dùng các chất kích thích
+ Những đặc điểm về thể tạng, di truyền trong đó có tăng số lượng tế bìa mang tính chât gia đình
+ Ảnh hưởng của môi trường sống: độ ẩm, nhiệt độ, thay đổi thời tiết
+ Bệnh lý của một số cơ quan kèm theo: xơ gan, viêm gan, u tụy
Trang 16Hình 1.2 Sơ đồ cơ chế sinh bệnh loét dạ dày – tá tràng
Nguồn: Bài giảng bệnh học nội khoa II (2012), Hà Nội: NXB Y học
Trang 17+ Đau âm ỉ, không đau dữ dội Loét dạ dày đau bụng ngay sau khi ăn hoặc sau ăn 15 phút đến một vài giờ Loét tá tràng đau bụng vào lúc đói (sau ăn 2-3 giờ) hoặc đau vào ban đêm
+ Đau có tính chất chu kì trong ngày và trong năm thường đau vào mùa hoặc tháng nhất định
+ Đau có thể lan ra sau lưng hoặc lên trên ngực Đau kéo dài 1-3 tuần rồi tự nhiên hết đau Càng về sau tính chất chu kì càng mất dần đi, cường độ đau mạnh hơn, thời gian mỗi đợt đau kéo dài hơn
- Các biểu hiện kèm theo: nôn hoặc buồn nôn, ợ hơi, ợ dịch chua, ăn kém hoặc không dám ăn vì sợ đau, gày sút cân, đại tiện phân táo, thay đổi tính tình trở nên khó tính
- Nội soi DD - TT bằng ống soi mềm: là thăm dò tốt nhất, nhìn thấy trực tiếp
ổ loét, đánh giá đúng kích thước, vị trí của ổ loét và các tổn thương khác kèm theo
- Tìm vi khuẩn HP trong mảnh sinh thiết niêm mạc dạ dày qua nội soi
- Xét nghiệm dịch vị: độ acid thường tăng trong loét tá tràng
Trang 18+ Xác định được vị trí, số lượng và tính chất ổ loét
+ Sinh thiết tìm H.pylori,qua test urease hoặc hình ảnh mô bệnh học
+ Sinh thiết cạnh ổ loét để phân biệt với bệnh ác tính
- X quang: tìm ổ đọng thuốc trên các phim (ở nơi chưa có nội soi)
- Thăm dò chức năng dạ dày: đánh giá cường tính, nhược tính của DD - TT
Chẩn đoán phân biệt
- Viêm dạ dày mạn tính: triệu chứng giống loét nhưng không có ổ loét xác định bằng nội soi
- Viêm túi mật: qua siêu âm, chụp đường mật để phân biệt
- Viêm tiểu tràng và đại tràng
- Ung thư dạ dày
1.1.5 Điều trị [3], [12], [26]
1.1.5.1 Điều trị nội khoa
- Chế độ ăn uống: tránh tiết axit dịch vị và điều chỉnh hoạt động hệ tiêu hóa Trong đợt đau, ăn lỏng (sữa, nước cháo) hoặc mềm (súp, cháo, bột) Ngoài đợt đau
ăn uống bình thường Không nên uống rượu, hút thuốc lá, uống cà phê, chè đặc, không ăn gia vị cay nóng, không ăn thức ăn hoặc đồ uống quá nóng hoặc quá lạnh
- Sử dụng một số thuốc: thời gian dùng thuốc thường 4 – 6 tuần
+ Các thuốc kháng axit dịch vị: có tác dụng trung hòa độ axit dịch vị và làm mất hoạt tính của Pepsin Thuốc thường dùng là: Maalox, phosphalugel uống nhiều lần trong ngày, uống sau khi ăn 1 giờ
+ Thuốc kháng tiết cholin: tác dụng ức chế bài tiết axit HCl trong dạ dày Thuốc thường dùng atropin sunfat, belladon uống nửa giờ trước khi ăn
+ Thuốc kháng thụ thể H2 : ức chế rất mạnh sự bài tiết axit dịch vị Thuốc Cimetidin, Ranitidin, Famotidin Cimetindin thường uống vào buổi tối
+ Thuốc ức chế bơm proton (PPI): Omeprazlo (Lomac, Losec, Lanzor ) mỗi ngày uống 1 viên
+ Thuốc băng se niêm mạc dạ dày: Gastropulgite, Sucralfat uống trước ăn + Thuốc kháng sinh diệt Helicorbacter pylori: Amoxicillin, Clarithromycin
Trang 191.1.5.6 Điều trị ngoại khoa
- Loét đã điều trị nội khoa đúng phương pháp trong nhiều năm không khỏi,
ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của người bệnh
- Xảy ra một số biến chứng
1.1.6 Biến chứng [3], [12], [26]
- Chảy máu tiêu hóa (hay gặp nhất): người bệnh nôn ra máu và/hoặc ỉa phân
đen, tình trạng toàn thân phụ thuộc mức độ mất máu
- Thủng ổ loét: người bệnh đột ngột đau bụng dữ dội thượng vị, đau như dao đâm, khám thấy bụng cứng như gỗ về sau các biểu hiện sốc xuất hiện
- Hẹp môn vị: người bệnh ăn không tiêu, buồn nôn, nôn ra thức ăn của bữa trước, của ngày trước có mùi đặc biệt vì thức ăn đã lên men, khám bụng có làn sóng nhu động dạ dày và tiếng óc ách khi đói
- Ung thư hóa (chỉ gặp loét dạ dày đơn thuần): người bệnh đau nhiều, không
có tính chất chu kì, kèm theo có nôn, thể trạng gày sút nhiều
1.1.7 Phòng bệnh và phòng tái phát bệnh [6], [12]
Loét dạ dày tá tràng nếu không tuân thủ điều trị sẽ dẫn đến những biến chứng
vô cùng nguy hiểm Vì vậy, dựa theo cơ chế bệnh sinh của loét DD – TT người bệnh nên thay đổi thói quen sinh hoạt, thói quen ăn uống, tránh các yếu tố có hại cho dạ dày để phòng bệnh, phòng tái phát bệnh và điều trị bệnh tốt hơn, cải thiện triệu chứng và tránh các biến chứng có hại Dưới đây là một số điều cần lưu ý để dự phòng bệnh và phòng tái phát loét dạ dày tá tràng:
- Nên tập thói quen ăn uống lành mạnh, khoa học: ăn chậm, nhai kĩ, ăn uống đúng giờ, tránh bỏ bữa nhất là bữa sáng, không nên ăn khuya (không ăn trễ hơn 8 giờ tối), không để quá đói hoặc ăn quá no, tránh ăn các thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng, quá lạnh, quá ngọt, quá khô, hạn chế thức ăn nhanh, đồ hộp, nhiều dầu mỡ,…
Trang 20- Cần bổ sung vitamin A, D, K, B12, acid folic, canxi, Fe, Zn, trứng, sữa giúp trung hòa acid dạ dày tốt hơn,…
- Tránh các chất kích thích: rượu, bia, thuốc lá, trà, cà phê,…
- Hạn chế dùng các thuốc kháng sinh, kháng viêm, các thuốc giảm đau, khi dùng cần tham khảo ý kiến bác sĩ để được sử dụng các thuốc thích hợp ít ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày hoặc thêm các loại thuốc hỗ trợ dạ dày…
- Tái khám đúng hẹn, khi đi khám cần mang theo sổ khám bệnh và các loại thuốc hiện đang dùng
- Vận động phù hợp, tập thể dục đều đặn và hợp lí, khoảng 30 phút/ngày, 5 lần/tuần để có sức khỏe tốt, tâm trạng thoải mái
- Nghỉ ngơi hợp lí, ngủ đủ
- Để tâm trạng thoải mái, thư giãn, tránh căng thẳng, stress…
GDSK về phòng bệnh và tái phát bệnh cho NB loét DD - TT sẽ giúp NB có đầy đủ kiến thức là cơ sở thực hiện các hành vi có lợi cho sức khỏe Đây là một biện pháp hết sức quan trọng trong phòng bệnh và phòng tái phát bệnh
1.2 Tình hình dịch tễ loét dạ dày tá tràng
1.2.1 Trên thế giới
Loét dạ dày – tá tràng là một bệnh khá phổ biến trên thế giới, có thể chiếm tới 10% dân số Tần suất mắc bệnh tiến triển theo thời gian và thay đổi tùy theo nước hoặc là theo khu vực Cuối thế Kỷ 19 ở Châu Âu, loét dạ dày thường gặp hơn
và chủ yếu gặp ở phụ nữ Giữa thế kỷ 20, tần suất loét dạ dày không thay đổi nhưng loét tá tràng có xu hướng tăng hiện nay tỉ lệ loét tá tràng /loét dạ dày là 2/1 và đa số gặp ở nam giới [40]
Nguyên nhân hay gặp nhất của loét DD – TT là do Helicobacter Pylori Tỉ lệ nhiễm vi khuẩn HP trên thế giới là ít nhất 70% dân số.Tỉ lệ nhiễm HP ở các nước là khác nhau Các nước đã phát triển tỉ lệ nhiễm HP giảm nhiều và chủ yếu gặp ở những khu dân cư tập trung hay những nơi có tình trạng kinh tế kém [21], [25] Người bệnh loét DD - TTtỉ lệ nhiễm HP tương đối cao, tỉ lệ nhiễm HP trong loét tá tràng là 92% và 70% loét dạ dày [10], [18],[25]
Trang 21Đối tượng nhiễm HP cũng khác nhau Trẻ em ở các nước nghèo và nước đang phát triển bị viêm loét dạ dày tá tràng do HP nhiều hơn trẻ em các nước phương Tây.Ví dụ ở Ấn Độ có tới 60% trẻ bị viêm loét dạ dày tá tràng do nhiễm
HP, nhưng ở Pháp chỉ có 3,5% [25]
Nghiên cứu của Musyoka K (2013) “Factor associatiated with Peptic ulcers
among adult patient attending St Michael digestive diseases and medical care in Nairobi county” cho thấy tỷ lệ người bệnh loét DD – TT có trình độ học vấn tốt
nghiệp đại học là 57,5%; tốt nghiệp trung học là 30%; tỉ lệ nam giới chiếm 62,5%;
và thời gian điều trị kéo dài từ 7 -14 ngày Nghiên cứu này cũng chỉ ra các yếu tố gây loét là vai trò vi khuẩn HP, hút thuốc lá, rượu và sử dụng thuốc giảm đau NSAIDs Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố giúp nhanh lành vết loét và phòng tái phát loét là có chế độ ăn hợp lý đặc biệt sử dụng sữa thường xuyên, không
sử dụng các chất kích thích, tập thể dục Nghiên cứu đề xuất cần xây dựng chương trình giáo dục cho người bệnh loét DD - TT trong bệnh viện để tạo ra và nâng cao nhận thức về các yếu tố liên quan đến dinh dưỡng và các biện pháp phòng ngừa tái phát bệnh[44]
Nghiên cứu của Kiatpapan P và cộng sự (2017) tại Thái Lan trên tổng số 1.310 người bệnh được chẩn đoán mắc loét DD - TT từ tháng 01/2003 đến 01/2013 biến chứng ung thư dạ dày chiểm tỉ lệ là 1,4%; biến chứng chính là chảy máu tiêu hóa trên (73,2%) và thủng dạ dày (2,8%) Người bệnh nam <50 tuổi bị loét dạ dày liên quan đến rượu chiếm tỉ lệ cao hơn là 57,8% [39]
1.2.2 Tại Việt Nam
Theo Hội khoa học Tiêu hóa, tại Việt Nam có khoảng 26% người dân mắc viêm loét DD - TT, đồng thời tỷ lệ này không có dấu hiệu suy giảm
Lứa tuổi mắc bệnh loét DD - TT tại Việt Nam cũng đang trẻ hóa, đặc biệt ở trẻ em Theo nghiên cứu của Bệnh viện Nhi Đồng 2, trẻ nhỏ nhất mắc bệnh là 2 tháng tuổi và lớn nhất là 15 tuổi, tuy nhiên trung bình tuổi mắc bệnh nhiều nhất tại đây trong khoảng 6-12 tuổi Đồng thời bình quân mỗi tháng có khoảng 30 – 40 trẻ
Trang 22phải nhập viện điều trị nội trú viêm loét DD - TT, chưa kể số bệnh nhi bệnh nhẹ được điều trị ngoại trú [30]
Ở Việt Nam, những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của nhiễm HP và mối liên quan giữa nhiễm HP với bệnh viêm loét DD – TT Tỷ
lệ nhiễm vi khuẩn HP ở người trưởng thành là 76% và ở trẻ em là khoảng 53,3% Việc chẩn đoán và điều trị sớm tình trạng nhiễm HP cho đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn ở trẻ em, hơn nữa triệu chứng lâm sàng của bệnh cũng không điển hình ở người lớn, điều này dễ dẫn đến tình trạng bỏ sót bệnh hoặc khi vào viện thì đã xuất hiện biến chứng [25], [30]
Theo nghiên cứu của Vĩnh Khánh và cộng sự trên 98 người bệnh được chẩn đoán là loét DD - TT bằng ống nội soi tại Bệnh viện Đại học Y dược Huế năm 2011; tỷ lệ nhiễm HP ở người bệnh loét DD - TT là 82,65%; hiệu quả của việc diệt trừ HP liên quan đến cắt cơn đau của người bệnh chiếm tỷ lệ là 96,37% [33]
Theo nghiên cứu “Đánh giá đề kháng kháng sinh của Helicobacter – pylori
trên bệnh nhân loét dạ dày tá tràng đã điều trị tiệt trừ thất bại” của Đinh Cao Minh
và Bùi Hữu Hoàng trên 102 người bệnh đến khám và nội soi tại bệnh viện Đại học
Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 Kết quả cho thấy tuổi trung bình của nghiên cứu là 42,1 ± 10,2; nữ chiếm 67% Tỉ lệ kháng các loại kháng chiếm khoảng
từ 13,5 đến 83,3% Trong nghiên cứu có một số đối tượng không có đề kháng kháng sinh nhưng điều trị với các phác đồ thất bại, nguyên nhân có thể do người bệnh không tuân thủ điều trị tốt, do chất lượng thuốc và sự lựa chọn thuốc [17]
Theo nghiên cứu của Đỗ Văn Dung và Chu Thị Hà Giang (2014) nghiên cứu trên 228 người bệnh loét dạ dày tá tràng trên 60 tuổi tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình các triệu chứng bệnh loét DD - TT ở người già thường gặp là đau bụng vùng thượng vị (88,6%); cồn cào nóng rát thượng vị (39,5%); ợ hơi (46,1%); ợ chua (25,9%); buồn nôn (22,4%); nôn (14,5%) [8]
Theo nghiên cứu “Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng viêm, loét dạ dày tá tràng do
Helicobacter pylori kháng kháng sinh ở trẻ em tại bệnh viện nhi Trung Ương” của
Nguyễn Thị Út và cộng sự (2016) trên 588 trẻ được chẩn đoán loét dạ dày tá tràng
Trang 23do HP Kết quả nghiên cứu cho thấy triệu chứng hay gặp nhất là đau bụng chiếm 96,9%; biếng ăn chiếm 59,5%; nôn (46,9%); ợ hơi (29,3;);ợ chua (18,7%); đầy bụng (19,2%) Triệu chứng đau bụng chủ yếu đau quanh rốn (75,9%); liên quan đau bụng đến bữa ăn đau khi đói (78,8%); đau khi no (73,6%) [30]
Theo nghiên cứu của Đào Việt Hằng và cộng sự (2019) nghiên cứu cắt ngang xác định nhiễm HP trên 258 gia đình với 696 người đến khám tại phòng khám Đa khoa Hoàng Long vì triệu chứng đường tiêu hóa Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HP chung là 87,5%; ở bố là 84,9%; mẹ là 84,0%; con trai 92,8%; con gái 90,7%; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [11]
1.3 Các nghiên cứu về phòng tái phát loét dạ dày – tá tràng
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Padmavathi GV, Nagaraju B, Shampalatha SP và cộng sự (2013) tại Ấn Độ đã tìm ra các yếu tố liên quan đến viêm loét DD - TT là hút thuốc, uống rượu, thức ăn mang tính kích thích, sử dụng thuốc NSAIDs, tình trạng căng thẳng thần kinh và nhiễm vi khuẩn HP Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ kiến thức về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là 34% kiến thức kém (có số điểm <40% tổng số điểm), kiến thức trung bình là 60% (có số điểm 40% - 60% tổng số điểm), 6% có kiến thức khá (có số điểm 61% - 80% tổng số điểm) và không có đối tượng nào có kiến thức tốt (81%-100%) Điểm tổng thể kiến thức về bệnh là 17,62 ± 3,7 điểm trên tổng số điểm tối đa là 37 điểm
Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe của Shahnooshi JF và Anita DS (2014) trên 178 người bệnh loét dạ dày tá tràng chọn ngẫu nhiên điều trị ngoại trú tại bệnh viên MVJ - Ấn Độ Trong nghiên cứu NB nam giới là chủ yếu chiếm 76,8% và nữ giới chiếm 23,2% Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng việc giáo dục sức khỏe cho NB trực tiếp trong thời gian ngắn (khoảng 20phút tối thiểu) có thể làm tăng nhận thức của người bệnh về các yếu tố nguy cơ loét DD - TT Kết quả cho thấy rằng NB tham gia thay đổi giảm hoặc ngừng sử dụng hầu hết các yếu tố nguy
cơ loét DD - TT Hút thuốc trong nghiên cứu đã giảm vừa phải từ 26,66% xuống
Trang 2418% sau khi được giáo dục, số lượng người luôn uống rượu giảm từ 71 còn 44 NB,
số lượng NB không sử dụng NSAID tăng từ 3 đến 30 NB [50]
Nghiên cứu của Moynul H, Jannaltul F và cộng sự (2015) nghiên cứu trên
300 đối tượng tại cộng đồng Kết quả 90% đối tượng có biểu hiện loét DD - TT đã
tự ý mua thuốc điều trị nhưng duy trì đúng liều chiếm tỉ lệ rất thấp chỉ 2-3% Nghiên cứu cũng cho thấy rằng nếu dùng thuốc đúng cách, hướng dẫn chế độ ăn hợp lý sẽ làm giảm rõ rệt các biểu hiện loét DD - TT[43]
Nghiên cứu của Maria PM, Molinska K và cộng sự (2016) tại Ba Lan ở 140
NB nam và 140 NB nữ bị viêm loét DD - TT Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 59,8 tuổi; đều có thời gian mắc bệnh trên 2,5 năm; 81,25% cho thấy vai trò của nội soi dạ dày tá tràng để chẩn đoán bệnh là rất cần thiết và cần thiết Tỉ lệ người bệnh nhận thức được một số yếu tố gây loét thấp chỉ 13,75% nhận thức được việc dùng NSAID là một yếu tố nguy cơ; 15% chỉ ra được là vi khuẩn HP và chỉ 16,8% số người được hỏi là việc sử dụng chất kích thích: cà phê, rượu, thuốc lá, việc sử dụng thuốc theo đúng chỉ định chỉ chiếm 28,2% Theo nghiên cứu 66,25%
có thói quen ăn uống thích chiên, hun khói và thực phẩm nướng [42]
Nghiên cứu của Yegen BC (2018) “Lifestyle and Peptic Ulcer Disease”chỉ
ra được để phòng ngừa và chữa lành bệnh loét dạ dày tá tràng vai trò quan trọng cần giảm các yếu tố gây loét như giảm căng thẳng thần kinh, hạn chế sử dụng thuốc NSAID, đảm bảo môi trường và cần tăng cường các yếu tố bảo vệ như chế độ ăn cân bằng, luyện tập thể dục thể thao [55]
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Lê Thị Xuân Thảo và cộng sự (2017) tiến hành trên 330 NB viêm loét DD - TT từ 18 tuổi trở lên đến khám tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh về tuân thủ tiệt trừ HP Kết quả nghiên cứu tuân thủ tiệt trừ HP sau nghiên cứu khi tăng cường tư vấn cao hơn so trước, tỉ lệ tuân thủ đúng điều trị dùng thuốc, ngoài thuốc, và tái khám là 88% so 81%, 88% so 84%, và 93% so 74%[22]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trang (2018) nghiên cứu can thiệp
Trang 25trên 72 người bệnh loét dạ dày tá tràng điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định Tỉ lệ người bệnh nam là 56,9%, nữ là 43,1%, tỉ lệ người bệnh có nhận thức tốt trước can thiệp và sau can thiệp là 1,4 % và 80,6% Nhận thức phòng tái phát bệnh của NB sau can thiệp tăng hơn so với trước can thiệp (điểm về nhận thức chung về bệnh 2,87 ± 1,34 so với 5,04 ± 0,82; điểm về chế độ ăn là 8,9 ± 1,08 so với 5,91 ± 1,49; điểm về lối sống 7,23 ± 0,70 so với 5,11 ± 1,57; điểm về sử dụng thuốc 2,63 ± 1,10 và tăng lên 6,04 ± 0,86) Sau can thiệp sự thay đổi nhận thức về phòng tái phát bệnh tăng lên 28,09 ± 1,92 so với 16,94 ± 3,41 trước can thiệp (p<0,001) [23]
1.4 Truyền thông - giáo dục sức khoẻ
1.4.1 Khái niệm truyền thông - giáo dục sức khoẻ
Truyền thông - giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao
sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng[37], [44]
Khái niệmTT - GDSK nhấn mạnh hai đặc trưng cơ bản Thứ nhất truyền thông là một quá trình có tính liên tục, lặp đi lặp lại trong một thời gian nhất định Thứ hai, quá trình này là sự chia sẻ, trao đổi thông tin hai chiều hoặc đa chiều giữa các chủ thể tham gia vào qua trình này để có chuyển biến tích cực về kiến thức, niềm tin, thái độ và thực hành các chủ thể [44]
Thực chất TT - GDSK là quá trình dạy và học, trong đó tác động giữa người thực hiện giáo dục sức khỏe và người được giáo dục sức khỏe theo hai chiều Người
thực hiện TT - GDSK không phải chỉ là người "Dạy" mà còn phải biết "Học" từ
đối tượng của mình Thu nhận những thông tin phản hồi từ đối tượng được TT - GDSK là hoạt động cần thiết để người thực hiện TT - GDSK điều chỉnh, bổ sung hoạt động của mình nhằm nâng cao kỹ năng, nâng cao hiệu quả các hoạt động TT - GDSK[16], [27]
Đẩy mạnh công tác TT - GDSK là một trong những giải pháp quan trọng nâng cao nhận thức cho nhân dân về lối sống, hành vi ảnh hưởng đến sức khỏe như
Trang 26hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, dinh dưỡng không hợp lý, rèn luyện thể dục - thể thao, giúp người dân có các kiến thức cơ bản về phòng chống bệnh tật, có lối sống lành mạnh, tự rèn luyện để giữ gìn và nâng cao sức khỏe[2], [32]
TT - GDSK trong bệnh viện là một trong những nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh quan trọng của nhân viên y tế(NVYT) Người bệnh nằm viện được điều dưỡng viên tư vấn, giáo dục sức hỏe, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện [2], [37] Nội dung giáo dục sức khỏe cho người bệnh bao gồm các kiến thức về bệnh tật mà họđang mắc cũng như cách phòng chống, điều trị, tập luyện, chế độ ăn uống hợp lý đểphòng bệnh, phòng tái phát bệnh và nâng cao sức khỏe Trong quá trình TT - GDSK, cần phải nhấn mạnh trách nhiệm của cá nhân từng người đối với sức khỏe của bản thân họ [9]
Để phòng tái phát bệnh loét DD - TT thì TT - GDSK cho người bệnh đóng vai trò quan trọng trong cải thiện nhận thức của người bệnh [23], [29], [46]
1.4.2 Mục đích của truyền thông - giáo dục sức khoẻ[16], [27]
Làm cho các đối tượng giáo dục sức khoẻ có thể tự chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khoẻ của bản thân và cộng đồng bằng những nỗ lực của chính bản thân.Cụ
Trang 27phải xã hội hoá, nhằm lôi cu
gia, trong đó ngành y tế làm nòng c
So với các giải pháp d
và khó đánh giá, nhưng n
nhất, đặc biệt là tuyến y t
không phải là các kỹ thuậ
1.5 Mô hình niềm tin sức khỏe
Các lý thuyết liên quan đ
và hành vi sức khoẻ củ
behavior của Marshall H Becker
hoạch - The theory of planned behavior c
và khó đánh giá, nhưng nếu làm tốt thì sẽ mang lại hiệu quả cao nhấ
n y tế cơ sở, nơi cần được áp dụng các kỹ thuậ
ật hiện đại đắt tiền
ềm tin sức khỏe
t liên quan đến hành vi sức khoẻ như Mô hình niề
ủa cá nhân - The health belief model and personal health Marshall H Becker(1974) hay Học thuyết về hành vi đư
The theory of planned behavior của Icek Ajzen (1991) đều ch
c tính nhạy cảm với một bệnh nào đó, hậu quả khi m
ức khoẻ, những cản trở có thể gặp khi thực hi
nh đối với bản thân mong muốn tránh được b
ực hiện những hành vi có lợi cho sức khoẻ
hành vi được lập kế
u chỉ ra khi một cá khi mắc bệnh, lợi
c hiện, sẽ ý thức
c bệnh tật thì bản
để phòng tránh
Trang 28Hình 1.3 Mô hình niềm tin sức khỏe (lược dịch)
Nguồn: Nursing Theories and Nursing Practice 4 th edition, 2015
Hình 1.4 Sơ đồ khung lý thuyết nghiên cứu
Trang 29Mô hình niềm tin sức khỏe đã chỉ rõ vai trò thay đổi nhận thức mỗi cá nhân
có khả năng thay đổi hành vi có hại để thực hiện, duy trì và phát triển hành vi có lợi cho sức khỏe Đối tượng giáo dục sức khỏe phải nhận thức được những hành vi của
họ đã và đang làm sẽ gây ra hậu quả như thế nào đối với sức khỏe của họ
Học thuyết nâng cao sức khỏe của Nola J Pender đã chỉ ra mỗi con người
có đặc tính riêng biệt, những kinh nghiệm sống riêng và điều này ảnh hưởng đến những hành vi, hành động của họ Làm thay đổi kiến thức, hành vi không tốt của người bệnh là việc làm hết sức có ý nghĩa và quan trọng Sự thay đổi có thể thực hiện thông qua các hành động của điều dưỡng như GDSK cho người bệnh
GDSK phòng tái phát bệnh cho NBloét DD - TTsẽ giúp NB có đầy đủ kiến thức là cơ sở thực hiện các hành vi có lợi cho sức khỏe nhằm nâng cao sức khỏe cho chính bản thân họ
1.7 Tóm tắt địa bàn nghiên cứu
Hà Nam là tỉnh nằm ở phía nam vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, tỉnh được tái lập năm 1997 Phía bắc tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình Tỉnh Hà Nam có diện tích 852 km2, bao gồm 116 đơn vị hành chính cấp xã (7 thị trấn, 11 phường và 98 xã) được phân bố trên 5 huyện (Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm) và 1 thành phố (Phủ Lý) Theo điều tra dân số ngày 01/04/2013, Hà Nam có 785.057 người, chiếm 5,6 % dân số đồng bằng sông Hồng, mật độ dân số 954 người/km2 Trong đó 91,5% dân số sống ở khu vực nông thôn và 8,5% sống ở khu vực đô thị
Toàn tỉnh có 131 cơ sở khám chữa bệnh với 2499 giường bệnh, bình quân
có 31,8 giường bệnh trên 1 vạn dân, trong đó tuyến tỉnh có 1020 giường bệnh, tuyến huyện có 620 giường bệnh, tuyến xã có 859 giường bệnh
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam được thành lập năm 1954, là bệnh viện hạng II với quy mô khoảng 550 giường bệnh Khoa Nội tiêu hóa của bệnh viện là nơi điều trị nội trú của NB loét DD - TT Theo thống kêsơ bộ năm 2018, số lượng
NB loét dạ dày tá tràng điều trị nội trú tại Khoa Nội Tiêu hóa – Huyết học lâm sàng
Trang 30thay đổi theo các tháng trong năm và thường dao động từ 20 đến 25 NB loét DD -
TT nằm điều trị tại khoa Trong quá trình điều trị, NB cũng nhận được những hướng dẫn về chăm sóc và phòng bệnh Tuy vậy, chưa có một chương trình giáo dục sức khoẻ đầy đủ và trọng tâm về loét DD - TT và phòng tái phát loét cũng như chưa có đánh giá một cách đầy đủ và khoa học về thực trạng nhận thức của NB lúc nhập viện và kết quả giáo dục sức khoẻ khi ra viện.Qua thực tiễn chăm sóc điều dưỡng, chúng tôi nhận thấy nhiều NB chưa nhận thức được đúng và đầy đủ các biện pháp
phòng tái phát bệnh.Đề tài nghiên cứu“Thay đổi nhận thức về phòng tái phát của
người bệnh loét dạ dày tá tràng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2019 sau giáo dục sức khỏe”được thực hiện sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho NB trong
phòng tái phát bệnh, đây cũng là một trong những nhiệm vụ chăm sóc của điều dưỡng và đồng thời cũng là yêu cầu của thực hành điều dưỡng nâng cao hiện nay
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nhữngNB được chẩn đoán loét dạ dày – tá tràng điều trị nội trú tại Khoa Nội Tiêu hóa – Huyết học lâm sàng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Người bệnh loét DD - TTnằm viện điều trị nội trú
- Người bệnh có khả năng giao tiếp tốt
- Những người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh trong tình trạng nặng hoặc có thêm bệnh lý nặng đòi hỏi phải điều trị tích cực
- Người bệnh rối loạn nhận thức
- Người bệnh đã tham gia đầy đủ các hoạt động của một chương trình can thiệp GDSK tương tự về phòng tái phát bệnh loét dạ dày – tá tràng
- Người bệnh không tham gia đầy đủ các hoạt động can thiệp GDSK và các lần đánh giá trong nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2018 đến tháng 06/2019
- Thời gian thu thập số liệu và can thiệp GDSK: từ 01/3/2019 đến 31/5/2019
- Địa điểm: Khoa Nội tiêu hóa – Huyết học lâm sàng - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp trên một nhóm có đánh giá trước
và sau can thiệp Qui trình nghiên cứu được thể hiện bằng sơ đồ dưới đây
Trang 32Hình 2.1 Sơ đồ qui trình nghiên cứu
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ
Dựa trên số liệu thống kê sơ bộ đã đề cập ở trên, mỗi tháng có từ 20 đến 25
NB loét DD - TT điều trị nội trú tại khoa, thời gian nằm viện cũng khác nhau tuỳ trường NB, có trường hợp vì lý do nào đó xin ra viện sớm, song thường NB nằm viện từ 8 đến 10 ngày Do hạn chế về thời gian thực hiện của đề tài nghiên cứu thuộc luận văn tốt nghiệp, chúng tôi chọn toàn bộ NB điều trị loét dạ dày – tá tràng nội trú, đáp ứng tiêu chuẩn chọn, đặc biệt là NBcó thời gian nằm viện đủ để thamđầy đủ các hoạt động để đảm bảo thu đủ cỡ mẫu
Trong nghiên cứu này, trong khoảng từ tháng 3/2019 đến 31/5/2019 đa có 64 người bệnh đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chọn mẫu tham gia nghiên cứu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp phỏng vấn: sử dụng cùng một bộ câu hỏi thiết kế sẵn (Phụ lục 2) cho 3 lần đánh giá trước can thiệp (T1), ngay sau can thiệp (T2) và trước khi người bệnh ra viện (T3)
- Các bước thu thập số liệu:
+ Bước 1: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn chọn mẫu, người
Trang 33bệnh đồng ý và ký vào bản đồng thuận (mẫu nghiên cứu được tích luỹ mỗi ngày cho đến đủ số lượng trong thời gian 3 tháng)
+ Bước 2: Mỗi người bệnh tham gia nghiên cứu sẽ được đánh giá nhận thức
về phòng tái phát loét DD - TT thời điểm sau khi người bệnh vào viện 01 ngày, là thời gian người bệnh đã được khám, chẩn đoán, nhận được điều trị và tương đối ổn định, phù hợp cho việc người nghiên cứu tiếp cận và phỏng vấn người bệnh (người bệnh chưa được bác sỹ và điều dưỡng chăm sóc tư vấn về phòng tái phát bệnh) + Bước 3: Can thiệp GDSK ngay sau đánh giá lần 1 bằng phương pháp tư vấn trực tiếp các nội dung nhận thức về phòng tái phát cho từng đối tượng nghiên cứu
+ Bước 4: Đánh giá lại nhận thức của đối tượng nghiên cứu vào thời điểm ngay sau khi can thiệp bằng bộ câu hỏi phỏng vấn chuẩn bị trước giống lần 1 + Bước 5: Đánh giá lại nhận thức của đối tượng nghiên cứu vào thời điểm trước khi người bệnh ra viện sử dụng cùng bộ câu hỏi phỏng vấn chuẩn bị trước giống lần 1 Xác định những vấn đề người bệnh chưa nhận thức tốt tiếp tục GDSK Chúng tôi tiến hành phỏng vấn và can thiệp tại buồng bệnh nơi người bệnh nằm điều trị Dựa vào câu trả lời của NB trong lần phỏng vấn thứ nhất, xác định được những vấn đề người bệnh còn thiếu và yếu, chúng tôi sẽ tiến hành tư vấn trực tiếp và phát tờ rơi kèm theo vào thời điểm ngay sau khi vừa phỏng vấn lần thứ nhất xong Thời gian để tiến hành phỏng vấn khoảng 10 -15 phút/lần và thời gian can thiệp GDSK khoảng 25 - 30 phút/lần Số lượng người bệnh vào viện mỗi ngày là khác nhau nên chúng tôi cần có 5 người để thu thập số liệu và can thiệp GDSK theo đúng thời gian đặt ra Trong quá trình phỏng vấn và tư vấn có sự giám sát của điều dưỡng phụ trách buồng
- Nhóm nghiên cứu: để đảm bảo mỗi NB có thể trả lời trả lời đầy đủ vào
phiếu phỏng vấn, học viên và 04 điều dưỡng của Khoa Nội tiêu hóa – Huyết học lâm sàngcùng nhau thống nhất về cách thức lấy số liệu và nội dung can thiệp GDSK trước khi tiến hành nghiên cứu
Trang 342.6 Can thiệp giáo dục sức khoẻ
2.6.1.Nội dung giáo dục sức khoẻ:
Nội dung dung giáo dục sức khoẻ được xây dựng trên cơ sở những tài liệu chuyên môn được công bố chính thức liên quan đến loét DD - TT[5],[26], [31],
+ Tuân thủ thời gian dùng thuốc điều trị
+ Sử dụng nhóm thuốc giảm đau, chống viêm NSAID
2.6.2 Phương pháp can thiệp
- Can thiệp GDSK nhóm nhỏ trực tiếp: để đảm bảo tính nhất quán về nội dung và kết quả can thiệp, người nghiên cứu sẽ trực tiếp thực hiện GDSK cho người bệnh tại buồng bệnh có sự hỗ trợ của điều dưỡng lâm sàng khoa Thực tế trong nghiên cứu của chúng tôi số người bệnh loét DD - TT vào điều trị nội trú cùng một ngày tối đa là 4 người, cũng có ngày không có người bệnh loét dạ dày – tá tràng nhập viện
- Người bệnh được nhận tài liệu phát tay, người nghiên cứu sẽ giới thiệu và
Trang 35giải thích từng nội dung để người bệnh hiểu, chỉ khi người bệnh khẳng định đã hiểu
rõ nội dung trước sẽ chuyển sang nội dung tiếp theo
- Thời gian tiến hành GDSK: để đảm bảo thuận lợi cho người bệnh và không ảnh hưởng đến các hoạt động khác của khoa, việc GDSK được thực hiện vào buổi chiều hàng ngày Thời lượng cho GDSK thay đổi tuỳ từng người bệnh, dao động trong khoảng 25 – 30 phút
2.7 Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến Cách xác định Phương pháp
thu thập Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
1 Tuổi Là tuổi của ĐTNC tính theo năm sinh
dương lịch Tuổi = 2019 – năm sinh
Tham khảo HSBA
&Phỏng vấn
2 Giới tính Là giới tính của ĐTNC: nam hoặc nữ
Tham khảo HSBA
5 Nghề nghiệp Là công việc chính mà ĐTNG đang
làm hoặc mang lại thu nhập chính Phỏng vấn
Nhận thức chung về loét dạ dày tá tràng
8 Vi khuẩn gây Là vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) Phỏng vấn
Trang 36-Nhóm người làm việc căng thẳng
- Nhóm người uống nhiều rượu bia
- Nhóm người ăn nhiều vị cay, chua
- Nhóm người mắc bệnh : gan, tụy
+ Các thức ăn bọc hút, thấm niêm mạc: cơm nếp, bánh chưng
Phỏng vấn
Trang 37+ Hạn chế các loại gia vị chua, cay:
chanh, ớt
+ Hạn chế các loại thực phẩm cứng, dai như thịt nhiều gân, sụn, xương băm nhỏ hoặc các loại thịt chế biến sẵn: xúc xích, dăm bông
+ Tránh các loại thực phẩm ngâm muối, nướng, rán, quay
16 NB nên có
thói quen
Uống một cốc nước trước ăn 30 phút
Uống nước trước ăn sẽ làm sạch và trơn hệ tiêu hóa, đánh thức hệ tiêu hóa
và ăn ngon miệng hơn
Phỏng vấn
17 Nhiệt độ thích
hợp khi ăn
Ở nhiệt độ 40 – 500 C là nhiệt độ thích hợp nhất để tiêu hóa và hấp thu thức
ăn Do vậy không ăn quá nóng hay quá lạnh
Phỏng vấn
18 Những điều
chú ý khi ăn
Ăn chậm, nhai kỹ, cần tập trung khi
ăn không vừa ăn vừa đọc sách, xem ti
vi, vừa ăn vừa uống nước
Trang 38Phỏng vấn
23 Đảm bảo vệ
sinh ăn uống
Ăn chín, uống sôi rửa tay sạch trước khi ăn sẽ hạn chế sự xâm nhập và lan truyền của HP
Uống nguyên viên, không được bẻ
Phỏng vấn
28 Lượng nước
uống thuốc
200 – 250 ml (một cốc nước to) là lượng nước nên uống kèm viên thuốc Phỏng vấn
Trang 39nhóm NSAIDs NSAIDs hoặc uống càng nhiều càng
tốt
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Thước đo
- Bộ công cụ đánh giá kiến thức (Phụ lục 2):
Năm 2017,Nguyễn Thị Huyền Trang đã nghiên cứu thành công đề tài luận văn
tốt nghiệp thạc sỹ điều dưỡng“Đánh giá sự thay đổi nhận thức về phòng tái phát
bệnh của người bệnh loét dạ dày - tá tràng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017”với bộ công cụ đánh giá nhận thức về phòng tái phát loét DD - TT đã
được xây dựng với sự góp ý của chuyên gia tiêu hoá và việc đo lường nhận thức của người bệnh trong nghiên cứu đã cho các kết quả tin cậy
Hà Nam và Nam Định là 2 tỉnh có nhiều điểm tương đồng và vốn trước đây thuộc tỉnh Nam Hà với Bệnh viện I tại Nam Định nay là Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định và Bệnh viện II nay là Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định Do vậy chúng tôi xin sử dụng lại bộ công cụ này của Nguyễn Thị Huyền Trang sau khi đã được sự đồng ý của tác giả và có chỉnh sửa cho phù hợp
- Thử nghiệm bộ công cụ:
Mặc dù sử dụng lại bộ công cụ của Nguyễn Thị Huyền Trang năm 2017, để đảm bảo độ trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành điều tra thử 20 đối tượng phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn trước khi đánh giá chính thức mẫu nghiên cứu (20 đối tượng này không thuộc64người bệnh tham gia nghiên cứu) Kết quả phân tích độ tin cậy cho hệ số Cronbach’s Alpha là 0.863
Bộ công cụ bao gồm:
- Phần 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Gồm 08 câu hỏi tìm hiểu các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu (họ tên, tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở, thời gian bị bệnh, số lần tái phát, số lần nhập viện )
- Phần 2: Nhận thức chung về bệnh loét dạ dày – tá tràng
Trang 40Gồm 06 câu hỏi liên quan đến nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng của bệnh loét dạ dày – tá tràng
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá
- Đối tượng nghiên cứu tham gia trả lời phiếu điều tra với mỗi ý trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai hoặc không biết được 0 điểm
- Phiếu điều tra gồm 33 câu hỏi với 42 lựa chọn trả lời đúng, do vậy điểm tối
đa của bộ câu hỏi là 42 điểm
- Áp dụng phân loại nhận thức của người bệnh của Padmavathi GV, Nagaraju B, Shampalatha SP & et al (2013) tại Ấn Độ gồm 4 mức: kém, trung bình, khá và tốt [46]
+ Nhận thức kém khi đạt< 40% tổng số điểm (trả lời đúng < 16 ý)
+ Nhận thức trung bình khi đạt 40 – 60% tổng số điểm (trả lời đúng từ 16 ý đến 25 ý)
+ Nhận thức khá khi đạt61 – 80% tổng số điểm (trả lời đúng từ 26 câu đến 34 ý)
+ Nhận thức tốt khi đạt 81 – 100% tổng số điểm (trả lời đúng 35 - 42 ý)
- Đánh giá sự thay đổi sau can thiệp giáo dục so với trước can thiệp dự trên
sự cải thiện điểm trung bình (XSD)trả lời bộ câu hỏi và sự chênh lệch về tỷ lệ trả lời đúng theocác nội dung kiến thức