TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Mục tiêu: 1 Mô tả thực trạng nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LƯƠNG THỊ THANH
THAY ĐỔI NHẬN THỨC CỦA BÀ MẸ VỀ NUÔI DƯỠNG CON DƯỚI
5 TUỔI BỊ SUY DINH DƯỠNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LƯƠNG THỊ THANH
THAY ĐỔI NHẬN THỨC CỦA BÀ MẸ VỀ NUÔI DƯỠNG CON DƯỚI
5 TUỔI BỊ SUY DINH DƯỠNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 60.72.05.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Người hướng dẫn 1: TS Nguyễn Hữu Dũng
Người hướng dẫn 2: TS Lê Thanh Tùng
Nam Định – 2017
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của
bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2017.(2) Đánh giá sự thay đổi nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên sau can thiệp giáo dục
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp 1 nhóm có so
sánh trước sau cho 114 bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng nằm điều trị tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên về chế độ dinh dưỡng cho trẻ Đánh giá kết quả dựa trên bộ câu hỏi được thiết kế sẵn với phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại các thời điểm ngay sau can thiệp, 1 tuần sau can thiệp so với trước can thiệp
Kết quả: Sau can thiệp giáo dục, điểm trung bình nhận thức về chế độ dinh
dưỡng đều tăng có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp (p(2-1)< 0,001) Trước can thiệp điểm nhận thức là 18,86 ± 6,309; ngay sau can thiệp 44,53 ± 5,429; sau can thiệp 1 tuần 36,32 ± 6,794 (p2-3< 0,001)
Kết luận: Can thiệp giáo dục đã cải thiện rõ rệt nhận thức về chế độ dinh
dưỡng cho trẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại Khoa Nhi
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên sau can thiệp và 1 tuần sau khi kết thúc can
thiệp
Khuyến nghị: Tiếp tục nhân rộng chương trình can thiệp về chế độ dinh
dưỡng cho trẻ và áp dụng hình thức truyền thông đã áp dụng trong nghiên cứu cho tất cả những bà mẹ có con dưới 5 tuổi trên địa bàn tỉnh Điện Biên nhằm nâng cao nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của các bà mẹ
i
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy trong Ban Giám hiệu, cô giáo chủ nhiệm, cùng các giảng viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã hết lòng nhiệt tình truyền thụ kiến thức và luôn hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Hữu Dũng và TS Lê Thanh Tùng, những người thầy đã tận tình dìu dắt và dành nhiều thời gian hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Điều dưỡng và tập thể cán
bộ Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi được tham gia khóa học này
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Khoa Nhi - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, ngày 20 tháng 10 năm 2017
Học viên
Lương Thị Thanh
ii
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lương Thị Thanh, là học viên lớp cao học Khóa II – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Tôi xin cam đoan:
Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hữu Dũng và TS Lê Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác
đã được công bố ở Việt Nam
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Đã được đồng ý thu thập và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc thu thập số liệu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này
Nam Định, ngày 20 tháng 10 năm 2017
Học viên
Lương Thị Thanh
iii
Trang 6MỤC LỤC
Trang
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ………i
LỜI CẢM ƠN……….ii
LỜI CAM ĐOAN……… iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… iv
DANH MỤC BẢNG……… v
DANH MỤC CÁC HÌNH……… vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đại cương về suy dinh dưỡng 4
1.1.1 Khái niệm về Suy dinh dưỡng 4
1.1.2 Các loại suy dinh dưỡng 4
1.1.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 5
1.1.4 Nguyên nhân suy dinh dưỡng ở trẻ em 6
1.1.5 Hậu quả của suy dinh dưỡng 8
1.2 Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới và Việt Nam 9
1.2.1 Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới 9
1.2.2 Tình hình suy dinh dưỡng tại Việt Nam 10
1.2.3 Tình hình suy dinh dưỡng tại tỉnh Điện Biên 12
1.3 Nuôi dưỡng trẻ nhỏ 13
1.3.1 Nuôi con bằng sữa mẹ 13
1.3.2 Cho trẻ ăn bổ sung 15
1.3.3 Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bệnh 17
1.4 Nghiên cứu hiệu quả của giáo dục truyền thông 18
1.4.1 Nghiên cứu về hiệu quả truyền thông tích cực trên thế giới 18
1.4.2 Những nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục truyền thông ở Việt Nam 19
1.5 Truyền thông giáo dục dinh dưỡng 20
1.6 Học thuyết điều dưỡng áp dụng trong nghiên cứu 23
Trang 71.7 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 24
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 26
2.5 Bộ công cụ nghiên cứu 27
2.6 Quy trình thu thập số liệu 29
2.7 Các biến số nghiên cứu 30
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 32
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 32
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 31
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Thực trạng nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ 37
3.2.1 Nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ theo các nội dung 37
3.2.2 Nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ theo điểm trung bình 45
3.2.3 Mức độ nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ 47
3.3 Sự thay đổi nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ sau can thiệp 48
3.3.1 Thay đổi nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ 48
3.3.2 Thay đổi điểm nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ sau can thiệp 58
3.3.3 Thay đổi mức độ nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ sau can thiệp…60 Chương 4: BÀN LUẬN 61
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 61
4.1.1 Đặc điểm về tuổi 61
4.1.2 Đặc điểm về dân tộc 61
4.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn 62
4.1.4 Đặc điểm về nghề nghiệp 62
Trang 84.1.5 Đặc điểm về nơi cư trú và điều kiện kinh tế 63
4.1.6 Đối tượng con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 64
4.2 Thực trạng nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của các bà mẹ 64
4.2.1.Thực trạng nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ 64
4.2.2 Thực trạng nhận thức về chế độ ăn bổ sung cho trẻ của các bà mẹ 67
4.2.3 Thực trạng nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ biếng ăn và bị bệnh…69 4.3 Thay đổi nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ sau can thiệp giáo dục 70
4.3.1 Thay đổi nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ 70
4.3.2 Thay đổi nhận thức về chế độ ăn bổ sung cho trẻ 73
4.3.3 Thay đổi nhận thức về chế độ dinh dưỡng khi trẻ biếng ăn và bị bệnh 74
4.3.4 Thay đổi nhận thức về chế độ dinh dưỡng dựa trên điểm trung bình và mức độ của các bà mẹ 75
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 78
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined KHUYẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 01: BẢN ĐỒNG THUẬN
PHỤ LỤC 02: PHIẾU ĐIỀU TRA
PHỤ LỤC 03: CÔNG CỤ CAN THIỆP
BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG
BIÊN BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN CỦA PHẢN BIỆN 1
BIÊN BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN CỦA PHẢN BIỆN 2
BIÊN BẢN BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ
BIÊN BẢN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN SAU BẢO VỆ
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KAP(Knowledge, Attitude, Practice) Kiến thức, thái độ, thực hành
UNICEF (United Nations Children'S Fund) Qũy nhi đồng Liên hiệp quốc
WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế thế giới
iv
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam 1999 - 2015 10
Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ < 5 tuổi tại Việt Nam theo khu vực năm 2015 11
Bảng 1.3 Tình hình SDD chung qua các năm của tỉnh Điện Biên 12
Bảng 3.1 Đặc điểm nghề nghiệp, nơi cư trú của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 3.2 Tiếp cận thông tin về chế độ dinh dưỡng cho trẻ 36
Bảng 3.3 Thời điểm nhận thông tin về chế độ dinh dưỡng cho trẻ 37
Bảng 3.4 Bảng tuổi thai và cân nặng sơ sinh của trẻ 37
Bảng 3.5 Nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ 38
Bảng 3.6 Nhận thức về duy trì nguồn sữa và bảo quản sữa mẹ 39
Bảng 3.7 Nhận thức về khái niệm và nguyên tắc ăn bổ sung cho trẻ 40
Bảng 3.8 Nhận thức về các nhóm thực phẩm ăn bổ sung cho trẻ 41
Bảng 3.9 Nhận thức về vai trò của sắt và vitamin A 42
Bảng 3.10 Nhận thức về chế độ ăn bổ sung cho trẻ 43
Bảng 3.11 Nhận thức về chế độ dinh dưỡng khi trẻ biếng ăn và bị bệnh 44
Bảng 3.12 Điểm trung bình nhận thức qua các nội dung 45
Bảng 3.13 Điểm trung bình nhận thức theo trình độ học vấn 46
Bảng 3.14 Điểm trung bình nhận thức theo nghề nghiệp 46
Bảng 3.15 Mức độ nhận thức chung về chế độ dinh dưỡng 47
Bảng 3.16 Thay đổi nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ 48
Bảng 3.17 Nhận thức về duy trì nguồn sữa và bảo quản sữa mẹ 50
Bảng 3.18 Nhận thức về khái niệm và nguyên tắc ăn bổ sung cho trẻ 51
Bảng 3.19 Nhận thức về các nhóm thực phẩm ăn bổ sung cho trẻ 52
Bảng 3.20 Nhận thức về vai trò của sắt và vitamin A 53
Bảng 3.21 Thay đổi nhận thức về chế độ ăn bổ sung cho trẻ 55
Bảng 3.22 Thay đổi nhận thức về chế độ dinh dưỡng khi trẻ biếng ăn và bị bệnh 57 Bảng 3.23 Thay đổi điểm nhận thức chung về chế độ dinh dưỡng 58
Bảng 3.24 Thay đổi điểm nhận thức về nuôi con bằng sữa mẹ 58
Bảng 3.25 Thay đổi điểm nhận thức về chế độ ăn bổ sung cho trẻ 59
Bảng 3.26 Thay đổi điểm nhận thức về chế độ dinh dưỡng khi trẻ biếng ăn 59
Bảng 3.27 Thay đổi mức độ nhận thức chung về chế độ dinh dưỡng 60
v
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình học thuyết …22
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 25
Hình 3.1 Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 34
Hình 3.2 Phân bố dân tộc của đối tượng nghiên cứu 35
Hình 3.3 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 35
vi
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng chiếm một vị trí quan trọng đối với sức khỏe con người, đặc biệt
ở trẻ em dưới 5 tuổi Dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ, ảnh hưởng đến tình hình bệnh tật, ở những trẻ bị suy sinh dưỡng bệnh dễ phát sinh, thời gian mắc bệnh kéo dài hoặc làm bệnh nặng hơn [60]
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là vấn đề sức khỏe cộng đồng luôn được các quốc gia quan tâm Dinh dưỡng không đầy đủ là nguyên nhân dẫn đến một nửa số
ca tử vong ở trẻ em (khoảng 5,6 triệu trẻ em/năm) Hàng năm trên thế giới có khoảng 13 triệu trẻ em sinh ra bị SDD bào thai, 178 triệu trẻ em bị SDD thể thấp còi (chiều cao theo tuổi thấp), 19 triệu trẻ em bị gầy còm nặng (cân nặng/chiều cao thấp) [18]
Ở nước ta, trong những năm qua nhờ triển khai chương trình quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng đạt hiệu quả, tình trạng suy dinh dưỡng chung ở trẻ em dưới
5 tuổi đã giảm đáng kể, từ 43,9% năm 1995 còn 16,8% năm 2012 và còn 14,1% năm 2015 [39] Tuy tình trạng thiếu dinh dưỡng đã thuyên giảm rõ rệt với tốc độ nhanh nhưng tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn cao, đặc biệt là suy dinh dưỡng thấp còi
và có sự chệnh lệch rất đáng kể theo các vùng địa lý Mức độ giảm xuống không đồng đều giữa các vùng miền núi cao, đồng bào dân tộc thiểu số [24],[30] Các khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ là những nơi
có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cao hơn so với các vùng khác trên cả nước [19],[25],[42]
Thiếu kiến thức nuôi dưỡng trẻ là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng SDD trẻ em tại Việt Nam, đặc biệt là các vùng miền núi Vì vậy, Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2001 - 2010 đã coi: “Giáo dục và phổ cập kiến thức dinh dưỡng cho toàn dân” là một trong những giải pháp quan trọng trong cải thiện tình trạng dinh dưỡng của nhân dân [6] Đồng thời, trong Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, cũng xác định: “Dự án truyền thông, giáo dục dinh dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực” là chương trình/dự án chủ yếu thực hiện các mục tiêu của chiến lược quốc gia này [43]
Trang 13Trong những năm qua, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ < 5 tuổi tại Điện Biên đã giảm mạnh từ 28,2% năm 2000 còn 22,5% năm 2010 và còn 18,8% năm 2015 [39] Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn cao hơn so với chỉ tiêu đề ra của chương trình quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm
2030 là 15% năm 2015 [43] Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SDD trẻ
em là một nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế Một trong những giải pháp quan trọng làm giảm tỷ lệ SDD ở trẻ em là đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về chế độ dinh dưỡng cho các bà mẹ nhằm giúp cho các bà mẹ có đầy đủ kiến thức tự chăm sóc mình và chăm sóc, nuôi dưỡng tốt con trẻ [43] Và để đánh giá hiệu quả của công tác truyền thông, vận động, nâng cao nhận thức cho các bà mẹ chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thay đổi nhận thức của bà mẹ về nuôi dưỡng con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2017”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm
2017
2 Đánh giá sự thay đổi nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên sau can thiệp giáo dục
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về suy dinh dưỡng
1.1.1 Khái niệm về Suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng (VCDD) Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện
ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ SDD protein năng lượng thường kèm theo
là các bệnh nhiễm khuẩn
Về hình thái, những trường hợp SDD nặng hay gặp nhất là SDD thể teo đét (Marasmus) thường gặp nhất, đó là do hậu quả của một chế độ ăn thiếu cả năng lượng và protein SDD thể phù (Kwashiorkor) ít gặp hơn thể teo đét, thường là do chế độ ăn quá nghèo protit nhưng tạm đủ các chất gluxit Ngoài
ra, có thể phối hợp giữa Marasmus và Kwashiorkor [61] SDD là vấn đề sức khỏe ở nhiều nước đang phát triển Nguyên nhân SDD thường phức tạp và có các đặc thù của mỗi nước Nghiên cứu các đặc điểm đó dựa vào các chỉ tiêu thích hợp là công việc cần thiết để xây dựng các can thiệp dự phòng và điều trị thích hợp [12]
1.1.2 Các loại suy dinh dưỡng
Dựa trên cân nặng, chiều cao của trẻ và so sánh với chuẩn tăng trưởng của
Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006, SDD được chia thành 3 thể [5]:
SDD thể nhẹ cân SDD thể thấp còi SDD thể gầy còm
theo tuổi dưới – 2SD)
Giảm mức độ tăng trưởng của cơ thể, biểu hiện của SDD mạn tính,
có thể bắt đầu sớm từ SDD bào thai do mẹ bị thiếu dinh dưỡng
Được xác định khi chiều cao thấp hơn với mức tiêu chuẩn của trẻ cùng tuổi và giới (dưới - 2SD)
Hiện tượng cơ và mỡ cơ thể bị teo đi, được coi là SDD cấp tính vì thường biểu hiện trong thời gian ngắn Được xác định khi cân nặng theo chiều cao dưới -2SD
Trang 161.1.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dựa trên 3 chỉ tiêu: cân nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T) và cân nặng/chiều cao (CN/CC) (chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO)
1.1.3.1 Cân nặng theo tuổi
- Là chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất
- Cân nặng của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng giới theo tiêu chuẩn tăng trưởng WHO
- Điểm ngưỡng là dưới -2SD được coi là SDD thể nhẹ cân
Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân rất nặng Dưới - 4SD
Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân nặng Dưới -3SD đến ≥ - 4SD
Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân vừa Dưới -2SD đến ≥ -3SD
Chỉ tiêu cân nặng theo tuổi chỉ cho biết tình trạng suy dinh dưỡng nhưng không phân biệt được suy dinh dưỡng mới xảy ra hay mạn tính Trẻ có cân nặng/ tuổi trên +2SD để xác định chính xác có thừa cân cần phải sử dụng chỉ số cân nặng theo chiều cao hoặc đo lớp mỡ dưới da
1.1.3.2 Chiều cao theo tuổi
Chiều cao của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng giới theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 (phụ lục 04: Bảng tra chiều cao theo tuổi)
Điểm ngưỡng là dưới – 2SD được coi là SDD thể thấp còi
Suy dinh dưỡng thể thấp còi nặng Dưới -3SD
Suy dinh dưỡng thể thấp còi vừa Dưới -2SD đến -3SD
Trang 17Chỉ tiêu chiều cao/tuổi thấp (dưới -2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ
1.1.3.3 Cân nặng theo chiều cao
Cân nặng của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng chiều cao, cùng giới theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 (phụ lục 04: Bảng tra cân nặng theo chiều cao)
Điểm ngưỡng dưới - 2SD được coi là SDD thể gày còm, phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân
Suy dinh dưỡng thể gày còm nặng Dưới -3SD
Suy dinh dưỡng thể gày còm vừa Dưới -2SD đến -3SD
Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao đều thấp hơn điểm ngưỡng (-2SD) thì đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừa thấp còi, vừa gầy còm [5]
1.1.4 Nguyên nhân suy dinh dưỡng ở trẻ em
Nguyên nhân trực tiếp là thiếu ăn về số lượng, chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn Nguyên nhân tiềm tàng của SDD là do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo
Thiếu ăn, hay nói rộng hơn là đói nghèo, là một trong những nguyên nhân trực tiếp của SDD Tỷ lệ đói nghèo ở khu vực miền núi cao hơn rất nhiều so với khu vực thành thị cả về đói nghèo kinh tế chung và đói nghèo lương thực thực phẩm Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 cho thấy tỷ lệ đói nghèo ở miền núi chiếm 27,5% và nghèo lương thực là 8,9%, trong khi đó khu vực thành thị tương ứng là 10,8% và 3,5% Nghiên cứu ở một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cho thấy mức thu nhập kinh tế hộ gia đình càng tăng thì tỷ lệ SDD ở trẻ em càng giảm [31],
Trang 18nghiên cứu ở trẻ em dân tộc Dao tại Thái Nguyên cũng cho kết quả tương tự [18] Đói nghèo và SDD chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa xã hội, trình độ học vấn, đặc biệt là số con trong gia đình Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Diệp và cộng
sự tại khu vực miền núi phía Bắc cho thấy trẻ em ở những gia đình mà người mẹ có
từ 3 con trở lên có nguy cơ SDD cao gấp 2,15 lần [10], nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Tuấn, Hoàng Khải Lập ở trẻ em dân tộc Tày, Nùng cũng cho kết quả tương tự [31]
Suy dinh dưỡng và nhiễm trùng luôn là vòng luẩn quẩn Nhiễm trùng làm tăng nguy cơ SDD đồng thời SDD làm giảm miễn dịch của cơ thể qua đó làm giảm khả năng chống lại vi khuẩn vì vậy làm tăng quá trình nhiễm trùng Những trẻ được nuôi dưỡng kém sẽ có nguy cơ viêm phổi cao hơn rõ rệt so với những trẻ được nuôi dưỡng tốt, nếu những trẻ đó mắc viêm phổi thì nguy cơ tử vong cũng rất cao Nghiên cứu của Kaushik tại Meerut, Ấn Độ đã đưa ra mối liên hệ giữa nhiễm khuẩn
hô hấp cấp tính (NKHHCT) và SDD của trẻ: 42,3% trẻ mắc NKHHCT trong 2 tuần trước khi điều tra chủ yếu là ho và cảm lạnh, viêm phổi chỉ có 19,5% Trong những trường hợp viêm phổi nặng và rất nặng có 57,5% trẻ thiếu protein năng lượng Trẻ SDD mắc NKHHCT nhiều hơn trẻ không SDD: 52,2% và 28,8%, (p< 0,001) [65] Khi nghiên cứu về tử vong ở trẻ SDD của các nước đang phát triển, tác giả Amy L Ricce, Lisa Sacco và cộng sự nhận thấy có mối liên quan giữa SDD và bệnh tật nhất
là bệnh tiêu chảy và NKHHCT Trẻ bị SDD khi bị tiêu chảy tình trạng bệnh sẽ nặng hơn, nguy cơ tử vong cao hơn Trẻ bị SDD khi mắc NKHHCT nguy cơ tử vong tăng gấp 2 - 3 lần [52]
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra SDD, thiếu máu ở trẻ em Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về mối liên quan giữa SDD và bệnh ký sinh trùng đường ruột Nghiên cứu của Hadju và cộng
sự ở vùng dân nghèo thành phố của Indonesia cho thấy rằng có mối liên quan giữa nhiễm ký sinh trùng đường ruột với sự phát triển chiều cao của trẻ [62] Nghiên cứu của VDD (1999-2001) cho thấy tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần có tác dụng cải thiện TTDD và thiếu máu ở trẻ em [48]
Trang 19Vấn đề về thực phẩm, sử dụng sữa mẹ, chăm sóc trẻ khi bị bệnh, tập quán nuôi dưỡng trẻ,…cũng luôn ảnh hưởng tới TTDD của trẻ Sữa mẹ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt sữa mẹ làm giảm khả năng mắc bệnh của trẻ, nhất là các bệnh NKHHCT và tiêu chảy Đối với trẻ em ở lứa tuổi
ăn bổ sung, thành phần dinh dưỡng, cách chế biến và chăm sóc trẻ có ảnh hưởng rất nhiều đến TTDD của trẻ Phạm Văn Hoan và cs (1997 - 2000) khi nghiên cứu khu vực nông thôn miền núi phía Bắc cho thấy các yếu tố: Kinh tế gia đình nghèo, thiếu
ăn, bố mẹ là người dân tộc thiểu số, tình trạng thiếu năng lượng trường diễn của mẹ, thời điểm ăn bổ sung trước 4 tháng có liên quan đến TTDD của trẻ [17]
1.1.5 Hậu quả của suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng nói chung, đặc biệt là thấp còi, để lại những hậu quả rõ rệt
và nặng nề về phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành của trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành, các bệnh mạn tính và ảnh hưởng đến thế hệ kế tiếp SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong bào thai có mối liên quan với mọi thời kỳ của vòng đời [55] Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bị suy dinh dưỡng ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn so với bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường
Những trẻ thấp còi và nhẹ cân thường sẽ trở thành những người trưởng thành có tầm vóc nhỏ bé, năng lực sản xuất kém hơn so với người bình thường Bên cạnh đó, các bệnh mạn tính như tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hoá ở người trưởng thành có thể có nguồn gốc từ suy dinh dưỡng bào thai [49],[50],[54] Vì thế, phòng chống SDD bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong chu kỳ vòng đời Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp đều bị SDD (nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong những năm tháng đầu tiên sau sinh và có nguy cơ tử vong cao hơn hẳn và rất khó có khả năng theo kịp phát triển như những trẻ sinh ra bình thường
1.1.5.1 Suy dinh dưỡng và tình trạng bệnh tật và tử vong
Hậu quả của SDD thể nặng không còn là vấn đề bàn cãi nữa, nhưng đối với thể vừa và thể nhẹ các hậu quả cũng không kém phần quan trọng Theo tài liệu của WHO, qua phân tích 11,6 triệu trường hợp tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trong năm
Trang 201995 ở các nước đang phát triển cho thấy có đến 54% (6,3 triệu) có liên quan tới SDD vừa và nhẹ, nếu gộp lại với các nguyên nhân do sởi, ỉa chảy, viêm đường hô hấp cấp và sốt rét thì lên tới 74% Những đứa trẻ bị SDD, thiếu các vi chất cần thiết như vitamin A, sắt, kẽm, có khả năng chống đỡ các bệnh nhiễm trùng kém Người
ta ước tính khoảng 50 - 60% trẻ dưới 5 tuổi tử vong do nguyên nhân tiềm ẩn là SDD [57] Trong đó, 50 - 70% gánh nặng bệnh tật của tiêu chảy, sởi, sốt rét, nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em toàn thế giới là do sự góp mặt của SDD [28]
1.1.5.2 Thiếu dinh dưỡng với phát triển hành vi và trí tuệ
Có thể thấy mối liên quan giữa thiếu dinh dưỡng và kém phát triển trí tuệ hành vi qua những cơ chế sau đây:
- Do thiếu nhiều chất dinh dưỡng cùng một lúc trong đó có các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển trí tuệ như iode, sắt
- Trẻ em thiếu dinh dưỡng thường lờ đờ chậm chạp, ít năng động, nên ít tiếp thu được qua giao tiếp của cộng đồng và người chăm sóc
- Các thực nghiệm về ăn bổ sung tỏ ra có hiệu quả đến các chỉ số phát triển trí tuệ
Với sự hiểu biết hiện nay, người ta thấy SDD sớm trong bào thai và trong những năm đầu của cuộc đời có ảnh hưởng xấu đến phát triển trí tuệ ít nhất là suốt
cả thời niên thiếu
1.2 Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới
Theo ước tính của WHO (2005) có khoảng 800 triệu người bị đói nghèo kéo dài và 150-160 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cân, 182 triệu trẻ bị còi cọc [76]
SDD tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển nhất là các nước Châu Á
và Châu Phi Theo kết quả điều tra quốc gia từ năm 1980-1992 của 72 nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD là 35,8% trong đó tỷ lệ trẻ còi cọc 42,7% và tỷ lệ trẻ gầy còm là 9,2% Châu Á có tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi cao nhất (thể nhẹ cân 42%, thể còi cọc 47,1% và 10,8% thể gầy còm) Châu Úc có các
tỷ lệ tương ứng là 29,1% ; 41,9% ; 5,6% Châu Phi có 27,4% trẻ SDD nhẹ cân,
Trang 2138,6% trẻ còi cọc và 7,2% trẻ gầy còm Mỹ La tinh có 11,9% trẻ SDD nhẹ cân, 22,2% trẻ còi cọc và 2,7% trẻ gầy còm [76]
Theo Báo cáo của Liên hiệp Quốc năm 2008 về việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và báo cáo của UNICEF năm 2006 về tiến triển tình hình dinh dưỡng trẻ em cho thấy: Trong khoảng 16 năm (1990-2006) tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân toàn thế giới giảm được 7% (từ 33% xuống còn 26%); nhưng trong khoảng 146 triệu trẻ hiện tại đang bị SDD thì tới 106 triệu (73%) sống ở 10 nước đang phát triển, trong đó Việt Nam với khoảng 2 triệu trẻ (1,9%) [71],[72],[73]
Các cuộc điều tra của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy tỷ lệ SDD có sự chênh lệch nhiều giữa vùng nông thôn và thành thị Kết quả cuộc khảo sát về tình hình kinh tế xã hội quốc gia ở Indonesia năm 2003 cho thấy tỷ lệ SDD trẻ em dưới
5 tuổi ở vùng thành thị là 25%, trong khi đó ở nông thôn là 30% [56] Tại Kenya, theo báo cáo chung năm 2003, tỷ lệ SDD ở thành thị là 13%, còn ở nông thôn là 21% [58]
1.2.2 Tình hình suy dinh dưỡng tại Việt Nam
Ở Việt Nam, vào thập kỷ 80 tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi trên 50%; năm 1995 tỷ
lệ này là 44,9%; năm 2002 còn 30,1%; mức giảm 1,5 - 2%/năm, đến năm 2009 còn 18,9%, là mức giảm nhanh so với một số nước trong khu vực Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một trong 20 nước có tỷ lệ SDD cao nhất thế giới
Bảng 1.1 Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam 1999 – 2015 [39]
Năm Thể nhẹ cân
( Tỷ lệ %)
Thể thấp còi (Tỷ lệ %)
Thể gày còm (Tỷ lệ %)
Trang 22Phân bố SDD ở Việt Nam không đồng đều, khu vực miền núi, Tây Nguyên, miền Trung tỷ lệ cao hơn hẳn so với các vùng khác, trong khi đó tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ SDD chỉ còn khoảng 15 - 18 %
Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ < 5 tuổi tại Việt Nam theo khu vực năm 2015 [40]
Tên vùng
Thể nhẹ cân (Tỷ lệ %)
Thể thấp còi (Tỷ lệ %)
Thể gày còm (Tỷ lệ %)
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 16,1 27,3 6,2
Bảng 1.2 cho thấy, tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi khu vực Tây Nguyên, Trung
du và miền núi phía Bắc cao nhất so với các khu vực khác
SDD không chỉ phân bố không đồng đều ở cấp độ quốc gia mà ngay ở từng tỉnh, từng địa phương tỷ lệ SDD cũng có sự khác biệt giữa các khu vực, giữa trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em người Kinh Nguyễn Thị Hải Anh khi phân tích tỷ lệ SDD theo 3 khu vực hành chính của tỉnh Lào Cai đã cho thấy ở khu vực 3 nơi chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao và H’Mông thì tỷ lệ SDD cao hơn ở khu vực 1 nơi người Kinh cư trú là chính Tỷ lệ SDD ở khu vực 3 rất cao: 50,0% nhẹ cân; 67,7% thấp còi; 10,8% gầy còm, trong khi đó ở khu vực 1 tỷ lệ này tương ứng là 13,7%; 14,5% và 5,9% [2]
Cùng là dân tộc thiểu số nhưng trẻ em dân tộc thiểu số sống ở miền núi cao
có tỷ lệ SDD cao hơn trẻ em dân tộc thiểu số sống ở vùng núi thấp hơn Nghiên cứu tại Bắc Kạn cho thấy, trẻ em dân tộc Dao ở trên núi cao có tỷ lệ SDD là 51,5% cao gấp 2 lần những đứa trẻ khác cùng độ tuổi người dân tộc Tày ở vùng núi thấp [8]
Đánh giá tình trạng SDD dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi, Nguyễn Ngọc Diệp và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 4.000 trẻ dưới 5 tuổi ở 40 xã thuộc 5
Trang 23tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Phú Thọ và huyện Sóc Sơn - Hà Nội Kết quả cho thấy, trẻ em người dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, H’Mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu) có nguy cơ bị SDD gấp 1,68 lần so với trẻ em người Kinh, tỷ lệ SDD trẻ em dân tộc thiểu số chiếm 39,6% trong khi đó tỷ lệ này ở trẻ em người Kinh là 28,1% [10]
Năm 2003, Nguyễn Minh Tuấn và Hoàng Khải Lập đã tiến hành nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và các yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số tại Phú Lương - Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi dân tộc Tày là 41,9%, cao hơn rất nhiều so với trẻ em người Kinh cùng khu vực (29,5%)
Tỷ lệ SDD chung ở đây là 39,1%, SDD thể thấp còi là 45,3%, SDD thể gầy còm là 9,4% [31]
Các kết quả nghiên cứu trên đã cho thấy tỷ lệ SDD trẻ em các dân tộc thiểu
số còn ở mức rất cao, cao hơn so với trẻ em người Kinh, qua đó khẳng định ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của SDD trẻ em các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi
1.2.3 Tình hình suy dinh dưỡng tại tỉnh Điện Biên
Điện Biên là tỉnh miền núi, vùng biên giới, nằm ở phía Tây Bắc Điện Biên gồm có 10 huyện, thị xã, thành phố, trong đó có 8 huyện miền núi, tổng diện tích là 9.562,9 km2 với dân số là 547.462 người Đa phần người dân là dân tộc thiểu số (Thái, H’Mông) và sống bằng nghề nông nghiệp là chủ yếu Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh chiếm 28,1 % năm 2015 [20]
Bảng 1.3 Tình hình SDD chung qua các năm của tỉnh Điện Biên [39] Thể SDD
Trang 241.3 Nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Thực hành nuôi dưỡng trẻ được hình thành trong quá trình nuôi con của bà
mẹ và được các bà mẹ trao đổi, học tập lẫn nhau, truyền lại cho thế hệ sau Nuôi dưỡng trẻ em được bắt đầu ngay khi trẻ còn trong bụng mẹ bằng việc chăm sóc thai nghén và khi trẻ ra đời, quá trình nuôi dưỡng trẻ sẽ được tiếp tục từ việc nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn bổ sung, chăm sóc vệ sinh và chăm sóc khi trẻ ốm…
1.3.1 Nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con bằng sữa mẹ: là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ trực tiếp bú sữa mẹ hoặc gián tiếp uống sữa mẹ được vắt ra [75]
Bú mẹ hoàn toàn: là cách thực hành trong đó trẻ chỉ được ăn sữa mẹ qua bú trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua vắt sữa mẹ hoặc bú trực tiếp từ người mẹ khác, ngoài ra không được nuôi bằng bất cứ loại thức ăn đồ uống nào khác Các thứ khác ngoại lệ được chấp nhận là các giọt dạng dung dịch có chứa vitamin, khoáng chất hoặc thuốc [75]
Sữa mẹ bao gồm tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho 6 tháng đầu đời của trẻ, bao gồm chất béo, carbohydrate, protein, vitamin, khoáng chất và nước Đặc biệt là sữa non, được tiết ra trong khoảng 2-3 ngày đầu sau sinh, chứa nhiều kháng thể, tế bào, bạch cầu, protein, khoáng chất, và các vitamin hòa tan trong chất béo (A, E và K), rất cần thiết đối với trẻ Nó giúp trẻ sơ sinh phòng chống các bệnh nhiếm khuẩn nguy hiểm đối với trẻ và cung cấp khả năng miễn dịch đầu đời cho trẻ chống lại nhiều bệnh tật mà trẻ có thể mắc sau đẻ Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đưa lại nhiều lợi ích cho trẻ và bà mẹ Trong đó quan trọng nhất
là giúp trẻ chống lại nhiễm khuẩn đường tiêu hóa Theo những tiêu chuẩn tăng trưởng của WHO, những đứa trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời tăng trưởng nhanh hơn những đứa trẻ khác Vì thế, theo khuyến cáo của WHO sau khi sinh, đứa trẻ cần được cho bú mẹ càng sớm càng tốt, tốt nhất là ngay trong nửa giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Trong 6 tháng đầu đời của trẻ, không một loại sữa công thức nào có thể tốt bằng và thay thế được sữa mẹ Sữa công thức được chế biến từ nhiều sản phẩm khác nhau: sữa động vật, đậu nành và
Trang 25dầu thực vật Mặc dù các loại sữa công thức đã được chế biến để cho giống sữa mẹ, nhưng vẫn không thể hoàn toàn bằng sữa mẹ Sữa động vật có nhiều protein hơn sữa mẹ, nhưng chất lượng thì không bằng và có hầu hết các casein làm cho trẻ khó tiêu hóa Sữa mẹ có chứa nhiều các acid béo cần thiết, giúp cho quá trình hoàn thiện não bộ, mắt và làm bền mạch máu Nhưng trong sữa động vật không có các acid này Tuy nhiên, chúng có thể được bổ sung cho sữa công thức [45],[74]
Trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn ít bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm đường hô hấp cấp tính… Mặt khác, việc áp dụng nuôi con bằng sữa mẹ còn làm cho trẻ dễ tiếp nhận các chăm sóc khác, tạo điều kiện cho việc chăm sóc trẻ được tốt hơn và ít có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính sau này [63]
Các bằng chứng rõ ràng tiếp tục chứng minh rằng sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ nhỏ và có liên quan với việc giảm tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ nhỏ [51] Nghiên cứu tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam ở trẻ 6-
18 tháng tuổi, năm 2010 cho thấy bú mẹ không hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 1 những yếu tố liên quan đến tình trạng SDD của trẻ [67]
Trẻ sau khi sinh cần được bú mẹ càng sớm càng tốt và tốt nhất trong nửa giờ đầu sau khi trẻ được sinh ra Cho trẻ bú nhiều lần, bất cứ lúc nào khi trẻ đói, kể cả ban đêm, trẻ bú càng nhiều mẹ càng tiết nhiều sữa Trong vòng 6 tháng đầu sau đẻ, trẻ cần được bú sữa mẹ hoàn toàn, không ăn thêm loại thức ăn nào khác kể cả nước uống Khi cho trẻ ăn bổ sung vẫn tiếp tục cho trẻ bú, bú thường xuyên và lâu hơn nữa Không cai sữa cho trẻ trước 24 tháng, nuôi con bằng sữa mẹ trong vòng 2 năm đầu hoặc lâu hơn giúp trẻ phát triển tốt và khỏe mạnh [37],[46]
Trong giai đoạn trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi, sữa mẹ có thể cung cấp một hoặc hơn nửa nhu cầu năng lượng của trẻ Với giai đoạn trẻ từ 12 đến 24 tháng sữa mẹ có thể cung cấp một phần ba nhu cầu năng lượng của trẻ cùng với các dinh dưỡng có chất lượng cao hơn thức ăn bổ sung Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng năng lượng chính khi trẻ ốm Vì vậy cần cho trẻ bú kéo dài đến khi trẻ được 24 tháng hoặc lâu hơn [74]
Trang 26Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ Việt Nam được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ còn rất thấp Tính chung cho toàn quốc về bú sữa mẹ hoàn toàn đến 4 tháng tuổi chỉ đạt 18,9%, sau đó giảm nhanh đến khi được 6 tháng tuổi chỉ còn 12,2% [47] Những năm gần đây, dưới tác động của tăng trưởng kinh tế, người mẹ, đặc biệt là người mẹ
ở khu vực đô thị đang có xu hướng cho trẻ ăn sữa công thức thay vì nuôi con bằng sữa mẹ Tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng tuổi được nuôi bằng sữa công thức tăng lên đáng kể
từ 2,2% năm 2000 lên 26,5% năm 2005 [47] Trái ngược với khu vực đô thị, đối với khu vực miền núi, vùng dân tộc thiểu số, sữa mẹ vẫn là nguồn thức ăn chủ yếu của trẻ em dưới 24 tháng tuổi Thời gian cai sữa trung bình của trẻ em một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo nghiên cứu của Đặng Oanh là 20,1 ± 6,1 tháng [29]
1.3.2 Cho trẻ ăn bổ sung
Ăn bổ sung (ABS) được gọi là “ăn dặm”, “ăn sam”, là quá trình nuôi trẻ, tập cho trẻ thích ứng với sự chuyển đổi từ chế độ ăn hoàn toàn bằng sữa mẹ sang chế độ
ăn sử dụng thêm các thực phẩm sẵn có trong bữa ăn gia đình ABS nghĩa là cho ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ Các thức ăn đó gọi là thức ăn bổ sung Thời kỳ bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung đến khi cai sữa là thời kỳ đe dọa nhất đối với TTDD của trẻ nếu cho trẻ ABS quá sớm hoặc quá muộn, hoặc bữa ăn bổ sung của trẻ không đủ
về số lượng và không đảm bảo chất lượng Cho trẻ ABS sớm không có lợi cho sức khỏe của trẻ vì trước 6 tháng tuổi trẻ chưa cần đến thức ăn ngoài sữa mẹ, cho trẻ ăn thưc ăn khác sẽ khiến trẻ bú ít đi , sữa được sản sinh ra ít hơn và trẻ mất đi nguồn dinh dưỡng quý giá từ sữa mẹ Ăn sớm còn làm tăng nguy cơ trẻ mắc bệnh do thiếu các yếu tố miễn dịch trong sữa mẹ hoặc bị tiêu chảy do thức ăn bổ sung không sạch
và dễ tiêu hóa như sữa mẹ Cho ăn quá muộn thì sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu
về số lượng và chất lượng cho cơ thể trẻ ngày càng lớn lên Theo khuyến cáo của WHO, khi trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên (sau 180 ngày) ngoài bú mẹ trẻ cần phải ABS [64],[74],[77]
Cho trẻ ABS đúng về thời gian sẽ giúp cho trẻ thích ứng dần với các thức ăn mới, các thực phẩm khác nhau, đồng thời giúp bộ máy tiêu hóa của trẻ hoàn thiện dần từ chế độ ăn lỏng đến đặc và cứng
Trang 27Thức ăn bổ sung nên cung cấp đầy đủ năng lượng, protein và các yếu tố vi lượng để bù đắp sự thiếu hụt về năng lượng và dinh dưỡng của trẻ, và cùng với sữa
mẹ nó đáp ứng tất cả nhu cầu của trẻ Thành phần cơ bản của thức ăn bổ sung thường là các sản phẩm ngũ cốc địa phương Những sản phẩm này chủ yếu cung cấp nhu cầu năng lượng cho trẻ Vì vậy để cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cần bổ sung thêm các loại thực phẩm khác Các thức ăn từ thịt và cá là nguồn thực phẩm tốt cho việc cung cấp protein, sắt và kẽm Gan cung cấp nhiều vitamin A và acid folic Lòng đỏ trứng cung cấp nhiều protein và vitamin A Các loại đậu đỗ có nhiều protein và một số sắt Các loại rau xanh, hoa quả, đặc biệt là cam quýt, cung cấp nhiều vitamin C Các loại rau, quả có màu da cam như cà rốt, bí ngô, xoài, đu đủ rất giàu vitamin A và cả vitamin C Dầu, mỡ cũng là thực phẩm rất thiết yếu cung cấp năng lượng và chất béo cho nhu cầu phát triển của trẻ [74]
Người ta chia các loại thực phẩm ăn bổ sung thành 4 nhóm chính và biểu thị theo ô vuông thức ăn, trung tâm của ô vuông thức ăn này là sữa mẹ
Trong ô vuông thức ăn nói trên, mỗi ô có một giá trị dinh dưỡng riêng, bữa
ăn bổ sung hợp lý cho trẻ phải là bữa ăn có sự kết hợp đầy đủ giữa 4 nhóm [26]
“Tô màu bát bột” là thông điệp ngắn gọn đối với bà mẹ và người nuôi dưỡng trẻ để chỉ sự cần thiết phải chế biến thức ăn bổ sung cho trẻ với nhiều loại thực phẩm, đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ
Trang 28Số lượng thức ăn (*) Tuổi Loại thức ăn Số bữa/ngày Số lượng mỗi bữa
- Khi bắt đầu tập
ăn 2- 3 thìa 10ml
- Tăng dần lên ½ bát 250 ml
1.3.3 Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bệnh
Từ lâu người ta đã thừa nhận các bệnh nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD trẻ em Chăm sóc dinh dưỡng khi trẻ bị bệnh có vai trò quan trọng để phòng chống SDD trẻ em Khi trẻ ốm có thể trẻ sẽ ăn ít đi vì một số lý do như: Trẻ không có cảm giác đói, trẻ bị nôn hoặc bị đau Khi đó nên khuyến khích, động viên trẻ bú và ăn kể cả khi trẻ không muốn ăn, tăng số lần cho trẻ bú, thường xuyên cho trẻ ăn nhiều bữa và chia nhỏ bữa ăn (có thể 2 giờ cho ăn 1 lần), cho trẻ ăn thức ăn mềm đặc biệt là khi miệng hoặc họng trẻ bị đau, khi trẻ bị tiêu chảy hay sốt cho trẻ uống thêm nước [46]
Trong giai đoạn phục hồi, sự ngon miệng của trẻ thường tăng lên Chính vì vậy đây là giai đoạn tốt để cho trẻ ăn thêm thức ăn bổ sung để cho trọng lượng của trẻ bị mất đi khi ốm sẽ mau chóng được bù lại Vì thế cần tiếp tục cho trẻ bú thường
Trang 29xuyên, cho trẻ ăn thức ăn bổ sung nhiều hơn, khuyến khích trẻ ăn càng nhiều càng tốt trong từng bữa ăn và tiếp tục cho trẻ ABS thêm cho tới khi trẻ hồi phục cân nặng
● Tiếp tục cho trẻ bú mẹ và cho trẻ bú
thường xuyên hơn
- Đối với trẻ ≥ 6 tháng
● Tiếp tục cho trẻ bú mẹ và cho trẻ bú
thường xuyên hơn;
● Khuyến khích và kiên trì cho trẻ ăn,
uống;
● Cho trẻ ăn bổ sung nhiều bữa hơn và
mỗi bữa một ít;
● Cho ăn thức ăn trẻ thích;
●Đa dạng bữa ăn và thức ăn giàu dinh
dưỡng
- Tăng cường cho bú mẹ
- Tăng thêm bữa
- Tăng số lượng mỗi bữa
- Tăng thêm thức ăn giàu năng lượng
- Tăng sự kiên trì và dành tình cảm yêu thương cho trẻ nhiều hơn
(*) Nguồn Bộ Y Tế [5]
1.4 Nghiên cứu hiệu quả của giáo dục truyền thông
1.4.1 Nghiên cứu về hiệu quả truyền thông tích cực trên thế giới
Các nghiên cứu thay đổi hành vi được triển khai ở trong khu vực và trên thế giới cho thấy truyền thông tích cực có hiệu qủa thay đổi kiến thức cũng như thực hành sức khỏe và dinh dưỡng của bà mẹ [57],[59],[66] Nhiều nghiên cứu của Suttilak S [68],[69] đã được thực hiện vào những năm 1988-1991 tại Thái Lan Phương pháp truyền thông có sự tham gia của cộng đồng là tiếp thị xã hội với các sản phẩm giàu vitanin A sẵn có tại địa phương Kết quả cho thấy có sự thay đổi có ý nghĩa về KAP, thực hành tiêu thụ các sản phẩm giàu vitamin A, sử dụng dầu thực vật để chế biến thực phẩm cũng như tình trạng thiếu vitamin A giữa hai nhóm can
Trang 30thiệp và không can thiệp của bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi Một nghiên cứu từ
1995-1997 cho thấy sự thay đổi rõ rệt KAP về lựa chọn sử dụng các loại thực phẩm giàu vitamin A, vitamin C và Sắt, đã cải thiện tình trạng thiếu máu dinh dưỡng cũng như thiếu Vitamin A ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ em dưới 5 tuổi Tuy nhiên, hầu như chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả giáo dục truyền thông lên tăng trưởng chiều cao cân nặng và hạ thấp tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 24 tháng tuổi
1.4.2 Những nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục truyền thông ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có nhiều cuộc điều tra kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về dinh dưỡng và bảo vệ thực phẩm Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả thực trạng chứ ít đi sâu vào nghiên cứu can thiệp để thay đổi hành vi của bà mẹ để chủ động phòng chống SDD ở trẻ em
Một số nghiên cứu can thiệp giáo dục truyền thông cũng đã được tiến hành nhưng được thực hiện trên các đối tượng khác nhau với các mục tiêu khác nhau như: Phạm Hoàng Hưng (2011) can thiệp bằng giáo dục truyền thông tích cực cải thiện bữa ăn để phòng chống thiếu máu trên cả bà mẹ và trẻ em [21], Lê Anh Tuấn (2004) đã tiến hành một nghiên cứu can thiệp truyền thông trực tiếp để cải thiện kiến thức, thực hành chăm sóc sức khỏe trẻ em dưới 5 tuổi tại 3 tỉnh Lâm Đồng, Vĩnh Long, Trà Vinh (8/1999- 12/2001) Phương pháp can thiệp truyền thông trong các nghiên cứu này là điều hành cuộc thảo luận nhóm Kết quả đánh giá sau can thiệp cho thấy đã có cải thiện ý nghĩa về thực hành chăm sóc của bà mẹ có con dưới
5 tuổi [32]
Năm 2009, tổ chức Alive & Thrive là một dự án do quỹ Bill & Melinda tài trợ nhằm góp phần giảm tỷ lệ SDD và tử vong của trẻ em thông qua cải thiện thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ, kết hợp Bộ Y tế, Viện Dinh dưỡng quốc gia, Hội liên hiệp Phụ nữ và chính quyền 11 tỉnh tiến hành điều tra đánh giá kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ Kết quả điều tra cho thấy 50,5% bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Chỉ có 20,2% bà mẹ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu, thay vì cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, các bà mẹ lại cho trẻ uống nước, sữa bột và ăn bổ sung trong giai đoạn này Tỷ lệ tiếp tục NCBSM đến 1 năm tuổi
Trang 31khá cao 79,5% nhưng tỷ lệ tiếp tục NCBSM đến 2 tuổi đã giảm xuống chỉ còn 18,2% Chăm sóc khi sinh có ảnh hướng đến thực hành NCBSM của bà mẹ Cho trẻ
ăn các thức ăn khác ngoài sữa mẹ trong 3 ngày đầu sau sinh khá phổ biến (75,2%), ngoài ra, nhiều bà mẹ cai sữa cho trẻ trước 2 tuổi, với các lý do chính là: cảm thấy không đủ sữa, phải đi làm, trẻ bỏ bú, và cảm thấy trẻ đủ lớn để cai sữa Tỷ lệ sử dụng sữa bột tăng lên theo tuổi của trẻ: 17% ở trẻ dưới 1 tháng tuổi, 23-25% ở trẻ từ
bú mẹ được ăn đủ bữa ăn chính và phụ mỗi ngày, thì còn nhiều trẻ không được ăn
đủ, đặc biệt là ở trẻ không còn bú mẹ Hơn nữa, khá ít bà mẹ tuân theo các khuyến nghị về nuôi dưỡng trẻ ốm, điều trị tiêu chảy, tẩy giun và bổ sung vi chất dinh dưỡng [45]
Tỷ lệ thực hành của bà mẹ cho con bú mẹ hoàn toàn thay đổi theo các tỉnh khác nhau, Khánh Hòa (0,6%), Đà Nẵng (3,5%), Cà Mau (6,5%) và Tiền Giang (11,6%) Với tỷ lệ 36,9%, Quảng Nam có tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn cao nhất Tỷ lệ đạt khẩu phần đa dạng cao nhất ở Đà nẵng (91%), các tỉnh có tỷ lệ thấp hơn nhiều so với trung bình là Đăklăk (71,1%), Cà Mau (73,7%), Đăk Nông (76,3%) [1] Nhưng
có thể nói, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào chỉ sử dụng can thiệp bằng giáo dục
truyền thông tích cực dài hạn cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi để gián tiếp cải thiện
tăng trưởng chiều cao, cân nặng và hạ thấp tỷ lệ SDD nói chung và SDD thấp còi nói riêng
1.5 Truyền thông giáo dục dinh dưỡng
TTGDSK giống như giáo dục chung, là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay
Trang 32đổi thái độ và thực hành hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho các
cá nhân, gia đình và cộng đồng [38]
TTGDSK tác động vào ba lĩnh vực: kiến thức của đối tượng về vấn đề sức khỏe; thái độ của đối tượng về vấn đề sức khỏe; và thực hành hay cách ứng xử của đối tượng để giải quyết vấn đề sức khỏe, nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe [38]
Vai trò của TTGDSK được WHO rất coi trọng và được đặc biệt nhấn mạnh tại hội nghị Alma Ata về chăm sóc sức khỏe ban đầu TTGDSK ngày càng được xem là một nhân tố quan trọng trong nỗ lực nâng cao sức khỏe cá nhân và cộng đồng Đầu tư cho TTGDSK thể hiện quan điểm dự phòng trong chăm sóc sức khỏe, mang lại hiệu quả bền vững [38]
Tại Việt Nam, mạng lưới TTGDSK được thiết lập ở tất cả các tuyến, từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã và thôn và đã có những đóng góp quan trọng cho thành quả chung của ngành y tế, đặc biệt cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu [38]
Dinh dưỡng trẻ em là một trong những nội dung trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe ban đầu, vì vậy TTGDDD là một phần trong công tác TTGDSK TTGDDD là biện pháp can thiệp nhằm thay đổi những tập quán thói quen và các hành vi liên quan đến dinh dưỡng, nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Nhóm đối tượng ưu tiên số 1 của hoạt động TTGDDD là các bà
mẹ có thai, bà mẹ nuôi con nhỏ Các hình thức TTGDDD trực tiếp bao gồm: Tư vấn dinh dưỡng, thăm hộ gia đình đối tượng, thảo luận nhóm, hình thức truyền thông gián tiếp bao gồm đài phát thanh, truyền hình, áp phích, khẩu hiệu, tranh ảnh, tờ rơi… Ngoài ra, có thể bao gồm các hình thức khác như mở các lớp dạy cách nuôi dưỡng trẻ, hội nghị, câu lạc bộ…Nội dung TTGDDD rất phong phú, đa dạng, thường tập trung vào các chủ đề sau: CSTN, NCBSM, ABS của trẻ, phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC để tạo thêm nguồn thực phẩm cải thiện bữa ăn gia đình, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, “ 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý”, phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn cho trẻ…[37]
TTGDDD là một hoạt động quan trọng và then chốt để thực hiện chiến lược quốc gia về dinh dưỡng Trong “Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống suy
Trang 33dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam 1998 – 2008”, TTGDDD là một trong mười hoạt động chính của dự án phòng chống SDD với các hoạt động: Giáo dục truyền thông dinh dưỡng trên các phương tiện thông tin đại chúng; giáo dục truyền thông tại cộng đồng; tổ chức các lớp giáo dục truyền thông kết hợp với thực hành dinh dưỡng [38]
Trong chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 thì “Truyền thông vận động và thông tin truyền thông giáo dục dinh dưỡng” là 1 trong 5 giải pháp để thực hiện các mục tiêu của chiến lược quốc gia này [43]
1.6 Học thuyết điều dưỡng áp dụng trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tôi áp dụng học thuyết về học tập xã hội của Albert Bandura
Học thuyết này giải thích cách mọi người nghĩ và những yếu tố xác định hành vi của họ Nó là một loại của các học thuyết mà là dựa trên niềm tin rằng hành
vi của con người được quyết định bởi một mối quan hệ hai chiều giữa yếu tố nhận thức, ảnh hưởng môi trường, và hành vi học tập Đó là một sự tương tác qua lại giữa các yếu tố Lý thuyết học tập xã hội kết hợp với lý thuyết hành vi và nhận thức của người học sẽ cung cấp một mô hình toàn diện Từ đó có thể giải thích được phạm vi rộng hơn các kinh nghiệm xảy ra trong thực tiễn
Hình 1.1 Mô hình Học thuyết về học tập xã hội của Albert Bandura ứng dụng
vào nghiên cứu [53]
Yếu tố cá nhân
- Nhận thức về chế độ dinh dưỡng
- Niềm tin vào hiệu quả của việc
chăm sóc
- Niềm tin vào bản thân
Yếu tố môi trường
Trang 34Trong nghiên cứu tôi chọn yếu tố nhận thức của các bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng để can thiệp giáo dục trên cơ sở:
- Theo Albert Bandura: Nhận thức có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc điều chỉnh hành vi Quá trình nhận thức tác động mạnh, quyết định đến hành vi của con người thông qua bốn bước:
1 Chú ý: Giai đoạn cá nhân chú ý và nhận ra hành vi trong môi trường
2 Lư trữ trong trí nhớ: Giai đoạn cá nhân lưu giữ thông tin về hành vi trong trí nhớ
3 Thực hiện: Giai đoạn cá nhân lập lại hành vi qua hành động
4 Động cơ: Giai đoạn cá nhân thu nhận kết quả từ hành vi đã thực hiện hoặc hình dung đang thực hiện trong đó có kết quả tốt hoặc xấu, từ đó sẽ thúc đẩy tiếp tục hoặc ngăn trở thực hiện hành vi
Từ mô hình học thuyết trên tôi ứng dụng vào nghiên cứu của tôi với mục đích thay đổi nhận thức – thay đổi hành vi nuôi con chưa hợp lý của các bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng về chế độ dinh dưỡng cho trẻ Đây là một mô hình đơn giản,
có tính khả thi cao và có hiệu quả để giúp cho việc giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng để trẻ có được sự phát triển toàn diện hơn
1.7 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
Điện Biên là tỉnh miền núi, vùng biên giới, nằm ở phía Tây Bắc, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, phía Tây giáp các tỉnh Phong-sa-ly, Luông-phra-băng của nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; có đường biên giới dài 400,8 km Điện Biên gồm có 10 huyện, thị xã, thành phố, trong đó có 8 huyện miền núi, tổng diện tích là 9.562,9 km2 với dân số là 547.462 người, mật độ 57 người/ km2 gồm19 dân tộc sinh sống, chủ yếu là dân tộc Thái, HʼMông và Kinh; trong đó dân tộc Thái chiếm đa số (40%) và sống bằng nghề nông nghiệp là chủ yếu Tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu, trình độ dân trí không đồng đều, thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp chỉ đạt 20,75 triệu đồng/người/năm (GDP bình quân đầu người của cả nước đạt 2.028 USD/người/năm) Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh chiếm 28,1% năm 2015 [20] Tỷ lệ suy dinh dưỡng của tỉnh còn cao, theo báo
Trang 35cáo của Viện Dinh dưỡng và Cục thống kê năm 2016, tỷ lệ suy dinh dưỡng của tỉnh Điện Biên còn khá cao Thể nhẹ cân là 18,8%; thể thấp còi 31,9% và thể gầy còm là 7,7% [40]
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên là bệnh viện đa khoa hạng I, tuyến cuối cùng của tỉnh Điện Biên, với quy mô giường bệnh hiện nay là 550 giường Gồm có
30 khoa, phòng và 01 Trung tâm trực thuộc Bệnh viện có 449 cán bộ, viên chức, có
cơ sở và trang thiết bị chẩn đoán, điều trị hiện đại với đội ngũ cán bộ y tế chuyên sâu, là cơ sở đào tạo thực hành cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Điện Biên, thường xuyên có trên 600 người bệnh điều trị nội trú và 320 - 350 lượt khám bệnh/ ngày trong đó có 100 – 120 người bệnh phải nhập viện điều trị [4]
Khoa Nhi là 1 khoa trực thuộc bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, có nhiệm
vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em từ sơ sinh đến 16 tuổi Khoa gồm có 27 cán bộ, trong đó có 7 bác sỹ và 20 điều dưỡng viên Khoa có số giường điều trị nội trú là 68 giường bệnh Người bệnh nội trú hàng ngày trung bình từ 65 - 70 người bệnh Từ tháng 01 – 5/2017 Khoa Nhi tiếp nhận 1923 người bệnh vào điều trị nội trú, trung bình mỗi tháng có 385 người bệnh
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chẩn đoán xác định bị suy dinh dưỡng một trong các thể (nhẹ cân, thấp còi, gày còm) theo chuẩn tăng trưởng của WHO năm 2006 [5] và đang nằm điều trị tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên từ 03/2/2017 – 04/5/2017
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Bà mẹ có con nằm viện ít nhất 7 ngày và con không mắc bệnh nặng kèm theo (không nằm trong buồng Hồi sức cấp cứu)
+ Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Bà mẹ có khả năng tham gia trả lời phỏng vấn
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Bà mẹ câm, điếc, rối loạn tâm thần, lú lẫn
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 10/2016 đến 30/6/2017
- Thời gian lấy số liệu: Từ 03/02/2017 đến 04/5/2017
- Địa điểm: Khoa Nhi – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, phường Noong Bua – thành phố Điện Biên – tỉnh Điện Biên
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Can thiệp một nhóm có so sánh trước và sau can thiệp
Hình 2.1 Sơ đồ qui trình nghiên cứu
Can thiệp giáo dục
Đánh giá (ngay sau can thiệp)
Đánh giá (sau can thiệp 1 tuần)
So sánh, bàn luận và kết luận
Trang 372.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
- n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có
- : Mức ý nghĩa thống kê, là xác suất của việc phạm phải sai lầm loại I( = 0,05) tương ứng với độ tin cậy 95%
- β: Xác suất của việc phạm phải sai lầm loại II (β = 0,1)
→ Z2(α,β) = 10,52
- p1: Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về chế độ dinh dưỡng cho trẻ trước can thiệp Thực hiện nghiên cứu này chúng tôi chọn mẫu dựa vào nghiên cứu thử Trong nghiên cứu thử chúng tôi đã phỏng vấn 30 bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng nằm điều trị tại Khoa Nhi váo tháng 01 năm 2017 (30 bà mẹ này không nằm trong mẫu nghiên cứu chính thức) Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ các bà mẹ nhận thức đúng về chế độ dinh dưỡng cho trẻ là 0,3 (p1 = 0,3)
- p2: Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về chế độ dinh dưỡng cho trẻ sau can thiệp
Do chưa có nghiên cứu nào xác định rõ tỷ lệ bà mẹ có nhận thức đúng về chế
độ dinh dưỡng cho trẻ sau can thiệp, đề tài kỳ vọng sau can thiệp có khoảng 90% số
bà mẹ có nhận thức về chế độ dinh dưỡng đúng tức là cho p2 = 0,9
Thay số vào công thức ta có:
Trang 38Thực tế trong 3 tháng tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên có tổng
114 bà mẹ có đủ tiêu chuẩn lựa chọn được mời vào tham gia nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Cách thức chọn mẫu:
Sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện: Chọn tất cả bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chẩn đoán xác định bị suy dinh dưỡng nằm điều trị tại Khoa Nhi – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên thỏa mãn những tiêu chí chọn mẫu và mời tham gia vào nghiên cứu Việc tiến hành phỏng vấn được diễn ra trong vòng 3 tháng, lấy mẫu toàn bộ trong thời gian từ 03/02/2017 đến 04/5/2017
2.5 Bộ công cụ nghiên cứu
2.5.1 Bộ công cụ thu thập số liệu
- Công cụ thu thập số liệu trước và sau khi tiến hành can thiệp là bộ công cụ được thiết kế theo mục tiêu và dựa trên tài liệu tư vấn nuôi dưỡng trẻ nhỏ tại cơ sở
y tế của Bộ Y Tế năm 2015 gồm 70 câu chia làm 5 phần:
+ Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (13 câu)
+ Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ (15 câu)
+ Kiến thức về chế độ ăn bổ sung cho trẻ (30 câu)
+ Kiến thức dinh dưỡng khi trẻ biếng ăn và bị bệnh (9 câu)
+ Tiếp cận thông tin và các dịch vụ y tế (3 câu)
Để kiểm định tính giá trị của bộ công cụ, tác giả đã xin ý kiến của 5 chuyên gia trong lĩnh vực chuyên Khoa Nhi có thâm niên công tác trên 5 năm, bao gồm (02 thạc sỹ bác sỹ Nhi, 02 bác sỹ Nhi và 1 cử nhân điều dưỡng), sau đó tính ra hệ số CVI và chỉ số CVI = 0,94
- Tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá:
Nhận thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ được đánh giá bằng phần B, C, D của bộ công cụ gồm 54 câu
- Phương pháp cho điểm đánh giá nhận thức
Nhận thức của bà mẹ được đo lường bằng điểm và mức độ
Trang 39Nghiên cứu sử dụng phương pháp gán điểm để đánh giá nhận thức của đối tượng nghiên cứu Bộ công cụ đánh giá kiến thức gồm 54 câu hỏi Mỗi một câu trả lời đúng đối tượng được 01 điểm, trả lời sai, câu bỏ qua hoặc không biết sẽ không
có điểm Tổng điểm cao nhất là 54 điểm Tỉ số điểm được xác định bằng cách chia
số điểm đối tượng đạt được cho 54 Tỷ lệ bà mẹ trả lời đúng các câu hỏi và xếp loại thành 4 nhóm để đánh giá điểm và mức độ nhận thức của bà mẹ trước và sau can thiệp, dựa vào thang điểm sau:
- Thử nghiệm trước bộ công cụ thu thập số liệu
Thử nghiệm bộ công cụ thu thập số liệu được thực hiện trong 4 tuần trước khi bắt đầu thu thập số liệu Tiến hành điều tra thử 30 đối tượng phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn (30 đối tượng này không nằm trong 114 đối tượng nghiên cứu được điều tra sau) Để xác định độ tin cậy của bộ công cụ thu thập số liệu, nhà nghiên cứu đã nhập số liệu vào phần mềm SPSS 16.0 và phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha và kết quả Cronbach’s Alpha của bộ công cụ là 0.942
- Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối tượng thông qua bộ công cụ (phụ lục 02)
2.5.2 Bộ công cụ can thiệp
- Các nội dung can thiệp gồm 3 nội dung chính và được xây dựng dựa trên tài liệu “Nuôi dưỡng trẻ nhỏ” của Bộ Y Tế năm 2015 (phụ lục 03)
+ Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ: Lợi ích của NCBSM, đặc điểm diễn biến của sữa mẹ, các khuyến nghị NCBSM
+ Kiến thức về chế độ ăn bổ sung cho trẻ: Khái niệm, thời điểm, nguyên tắc cho trẻ ăn bổ sung, chế độ ăn bổ sung
Trang 40+ Kiến thức dinh dưỡng khi trẻ biếng ăn và bị bệnh
- Hình thức can thiệp: Sử dụng phương pháp truyền thông trực tiếp
- Tiến hành truyền thông giáo dục
+ Truyền thông giáo dục theo nhóm: Những bà mẹ thuộc đối tượng nghiên cứu có con vào viện cùng 1 ngày sẽ lập thành một nhóm
+ Buổi truyền thông được thực hiện bởi nghiên cứu viên với một nhóm các bà
mẹ vào 16h – 16h45 phút các ngày trong tuần từ thứ 2 đến chủ nhật tại phòng giao ban của Khoa Nhi
+ Phương pháp truyền thông: Thuyết trình, thảo luận nhóm
+ Phương tiện truyền thông: Tờ rơi, tranh lật gồm các nội dung về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Các tờ rơi này được lấy mẫu từ Viện Dinh dưỡng Quốc gia và của Bộ Y Tế
2.6 Quy trình thu thập số liệu
Sau khi được sự đồng ý của Hội đồng đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và Ban Giám đốc bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, nhà nghiên cứu đã gặp Trưởng Khoa Nhi để giải thích mục đích cũng như quy trình thực hiện nghiên cứu và đề xuất những nội dung cần thiết Tiếp theo nhà nghiên tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu trên những bà mẹ tự nguyện đồng ý tham gia theo các bước sau:
Bước1: Đánh giá thực trạng nhận thức của các bà mẹ trước can thiệp (T1)
Sử dụng bộ công cụ ở phụ lục 02 với phương pháp phỏng vấn trực tiếp từng
cá nhân, phỏng vấn các bà mẹ mới cho con vào viện để xác định những điểm nhận thức còn thiếu và yếu của các bà mẹ
Bước 2: Tiến hành truyền thông kiến thức
Sử dụng bộ công cụ can thiệp ở phụ lục 03 đã được thiết kế sẵn để truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ đã được phỏng vấn trước đó vào 16h00 – 16h45 phút các ngày trong tuần từ thứ 2 đến chủ nhật tại phòng giao ban của Khoa Nhi
Bước 3: Tiến hành đánh giá ngay sau khi thực hiện can thiệp (T2)
Tiến hành đánh giá ngay sau khi thực hiện truyền thông kiến thức với cùng
bộ công cụ ở bước 1