1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thay đổi nhận thức và thực hành về phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính người bệnh đột quỵ tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh năm 2017

54 31 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ CHĂM SÓC TƯ THẾ VÀ VẬN ĐỘNG SỚM CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2017 Chủ nh

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ CHĂM SÓC TƯ THẾ VÀ VẬN ĐỘNG SỚM CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2017

Chủ nhiệm đề tài: TS.BS Ngô Huy Hoàng

NAM ĐỊNH - 2017

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ CHĂM SÓC TƯ THẾ VÀ VẬN ĐỘNG SỚM CHO

NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2017

Chủ nhiệm đề tài: Ngô Huy Hoàng Người tham gia: Hoàng Thị Kim Yến

Vũ Thị Phương Phạm Thị Huê

Phạm Thị Thu Hương

NAM ĐỊNH - 2017

Trang 3

Nghiên cứu “Thay đổi nhận thức về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017” được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng và tăng cường nhận thức cho điều dưỡng lâm sàng về vận động sớm cho người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện

đa khoa tỉnh Nam Định

Thiết kế nghiên cứu can thiệp một nhóm so sánh trước sau, không đối chứng Tổ chức tập huấn cho 45 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh đột quỵ não tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, trong thời gian

từ tháng 4-6 năm 2017 Sử dụng cùng một bộ câu hỏi để đánh giá kiến thức trước can thiệp, ngay sau can thiệp và sau can thiệp 1 tháng

Kết quả cho thấy nhận thức của người điều dưỡng về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ não trước can thiệp là khá thấp với 7,0 ± 2,14 điểm trên tổng số 20 điểm, tỷ lệ điều dưỡng xác định được thời điểm vận động cho người bệnh ở mức 53,3% Tuy nhiên, 100% người điều dưỡng không thể giải thích được những dấu hiệu lâm sàng để bắt đầu thực hiện vận động sớm cho người bệnh đột quỵ Ngay sau can thiệp giáo dục, nhận thức của người điều dưỡng về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ não đã có những thay đổi tích cực với điểm trung bình đạt 16,62 ± 1,81 (p < 0,001) Sau 1 tháng điểm nhận thức còn duy trì ở mức 15,13 ± 3,43(giảm 0,82 điểm so với ngay sau can thiệp),bước đầu cho thấy tính bền vững của chương trình can thiệp

Can thiệp giáo dục đã cải thiện rõ rệt nhận thức của điều dưỡng về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ não Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cập nhật và củng cố kiến thức về chăm sóc người bệnh nói chung và người bệnh đột quỵ não nói riêng cần được thực hiện thường xuyên và cần được

áp dụng vào thực tiễn chăm sóc

Từ khoá: nhận thức, chăm sóc tư thế và vận động, đột quỵ

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đột quỵ não 4

1.1.1 Định nghĩa 4

1.1.2 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ 4

1.1.3 Biểu hiện của đột quỵ 5

1.1.4 Điều trị và dự phòng đột quỵ 6

1.1.5 Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não 8

1.1.6 Các thương tật thứ cấp thường gặp 9

1.1.7 Tiến triển và biến chứng 10

1.2 Chức năng vận động của người bệnh đột quỵ não 10

1.2.1 Đặc điểm lâm sàng 10

1.2.2 Khuyến cáo tư thế và vận động cho người bệnh đột quỵ não 12

1.2.3 Thực trạng chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ não 13

1.3 Tình hình đột quỵ trên thế giới và ở Việt Nam 13

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 16

2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu: 16

2.5 Nội dung can thiệp: 16

2.6 Xử lý số liệu 20

2.7 Đạo đức nghiên cứu 20

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 21

3.2 Nhận thức về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ 22

Trang 5

Chương 4: BÀN LUẬN 30

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30

4.2 Nhận thức của người điều dưỡng tham gia nghiên cứu 31

4.3 Thay đổi sau can thiệp 33

KẾT LUẬN 36

1 Thực trạng nhận thức 36

2 Thay đổi nhận thức sau can thiệp giáo dục 36

KHUYẾN NGHỊ 37

Tài liệu tham khảo Error! Bookmark not defined Phụ lục 42

Trang 6

Bảng 3.1 Tuổi của điều dưỡng tham gia nghiên cứu 21

Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn và giới tính của điều dưỡng 21

Bảng 3.3 Thời gian làm việc có chăm sóc người bệnh đột quỵ 21

Bảng 3.4 Nguồn tiếp cận thông tin 22

Bảng 3.5 Nhận thức về lợi ích của chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ não 22

Bảng 3.6 Nhận thức của điều dưỡng về tư thế người bệnh và tác dụng 23

Bảng 3.7 Nhận thức về thời điểm vận động cho người bệnh 23

Bảng 3.8 Nhận thức về tình trạng lâm sàng cho phép vận động cho người bệnh 24 Bảng 3.9 Nhận thức đúng về qui trình thực hiện vận động cho người bệnh 24

Bảng 3.10 Tỷ lệ điều dưỡng nhận thức được lợi ích của chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ sau can thiệp so với trước can thiệp 25

Bảng 3.11 Tỷ lệ điều dưỡng xác định được tư thế phù hợp với tình trạng người bệnh trước và sau can thiệp 25

Bảng 3.12 Điểm trung bình nhận thức trước và sau can thiệp 27

Bảng 3.13 So sánh nhận thức chungcủa người tham gia nghiên cứu trước và sau can thiệp 27

Bảng 3.14 So sánh nhận thức của người tham gia về biến chứngcủa kém chăm sóc tư thế và vận động sớm 28

Bảng 3.15 So sánh nhận thức về tư thế của người tham gia nghiên cứu trước và sau can thiệp 28

Bảng 3.16 So sánh nhận thức về thời điểm vận động cho người bệnh đột quỵ 28

Bảng 3.17 So sánh nhận thức về quy trình vận động cho người bệnh đột quỵ 29

Trang 7

Hı̀nh 1.1 Mô phỏng hai loại đột quỵ não 4

Hı̀nh 1.2 Mô phỏng tiến triển tổn thương tổ chức não trong đột quỵ 6

Hı̀nh 2.1 Sơ đồ Qui trình nghiên cứu 16

Hı̀nh 2.2 Mô hình can thiệp 17

Hı̀nh 3.1 Tỷ lệ điều dưỡng xác định được thời điểm cho người bệnh vận động 26

Hı̀nh 3.2 Tỷ lệ điều dưỡng xác định đúng quy trình vận động cho người bệnh đột quỵ 27

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới [34] đột quỵ não hiện nay là nguyên nhân phổ biến đứng thứ hai và dự báo đến năm 2030 sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên phạm vi toàn thế giới Những người sống sót sau đột quỵ thường gánh chịu những di chứng suy giảm hoặc mất chức năng não tùy theo mức độ và vị trí của tổn thương não sau đột quỵ [30]

Mặc dù từ rất lâu đã có nhiều nghiên cứu [19]; [6],trên phạm vi rộng rãi tại các trung tâm đột quỵ đã khẳng định những hiệu quả rõ rệt của việc thay đổi

tư thế và cho người bệnh đột quỵ vận động sớm cũng như những tác hại của việc để người bệnh đột quỵ nằm bất động quá lâu, nhưng các quan sát thực tế người bệnh sau đột quỵ giai đoạn cấp lại cho thấy một thực trạng là người bệnh sau đột quỵ thường nằm bất động Tại các nước phát triển các nghiên cứu còn chỉ ra lợi ích không những giảm tàn phế về mặt cơ thể mà còn cải thiện trạng thái tâm lý của những trường hợp sống sót sau đột quỵ khi được vận động sớm [31]; 16]; [9]; [11]

Trong những giờ đầu kể từ lúc khởi phát đột quỵ, do yêu cầu của chẩn đoán và điều trị từ bác sỹ người bệnh phải nằm bất động và nằm bất động trong khoảng thời gian này là một chỉ định điều trị được chấp nhận [14].Tuy nhiên bắt đầu thay đổi tư thế cho người bệnh đột quỵ trên giường bệnh và cho người bệnh vận động sớm thường bị hạn chế do hệ quả từ yêu cầu của bác sỹ lúc ban đầu, sự e ngại từ phía người bệnh và người nhà đối với việc thay đổi tư thế và vận động cho người bệnh [11] Các nghiên cứu về vai trò của đội ngũ nhân viên y tế trong các đơn vị đột quỵ [29] đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng và duy nhất của người điều dưỡng chăm sóc trong cải thiện tình trạng này thông qua việc chăm sóc liên tục người bệnh đột quỵ Nói cách khác, người điều dưỡng cần nhận thức đúng và đầy đủ tầm quan trọng của thay đổi tư thế

và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ sẽ góp phần quan trọng cho sự cải

Trang 9

thiện tình trạng người bệnh, phòng ngừa và hạn chế các biến chứng bất lợi của việc nằm bất động quá lâu

Các nghiên cứu về đột quỵ tại Việt Nam hiện đang tập trung về tình hình bệnh tật và tỷ lệ tử vong, chẩn đoán và điều trị đột quỵ với đối tượng nghiên cứu chủ yếu vẫn là người bệnh đột quỵ Gần đây xuất hiện thêm các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và sự trải nghiệm của người bệnh hoặc của thân nhân chăm sóc người bệnh đột quỵ [4] Cũng đã có, nhưng còn rất ít nghiên cứu đã được công bố về hiệu quả của can thiệp giáo dục nhằm thay đổi nhận thức về đột quỵ hướng tới phòng ngừa đột quỵ, rút ngắn thời gian trước nhập viện khi đột quỵ xảy ra và phục hồi chức năng sau khi ra viện Tuy nhiên, xem xét một cách hệ thống các báo cáo nghiên cứu thuộc lĩnh vực điều dưỡng, hiện chưa có nghiên cứu được công bố chính thức nào liên quan đến nhận thức của điều dưỡng về chăm sóc tư thế và vận động cho người bệnh đột quỵ, đặc biệt là ở giai đoạn cấp Thực tế chăm sóc người bệnh đột quỵ trong giai đoạn cấp cho thấy còn nhiều bất cập, chẳng hạn: người bệnh đột quỵ thường được nằm tại giường quá lâu trong giai đoạn cấp với hầu như rất ít sự can thiệp chăm sóc về tư thế và vận động, và hậu quả của tình trạng này với việc xuất hiện các biến chứng trong nhiều trường hợp Nguyên nhân của tình trạng này như đã được chỉ ra bởi các nghiên cứu trên thế giới đã đề cập ở trên [10], bao gồm: yêu cầu của chẩn đoán và điều trị từ bác sỹ trong những giờ đầu của đột quỵ, sự e ngại từ phía người bệnh và người nhà đối với việc thay đổi tư thế và vận động cho người bệnh, và đặc biệt là nhận thức của người điều dưỡng

Với vai trò là người trực tiếp chăm sóc người bệnh đột quỵ, vấn đề đặt

ra là liệu các điều dưỡng đã có nhận thức đầy đủ về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ và sự cần thiết phải tác động để cải thiện Xuất phát từ thực tế chăm sóc người bệnh đột quỵ, giá trị thực tiễn của nghiên cứu và nhằm mục đích tăng cường nhận thức cho điều dưỡng lâm sàng về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ trong giai đoạn cấp, chúng

tôi tiến hành đề tài “Thay đổi nhận thức về chăm sóc tư thế và vận động cho

Trang 10

người bệnh đột quỵcủa điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017” với 2 mục tiêu:

1 Khảo sát nhận thức của điều dưỡng lâm sàng về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viên đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017

2 Đánh giá thay đổi nhận thức của điều dưỡng lâm sàng về chăm sóc tư thế

và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ não sau can thiệp giáo dục

Trang 11

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đột quỵ não

1.1.1 Định nghĩa

Theo Tổ chức Y tế Thế giới [34], đột quỵ mạch nãohay tai biến mạch não

là “Phát triển nhanh các dấu hiệu lâm sàng của rối loạn cục bộ hoặc lan tỏa chức năng não, kéo dài trên 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong mà không có biểu hiện của nguyên nhân khác ngoài nguyên nhân mạch máu.”

1.1.2 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân

Đột quỵ não có thể là tắc mạch não hoặc chảy máu não, hoặc kết hợp cả hai:

Hình 1 Mô phỏng hai loại đột quỵ não [1]

Tắc mạch não (nhồi máu não): vùng tổ chức não bị hoại tử do không được cung cấp máu Tắc mạch có thể do: Cục máu đông hình thành tại chỗ, thường do vữa xơ động mạch não Hoặc cục máu đông từ nơi khác đến động mạch não, hay gặp trong các bệnh tim, đặc biệt là các bệnh tim có loạn nhịp hoàn toàn (rung nhĩ), hoặc nhiễm khuẩn như viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Chảy máu não (xuất huyết não): do vỡ mạch não gây chảy máu vào trong

tổ chức não, chảy máu não thường xảy ra trên cơ sở vỡ túi phồng; hoặc vỡ dị dạng mạch não

Đột quỵ có thể là nhồi máu não hay xuất huyết não nhưng đều gây ra cùng một hậu quả là làm cho tế bào não bị đói ô-xy và dinh dưỡng, dẫn tới chết

tế bào não từ đó dẫn đến mất chức năng não tương ứng

Trang 12

Yếu tố nguy cơ [1]; [5]

Các yếu tố nguy cơ chính: Túi phồng hoặc dị dạng mạch não có trước

Tăng huyết áp Đái tháo đường Bệnh tim đặc biệt bệnh tim có rung nhĩ

Các yếu tố nguy cơ khác: Các yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được: lạm

dụng rượu, thuốc lá, béo phì, lối sống trì trệ, sang chấn tinh thần, mức Cholesterol máu cao, Triglycerit máu cao, tiền sử đột quỵ … tiêm chích heroin Yếu tố nguy cơ không điều chỉnh được: tuổi cao, giới tính, gia đình

1.1.3 Biểu hiện của đột quỵ [1]

Biểu hiện lâm sàng

Đột quỵ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi trưởng thành, tuy nhiên thường xẩy

ra ở một người lớn tuổi có các yếu tố nguy cơ cao như: tăng huyết áp; vữa xơ động mạch; bệnh tim đặc biệt là bệnh tim có rung nhĩ; hoặc đái tháo đường

Có thể xuất hiện những dấu hiệu cảnh báo: Đột ngột tê yếu nửa mặt; hoặc

tê yếu một tay hoặc một chân; Đột ngột rối loạn về giọng nói; Đột ngột rối loạn

về nhìn; Đột ngột mất thăng bằng; Đột ngột đau đầu dữ dội mà không có nguyên do từ trước

Những biểu hiện rõ rệt của rối loạn hoặc mất chức năng não: phụ thuộc

vào mức độ, vị trí vùng não bị tổn thương và thời gian kể từ lúc xảy ra đột quỵ, người bệnh có thể chịu một hay nhiều rối loạn hoặc mất chức năng não như: Liệt nửa người bên trái hoặc bên phải do tổn thương bán cầu đại não bên đối diện; Liệt nửa mặt cùng bên hoặc khác bên so với liệt nửa thân với các biểu hiện như miệng méo, nhân trung lệch về bên lành, nước miệng chảy ra bên liệt ; Rối loạn ngôn ngữ: có thể thất ngôn, nói khó, nói ngọng, thất đọc nếu tổn thương vùng tiếng nói trên bán cầu đại não trái; Rối loạn về nuốt: nuốt khó, nuốt sặc do liệt màn hầu nếu tổn thương dây thần kinh số IX, X, XI, không nhai được nếu tổn thương dây số V Rối loạn cơ tròn: đái ỉa không tự chủ; hoặc bí đái, bí ỉa Rối loạn nhận thức: lú lẫn, thờ ơ, suy giảm trí nhớ

Trang 13

Trường hợp nặng: Ngư

Rối loạn kiểu thở Cheyne –

Tiến triển tổn thương n

Khi đột quỵ xảy ra, ch

tiếp tục lan rộng theo thờ

sáng (penumbra) được coi là vùng có th

đảo ngược được nếu được cung c

Hình 2 Mô phỏng tiến tri

Không giống như nhi

được dự trữ năng lượng cho nh

toàn vào sự cấp máu liên t

chức não càng kéo dài thì t

càng trầm trọng

1.1.4 Điều trị và dự phòng

Người bệnh đột quỵ c

chia làm hai giai đoạn

Người bệnh có thể hôn mê và dễ gây tắc đờm, tụt l– Stokes, suy hô hấp; Tử vong nhanh chóng

n thương não trong đột quỵ [1]

y ra, chết tế bào não đầu tiên xảy ra ở vùng lõi (core) và

ời gian ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh t

c coi là vùng có thể cứu vãn được vì tổn thương có th

c cung cấp máu nhanh chóng trở lại

n triển tổn thương tổ chức não trong độ

ã chứng minh phần cơ thể chịu ảnh hưởng btrí vùng não bị tổn thương, còn bản chất và mức đ

nh bởi số lượng tổ chức não bị tổn thương và ph

i gian, nói một cách khác trong đột quỵ thời gian là não “

ng như nhiều bộ phận khác trong cơ thể, tế bào não không

ng cho những trạng thái khẩn cấp, mà phụ

p máu liên tục tới não Do vậy sự gián đoạn cung cấp máu t

c não càng kéo dài thì tổn thương não càng nhiều và tình trạng ngư

òng đột quỵ [1]; [17]; [29]

ời bệnh đột quỵ càng được điều trị sớm càng tốt, việc điều trị có thể

ễ gây tắc đờm, tụt lưỡi; ấp; Tử vong nhanh chóng

i gian là não “time is

bào não không thuộc hoàn

p máu tới tổ

ng người bệnh

ốt, việc điều trị có thể

Trang 14

Giai đoạn cấp

Hồi sức toàn diện, trường hợp có hôn mê cần đảm bảo thông khí, hỗ trợ

hô hấp và duy trì tuần hoàn: hút đờm dãi, đặt nội khí quản hoặc mở khí quản, thở máy Duy trì mạch huyết áp ổn định, cho phép giữ huyết áp ở mức 150/100mmHg để đảm bảo cung cấp máu cho não, không hạ huyết áp quá nhanh và mạch khi đã có đột quỵ

Điều trị đặc hiệu: tùy theo nguyên nhân và loại đột quỵ: Thuốc tiêu huyết khối với những trường hợp đột quỵ do tắc mạch và không có nguy cơ chảy máu Phẫu thuật lấy máu tụ với một số trường hợp xuất huyết não có chỉ định

Tăng cường chăm sóc và nuôi dưỡng Giải quyết các biến chứng nhiễm trùng, loét Sử dụng một số thuốc hỗ trợ: Thuốc chống đông: Heparin, Wafarine, Aspirin trong trường hợp tắc mạch não Thuốc giãn cơ trơn mạch máu não: Nimodipin Thuốc bảo vệ và dinh dưỡng não: Cerebrolysin, Nootropyl, Tanakan…

Giai đoạn ổn định

Chủ yếu là điều trị phục hồi chức năng nhằm cải thiện khả năng tự chăm sóc và hoạt động thể lực cho người bệnh và giải quyết các biến chứng và ngăn ngừa đột quỵ tái phát trên cơ sở gải quyết các yếu tố nguy cơ

Dự phòng đột quỵ

Kiểm soát tốt các yếu tố có nguy cơ cao gây đột quỵ như tăng huyết áp, đái tháo đường và các bệnh tim mạch nói chung Tầm soát phát hiện các trường hợp túi phồng hoặc dị dạng mạch não để chủ động can thiệp trước khi biến chứng vỡ vào tổ chức não Ngăn ngừa đột quị do tắc mạch bằng phát hiện và điều trị sớm bệnh van tim, rung nhĩ, viêm nội tâm mạch nhiễm khuẩn Loại bỏ các yếu tố nguy cơ khác như: bỏ hút thuốc lá, kiềm chế trọng lượng, điều chỉnh rối loạn lipid máu Hạn chế diễn biến xấu khi đột quỵ xảy ra: nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo, rút ngắn thời gian được khẳng định chẩn đoán và được điều trị

Trang 15

1.1.5 Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não[20]

- Lưu lượng tuần hoàn não

+ Lưu lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớn là 49,8ml/100g chất não/ phút (chất xám: 79,7ml/100g não/phút; chất trắng 20,5ml/100g não/phút)

Ở trẻ em lưu lượng tuần hoàn não ở khu vực lớn hơn ở người lớn Từ lứa tuổi 60 trở đi, lưu lượng tuần hoàn não giảm xuống nhanh chóng

Tốc độ tuần hoàn qua não: Ở người lớn thời gian dòng máu qua não trung bình từ 6 – 10 giây

+ Lưu lượng tuần hoàn não là 60ml/100g/phút Thể tích máu não là 4 –

5 ml/ 100g Thời gian chuyển máu trung bình là 3,2 – 3,5 giây

- Những yếu tố điều hòa lưu lượng tuần hoàn não:

+ Sự tự điều hòa của tuần hoàn não (hiệu ứng Bayllis): khi có sự thay đổi

về huyết áp, mạch máu não tự co (khi tăng huyết áp) hoặc giãn (khi giảm huyết áp) để thay đổi sức cản duy trì lưu lượng máu tương đối ổn định qua não Trong đó, huyết áp trung bình (bình thường 90 – 100mmHg) có vai trò rất quan trọng Cơ chế tự điều hòa sẽ không có tác dụng khi huyết áp trung bình thấp hơn 60 hoặc cao hơn 150 mmHg

+ Điều hòa qua chuyển hóa: Khi tăng phân áp CO2 mạch máu giãn làm tăng lưu lượng tuần hoàn máu não và ngược lại tăng phân áp oxy động mạch dẫn đến co mạch và làm giảm lưu lượng tuần hoàn não đáng kể

+ Ảnh hưởng của các yếu tố khác tới lưu lượng tuần hoàn não:

Các chất làm giảm áp lực nội sọ (mannitol, glucose, ure, glycerol) dẫn tới làm tăng lưu lượng tuần hoàn não

Gây mê làm tăng lưu lượng tuần hoàn não và làm giảm mức tiêu thụ oxy tới tổ chức não

Các thuốc gây ngủ làm giảm cả lưu lượng tuần hoàn não và mức tiêu thụ oxy tới tổ chức não

Các thuốc giãn mạch (cavinton, papaverin, nitrit …) làm tăng nhẹ lưu

Trang 16

lượng tuần hoàn não trong điều kiện các mạch máu não ở trạng thái bình thường

Các dịch truyền như Dextran làm tăng lưu lượng tuần hoàn não qua cơ chế tuần hoàn ngoại vi mạch

- Tiêu thụ oxy và glucose của não: nhu cầu về oxi và glucose của não cần được đáp ứng liên tục và ổn định Tế bào não không có dự trữ oxy còn glucose

dự trữ chỉ đủ cung cấp cho não trong vòng 2 phút

1.1.6 Các thương tật thứ cấp thường gặp

Các biến chứng của kém thay đổi tư thế và vận động phục hồi chức năng sớm cho người bệnh đột quỵ đã được chứng minh [17]; [12]; [22]; [21], bao gồm: (1) Loét ép, (2) Giảm độ bão hòa ô xy máu, (3) Viêm phổi, (4) Tắc mạch phổi, (4) Nhiễm khuẩn tiết niệu, (5) Táo bón, (6) Giảm tầm vận động, (7) Teo

cơ, (8) Cứng khớp, (9) Rối loạn huyết áp tư thế đứng, (10) Phù, và (11) Các vấn

- Tình trạng co rút: co rút là tình trạng co ngắn cơ và mô mềm làm hạn chế tầm vận động

- Các tổn thương do nhiễm trùng:

+ Nhiễm trùng phổi: do liệt vận động nên người bệnh phải nằm lâu và ăn uống tại giường, một số người bệnh có rối loạn tri giác như lơ mơ, hôn mê, phải

Trang 17

đặt ống nội khí quản, mở khí quản, thở máy … rất dễ có nguy co bị nhiễm trùng đường hô hấp đặc biệt nhiễm trùng phổi

+ Nhiễm trùng tiết niệu: người bệnh bị đột quỵ phải nằm lâu và có rối loạn tri giác phải đặt sonde tiểu có nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu cao

- Các biến chứng về tim mạch: hạ huyết áp tư thế, ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch chi

- Bán trật khớp vai: là sự mất một phần sự tiếp xúc bình thường của bề mặt khớp ổ chảo xương cánh tay

- Loãng xương: là xương mềm yếu và có nhiều lỗ hơn sau khi mất chất vôi

Người bệnh nằm lâu ngày trong một thời gian dài mà không cử động sẽ

bị loãng xương đặc biệt là ở những người lớn tuổi [2]

1.1.7 Tiến triển và biến chứng [3]; [4]

- Tỷ lệ tử vong do đột quỵ não trước đây đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thu nhưng ngày nay đã đứng thứ 2 chỉ sau bệnh tim mạch Khoảng 40% bệnh nhân đột quỵ có triệu chứng thần kinh nặng nề ngay từ đầu

sẽ tử vong trong vòng 30 ngày Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân chảy máu não cao hơn nhồi máu não

- Khả năng sống sót: khoảng 3/4 số bệnh nhân đột quỵ sống sốt được qua 30 ngày, khoảng 1/3 bệnh nhân chảy máu não sống sót được qua giai đoạn cấp, trên 4/5 số bệnh nhân nhồi máu não sống sót tới ngày thứ 30

- Tỷ lệ tàn phế do đột quỵ đứng đầu trong các bệnh thần kinh

1.2 Chức năng vận động của người bệnh đột quỵ [7]; [29]

1.2.1 Đặc điểm lâm sàng

Co cứng ở người bệnh (NB) liệt nửa người là hiện tượng co cứng các cơ ở nửa thân bên liệt theomột kiểu nhất định, xảy ra ở tất cả NB bị đột quỵ Co cứng bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn hồi phục, đi kèm với trương lực cơ tăng và phản

xạ gân xương tăng Mẫu co cứng xuất hiện gây hiện tượng tăng trương lực các

cơ gập ở tay và các cơ duỗi ở chân Các cơ chi trên ở tư thế gấp, khép và xoay

Trang 18

trong, các cơ khớp ở chân ở tư thế duỗi dạng và xoay ngoài, cơ ở cổ và thân bên liệt co ngắn hơn bên lành Co cứng thể hiện rõ hơn khi NB cử động Khi NB cử động, các cơ ở một chi hoặc nhiều chi thậm chí ở cả 2 phía cơ thể đều co, khi ấy xuất hiện cử động khối, khiến tư thế cơ thể co cứng, thiếu tự nhiên và vận động khó khăn

Tình trạng NB dần được cải thiện và ổn định, NB phối hợp được với việc khám và điều trị Cũng nhờ đó các hoạt động ăn uống, hô hấp, bài tiết được kiểm soát, giảm bớt nguy cơ các thương tật thứ cấp Tuy nhiên, ở NB bắt đầu xuất hiện tình trạng co cứng cơ ở bên liệt và dần dần đưa đến dính, hạn chế vận động các khớp vai, cổ chân… bên đó

- Khiếm khuyết vận động:

Đặc trưng bởi liệt mềm, rồi chuyển sang liệt cứng với mẫu co cứng điển hình và “cử động khối”

Hội chứng vai tay và hiện tượng đau khớp vai bên liệt

Hiện tượng đau khớp vai và tay bên liệt còn được gọi là phản xạ loạn dưỡng giao cảm Khớp vai sưng, đỏ đau, co rút, hạn chế vận động, đau lan xuống các khớp còn lại của chi Chụp X quang có thể thấy hiện tượng loãng xương hình đốm, mất calci của xương Người ta cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này là do kém cân bằng của hệ thần kinh giao cảm hoặc thần kinh tự chủ động Nó có thể gặp trong một số bệnh lý khác như cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, sau phẫu thuật lồng ngực…

- Các hoạt động chức năng:

Di chuyển: thường bằng xe lăn NB có thể tự lăn trở, ngồi dậy tại giường Thăng bằng và điều hợp chưa tốt cản trở việc di chuyển cho dù cơ lực có thể đã phục hồi

Các hoạt động tự cột sống: Tay liệt hồi phục chậm hơn, khiến các hoạt động hàng ngày chủ yếu nhờ tay lành Mẫu co cứng thường tạo thuận lợi cho di chuyển nhưng đối với tay, nó thường cản trở các hoạt động sinh hoạt như: mặc

Trang 19

áo, cầm đồ vật…do hiện tượng đồng vận các khớp ở tay, co cứng và quay sấp cẳng tay

1.2.2 Khuyến cáo tư thế và vận động cho người bệnh đột quỵ não

Người bệnh đột quỵ trong giai đoạn cấp cần được đặt nằm theo những

tư thế phù hợp Các bằng chứng khoa học cho thấy tư thế đầu cao có thể gây hại cho người bệnh bởi gây giảm dòng máu và ô xy tới não, đặc biệt đối với các trường hợp đột quỵ do tắc mạch não (chiếm đa số các trường hợp đột quỵ) gây cản trở dòng máu tới não Nói cách khác, giữ người bệnh ở tư thế nằm phẳng là phù hợp và được khuyến cáo áp dụng trong những giờ đầu của đột quỵ, tạo thuận lợi cho tưới máu và ô xy tới não Tuy nhiên, với một số trường hợp đột quỵ có tăng áp lực nội sọ (phù não), thì tư thế đầu cao (được khuyến cáo là từ

20 – 30 độ) lại giúp cải thiện dẫn lưu tuần hoàn não và làm giảm áp lực nội sọ cho người bệnh [20]

Trong giai đoạn cấp, người bệnh phải nằm trên giường bệnh và hiển nhiên tạo ra áp lực lên vị trí cơ thể tiếp xúc với mặt giường Khi lực đè ép lên cùng một vị trí cơ thể trong một khoảng thời gian đủ dài do duy trì quá lâu ở một tư thế, dẫn đến ngăn chặn tuần hoàn tưới máu tại vùng bị đè ép Đây là một trong những lý do căn bản dẫn đến tổn thương loét ép Các công trình nghiên cứu thường khuyến cáo cần thường xuyên thay đổi vị trí tiếp xúc của cơ thể người bệnh với bề mặt tiếp xúc và khoảng thời gian tiêu chuẩn cho mỗi lần thay đổi là 2 giờ [7]; [22]; [8]

Vận động rất sớm (Very Early Mobilisation – VEM) cho người bệnh đột quỵ não là một đặc trưng đặc biệt của chăm sóc người bệnh đột quỵ não liên quan đến việc khởi đầu vận động cho người bệnh đột quỵ não[11];[15].Như đã

đề cập, vận động sớm cho người bệnh đột quỵ đã được chứng minh là tạo thuận lợi cho việc lấy lại các chức năng và hạn chế các biến chứng sau đột quỵ Trên cơ sở các phân tích hệ thống các nghiên cứu về thời điểm tối ưu để vận động cho người bệnh được khuyến cáo là trong vòng 24 giờ đầu kể từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên của đột quỵ và khác nhau cho từng người bệnh Tuy

Trang 20

nhiên, quan điểm thống nhất là việc vận động cho người bệnh đột quỵ cần được tiến hành càng sớm càng tốt khi tình trạng lâm sàng của người bệnh cho phép [29]; [15]; [28].Trong thực hành chăm sóc về vận động sớm cho người bệnh đột quỵ, các khuyến cáo[21];[20] cũng chỉ rõ khi tình trạng lâm sàng của người bệnh cho phép, các tư thế vận động cần đảm bảo nguyên tắc từ từ giúp người bệnh thích ứng dần, bao gồm: (1) Hỗ trợ ngồi tại giường bệnh, (2) Hỗ trợ ngồi ngoài giường bệnh, (3) Di chuyểnchỗ bằng phương tiện, (4) Lăn nghiêng để ngồi dậy, (5) Ngồi không cần hỗ trợ, (6) Hỗ trợ di chuyển bằng chân trên sàn nhà

1.2.3 Thực trạng chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ não

Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới do các nguyên nhân khác nhau số người bị đột quỵ ngày một tăng Tỷ lệ tử vong do đột quỵ cũng có xu hướng ngày một tăng [3] Các kỹ thuật điều trị, chăm sóc phục hồi chức năng(PHCN) cho người đột quỵ cũng ngày một tốt hơn Một nghiên cứu hệ thống tại Mỹ trên 99 nghìn người bệnh đột quỵ nhồi máu và khoảng 9 nghìn trường hợp đột quỵ xuất huyết đã chỉ ra rằng các đơn vị chăm sóc đột quỵ đã

có những tiến bộ trong phòng tránh các biến chứng liên quan đến hạn chế vận động của người bệnh [27] Để tăng hiệu quả của các phương pháp này, các cơ

sở đó đã phối hợp nhiều phương pháp trị liệu phục hồi ngôn ngữ, khả năng thực hiện công việc của người bệnh Đồng thời việc vận động sớm cũng khằng định thêm hiệu quả của quá trình phục hồi chức năng cho người bệnh Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng 90% người bệnh được tham gia ít nhất một lần phục hồi chức năng trong 24 giờ đầu sau khi nhập viện điều đó cũng có nghĩa

là người điều dưỡng lâm sàng đã nhận ra vai trò của phục hồi chức năng cho người bệnh sau đột quỵ sớm và cần phối hợp các phương pháp phục hồi chức năng khác nhau để tăng hiệu quả của các phương pháp vật lý trị liệu

Trang 21

Tại Việt Nam,tuy chưa có thống kê cụ thể về công tác chăm sóc người bệnh đột quỵ, song qua kinh nghiệm chăm sóc thực tế đã cho thấy việc thực hiện cũng còn có nhiều vấn đề chưa được tốt như:

- Phục hồi chức năng không đúng thời điểm: nếu quá sớm khi tai biến chưa ổn định có thể gây tăng chảy máu, làm cho tai biến nặng lên Nếu quá muộn thì các cơ, khớp bị cứng, teo khó hồi phục, xuất hiện nhiều thương tật thứ cấp kèm theo

- Việc hướng dẫn cho người nhà NB, hướng dẫn cho cộng đồng cách chăm sóc chưa được thật chi tiết, không có các tài liệu kèm theo để họ tiến hành

dễ dàng

- Việc tham gia của gia đình, đặc biệt của cộng đồng chưa cao

- Việc lượng giá tình trạng bệnh và mức độ tổn thương vận động chưa được chú ý đúng mức nên quyết định mức độ chăm sóc và tập luyện chưa thật phù hợp

Với các thực trạng trên, hiện nay việc chăm sóc và PHCN cho NBđột quỵ chưa có hiệu quả cao

1.3 Tình hình đột quỵ trên thế giới và ở Việt Nam

- Trên thế giới: Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2004[33] , nhồi máu cơ tim và đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới và có khoảng 15 triệu người mắc đột quỵ hàng năm Theo thống kê tại Mỹ mỗi năm có 795.000 người bị đột quỵ,đột quỵ là nguyên nhân thứ ba gây tử vong và tàn tật Tại đất nước này đến năm 2009 số người bị đột quỵ ở lứa tuổi từ 20 là 6,5 triệu người [23] Theo Broeks (2000) ở Hà Lan tỷ lệ đột quỵ mới mắc hàng năm là 162/100.000 dân, mỗi năm có khoảng 250.000 trường hợp đột quỵ mới xuất hiện Ở Pháp năm 2001 tỷlệ tử vong 130/100.000 dân, tức 62.000 trường hợp tử vong do đột quỵ trong năm cho cả nước Pháp

- Ở Châu Á: Theo Hiệp hội TK học các nước Đông Nam Á, NBđột quỵ vào điều trị nội trú ở Trung Quốc là 40%, Ấn Độ 11%, Philipin 10%[25], Triều Tiên

Trang 22

16%, Indonesia 8%, Việt Nam 7%,Thái Lan 6% Malaysia 2% Tỷlệmắc bệnh trung bình hàng năm có sự khác biệt giữa các nước như: Nhật Bản 340 -523 đột quỵ /100.000 dân, Trung Quốc 219/100.000 dân, riêng ởBắc Kinh 370/100.000 dân

- Tại Việt Nam: đã có một số nghiên cứu tìm hiểu về tỷ lệ hiện mắc và tỷ

lệ mới mắc của đột quỵ tại Việt Nam,tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu đó không đại diện cho toàn bộ dân số do không sử dụng tiêu chuẩn đánh giá Theo nghiên cứu của Bộ môn Thần kinh trường Đại học Y khoa thành phố Hồ Chí Minh với số lượng lớn đối tượng tham gia năm 1994 – 1995 tỷ lệ hiện mắc chung là 415/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc chung là 161/100.000 dân [13] Nghiên cứu dịch tễ học của bộ môn Thần kinh trường Đại học Y Hà Nội[2] tỷ lệ đột quỵ hiện mắc trung bình là 115,92/100.000 dân; tỷ lệ mới mắc trung bình

là 28,25; tỷ lệ tử vong trung bình là 21,55

- Tại khoa Thần kinh bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9 năm 1997 đến tháng

6 năm 2005 đã có 7,778 người bệnh đột quỵ vào điều trị trong đó nam chiếm 69%, nữ 31% và nhồi máu não chiếm 59%, xuất huyết não 38%, 13% là các loại khác [3]

Trang 23

Chương 2: ĐỐI TƯ

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng: tất cả các điều d

quỵtự nguyện tham gia nghi

Tiêu chuẩn loại trừ

can thiệp

2.2 Thời gian và địa điểm nghi

Địa điểm:các khoa có ngư

tỉnh Nam Định

Thời gian can thiệp

thiệp diễn ra trong thời gian tháng 4

2.3 Phương pháp nghiên c

Thiết kế nghiên c

Can thiệp giáo dụ

Hình 2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu:

Chọn mẫu chủ đích:ch

chăm sóc người bệnh đột quỵ Tổng số điều d

45 người, từ các khoa Nội

2.5 Nội dung can thiệp:

Can thiệp giáo dục theo các nội dung nghi

dựa trên “Tiêu chuẩn chất l

I TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ

ứu

ất cả các điều dưỡnglâm sàng có chăm sóc ngưỵtự nguyện tham gia nghiên cứu

ẩn loại trừ: Những người từ chối hoặc vắng mặt tại thời điểm

ịa điểm nghiên cứu

:các khoa có người bệnh đột quỵ não thuộcBệnh viện đa khoa

ệp: sau khi nhận được sự đồng ý của Bệnh viện, can

ệp diễn ra trong thời gian tháng 4-6/2017

ương pháp nghiên cứu

ên cứu:

ục một nhóm có so sánh Trước - Sau

Hình 3.Sơ đồ Qui trình nghiên cứu

ọn mẫu:

đích:chọn toàn bộ điều dưỡng trực tiếp làm công tác

ời bệnh đột quỵ Tổng số điều dưỡng tham gia vào nghiên c

ời, từ các khoa Nội – Tim mạch, Khoa Nội A, khoa Hồi sức cấp cứu

ệp giáo dục theo các nội dung nghiên cứu (Phụ lục 2

ẩn chất lượng về xử trí đột quỵ não áp dụng thí điểm trong

ỨU

àng có chăm sóc người bệnh đột

ời từ chối hoặc vắng mặt tại thời điểm

ộcBệnh viện đa khoa

ợc sự đồng ý của Bệnh viện, can

àm công tác

ào nghiên cứu là ạch, Khoa Nội A, khoa Hồi sức cấp cứu

2) (xây dựng ụng thí điểm trong

Trang 24

bệnh viện ở Việt Nam” (Ban hành kèm theo quy

Dựa trên mô hình “H

hợp với thực tiễn Việt Nam

được điều chỉnh cho phù h

Hình

Từng nội dung cần chuyển tải đ

nghiệm từ thực tiễn chăm sóc của điều d

(Ban hành kèm theo quyết định số 86/QĐ-KCB ngày 15

ủa Cục trưởng Cục quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế)

ợi ích của chăm sóc về tư thế và vận động sớm cho ngư

ề tư thế cho người bệnh đột quỵ não giai đoạng người bệnh và tác dụng, thay đổi vị trí tiếp xúc của

ù hợp để thực hiện vận động sớm cho ngư

ận động sớm được khuyến cáo thực hiện cho ng

ức can thiệp:

ên mô hình “Học tập dựa trên trải nghiệm điều chỉnh cho ph

ợp với thực tiễn Việt Nam – MKMVN: Modified Kolb’s Model for Vietnam” đ

ù hợp với thực tiễn Việt Nam

Hình 4 Mô hình can thiệp [22]

ội dung cần chuyển tải được xử lý qua các bước: Trên cơ s

ừ thực tiễn chăm sóc của điều dưỡng, vấn đề sẽ được Chia s

KCB ngày 15 ởng Cục quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế)

ười bệnh đột

đoạn cấp (tư

ổi vị trí tiếp xúc của

ười bệnh đột

ợc khuyến cáo thực hiện cho người

ải nghiệm điều chỉnh cho phù MKMVN: Modified Kolb’s Model for Vietnam” đã

ên cơ sở Trải Chia sẻvà thể

Trang 25

hiện, Thảo luận với những ý kiến tương tự hoặc trái chiều, đi đến Công nhận cái đúng và thừa nhận kiến thức, từ đó sẽ được Áp dụng vào thực tiễn chăm

sóc Trong quá trình này, điều dưỡng đóng vai trò trung tâm, người nghiên cứu đóng vai trò định hướng, hỗ trợ

Phương pháp thu thập các chỉ tiêu nghiên cứu

Sử dụng thống nhất một bộ câu hỏi tự trả lời dựa theo các nội dung nghiên cứu (Phụ lục 1)

Thông báo được gửi tới các khoa Nội Tim mạch, Hồi sức cấp cứu, khoa Nội A Nghiên cứu viên, Điều dưỡng trưởng BV và điều dưỡng trưởng các khoa

đã thống nhất thời gian tiến hành thu số liệu Lần thứ nhất, 24 điều dưỡng viên của các khoa tham gia thảo luận tại hội trường (một số điều dưỡng viên vắng mặt do phải tham gia trực và đi học).Lần thu thập thông tin thứ 2 diễn ra sau

đó 5 ngày tại văn phòng của phòng điều dưỡng (với 21điều dưỡng viên)

Sau khi nghiên cứu viên giới thiệu bản thân, giải thích về nghiên cứu, mục tiêu và cách thức tiến hành,điều tra viên yêu cầu người tham gia ký vào bản đồng thuận Điều tra viên phát phiếu đánh giá nhận thức về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ não để người tham gia tự điền (T1)

Trong phần can thiệp, nghiên cứu viên đưa ra lần lượt các nội dung thảo luận Sau khi lắng nghe ý kiến của các thành viên tham gia, nghiên cứu viên phân tích, bổ sung bằng các hình ảnh minh họa và trình bày powerpoint để người tham gia hiểu hơn và đi đến thống nhất về nội dung Thời gian tiến hành thảo luận là 30 phút Ngay sau can thiệp, phiếu câu hỏi được phát tới tay người tham gia để thu thập thông tin lần 2 (T2)

Để đảm bảo thông tin được hiểu và lưu giữ, bộ câu hỏi được gửi tới người tham gia trực tiếp tại các khoa vào thời điểm 1 tháng sau can thiệp (T3)

Quy trình can thiệp đã tôn trọng các bước tiến hành đã định trước (Phụ lục 3)

Các chỉ tiêu nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá:

Trang 26

- Thông tin chung: Tuổi, giới, trình độ chuyên môn (bậc đào tạo cao nhất), thâm niên (thời gian trực tiếp làm công tác chăm sóc người bệnh đột quỵ), …

- Nhận thức về chăm sóc tư thế và vận động sớm cho người bệnh đột quỵ với 4 nội dung và 25 trả lời tự luận Cụ thể như sau:

- Nội dung 1: Nhận thức đượclợi ích của chăm sóc tư thế và vận động

sớm cho người bệnh đột quỵ não giai đoạn cấp là dự phòng được các biến

chứng (12 biến chứng)[23], bao gồm: (1) Loét ép, (2) Giảm bão hòa ô xy máu,

(3) Nhiễm khuẩn hô hấp, (4) Tắc mạch phổi, (5) Nhiễm khuẩn tiết niệu, (6) Táo bón, (7) Giảm tầm vận động, (8) Teo cơ, (9) Cứng khớp (10) Giảm huyết áp tư

thế đứng, (11) Phù nề, và (12) Các vấn đề về tâm lý.Đánh giá: đúng mỗi biến

chứng được 1 điểm, không cần thứ tự Tổng điểm: 12 điểm

- Nộidung 2: Nhận thức được 3 tư thếphù hợp cho người bệnh đột quỵ

não trong giai đoạn cấp, mỗi tư thế đúng được 1 điểm và đưa ra được3 lý do tương ứng mỗi lý do đúng được 1 điểm[23]; [7], bao gồm: (1) Nằm phẳng khi không biểu hiện của tăng áp lực nội sọ - Tạo thuận lợi cho tưới máu và cung cấp ô xy tới não, (2) Nằm đầu cao từ 20 đến 30 độ khi có biểu hiện của tăng áp

lực nội sọ - Giúp cải thiện dẫn lưu tuần hoàn não làm giảm áp lực nội sọ, và (3)

Thay đổi vị trí cơ thể tiếp xúc với giường bệnh mỗi 2 giờ - Tránh đè ép quá lâu

lên cùng một vị trí là một nguy cơ chủ yếu của biến chứng loét ép.Đánh giá:

đúng mỗi chăm sóc tư thế được 1 điểm, lý giảiđúng cho mỗi tư thế được 1 điểm Tổng đạt 6 điểm (những trả lời sai về mỗi tư thế sẽ không nhận được điểm mặc dù có đưa ra lý do đúng)

- Nộidung 3: Nhận thức được thời điểm phù hợp để thực hiện vận

động sớm cho người bệnh đột quỵ trong giai đoạn cấp [23]; [20] là khi “Tình trạng lâm sàng của người bệnh cho phép” và giải thích đầy đủ cho tình trạng

này gồm: Ý thức tỉnh, Huyết áp tâm thu ổn định và ≥ 120mmHg, Mạch ổn định

60-100 lần/phút), và Không xuất hiện thêm tổn thương thần kinh Đánh giá: trả

lời đúng toàn bộ được 1 điểm, các trả lời khác không được điểm

- Nộidung 4:Xác định đùng trình tự thực hiện trước sau của các chăm

Trang 27

sóc vận động sớm cho người bệnh đột quỵ [23]; [8], bao gồm:(1) Hỗ trợ ngồi tại giường bệnh, (2) Hỗ trợ ngồi ngoài giường bệnh, (3) Di chuyển chỗ bằng phương tiện, (4) Lăn nghiêng để ngồi dậy, (5) Ngồi không cần hỗ trợ, (6) Hỗ trợ

di chuyển bằng chân trên sàn nhà.Đánh giá: đúng được 1 điểm, các trả lời khác

được 0 điểm

Tổng điểm đánh giá: 12 + 6 + 1 + 1 = 20

Mức độ nhận thức: điểm đạt thực tế / tổng điểm 20

Thay đổi nhận thức:

- Điểm trung bình sau can thiệp so với trước can thiệp

- Các tỷ lệ nhận thức đúng theo nội dung sau can thiệp so với trước can

Phân tích mối tương quan cặp: Paired sample T-test

2.7 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện với sự chấp thuận của người tham gia Không xâm nhập hoặc tác động đến thể chất của người tham gia

Có ý nghĩa về trang bị kiến thức trong phòng ngừa và cải thiện hoạt động chăm sóc người bệnh

Sau khi thông qua đề cương và được sự đồng ý của Bệnh viện

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w