Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Năng cho thấy mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của bà mẹ với tình trạng SDD của con: Những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con bị SD
Trang 1TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng nhận thức và đánh
giá sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng tuổi sau can thiệp giáo dục tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2017 Nghiên cứu được thực hiện trên 107 bà mẹ có con lần đầu dưới 24 tháng tuổi ở 3 xã thuộc huyện Thạch Hà với nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau chúng tôi thu được kết quả như sau: Đa phần bà mẹ có nhận thức đúng về thời gian NCBSM hoàn toàn chiếm tỷ lệ 53,3%.Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng, đầy đủ khái niệm về NCBSM hoàn toàn chỉ có 41,1% Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về khái niệm ăn bổ sung chiếm rất cao (95,3%) Có 86% bà mẹ hiểu đúng về thời gian cho ăn bổ sung cho con Tỷ lệ bà
mẹ biết đầy đủ 4 nguồn thức ăn chất bột, chất đạm chiếm khá cao lần lượt là chiếm 58,9%, 60,7% Có sự khác biệt về nhận thức đầy đủ 6 lợi ích NCBSM trước giáo dục dinh dưỡng và ngay sau giáo dục dinh dưỡng Tỷ lệ bà mẹ có nhận thức đúng về thời gian NCBSM hoàn toàn trước giáo dục dinh dưỡng là 53,3%, đánh giá ngay sau giáo dục dinh dưỡng là 72%, sau giáo dục dinh dinh dưỡng một tháng là 55,1% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p(3,1)<0,05 Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về số lượng mỗi bữa ăn trẻ 6 - 8 tháng tuổi trước giáo dục dinh dưỡng là 57,0%, đánh giá sau giáo dục dinh dưỡng là 85,0% và sau giáo dục dinh dưỡng một tháng là 59,8% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p(2,1)<0,05, p(3,1)<0,05 Biến điểm chung trước giáo dục dinh dưỡng có Mean ± SD là 49±9,6, min là 27, max là 69 Biến điểm chung đánh giá ngay sau giáo dục có Mean ± SD là 66±7,8, min là 43, max là 77 Biến điểm chung đánh giá sau giáo dục một tháng có Mean ± SD là 62±5,7, min
là 48, max là 74 Kiến thức chung đạt trước giáo dục dinh dưỡng thấp (chiếm 37,4%), đánh giá ngay sau khi giáo dục dinh dưỡng tăng lên nhiều (chiếm 91,6%), đánh giá sau giáo dục dinh dưỡng một tháng là 89,7%, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê với p(1,2)<0,05 và p(1,3)<0,05
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập khóa học cao học Điều dưỡng
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Trần Chiến Thắng - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh đã tận tâm dìu dắt, hướng dẫn cho tôi trong học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn của mình
Tôi xin chân thành cám ơn Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Trưởng trạm Y tế, tập thể cán bộ - nhân viên 3 xã: Thạch Tân, Thạch Văn, Thạch Hương huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh và các đối tượng nghiên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc liên hệ, thu thập số liệu đề tài
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô đã giảng dạy trong chương trình học Cao học Điều dưỡng tại Đại học Điều dưỡng Nam Định những người
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về ngành điều dưỡng làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này và ứng dụng trong công tác
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, Đảng ủy và đồng nghiệp tại Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Chế độ ăn cho trẻ trong 24 tháng tuổi 4
1.2 Một số nghiên cứu thực trạng và hiệu quả của giáo dục về chế độ ăn cho bà mẹ có con nhỏ 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu 23
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 24
2.5 Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu 25
2.6 Các biến số nghiên cứu 26
2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh 28
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 29
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 29
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm của bà mẹ than gia nghiên cứu 32
3.2 Thực trạng nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con 35
3.3 Sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con sau giáo dục dinh dưỡng 42
Chương 4:BÀN LUẬN 57
KẾT LUẬN 79
Trang 5KHUYẾN NGHỊ 81 Phụ lục 1: Thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng tuổi Phụ lục 3: Thang điểm đánh giá kiến thức
Phụ lục 4: Bộ công cụ can thiệp về chế độ ăn cho trẻ dưới 24 tháng tuổi
Phụ lục 5: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu
Biên bản bảo vệ luận văn thạc sĩ
Biên bản nhận xét luận văn của phản biện 1
Biên bản nhận xét luận văn của phản biện 2
Biên bản chỉnh sửa luận văn sau bảo vệ
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
UNICEF(United Nations Children's Fund) Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Khuyến nghị nuôi con bằng sữa mẹ 7
Bảng 1 2 Các nguy cơ khi cho trẻ ăn bổ sung 10
Bảng 1 3 Ô vuông thức ăn 11
Bảng 1 4 Số lƣợng thức ăn theo lứa tuổi 17
Bảng 3 1 Một số thông tin chung c ủa đối tƣợng 32
Bảng 3 2 Ðặc điểm về con của bà mẹ 35
Bảng 3 3 Nhận thức của bà mẹ về lợi ích c ủa việc nuôi con bằng sữa mẹ 35
Bảng 3 4 Nhận thức của bà mẹ về thời gian NCBSM hoàn toàn 35
Bảng 3 5 Nhận thức của bà mẹ về khái niệm nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 36 Bảng 3 6 Nhận thức của bà mẹ về ăn bổ sung 36
Bảng 3 7 Nhận thức của bà mẹ về nguy cơ khi ăn bổ sung không đúng 36
Bảng 3 8 Nhận thức của bà mẹ về cai sữa 37
Bảng 3 9 Nhận thức của bà mẹ nhóm thức ăn cơ bản khi ăn bổ sung 37
Bảng 3 10 Nhận thức của bà mẹ về nguồn thức ăn bổ sung 38
Bảng 3 11 Nhận thức của bà mẹ về thành phần ăn bổ sung 39
Bảng 3 12 Nhận thức của bà mẹ về cách cho ăn bổ sung 40
Bảng 3 13 Nhận thức của bà mẹ về loại thức ăn và số bữa ăn hàng ngày cho con theo độ tuổi 41
Bảng 3 14 Nhận thức của bà mẹ về số lƣợng mỗi bữa ăn theo độ tuổi 42
Bảng 3 15 Sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ 42
Bảng 3 16 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 43
Bảng 3 17 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về khái niệm nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 44
Bảng 3 18 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về ăn bổ sung 45
Bảng 3 19.Thay đổi nhận thức của bà mẹ về nguy cơ khi ăn bổ sung 46
Bảng 3 20 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về cai sữa 47
Bảng 3 21 Thay đổi nhận thức của bà mẹ nhóm thức ăn cơ bản khi ăn bổ sung 47
Bảng 3 22 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về nguồn thức ăn bổ sung 48
Bảng 3 23 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về thành phần ăn bổ sung 50
Bảng 3 24 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về cách cho trẻ ăn 51
Trang 8Bảng 3 25 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về loại thức ăn và số bữa ăn hàng ngày cho con theo độ tuổi 54Bảng 3 26 Thay đổi nhận thức của bà mẹ về số lƣợng mỗi bữa ăn của trẻ theo độ tuổi 55
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1 Phân bố về nghề nghiệp 33
Biểu đồ 3 2 Nguồn tiếp cận thông tin 34
Biểu đồ 3 3 Nguồn thông tin bà mẹ mong muốn nhận đƣợc 34
Biểu đồ 3 4 Kiến thức chung của các bà mẹ 56
Trang 10kê của Viện dinh dưỡng – Unicef về tình hình cho trẻ ăn bổ sung năm 2010 chỉ
có 51,7% trẻ em được ăn bổ sung đúng và đủ [24] Nghiên cứu của Ogumba.B.O tại Nigeria thấy chỉ có 20% bà mẹ có thái độ đúng về cho con ăn dặm [22] Tác giả Dsouza.A và cộng sự đã nghiên cứu về hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe lên kiến thức và thái độ của bà mẹ về cho con ăn dặm tại Ấn Độ đã cho kết quả: bà mẹ có kiến thức đúng là 14% và thái độ đúng là 50% trước khi tham gia chương trình giáo dục sức khỏe [19] Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Năng cho thấy mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của bà mẹ với tình trạng SDD của con: Những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con bị SDD nhẹ cân bằng 0,42 lần so với những bà mẹ có kiến thức chưa đúng, những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con bị SDD thấp còi bằng 0,43 lần so với những bà mẹ có kiến thức chưa đúng [6]
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ có liên quan trực tiếp đến nhận thức nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Cải thiện nhận thức nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ
Trang 11nhỏ dưới 24 tháng tuổi là rất quan trọng trong việc cải thiện dinh dưỡng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo rằng trẻ
em nên được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và bắt đầu cho ăn bổ sung từ sau 6 tháng Tuy nhiên hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam thực hành về chế độ ăn cho ở trẻ dưới 24 tháng gặp nhiều khó khăn liên quan tới kiến thức, thái độ của bà mẹ, tình trạng thiếu lương thực, sự tiếp cận thông tin…đặc biệt là ở những vùng có điều kiện khó khăn Trong nước đã có các đề tài nghiên cứu về thực trạng chế độ ăn cho độ tuổi này nhưng rất ít nghiên cứu can thiệp về vấn đền này Do đó để có được bức tranh về nhận thức nuôi dưỡng trẻ của bà
mẹ và từ đó xây dựng các hoạt động can thiệp dinh dưỡng phù hợp cho các bà
mẹ có con dưới 24 tháng tuổi về chế độ ăn cho con, thực hiện chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 để làm giảm
tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em
Huyện Thạch Hà là một huyện của tỉnh Hà Tĩnh gồm có 30 xã và một thị trấn trong đó các xã phân bố theo 3 vùng gồm: vùng miền núi, vùng biển, vùng đồng bằng Theo báo cáo của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản Tỉnh năm
2015 tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi còn cao 27.5% Gần đây chưa có nghiên cứu nào liên quan đến nhận thức về chế độ ăn cho con của các bà mẹ được thực hiện tại huyện Chính vì thế mà xuất phát từ tính cấp thiết và thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài:
"Thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng tuổi tại huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh năm 2017 sau giáo dục dinh dưỡng"
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dưới 24
tháng tuổi ngay sau giáo dục dinh dưỡng và sau giáo dục dinh dưỡng 1 tháng
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Chế độ ăn cho trẻ trong 24 tháng tuổi
1.1.1 Sữa mẹ
1.1.1.1 Một số định nghĩa về nuôi con bằng sữa mẹ:
- Nuôi con bằng sữa mẹ là đứa trẻ được bú mẹ trực tiếp hoặc sữa mẹ vắt ra [15]
- Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là đứa trẻ chỉ bú sữa từ mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra Ngoài ra, không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, Siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung hoặc thuốc [15]
- Sữa non: Vài ngày đầu sau đẻ, vú mẹ tiết ra sữa non Sữa non có màu vàng và sánh hơn sữa về sau, nó chứa nhiều kháng thể hơn Đó chính là cái trẻ cần khi nó vừa ra đời Sữa non giúp trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn và siêu vi khuẩn mà nó có thể gặp Sữa non có tác dụng sổ nhẹ, giúp cho việc đào thải phân
su, trẻ đỡ bị vàng da Sữa non chỉ tiết ra một lượng nhỏ song đủ cho một đứa trẻ bình thường [15]
1.1.1.2 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
* Giúp trẻ tăng trưởng, phát triển hài hòa và phòng chống suy dinh dưỡng
- Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa, hấp thu đối với trẻ Sữa mẹ có số lượng protein (đạm) ít hơn sữa động vật vì vậy rất phù hợp với chức năng đào thải khi thận của trẻ chưa trưởng thành Bên cạnh đó protein trong sữa mẹ chủ yếu là protein dạng lỏng hòa tan, còn gọi là protein sữa (Whey protein) nên phù hợp với khả năng tiêu hóa và hấp thu của trẻ; còn protein trong sữa bò chủ yếu là casein (85%) nên khi vào dạ dày của trẻ nhỏ sẽ tạo thành các cục đông vón làm trẻ khó tiêu hóa và hấp thu, trẻ hay bị rối loạn tiêu hóa Whey protein chứa các protein kháng khuẩn giúp trẻ có khả năng chống lại các bệnh nhiễm khuẩn
Trang 14Lipid (chất béo) trong sữa mẹ chiếm 50% năng lượng, thành phần acid béo không no nhiều hơn acid béo no Sữa mẹ có đủ các acid béo cần thiết, giúp cho quá trình hoàn thiện não bộ, võng mạc và làm vững bền mạch máu, như: acid béo không no một nối đôi (acid oleic), acid béo không no đa nối đôi (acid α-linoleic, acid linoleic), tiền tố của DHA (Decosahexaenoic acid) và ARA (arachidonic acid) Trong sữa động vật không có các acid béo này
Carbonhydrat (glucid và đường) trong sữa mẹ nhiều hơn sữa bò, cung cấp năng lượng, 85% là lactose tăng cường hấp thu calci và 15% là oligosaccharid hỗ trợ cho sự phát triển vi khuẩn có lợi cho trẻ
Sữa mẹ có đủ các vitamin (A, B1, B2, C …), khoáng chất (Calci, phospho …) và các nguyên tố vi lượng (sắt, kẽm, đồng, selen …) đáp ứng đủ nhu cầu trẻ nhỏ, giúp trẻ phòng chống thiếu vi chất và bảo vệ cơ thể chống quá trình oxy hóa
* Bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn
Sữa mẹ chứa các tế bào bạch cầu (lympho bào, đại thực bào), globulin miễn dịch (IgA, IgG, IgM), một số yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus Bifidus (Lactose, Oligosaccharid, yếu tố Bifidus), giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm tai, viêm màng não và nhiễm khuẩn tiết niệu
Sữa mẹ cũng chứa những kháng thể chống các bệnh nhiễm khuẩn mà bà mẹ
đã từng mắc bệnh
Khi bà mẹ bị nhiễm khuẩn, các tế bào bạch cầu hoạt động và sản xuất kháng thể để bảo vệ người mẹ, một số tế bào bạch cầu đi tới vú và sản xuất kháng thể tại đó, các kháng thể này được tiết vào sữa để bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn Vì vậy khi mẹ bị bệnh nhiễm khuẩn thì vẫn có thể cho con bú, không nên cách ly mẹ và con
* Giúp cải thiện tâm lý cho bà mẹ và trẻ
Bà mẹ thường xuyên tiếp xúc, gần gũi con sẽ giúp gắn bó tình cảm mẹ và con, bà mẹ cảm thấy thoải mái tinh thần, yên tâm và giảm được sự lo âu, trầm cảm sau sinh
Trang 15Trẻ được tiếp xúc gần gũi mẹ, được âu yếm sẽ ít khóc hơn, cảm giác an toàn hơn, tinh thần, trí tuệ trẻ phát triển tốt hơn
* Góp phần bảo vệ sức khỏe bà mẹ
Giảm nguy cơ băng huyết, thiếu máu sau sinh;
Giảm nguy cơ ung thư vú, buồng trứng;
Chậm có thai trở lại (đặc biệt là giai đoạn NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ đạt hiệu quả cao trong việc tránh thai an toàn);
Hồi phục nhanh cân nặng, vóc dáng ban đầu
* Chi phí ít hơn so với nuôi nhân tạo
NCBSM chi phí ít hơn so với nuôi nhân tạo, tiết kiệm được kinh tế cho gia đình, cộng đồng và ngân sách quốc gia
* Góp phần bảo vệ sức khỏe của trẻ trong quá trình trưởng thành
Sữa mẹ bảo vệ trẻ không tăng cân quá mức (thừa cân, béo phì) nhất là trong hai năm đầu đời và giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trưởng thành (tiểu đường, tim mạch, huyết áp …) Do sữa mẹ có các hormone Leptin, Ghrelin, IGF-1 (Insulin Growth Factor 1) tham gia điều chỉnh ăn uống và cân bằng năng lượng [15]
1.1.1.3 Vai trò dinh dưỡng của sữa mẹ trong năm thứ hai
Từ 6 tháng trở đi, sữa mẹ vẫn giữ vai trò quan trọng cung cấp năng lượng
và các chất dinh dưỡng cho trẻ Trong đó từ 6 tháng đến 12 tháng, sữa mẹ tiếp tục cung cấp trên ½ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ Tuy nhiên, sữa mẹ sẽ không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng lên theo sự phát triển của trẻ,
vì vậy ngoài sữa mẹ trẻ cần được ăn bổ sung
Trong năm thứ hai, sữa mẹ vẫn đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu năng lượng, 50% nhu cầu protein và 45% - 75% nhu cầu vitamin A cho trẻ, ngoài ra còn cung cấp các yếu tố kháng khuẩn bảo vệ trẻ khỏi mắc nhiều loại bệnh Bên cạnh đó, giai đoạn này sữa mẹ vẫn tiếp tục đóng vai trò trong phát triển trí tuệ và nhận thức của trẻ Vì vậy cần cho trẻ bú kéo dài đến 24 tháng tuổi cùng với chế
độ ăn bổ sung hợp lý [15]
Trang 16Bảng 1.1 Khuyến nghị nuôi con bằng sữa mẹ CÁC KHUYẾN NGHỊ VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
- Cho trẻ bú mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh
- Không cho trẻ uống các loại nước uống trước bữa bú đầu tiên như cam thảo, mật ong, nước đường hoặc sữa công thức để tránh ảnh hưởng đến việc tạo sữa sau này của bà mẹ
- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
- Chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống bất cứ thức ăn, nước uống nào khác kể cả nước trắng, trừ các trường hợp phải uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc
- Sữa mẹ chứa 88% nước nên bà mẹ không cần cho trẻ uống thêm nước khi trẻ được bú mẹ hoàn toàn Bà mẹ cần cho trẻ bú thường xuyên hơn nếu trẻ có dấu hiệu khát
- Cho trẻ bú kéo dài đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn
- Từ 6 tháng đến 24 tháng, sữa mẹ vẫn là nguồn quan trọng cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ Tuy nhiên sữa mẹ sẽ không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng lên theo sự phát triển của trẻ, vì vậy cần cho trẻ bú kéo dài đến 24 tháng hoặc lâu hơn cùng với chế độ ăn bổ sung hợp lý [15]
1.1.1.4 Cai sữa cho trẻ
- Nên cho trẻ bú đến 18 tháng - 24 tháng tuổi, không cai sữa trẻ trước 12 tháng tuổi
- Không cai sữa quá sớm, khi chưa có đủ thức ăn thay thế hoàn toàn sữa mẹ
- Không nên cai sữa vào mùa hè nóng nực, vì trẻ kém ăn
- Không nên cai sữa đột ngột dễ gây sang chấn tinh thần làm trẻ quấy khóc, biếng ăn
- Không cai sữa khi trẻ bị ốm, nhất là khi bị tiêu chảy vì thức ăn thay thế trẻ chưa thích nghi được dễ dẫn tới rối loạn tiêu hoá, dễ gây hậu quả suy dinh dưỡng
Trang 17- Sau khi cai sữa, cần có các chế độ ăn thay thế đảm bảo đủ chất cho trẻ, nhất là chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, đậu đỗ ), chất béo (dầu, mỡ) và các loại rau, quả [15]
1.1.2 Ăn bổ sung
1.1.2.1 Một số định nghĩa về ăn bổ sung
- Ăn bổ sung hay còn gọi ăn dặm, ăn sam là cho trẻ ăn các thức ăn khác bổ sung cho sữa mẹ Những thức ăn này được gọi thức ăn bổ sung Trong thời kỳ cho trẻ ăn bổ sung, trẻ quen dần với thức ăn gia đình và ở cuối giai đoạn này (thường khi trẻ được 2 tuổi) sữa mẹ được thay thế hoàn toàn bằng thức ăn bổ sung [7]
- Theo WHO thì ăn bổ sung là quá trình bắt đầu khi sữa mẹ một mình không còn đủ để đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ, do đó bổ sung các thực phẩm khác cùng với sữa mẹ là cần thiết [24],[27]
- Ăn bổ sung là cho trẻ ăn thêm các thức ăn giàu năng lượng và chất dinh dưỡng khác ngoài sữa mẹ dưới dạng mềm hoặc đặc
- Ăn bổ sung (ABS) là cho trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi ăn bổ sung các thức ăn giàu năng lượng và chất dinh dưỡng khác ngoài sữa mẹ dưới dạng mềm hoặc đặc Từ 6 tháng tuổi trở đi, mặc dù sữa mẹ vẫn đóng vai trò rất quan trọng cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng cho trẻ, nhưng không thể đáp ứng đủ tổng mức năng lượng cần cho sự phát triển của trẻ, vì vậy ngoài sữa mẹ cần cho trẻ ăn bổ sung
- Thức ăn bổ sung là các loại thức ăn bổ sung thêm các chất dinh dưỡng cho trẻ ngoài sữa mẹ, chứ không hoàn toàn thay thế được sữa mẹ Thức ăn bổ sung phải là các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, đa dạng và đủ về mặt số lượng để trẻ lớn và phát triển
- Thức ăn dạng lỏng, kể cả sữa (sữa công thức pha với nước hay sữa tươi)
và các loại nước trái cây không được coi là thức ăn bổ sung vì những thức ăn này cạnh tranh và thay thế sữa mẹ, làm giảm lượng sữa mà đáng lẽ trẻ vẫn được bú
mẹ [15]
Trang 181.1.2.2 Vì sao cần ăn bổ sung
Do trẻ lớn lên và ngày càng hoạt động nhiều, sẽ đến tuổi mà sữa mẹ thuần túy không còn đáp ứng đủ cho các nhu cầu dinh dưỡng của trẻ Lúc đó trẻ cần được cho ăn dặm để bù lại khoảng cách thiếu hụt giữa nhu cầu dinh dưỡng của
trẻ và lượng chất dinh dưỡng mà trẻ nhận được từ sữa mẹ [7]
1.1.2.3.Thời điểm cho ăn bổ sung
- Thời điểm bắt đầu cho ăn bổ sung hợp lý nhất là khi trẻ 6 tháng tuổi (180 ngày) để giúp trẻ phát triển tốt
- Cho trẻ ABS khi trẻ tròn 6 tháng tuổi, vì vậy khi trẻ được 5 tháng tuổi nên
tư vấn cho bà mẹ biết cách chọn thức ăn và cách cho trẻ ăn bữa ăn bổ sung đầu tiên, giúp bà mẹ có đủ kiến thức và kỹ năng cho trẻ ABS khi trẻ tròn 6 tháng tuổi
- Các dấu hiệu giúp nhận biết trẻ đã sẵn sàng ăn bổ sung:
+ Trẻ thích nhìn người khác ăn và với tay lấy thức ăn;
+ Trẻ thích đưa thứ gì đó vào miệng;
+ Trẻ có thể điều chỉnh lưỡi tốt hơn để đưa thức ăn di chuyển trong miệng; + Trẻ bắt đầu nhai và dịch chuyển hàm lên xuống [15]
Trang 19*Các nguy cơ khi cho trẻ ăn bổ sung
Bảng 1 1 Các nguy cơ khi cho trẻ ăn bổ sung
Các nguy cơ khi cho trẻ ăn bổ sung
quá sớm (trước 6 tháng hay 26 tuần)
Các nguy cơ khi cho trẻ ăn bổ sung
quá muộn (sau 6 tháng hay 26 tuần)
- Trẻ giảm bú mẹ vì vậy sẽ làm giảm
khả năng tạo sữa mẹ;
- Trẻ tăng nguy cơ mắc bệnh, mắc tiêu
chảy, suy dinh dưỡng, dị ứng do thức
ăn bổ sung không phù hợp với khả năng
tiêu hóa và miễn dịch chưa hoàn thiện
của trẻ;
- Trẻ giảm bú mẹ sẽ làm tăng nguy cơ
mang thai của bà mẹ.[15]
- Trẻ không nhận được các thức ăn cần thiết để bổ sung thêm các chất dinh dưỡng mà sữa mẹ ở giai đoạn này không đáp ứng được đầy đủ cho sự phát triển của trẻ, đặc biệt là sắt
- Chậm lớn và chậm phát triển
- Nguy cơ suy dinh dưỡng và thiếu
chất dinh dưỡng tăng lên
1.1.2.4 Bốn nhóm thức ăn bổ sung cơ bản
* Nhóm thức ăn cung cấp chất bột (lương thực):
- Là nguồn thức ăn cung cấp nhiệt lượng trong khẩu phần ăn; chủ yếu cung cấp tinh bột, chứa ít protein và nghèo các vi chất dinh dưỡng, vì vậy ngoài lương thực, bữa ăn cần có các thực phẩm khác để trẻ có đủ chất dinh dưỡng
- Gồm các loại gạo, ngô, khoai, củ, các loại đậu, đỗ [15]
* Nhóm thức ăn cung cấp chất béo:
Trang 20- Là nguồn thức ăn bổ sung năng lượng cho bữa ăn của trẻ, giúp trẻ hấp thu
dễ dàng các loại vitamin tan trong dầu như Vitamin A, E, D, K và làm cho thức ăn mềm hơn và dễ ăn hơn
- Gồm dầu, bơ, mỡ, trong đó dầu dễ hấp thu hơn mỡ [15]
* Nhóm thức ăn cung cấp vitamin và chất khoáng:
- Là nguồn thức ăn rất tốt để cung cấp các loại vitamin và chất khoáng cho trẻ Các loại rau có lá màu xanh thẫm, quả và các loại rau củ có màu vàng giúp trẻ có đôi mắt sáng và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn
- Gồm các loại rau xanh và quả chín
Bảng 1 2 Ô vuông thức ăn
Thức ăn cơ bản
Ngũ cốc, khoai củ
Giàu đạm Thịt, cá, trứng, sữa,…
Giàu vitamin và
muối khoáng
Rau, hoa quả
Giàu năng lượng Dầu, mỡ, bơ.[15]
1.1.2.5 Thức ăn bổ sung dự phòng thiếu hụt sắt
* Tại sao trẻ nhỏ cần được ăn bổ sung thức ăn giàu sắt
- Sắt cần thiết trong quá trình tạo máu, tăng trưởng, phát triển và tăng cường
khả năng miễn dịch của cơ thể trẻ nhỏ, giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn
- Sự phát triển của trẻ nhỏ trong năm đầu thường nhanh hơn năm thứ hai
Vì vậy trẻ càng nhỏ thì nhu cầu sắt càng cao
- Trong 6 tháng đầu sau sinh, trẻ sơ sinh sẽ sử dụng lượng sắt dự trữ từ mẹ, sau khoảng thời gian này, trẻ sẽ bị thiếu hụt sắt, vì vậy cần được bù đắp sắt kịp thời cho trẻ từ các thức ăn bổ sung
Sữa
mẹ
Trang 21- Kẽm cũng là một vi chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ tăng trưởng và phát triển khoẻ mạnh Các thực phẩm giàu sắt cũng thường giàu kẽm, vì vậy nếu trẻ được ăn bổ sung các thực phẩm giàu sắt thì cũng đồng thời được bổ sung kẽm
- Gồm các loại rau xanh và quả chín
Khả năng hấp thu sắt của trẻ
Nguồn thức ăn giàu sắt gồm các loại đậu, đỗ, các lá rau màu xanh thẫm
- Để bổ sung sự thiếu hụt sắt cho trẻ có hiệu quả, cần lưu ý các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thu sắt của trẻ sau đây:
+ Tổng lượng sắt có trong thức ăn;
+ Dạng sắt (sắt từ thịt, cá dễ hấp thu hơn sắt từ nguồn thức ăn thực vật); + Trẻ bị thiếu máu sẽ hấp thu sắt nhiều hơn;
+ Sử dụng phối hợp các loại thức ăn trong một bữa ăn hợp lý
- Một số loại thức ăn giúp tăng khả năng hấp thu sắt
+ Khả năng hấp thu sắt của trẻ từ trứng và thực phẩm nguồn gốc thực vật sẽ tăng lên nếu cho trẻ ăn các thức ăn này kết hợp với: Thức ăn giàu vitamin C (cà chua, hoa lơ, ổi, xoài, dứa, đu đủ, cam, chanh và các loại quýt)
+ Một lượng nhỏ thịt, phủ tạng động vật, chim, cá và các loại hải sản;
- Một số loại thức ăn làm giảm hấp thu sắt:
+ Trà và cà phê;
+ Thức ăn nhiều chất xơ [15]
1.1.2.6 Thức ăn bổ sung dự phòng thiếu hụt vitamin A
* Tại sao trẻ nhỏ cần được ăn bổ sung thức ăn giàu vitamin A
- Vitamin A rất cần cho mắt và da và giúp cơ thể chống lại các nhiễm khuẩn;
- Cơ thể trẻ có thể dự trữ vitamin A trong vài tháng Do vậy cần khuyến khích các gia đình cho trẻ ăn các thực phẩm giàu vitamin A hàng ngày hoặc càng thường xuyên càng tốt vào mùa các thực phẩm này sẵn có Trẻ được ăn khẩu phần có nhiều loại rau và quả sẽ đáp ứng được các nhu cầu dinh dưỡng khác nhau;
Trang 22- Sữa mẹ cung cấp một lượng vitamin A đáng kể cần cho trẻ Nếu trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ rất cần được bổ sung một khẩu phần ăn giàu vitamin A
* Nguồn thức ăn giàu vitamin A
- Các loại lá rau màu xanh thẫm và các loại quả màu vàng, đỏ;
- Phủ tạng (gan) động vật;
- Sữa và các sản phẩm từ sữa như bơ, pho mát, sữa chua;
- Lòng đỏ trứng;
- Các loại bơ thực vật, sữa bột và các thực phẩm có bổ sung vitamin A
* Tầm quan trọng của thức ăn có nguồn gốc động vật
- Thịt và phủ tạng (gan, tim, tiết), sữa, sữa chua, pho mát và trứng rất giàu các chất dinh dưỡng;
- Thịt hoặc phủ tạng của động vật, chim và cá, tôm, cua, sò, hến và cá nhỏ đóng hộp, các thức ăn chế biến từ tiết rất giàu sắt và kẽm Gan vừa rất giàu sắt vừa rất giàu vitamin A;
- Sữa và trứng có nhiều protein và các chất dinh dưỡng khác Tuy nhiên sữa và các sản phẩm của sữa như pho mát, sữa chua không phải là thực phẩm giàu sắt;
- Váng sữa, sữa chưa tách bơ, lòng đỏ trứng là nguồn thức ăn rất giàu vitamin A;
- Các sản phẩm chế biến từ sữa (sữa chưa tách bơ, sữa tách bơ hay sữa bột) và bất
kỳ thức ăn nào có xương là nguồn cung cấp can xi rất tốt cho sự phát triển của xương;
- Trẻ khó có thể được cung cấp đầy đủ sắt trừ khi trẻ được ăn khẩu phần có các loại thịt, cá khác nhau Các loại thức ăn được bổ sung hay được làm giàu vi chất như bột mỳ, mỳ, ngũ cốc, thức ăn chế biến sẵn có tăng cường vi chất, giúp đáp ứng các nhu cầu này của trẻ Một số trẻ cần được bổ sung vi chất nếu trẻ không ăn đầy đủ các loại thức ăn có chứa sắt hay trẻ đặc biệt có nhu cầu sắt cao [15]
1.1.2.7 Thức ăn bổ sung có tăng cường vi chất
- Hiện nay có một số loại thức ăn bổ sung chế biễn sẵn có tăng cường thêm
vi chất như bột mỳ và sản phẩm ngũ cốc có bổ sung sắt và kẽm cho trẻ em Các
Trang 23thức ăn này sử dụng thuận tiện và cung cấp dinh dưỡng cho trẻ em, vì vậy các gia đình có thể lựa chọn sử dụng cho trẻ em
- Một số điểm cần xem xét khi lựa chọn thức ăn bổ sung chế biến sẵn có tăng cường vi chất cho trẻ em:
+ Các thành phần nguyên liệu chính bao gồm những gì?
+ Sản phẩm có được bổ sung các vi chất như sắt, Vitamin A hay các vitamin khác không?
+ Sản phẩm có bao gồm các thành phần nguyên liệu như dầu, mỡ để bổ sung năng lượng không?
+ Giá của sản phẩm so sánh với sản phẩm cùng loại được chế biến tại nhà? + Nhãn mác, các chỉ dẫn trên sản phẩm có ghi rõ sử dụng cho trẻ độ tuổi nào, cách sử dụng và hạn sử dụng như thế nào?
+ Không dùng các sản phẩm có ghi cụm từ: “thay thế sữa mẹ” hoặc “chỉ dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi
1.1.2.8 Nhu cầu nước của trẻ nhỏ
- Nếu trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn thì không cần cho trẻ uống thêm nước (vì 88% sữa mẹ là nước - đã cung cấp đủ lượng nước cần thiết cho trẻ)
- Khi trẻ đến tuổi ăn bổ sung, bên cạnh lượng nước từ cháo, súp và các loại thức ăn bổ sung, trẻ cần được uống thêm nước sạch
- Cho trẻ uống nước khi trẻ khát, khi trẻ bị sốt hoặc tiêu chảy
- Có thể cho trẻ uống các loại nước trái cây, nhưng nếu cho trẻ uống quá nhiều có thể làm trẻ bị tiêu chảy hoặc làm trẻ ăn không ngon miệng
- Không nên cho trẻ uống các loại nước ngọt có ga Nước uống có quá nhiều đường sẽ làm trẻ cảm thấy khát hơn hoặc cơ thể phải giải quyết lượng đường thừa
- Nếu trẻ khát trong khi ăn, cần cho trẻ uống một lượng nước nhỏ trẻ sẽ hết khát và ăn được nhiều hơn
- Trẻ không được bú sữa mẹ, khi đạt độ tuổi 6 đến 24 tháng, trẻ sẽ cần: + Khoảng 2-3 cốc nước một ngày (1 cốc = 250ml);
Trang 24+ Khi thời tiết nóng hơn, 4- 6 cốc nước/1ngày
1.1.2.9 Nguyên tắc khi cho ăn bổ sung
- Cho trẻ ăn bổ sung đúng độ tuổi (bắt đầu từ tháng thứ 6 - 180 ngày), không quá sớm hoặc quá muộn Vẫn tiếp tục cho trẻ bú mẹ càng nhiều càng tốt
- Cho trẻ ăn từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều, tập cho trẻ quen dần với thức
ăn mới (thời gian tập cho ăn thức ăn loãng không quá 2 tuần)
- Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi, đảm bảo thức ăn hợp với khẩu vị của trẻ
- Chế biến thức ăn đảm bảo mềm, dễ nhai và dễ nuốt, món ăn đẹp, nhiều màu sắc, hương vị hấp dẫn, kích thích sự thèm ăn của trẻ
- Chế biến các thức ăn hỗn hợp giàu dinh dưỡng, sử dụng các thức ăn sẵn
có tại địa phương Luôn luôn thay đổi thức ăn hàng ngày, cho trẻ ăn nhiều loại món ăn khác nhau Trong một ngày không nên cho trẻ ăn một món giống nhau
- Thêm dầu, mỡ hoặc vừng, lạc (mè, đậu phộng) làm cho bát bột thơm, béo, mềm, trẻ dễ ăn hơn và cung cấp thêm năng lượng giúp trẻ mau lớn
- Tất cả dụng cụ chế biến phải sạch, rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn và cho trẻ ăn
- Trong và sau khi bị ốm, trẻ cần được ăn nhiều hơn, uống nhiều chất lỏng hơn đặc biệt khi bị tiêu chảy và sốt cao
- Trước mỗi bữa ăn không cho trẻ ăn bánh, kẹo, uống nước ngọt vì cho trẻ
ăn chất ngọt sẽ làm tăng đường huyết gây ức chế tiết dịch vị, làm trẻ chán ăn, trẻ
sẽ bỏ bữa hoặc ăn ít đi trong bữa ăn
- Bữa ăn là thời gian để trẻ tập ăn, cần giúp trẻ học cách ăn, khuyến khích, động viên trẻ ăn, trẻ sẽ ăn nhiều hơn nếu không khí bữa ăn vui vẻ, thoải mái Giúp trẻ nhận được đủ chất dinh dưỡng cần thiết theo nhu cầu của trẻ Không ép buộc trẻ ăn [15]
Trang 251.1.2.10 Số lượng và số bữa ăn cho trẻ theo độ tuổi
- Khi bắt đầu ăn bổ sung, hệ tiêu hoá của trẻ cần có thời gian để thích nghi với thức ăn mới và trẻ cần được tập ăn và học cách ăn bằng cách cho trẻ ăn với
- Các thực phẩm giàu chất đường không thay thế được các thực phẩm khác trong khẩu phần ăn, vì vậy cho trẻ ăn kẹo, bánh quy và nước uống có đường không phải là bữa ăn phụ của trẻ
- Khi trẻ lớn hơn thì phải tăng thêm lượng thức ăn, cho trẻ ăn đủ nhu cầu, cần động viên,khuyến khích khi trẻ ăn
- Các thức ăn chính (nhóm thức ăn cung cấp chất bột) đều cung cấp protein
và các chất dinh dưỡng khác nhưng không thể có đủ tất cả các chất dinh dưỡng, khoáng chất,vitamin cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ, vì vậy bên cạnh thức ăn chính trẻ cần được cung cấp thêm nhiều loại thức ăn khác
- Bữa ăn hàng ngày của trẻ phải đảm bảo có đủ thành phần 4 nhóm thức ăn
cơ bản và nhiều hơn thế, ngoài tinh bột một số thành phần thức ăn cần lưu ý như: + Thức ăn nguồn gốc động vật: Đây là thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ
+ Các loại rau xanh sẫm, củ và quả màu vàng
+ Thức ăn bổ sung sự thiếu hụt sắt và năng lượng cho trẻ: Có thể cho trẻ ăn thêm thứcăn chế biến sẵn có bổ sung sắt để đáp ứng nhu cầu của trẻ Nếu không
có thức ăn giàu sắt thì Cán bộ y tế cần khuyến khích gia đình cho trẻ uống bổ sung viên chứa sắt và yếu tố vi lượng
- Đặc điểm của thức ăn bổ sung tốt cho trẻ ăn hàng ngày là:
Trang 26+ Thức ăn giàu năng lượng, giàu protein và các vi chất dinh dưỡng, đặc biệt
là sắt, kẽm, vitamin A, vitamin C
- Thức ăn đảm bảo sạch và an toàn cho trẻ (không có tác nhân gây bệnh, không có các hóa chất độc hại, không có xương hoặc các vật cứng có thể gây tổn thương cho trẻ)
- Thức ăn không quá nóng, không quá cay, mặn và phù hợp với trẻ
- Thức ăn sẵn có ở địa phương, giá hợp lý, thuận lợi cho việc chuẩn bị và chế biến món ăn cho trẻ [15]
Bảng 1 3 Số lượng thức ăn theo lứa tuổi
Số lượng thức ăn Tuổi Loại thức ăn Số bữa/ngày Số lượng mỗi bữa
- hoặc cháo, thức ăn
thái nhỏ hoặc nghiền
- Độ đậm đặc của thức ăn bổ sung
- Tầm quan trọng của độ đậm đặc thức ăn bổ sung:
+ Dạ dày của trẻ rất nhỏ Tại thời điểm 8 tháng tuổi, dạ dày của trẻ mỗi bữa
có thể chứa khoảng 200 ml Các loại thức ăn lỏng và loãng nhanh chóng chiếm đầy thể tích dạ dày của trẻ khi trẻ chưa nhận đủ năng lượng Vì vậy, cần quan tâm đến độ đậm đặc của thức ăn cho trẻ ăn bổ sung
Trang 27+ Độ đậm đặc hợp lý của thức ăn bổ sung sẽ giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng của trẻ và phù hợp với sức chứa của dạ dày trẻ
+ Ở các nước phát triển, đậm độ năng lượng của thức ăn bổ sung thường là
2 kcal/1g, trong khi đó ở các nước đang phát triển chỉ là 1 kcal/1g, đó là lý do gây nên tình trạng thiếu năng lượng kéo dài
+ Sữa mẹ là một thức ăn lỏng, nên trẻ đang bú sữa mẹ khi chuyển sang giai đoạn ăn bổ sung, thức ăn cho trẻ phải chuyển dần từ dạng lỏng sang dạng sền sệt rồi đặc dần
+ Bát bột nấu xong khi còn nóng ở dạng lỏng, càng nguội càng đặc lại Nếu pha thêm nước để đạt độ lỏng thích hợp thì sẽ làm giảm đậm độ năng lượng, nên
sẽ không đảm bảo nhu cầu năng lượng của trẻ.hế
- Hướng dẫn làm tăng độ đậm đặc thức ăn bổ sung cho trẻ:
+ Đối với bột hay các lương thực khác: Nấu với ít nước và làm bột đặc ơn, không nên nấu bột quá loãng
+ Rang ngũ cốc trước khi xay thành bột Hạt bột rang không to lắm nên chỉ cần ít nước trong khi nấu
+ Đối với các loại thức ăn đậu, đỗ, rau, thịt, cá: Nghiền hoặc băm nhỏ cho trẻ ăn cả cái thay vì chỉ cho trẻ ăn phần nước
+ Bổ sung thêm các loại thức ăn giàu năng lượng và dinh dưỡng vào trong bột, cháo: Cho thêm một thìa sữa bột sau khi nấu, trộn bột đậu, đỗ với bột ngũ cốc trước khi nấu, khuấy bột sệt lại với bột lạc hay vừng, thêm một thìa dầu ăn,
mỡ, bơ
+ Bổ sung bột mộng: trộn bột vào các hạt nảy mầm: đậu xanh, ngô vàng, lúa… vào thức ăn của trẻ để tăng độ hòa tan, làm bột lỏng ra, vì vậy có thể tăng
số lượng bột lên, giảm độ nhớt, trẻ dễ dàng ăn hết suất
+ Ngoài ra hạt nảy mầm còn cung cấp thêm các vitamin, các vi chất dinh dưỡng cho trẻ
+ Nếu bổ sung 10% bột mộng thì lượng bột có thể tăng gấp 3 đến 4 lần trong cùng một thể tích nước [15]
Trang 281.2 Một số nghiên cứu thực trạng và hiệu quả của giáo dục về chế độ ăn cho
bà mẹ có con nhỏ
1.2.1 Trên thế giới
Ở Bangldesh cho ăn bổ sung bắt đầu quá sớm hoặc quá muộn: các loại thực phẩm được cung cấp không phù hợp, dẫn đến tỷ lệ SDD ở trẻ em cao Mặt khác, 25% trẻ từ 6 - 9 tháng không ăn bất kỳ thực phẩm nào khác ngoài sữa mẹ Trong
số trẻ em đã vượt qua tuổi bú mẹ hoàn toàn, chỉ có 42% được ăn bổ sung [18] Theo nghiên cứu của Sah.N tại Nepal cho thấy tỷ lệ SDD cao ở nhóm tuổi 7- 12 tháng tuổi và tăng lên các nhóm sau Điều này liên quan đến kiến thức và thực hành chế độ cho con ăn của bà mẹ Trình độ giáo dục của bà mẹ ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của con: nhóm trẻ của các bà mẹ biết chữ có tỷ lệ SDD thấp hơn nhóm trẻ của của các bà mẹ mù chữ [ 29]
Một nghiên cứu khác tại Bangladesh của Zongrone.A cho biết thời gian cho trẻ
ăn dặm đúng và chế độ ăn uống đa dạng sẽ giúp trẻ giảm được tình trạng SDD [26] Kết quả nghiên cứu của Mahmood.S.E và cộng sự tại Ấn Độ cho thấy thời điểm bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung chưa đúng còn cao: khoảng 13,8% các bà mẹ bắt đầu cho con bổ sung trước 6 tháng tuổi, gần 13% các bà mẹ bắt đầu cho con ăn
bổ sung sau chín tháng tuổi Hai phần ba các bà mẹ không được hướng dẫn làm thức ăn cho trẻ (40) Cho ăn bổ sung quá sớm hoặc muộn đều ảnh hưởng xấu đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi Sự tăng trưởng sút kém trở nên tồi tệ từ khoảng sáu tháng tuổi và hậu quả là SDD trong những tháng này và những năm sau đó [21]
Nghiên cứu của Ogumba.B.O tại Nigeria cho thấy chỉ có 20% bà mẹ có thái
độ đúng về cho con ăn bổ sung Thái độ của bà mẹ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố như kiến thức, kinh nghiệm và nguồn thông tin nhận được Có mối quan hệ giữa thái độ với SDD gầy còm Những bà mẹ có thái độ đúng có xu hướng cải thiện tình trạng dinh dưỡng cân nặng theo tuổi [22]
Tác giả Dsouza.A và cộng sự đã nghiên cứu về hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe lên kiến thức, thái độ của bà mẹ về cho con ăm bổ sung tại Ấn
Trang 29Độ cho kết quả: đa số các bà mẹ trong ngẫu nhiên đã lập gia đình (80%), có 70% thuộc tình trạng kinh tế thấp và có 76% các bà mẹ nhận được nguồn thông tin về cho con ăn bổ sung Bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn bổ sung trước khi tham gia chương trình giáo dục sức khỏe về cho con ăn bổ sung là 14%, sau khi tham gia là 32% Thái độ đúng của các bà mẹ trước khi tham gia là 50% và sau khi tham gia là 68% Có mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ trước khi tiếp nhận thông tin với số con, tình trạng kinh tế; không có mối liên quan giữa kiến thức với tuổi, trình độ học vấn bà mẹ Không có mối liên quan giữa thái độ của
bà mẹ trước khi tiếp nhận thông tin với tuổi của mẹ, số con, tình trạng kinh tế xã hội, và trình độ học vấn [19]
Một nghiên cứu khác tại Ấn Độ của Aggarwal.A và cộng sự khảo sát kiến thức, thực hành về cho con ăn bổ sung của các bà mẹ có con từ 6 - 24 tháng cho thấy trong số 200 trẻ em được nghiên cứu chỉ có 35 (17,55) nhận được thức ăn từ
6 tháng Kiến thức đúng về thời điểm ăn bổ sung chiếm 46%, thành phần bữa ăn
đủ 4 nhóm thực phẩm chiếm 46,5% Chỉ có 8% bà mẹ có kiến thức đúng chung
về cho con ăn bổ sung Có mối liên quan giữa kiến thức về thời điểm với trình độ học vấn của bà mẹ [17]
Theo nghiên cứu của Joshi.N và cộng sự tại Ấn Độ trên 100 bà mẹ sống ở nông thôn trong độ tuổi 20 - 30 tuổi, tình trạng kinh tế xã hội thấp: khoảng 8% bà
mẹ mù chữ Nguồn thông tin về chế độ dinh dưỡng của trẻ bà mẹ nhận được từ ti
vi chiếm tỷ lệ cao nhất (77%), tiếp theo từ nhân viên y tế (72%), đài phát thanh (59%) Nghiên cứu cũng cho thấy cải thiện giáo dục sức khỏe có hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức của bà mẹ và nhấn mạnh sư cần thiết của các chương trình giáo dục sức khỏe để loại trừ SDD hiệu quả [20]
1.2.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ có con SDD tại Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố Hồ Chí Minh của Lê Thị Ngọc Dung và Nguyễn Phước Hưng cho thấy đa số các bà mẹ có kiến thức đúng về thời điểm bắt đầu cho ăn dặm là (71,1%) vào thời điểm cai sữa mẹ (56,8%), nhưng chưa hiểu biết
Trang 30đúng về 4 nhóm thức ăn (26,6%), chế độ ăn trong 4 tháng đầu (33,3%) và khi trẻ
ốm (36,6%), cũng như rất ít bà mẹ biết sử dụng biểu đồ tăng trưởng (11.7%) [4] Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 2 tuổi và thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ tại huyện Hướng Hóa và Dakrong của Đoàn Thị Ánh Tuyết
và Lê Thị Hương cho thấy: Tỷ lệ trẻ SDD nhẹ cân là 36,2%, thấp còi là 46,5% và gầy còm là 10,5% Thực hành của bà mẹ cho trẻ bú sớm một giờ sau sinh là 93,3% và bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu là 37% 36,5% trẻ được ăn bổ sung (ABS) trước 4 tháng tuổi và 43,6% trẻ được tập ăn bổ sung từ 6-8 tháng tuổi 21% trẻ được ăn đủ 4 nhóm thực phẩm [2]
Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Năng tại Bình Định cho thấy tỷ lệ kiến thức đúng của bà mẹ về cho con ăn dặm là: 66,2%, thái độ đúng về cho con ăn dặm là: 57,4% Có sự liên quan giữa kiến thức, thái độ của bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng của con: Những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con
bị SDD nhẹ cân bằng 0,42 lần so với những bà mẹ có kiến thức chưa đúng, những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con bị SDD thấp còi bằng 0,43 lần so với những bà mẹ có kiến thức chưa đúng [6]
Nghiên cứu của Hà Ngọc Linh tại quận 12 - Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm chiếm 73% Có hai nguồn thông tin được bà mẹ cho là quan trọng nhất là nhân viên y tế (74,6%) và ông bà, cha mẹ (73,6%) Trong khi đó tỷ lệ bà mẹ nhận được nguồn thông tin từ các cộng tác viên chương trình suy dinh dưỡng hay đoàn thể chiếm 43,2% Tuy nhiên khi cần thiết đa số các bà mẹ kiếm nguồn thông tin từ các nhân viên y tế (66%) [3] Tác giả Trương Thị Thu Thủy thực hiện nghiên cứu tại Đồng Tháp cho thấy
bà mẹ có kiến thức đúng về thời điểm cho ăn dặm chiếm 36,7% thành phần bữa
ăn dặm đủ 4 nhóm thức ăn 80,4% [16]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Trân tại Hà Giang có mối liên quan giữa thời điểm cho ăn dặm, thành phần bữa ăn dặm, nguồn cung cấp thông tin với tình trạng dinh dưỡng của con: những đứa trẻ được ăn dặm không đúng thời điểm có nguy cơ SDD gấp 1,43 lần so với ăn dặm đúng thời điểm Những
Trang 31đứa trẻ ăn dặm không đủ 4 nhóm thực phẩm có nguy cơ SDD cao gấp 2,22 lần so với trẻ ăn đủ 4 nhóm thực phẩm; những bà mẹ không tiếp nhận được nguồn cung cấp thông tin có tỷ lệ con bị SDD gấp 2,27 lần so với bà mẹ nhận được nguồn thông tin [10]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vũ Thành tại Hà Tây cho kết quả tỷ lệ SDD tăng dần theo nhóm tuổi Số bà mẹ có kiến thức đúng ở nhóm SDD là 76,3% nhóm không SDD là 99% Nhóm trẻ là con của những bà mẹ có kiến thức không đúng có nguy cơ SDD cao gấp 21,42% lần so với nhóm trẻ là con của bà mẹ có kiến thức đúng Trẻ không được ăn đủ 4 nhóm thực phẩm có nguy cơ bị SDD cao gấp 7,72 lần so với trẻ ăn đủ 4 nhóm thực phẩm Trẻ được ăn nhóm thực phẩm giàu chất béo như dầu/mỡ dưới 3 lần sẽ có nguy cơ bị SDD gấp 3,35 lần so với trẻ được ăn dầu/mỡ hơn 3 lần/tuần [9]
1.2.3 Tại Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là một tỉnh nghèo thuộc Miền Trung nơi thường xuyên xẩy ra thiên tai, lũ lụt Địa hình tương đối phức tạp bao gồm: vùng núi, đồng bằng, vùng biển, cho nên tỷ lệ SDD khác nhau giữa các vùng miền Trong những năm qua tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm xuống rõ rệt, tuy nhiên tỷ lệ đó vẫn đang còn ở mức ca, qua tìm hiểu nguyên nhân SDD một phần là do nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con chưa đúng
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bà mẹ từ 18 tuổi trở lên đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi đang sống tại 3 xã của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh từ 01/2017 đến 5/2017
- Tiêu chí chọn
+ Bà mẹ từ 18 tuổi trở lên hiện đang sống tại 3 xã của Huyện Thạch Hà, Tỉnh Hà Tĩnh có con dưới 24 tháng tuổi tính từ ngày 01/01/217 đến 30/4/2017; + Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chí loại trừ
+ Bà mẹ không trực tiếp nuôi con;
+ Bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ;
+ Bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn (bà mẹ bị mù, câm, điếc, tâm thần )
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 5 năm 2017
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp dạng nghiên cứu trước sau
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Can thiệp giáo dục
Đánh giá lần 1 (ngay sau giáo dục)
Đánh giá lần 2 (sau can thiệp
1 tháng)
So sánh, bàn luận và kết luận
Trang 332
2 2 / 1
) 1 (
d
p p
- Z là độ tin cậy của xác suất với = 0,05 thì Z1-/2 = 1,96
- d: Khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ của mẫu nghiên cứu và tỷ lệ thực trong quần thể với d= 0,1
Thay vào công thức trên ta tính được n = 96 bà mẹ Nhưng trên thực tế đề tài này được tiến hành trên 107 bà mẹ
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu 107 bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi ở 3 xã thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh vì huyện Thạch Hà là một huyện có vị trí nằm giữa tỉnh Hà Tĩnh, dân số đông, là huyện có mức sống trung bình của tỉnh Địa lý huyện có đầy đủ các vùng miền bao gồm vùng miền núi, vùng đồng bằng, vùng duyên hải Với đặc điểm như vậy chúng tôi lựa chọn chọn 3 xã, hai xã 36 bà mẹ và một xã 35 bà
mẹ theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
+ Miền núi gồm 6 xã chọn ngẫu nhiên 1 xã đại diện là xã Thạch Hương
- Cách chọn đối tượng nghiên cứu:
Trang 34+ Căn cứ vào số bà mẹ thuộc đối tượng nghiên cứu hiện có của mỗi xã để tính khoảng cách k: lấy tổng số mẹ có con dưới 24 tháng tuổi của mỗi xã chia cho số mẹ cần chọn vào nghiên cứu của mỗi xã
+ Chọn bà mẹ đầu tiên của mỗi xã bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn (< k) các bà mẹ tiếp theo của mỗi xã được chọn tuỳ thuộc vào khoảng cách “k” đã có
và cá thể đầu tiên, tiếp tục làm cho đến khi chọn được đầy đủ số lượng đối tượng nghiên cứu của mỗi xã
2.5 Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ đánh giá
Công cụ đánh giá được xây dựng dựa trên tài liệu khóa học về tham vấn nuôi con bằng sữa mẹ của Bộ Y tế năm 2003, tài liệu khóa học Nuôi dưỡng trẻ nhỏ của Bộ Y tế năm 2015 và có tham khảo bộ công cụ của tác giả Lê Thị Năng gồm 3 phần:
Phần A: Thông tin về trẻ
Phần B: Thông tin chung về đối tượng
Phần C: Nhận thức về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, Phỏng vấn trực tiếp tất cả các bà
mẹ là mẹ đã chọn ở trên bằng bộ phiếu phỏng vấn soạn sẵn để thu thập các thông tin cá nhân nhận thức của bà mẹ
2.5.3 Quy trình thu thập số liệu
Sau khi đã được sự đồng ý của Hội đồng đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và Ủy ban Nhân dân xã được chọn, nghiên cứu viên gặp Trạm trưởng trạm Y tế xã giải thích mục đích cũng như quy trình thực hiện nghiên cứu Sau đó nhà nghiên cứu lấy danh sách những bà mẹ thuộc đối tượng nghiên cứu và liện hệ với những bà mẹ đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn Sau khi các
bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu, nghiên cứu viên thu thập số liệu được tiến hành theo các bước sau:
Trang 35- Bước 1: Gặp gỡ đối tượng chọn tham gia nghiên cứu (vào ngày tiêm chủng hàng tháng)
+ Thông báo cho đối tượng nghiên cứu biết mục đích của nghiên cứu; + Đồng ý tham gia vào nghiên cứu thì ký vào bản đồng thuận tham gia nghiên cứu (phụ lục 01);
+ Giới thiệu về bộ công cụ (phụ lục 02)
- Bước 2: Đánh giá thực trạng kiến thức trước giáo dục (sử dụng bộ câu hỏi
ở phụ lục 02)
+ Đọc câu hỏi, hướng dẫn đối tượng nghiên cứu trả lời câu hỏi, và người phỏng vấn ghi lại câu trả lời;
+ Sau đó thu lại bộ công cụ
Bước 3: Xây dựng các nội dung và hình thức giáo dục dinh dưỡng
Các nội dung giáo dục dinh dưỡng gồm 2 nội dung chính và được xây dựng dựa trên tài liệu khóa học về tham vấn nuôi con bằng sữa mẹ của Bộ Y tế năm
2003, tài liệu khóa học Nuôi dưỡng trẻ nhỏ của Bộ Y tế năm 2015
Bước 4: Tập trung đối tượng nghiên cứu tại nhà Văn hóa xã, tiến hành giáo dục dinh dưỡng khoảng 2 tiếng theo từng địa điểm nghiên cứu bằng phương pháp thuyết trình, trình chiếu powerpoit, tài liệu phát tay và thảo luận (nội dung giáo dục dinh dưỡng ( phụ lục 04)
Bước 5: Tiến hành đánh giá lại nhận thức ngay sau khi giáo dục dinh dưỡng Bước 6: Tiến hành đánh giá lại nhận thức của bà mẹ sau 1 tháng giáo dục dinh dưỡng cùng với cùng bộ câu hỏi ở phụ lục 1 (Vào ngày tiêm chủng hàng tháng)
2.6 Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số về nhân chủng học
2.7.1.1 Các bi ến số liên quan đến đặc tính của bà mẹ
- Tuổi: là biến định lượng được ghi nhận theo dương lịch và ghi tuổi theo năm
sinh, gồm 5 giá trị:
+ Dưới 20 tuổi
+ Từ 20 - 24 tuổi
Trang 36+ Từ 25 - 29 tuổi
+ Từ 30 – 34 tuổi
+ ≥ 35tuổi
- Tôn giáo: là biến danh mục
+ Không tôn giáo
+ Trung học cơ sở và Trung học phổ thông
+ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, sau Đại học
Trang 37- 2 con
- Từ 3 con trở lên
2.6.2 Các biến số liên quan đến đặc tính của con
- Tuổi: được tính theo chuẩn tính tuổi của WHO, tuổi trẻ được tính dựa vào
ngày sinh của trẻ và ngày điều tra, là biến số không liên tục, được phân thành 3 nhóm:
2.6.3 Biến số về nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con ăn
ˉ Nhận thức của bà mẹ về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa
ˉ Nhận thức của bà mẹ về định nghĩa nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
ˉ Nhận thức của bà mẹ về định nghĩa nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
ˉ Nhận thức của bà mẹ về định nghĩa ăn bổ sung
ˉ Nhận thức của bà mẹ về các nguy cơ khi cho trẻ ăn dặm sớm
ˉ Nhận thức của bà mẹ về các nguy cơ khi cho trẻ ăn dặm muộn
ˉ Nhận thức của bà mẹ về 4 nhóm thức ăn cơ bản trong bữa ăn bổ sung cho trẻ
ˉ Nhận thức của bà mẹ về nguy cơ khi cho trẻ ăn dặm sớm
ˉ Nhận thức của bà mẹ về nguy cơ khi cho trẻ ăn dặm muộn
ˉ Nhận thức của bà mẹ về 4 nhóm thức ăn cơ bản trong bữa
ˉ Nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn hàng ngày cho trẻ 6-8 tháng
ˉ Nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn hàng ngày cho trẻ 9-11 tháng
ˉ Nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn hàng ngày cho trẻ 12-24 tháng
2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh
Nội dung đánh giá nhận thức được xây dựng bộ câu hỏi gồm 45 câu hỏi Đánh giá nhận thức như sau:Biến số nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dưới 24
Trang 38tháng tuổi là biến số không liên tục, nhị giá đúng và chưa đúng với các nội dung sau:
- Nhận thức đúng về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng tuổi là: Bà mẹ biết được lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ, thời gian nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn, cách nuôi con bằng sữa mẹ, thời gian và lưu ý khi cai sữa, định nghĩa về ăn bổ sung,thời điểm ăn bổ sung và hậu quả của ăn bổ sung, thành phần bữa ăn bổ sung, cách thức cho ăn bổ sung
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu được mã hóa, nhập vào máy vi tính và phân tích bằng phần mềm
- Kết quả các biến số được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu sẽ được tiến hành dựa trên các căn cứ bao gồm: Sự đồng ý
của Ủy ban nhân dân các phường/xã được lựa chọn Đề cương nghiên cứu được Hội đồng khoa học và Hội đồng đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng chấp thuận
- Nghiên cứu chỉ thực hiện khi có sự chấp thuận tự nguyện của các đối
tượng tham gia nghiên cứu Nghiên cứu là một can thiệp giáo dục,không xâm
Trang 39nhập cơ thể hoặc tác động có hại đến thể chất của đối tượng tham gia Nghiên cứu mang lại kiến thức về chế độ ăn cho con cho người tham gia nghiên cứu Tất
cả các thông tin chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho các mục đích khác
- Tất cả các thông tin chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu mà không phục
vụ cho các mục đích khác
- Mọi thông tin về đối tượng nghiên cứu sẽ được giữ bí mật
- Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng làm cơ sở cho đề xuất mở rộng
chương trình giáo dục dinh dưỡng về chế độ ăn cho con tới các đối tượng là các
bà mẹ trong thời gian nuôi con trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
- Biện pháp khắc phục sai số:
+ Các khái niệm, thuật ngữ phải rõ ràng
+ Thiết kế bộ câu hỏi có hệ thống và dễ hiểu để đối tượng của nghiên cứu
dễ dàng trả lời
+ Tiến hành thu thập số liệu thử để hoàn thiện bộ câu hỏi
+ Việc thu thập thông tin dựa vào bộ câu hỏi có sẵn do đó có sai sót Để khắc phục sai số chúng tôi đã lựa chọn cán bộ tham gia là những người trung thực, thành thạo về chuyên môn được tập huấn kỹ trước khi tiến hành thu thập số liệu
+ Để đảm bảo tính trung thực của số liệu trước khi thu thập số liệu điều tra viên đã giải thích rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc điều tra với đối tượng để họ hiểu và sẵn sàng hợp tác
Trang 40+ Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra, làm sạch số liệu trước khi phân tích