Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thay đổi kiến thức về phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não của người chăm sóc chính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Đị
Trang 1TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là căn bệnh đem lại hậu quả nặng nề cho người bệnh Người bệnh sau tai biến mạch máu não thường mất đi một số chức năng của cơ thể, không thể phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của bản thân, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Người bệnh tai biến mạch máu não nếu được tiến hành phục hồi chức năng (PHCN) đúng cách ngay từ giai đoạn sớm, khả năng hồi phục tương đối cao (60% – 80%) Tuy nhiên các thành viên trong gia đình hay người chăm sóc chính cần có hiểu biết cơ bản để tiến hành phục hồi chức năng cho người bệnh hàng ngày theo như khuyến cáo Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài
nghiên cứu “Thay đổi kiến thức về phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não của người chăm sóc chính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định” Với phương pháp nghiên cứu can thiệp giáo dục có so sánh trước sau nhằm
đạt được hai mục tiêu sau: 1 Mô tả thực trạng kiến thức về PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não của người chăm sóc chính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định; 2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức về PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não của người chăm sóc chính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
Trong thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 7/2016, 50 người chăm sóc chính của người bệnh tai biến mạch máu não tại khoa Thần kinh bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định được lựa chọn tham gia nghiên cứu
Kết quả thu được như sau: kiến thức của người chăm sóc chính trước can thiệp đạt 16%, chưa đạt 84% Sau can thiệp tỷ lệ NCSC có kiến thức đạt tăng lên thành 76% và chưa đạt chiếm 24% Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận thấy can thiệp đã mang lại hiệu quả bước đầu trong việc nâng cao kiến thức của người chăm sóc chính, cũng như cho cộng đồng về phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não Khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu là cần tăng cường tổ chức các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân, cung cấp cho khoa phòng điều trị các phương tiện, công cụ hỗ trợ PHCNcho người bệnh tai biến mạch máu não
Trang 2Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn đã định hướng học tập, nghiên cứu và tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng biết ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn
Tôi xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp và các đối tượng nghiên cứu đã nhiệt tình cộng tác để tôi có được số liệu cho nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, cùng tập thể lớp cao học khóa I đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Hoàng Yến
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được bất kỳ ai công bố trong các công trình nghiên cứu khác, nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Hoàng Yến
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Thông tin chung về tai biến mạch máu não 4
1.1.1 Định nghĩa tai biến mạch máu não 4
1.1.2 Nguyên nhân 4
1.1.3 Phân loại 5
1.1.4 Hậu quả của tai biến mạch máu não 6
1.1.5 Tình hình tai biến mạch máu não trên Thế giới và Việt Nam 7
1.1.6 Tình hình di chứng và tàn tật do tai biến mạch máu não 8
1.2 Phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não 9
1.2.1 Định nghĩa 9
1.2.2 Mục đích của phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não 9
1.2.3 Nguyên tắc phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não 9
1.2.4 Quá trình phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não 10
1.2.5 Kiến thức, thực hành của NCSC về chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não 14
1.3 Một số nghiên cứu liên quan 15
1.3.1 Thế giới 15
1.3.2 Tại Việt Nam 17
1.4 Địa bàn nghiên cứu 19
Trang 5Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn 20
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 20
2.3 Thiết kế nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp lấy mẫu 21
2.5 Cỡ mẫu 22
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.7 Các biến số nghiên cứu 23
2.8 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá 27
2.8.1 Các khái niệm 27
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá 27
2.9 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu 28
2.10 Xử lý và phân tích số liệu 28
2.11 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 28
2.12 Sai số và cách khắc phục 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Kiến thức về phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não trước và sau can thiệp của người chăm sóc chính 33
3.2.1 Một số kiến thức cơ bản khi tiến hành phục hồi chức năng cho người tai biến mạch máu não 33
3.2.3 Kiến thức của người chăm sóc chính về dụng cụ tập phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não 38
3.2.4 Kiến thức của người chăm sóc chính về tập vận động cho người bệnh tai biến mạch máu não 39
Trang 63.3 Đánh giá sự thay đổi kiến thức sau can thiệp 42
Chương 4: BÀN LUẬN 47
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 47
4.2 Kiến thức của người chăm sóc chính về phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não trước và sau can thiệp 48
4.2.1 Kiến thức cơ bản của người chăm sóc chính trong phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não 49
4.2.2 Kiến thức của người chăm sóc chính về tư thế đúng trong phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não 50
4.2.3 Kiến thức của người chăm sóc chính về tập vận động cho người bệnh sau tai biến mạch máu não 52
4.3 Đánh giá sự thay đổi kiến thức sau can thiệp 55
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 57
KẾT LUẬN 58
KHUYẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu NCSC: Người chăm sóc chính PHCN: Phục hồi chức năng
TBMMN: Tai biến mạch máu não
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 30
Bảng 3.2 Nhận thức của người chăm sóc chính về tầm quan trọng của phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não 31
Bảng 3.3 Kiến thức về thời điểm tiến hành phục hồi chức năng 33
Bảng 3.4 Kiến thức về nội dung của phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não 33
Bảng 3.5 Kiến thức về nội dung tập vận động các cơ bên liệt 34
Bảng 3.6 Kiến thức về số lần tập cho mỗi động tác 34
Bảng 3.7 Kiến thức về mức độ quan sát sắc thái của người bệnh khi tiến hành tập các động tác cho người bệnh 35
Bảng 3.8 Kiến thức về các hỗ trợ cho người bệnh 35
Bảng 3.9 Kiến thức về tư thế người bệnh 36
Bảng 3.10 Kiến thức về tư thế nằm ngửa của người bệnh 36
Bảng 3.11 Kiến thức về giúp người bệnh nằm nghiêng bên liệt 37
Bảng 3.12 Kiến thức về giúp người bệnh nằm nghiêng bên lành 37
Bảng 3.13 Kiến thức về dụng cụ tập phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não 38
Bảng 3.14 Kiến thức về cách giúp cho người bệnh thay đổi tư thế nằm 39
Bảng 3 15 Kiến thức về tập cho người bệnh ngồi dậy 40
Bảng 3.16 Kiến thức về tập cho người bệnh di chuyển từ giường sang ghế (xe lăn) và ngược lại 41
Bảng 3.17 Kiến thức về các động tác tập di chuyển và đề phòng các di chứng cứng khớp 41
Bảng 3.18 Đánh giá sự thay đổi về tổng điểm kiến thức trước và 43
Bảng 3.19 Đánh giá sự thay đổi về điểm kiến thức cơ bản của người chăm sóc chính về phục hồi chức năng 44
Bảng 3 20 Đánh giá sự thay đổi về điểm kiến thức của người chăm sóc chính về hỗ trợ tư thế đúng cho người bệnh 44
Trang 9Bảng 3.21 Đánh giá sự thay đổi về điểm kiến thức của người chăm sóc chính về
dụng cụ tập PHCN 45 Bảng 3.22 Đánh giá sự thay đổi về điểm kiến thức của người chăm sóc chính về
vận động cho người cho người bệnh tai biến mạch máu não 45
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 30 Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 31 Biểu đồ 3.3 Yếu tố tiếp cận truyền thông của người chăm sóc chính về phục hồi
chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não 32 Biểu đồ 3.4 Đánh giá sự thay đổi kiến thức trước và sau can thiệp 42
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Các dạng tai biến mạch máu não 5
Hình 1.2 Tiến triển tổn thương tổ chức não trong tai biến mạch máu não 6
Hình 1.3 Tư thế nằm nghiêng bên liệt 11
Hình 1.4 Tư thế nằm nghiêng bên lành 11
Hình 1.5 Tập dồn trọng lượng lên chân bên liệt và tập kỹ thuật bắt cầu 12
Hình 1.6 Tập vận động khớp gối và khớp háng 12
Trang 121
ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một vấn đề lớn của Y học các nước trong nhiều thập kỷ qua Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể gây tử vong nhanh chóng hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề, đặc biệt là các di chứng về vận động Đó là gánh nặng không chỉ đối với người bệnh, gia đình mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng và quốc gia của họ Theo công bố của tổ chức Y tế thế giới (WHO) TBMMN là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ ba sau ung thư và tim mạch
Tỷ lệ mắc TBMMN ở các nước phát triển rất cao Hàng năm Hoa Kỳ có thêm 500.000 người bị tai biến mới, phần lớn xảy ra sau 55 tuổi, tỷ lệ tử vong cao khoảng 30% - 40% trong tháng đầu tiên sau tai biến, 2/3 số người được cứu sống bị tàn tật [4]
Ở Trung Quốc, tỷ lệ mắc bệnh này tại thành phố Bắc Kinh là 329/100.000 dân, còn ở Quảng Châu tỷ lệ này là 47/100.000 dân và tỷ lệ tử vong là 69– 80/100.000 dân [8] Tại Việt Nam, với dân số 80 triệu dân, mỗi năm có khoảng 200.000 người bị TBMMN, làm chết khoảng 100.000 người Hiện Việt Nam có 486.400 người bị mất sức lao động và tàn tật do TBMMN [20] Theo một nghiên cứu cấp Bộ về Dịch tễ học TBMMN tại 3 tỉnh: thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang và Kiên Giang tỷ lệ mới mắc mỗi năm là 3,5/1000 dân, tỷ lệ bệnh toàn bộ (còn đang sống) 6,08/1000 dân, tỷ lệ tử vong 1,31/1000 dân [20] Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ
lệ tàn tật cao nhất Theo thống kê của Bộ Lao Động – Thương binh – Xã hội, năm
2005 cả nước có khoảng 5,3 triệu người tàn tật Trong đó, khuyết tật vận động là cao nhất chiếm tỷ lệ 51,9%, khó khăn về học chiếm 12,2%, khó khăn về nhìn là 12,2%, khó khăn nghe nói là 7,6%, rối loạn tâm thần là 9,2% và động kinh chiếm 6,9% [3] Vì vậy, giải quyết vấn đề phục hồi vận động cho người bệnh sau TBMMN là vấn đề cấp thiết và quan trọng, giúp cho người bệnh hòa hợp với gia đình và cộng đồng
Tai biến mạch máu não có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở những người cao tuổi, người bị tai biến mạch máu não thường được điều trị cấp cứu tại các bệnh viện từ một đến vài tuần, sau đó người bệnh trở về nhà nhưng vẫn được tiếp tục được điều trị và chăm sóc để đảm bảo cho người bệnh phục hồi dần các chức
Trang 132
năng, tái hội nhập xã hội một cách bình đẳng, có cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh sống của họ Do đó, việc PHCN cho người bệnh là rất quan trọng và cần phải có biện pháp phù hợp người bệnh bệnh tai biến mạch máu não cần phải được chăm sóc phục hồi chức năng toàn diện không chỉ ở cơ sở y tế mà còn tại gia đình
Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 60 – 80% người tàn tật có thể phục hồi tại cộng đồng sau khi ra viện [7] Tuy nhiên, một số nghiên cứu, đánh giá về thực trạng công tác PHCN cho người bệnh TBMMN cho thấy, việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh vẫn còn nhiều hạn chế Trong đó, người bệnh TBMMN chủ yếu được đáp ứng các nhu cầu chăm sóc cơ bản như chế độ ăn, dinh dưỡng, vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng việc đáp ứng các nhu cầu PHCN cho người bệnh còn hạn chế Tại Việt Nam do sự thiếu hụt về nhân lực và năng lực Điều dưỡng còn hạn chế, vì vậy người nhà là nhân lực chính tham gia vào công tác chăm sóc người bệnh TBMMN, đặc biệt là giai đoạn đầu sau tai biến Điều này đồng nghĩa với việc những người chăm sóc của người bệnh cần có một lượng kiến thức cần thiết để đạt được hiệu quả cao trong chăm sóc và hồi phục chức năng cho người bệnh Do vậy nâng cao kiến thức cho NCSC trong việc chăm sóc người bệnh TBMMN là một vấn đề cần thiết Dựa trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành đề tài
nghiên cứu “ Thay đổi kiến thức về phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não của người chăm sóc chính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định”
Trang 143
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức về phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não của người chăm sóc chính trước và sau can thiệp giáo dục tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức về phục hồi chức năng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não của người chăm sóc chính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục
Trang 154
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thông tin chung về tai biến mạch máu não
1.1.1 Định nghĩa tai biến mạch máu não
TBMMN là các tổ thương thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa do mạch máu não (động mạch, mao mạch, hiếm hơn là tĩnh mạch)
bị vỡ hoặc tắc mà không do chấn thương sọ não
Tỷ lệ tai biến mạch máu não và hậu quả ngày càng gia tăng đang trở thành gánh nặng cho tất cả các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới [04], [38] Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 15 triệu người bị TBMMN, trong đó có hơn 5 triệu người tử vong và khoảng 5 triệu người bị di chứng tàn phế vĩnh viễn [29]
1.1.2 Nguyên nhân
1.1.2.1 Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được
Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền
Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này như sau:
Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1)
Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc TBMMN cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng
Khu vực địa lý: Cư dân Châu Á mắc bệnh nhiều hơn Đông Âu, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn cả là ở các cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ Dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn
Lứa tuổi: Người già mắc bệnh nhiều nhất sau đó đến tuổi trung niên và giảm dần ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối cùng tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em là thấp nhất
1.1.2.2 Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được
Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, ít vận động
Trang 165
Các nguyên nhân hàng đầu của TBMMN là tuổi cao, vữa xơ động mạch não, cao huyết áp, sau đó là nguyên nhân từ tim (viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai lá, rối loạn nhịp tim), các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh nội ngoại khoa khác
1.1.3 Phân loại
Có 2 dạng TBMMN thường gặp hiện nay:
TBMMN do thiếu máu cục bộ: bệnh thường gặp sau một cơn đau hoặc cục
máu đông có thể hình thành trong các mạch máu của não, hoặc trong mạch máu dẫn đến não, hay trong các mạch máu ở những nơi khác của cơ thể đi đến não; những cục máu đông chặn lưu lượng máu đến các tế bào của não, dạng này chiếm tỉ lệ cao trên 80% các ca TBMMN do thiếu máu cục bộ
TBMMN do xuất huyết não: xảy ra do một mạch máu não bị vỡ, kết quả là
máu thấm vào mô não, gây tổn thương cho các tế bào não, phổ biến nhất của dạng này là kết hợp giữa huyết áp cao với chứng phình động mạch não, hay dị dạng mạch máu não bẩm sinh, do rối loạn đông máu hoặc người bệnh đang điều trị bằng thuốc chống đông
Hình 1.1 Các dạng TBMMN (Nguồn The Stroke Association, 2010)
Trang 176
Tùy thuộc vào sự tổn thương của mạch máu não, có thể do sự tắc nghẽn mạch máu não làm ngưng trệ dòng máu lên nuôi não phía sau chỗ tắc, hoặc do sự vỡ mạch máu trong não làm cho máu trong lòng mạch thoát ra bên ngoài tràn vào trong
mô não gây phá hủy và chèn ép mô não Hậu quả là phần não có liên quan bị tổn thương không thể hoạt động được dẫn đến phần cơ thể vùng não đó chỉ huy cũng không thể hoạt động được Không giống như nhiều bộ phận khác trong cơ thể, tế bào não không được dự trữ năng lượng cho những trạng thái khẩn cấp, mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự cấp máu liên tục tới não Do vậy sự gián đoạn cung cấp máu tới tổ chức não càng kéo dài thì tổn thương não càng nhiều và tình trạng người bệnh càng trầm trọng
Khi TBMMN não xảy ra, chết tế bào não đầu tiên xảy ra ở vùng lõi (core) và tiếp tục lan rộng theo thời gian ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) được coi là vùng có thể cứu vãn được vì tổn thương có thể đảo ngược được nếu được cung cấp máu nhanh chóng trở lại [35]
Hình 1.2 Tiến triển tổn thương tổ chức não trong TBMMN
(Nguồn The Stroke Association, 2010) 1.1.4 Hậu quả của tai biến mạch máu não
TBMMN là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp Ngoài việc gây nên tỷ lệ tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng, khiếm khuyết, giảm chức năng
và tàn tật, ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh Chi phí cho tai biến mạch máu não vô cùng lớn như ở Hoa Kỳ, mỗi năm chi 7 tỷ đô la cho tai biến mạch máu não Sau khi ra viện, chi phí cho mỗi người bệnh tại cơ sở PHCN
là 19 đô la, tổng chi phí 1 năm cho tai biến mạch máu não là 17 tỷ đôla [21] Theo
Trang 18Ấn Độ và 390.000 người ở các nơi khác trừ Nhật Bản [24] Người bệnh vào điều trị tai biến mạch máu não ở Trung Quốc là 40%, Ấn Độ là 11%, Philipin là 10%, Hàn Quốc là 16%, Indonesia là 8%, Việt Nam là 7%, Thái Lan là 6%, Malaysia là 2% [9]
1.1.5.2 Việt Nam
Theo Lê Văn Thành và cộng sự, tỉ lệ hiện mắc trung bình hàng năm của tai biến mạch máu não là 416/ 100.000 dân, tỉ lệ mắc là 152/100.000 dân Theo Nguyễn Văn Đăng và cộng sự, tỉ lệ hiện mắc là 99,44/100.000 dân, tỉ lệ mới mắc là 36/100.000 dân và tỉ lệ tử vong là 27/100.000 dân, tỉ lệ tai biến mạch máu não của nam và nữ là: nam/nữ = 1,48/1 [7] Lê Văn Thành khi nghiên cứu 1036 người bệnh tai biến mạch máu não trong 10 năm (2001 - 2011) đã thấy tỉ lệ nhồi máu não là 76% [27] Tỉ lệ di chứng nhẹ và vừa của tai biến mạch máu não là 68,42%, tỉ lệ di chứng nặng là 27,69%, trong đó di chứng về vận động chiếm 92,96% tổng số người bệnh liệt nửa người Tỉ lệ tai biến mạch máu não đang sống tại cộng đồng có nhu cầu phục hồi chức năng là 94% [12]
Trang 19Theo David [41] các di chứng thường gặp trong bộ máy vận động bao gồm:
Đau khớp vai bên liệt do không cử động được hết tầm chiếm 45% người bệnh liệt nửa người
Gập khớp khuỷu do cơ gập khuỷu ngắn lại chiếm 73%
Gập khớp cổ tay ở phía lòng bàn tay do mất chức năng gập phía lưng bàn tay
và duỗi các ngón tay chiếm 92%
Quay sấp cổ tay bên liệt chiếm 75%
1.1.6.2 Tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, ở nước ta TBMMN đang có chiều hướng gia tăng, cướp đi sinh mạng của nhiều người hoặc để lại di chứng nặng nề gây thiệt hại to lớn cho gia đình và xã hội
Theo Nguyễn Văn Đăng [5], [6]:
92,62% người bệnh tai biến mạch máu não có di chứng về vận động
27,69% có di chứng nặng
68,42% có di chứng nhẹ và vừa
Theo Cao Minh Châu nghiên cứu thấy di chứng về vận động chiếm tỷ lệ cao như:
Gập phía lòng khớp cổ tay chiếm 87,95%
Gập phía lòng khớp cổ chân chiếm 96,39%
Theo Hoàng Văn Thuận, số người sống sót sau tai biến mạch máu não để lại di chứng cao: 52,2% là tàn phế, 33,08% là phải giúp đỡ một phần [6]
Trang 20có cơ hội bình đẳng và tham gia vào các hoạt động xã hội Tai biến mạch máu não gây ra đa tàn tật gồm tàn tật về vận động, cảm giác, giác quan, ngôn ngữ Phục hồi chức năng phải quan tâm tới tất cả các tàn tật này, giúp người bệnh có thể tự đi lại được, tự phục vụ mình, độc lập tối đa trong sinh hoạt, hòa nhập được với gia đình
và xã hội, tham gia các hoạt động xã hội Người liệt nửa người do tai biến mạch máu não nếu không được tiến hành PHCN sẽ phát triển nhiều biến chứng và tỉ lệ tử vong cao trong năm đầu, sống lệ thuộc và tàn tật càng ngày càng nặng lên Nếu được PHCN tốt thì hầu hết người bệnh bị tai biến mạch máu não có thể tự đi lại [53], [54], [19]
1.2.2 Mục đích của phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não
Giúp người bệnh tự mình di chuyển và đi từ nơi này đến nơi khác, bao gồm
cả việc hướng dẫn người bệnh sử dụng các dụng cụ trợ giúp cho vận động và đi
Giúp người bệnh tự làm được những công việc trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày
Giúp người bệnh thích nghi với những di chứng còn lại
Giúp người bệnh trở lại với nghề cũ, hoặc có nghề mới thích hợp với hoàn cảnh hiện tại của họ
1.2.3 Nguyên tắc phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não
PHCN nên bắt đầu càng sớm càng tốt sau TBMMN, khi tình trạng toàn thân cho phép
Tập vận động phải cân xứng 2 bên, không sử dụng vận động bên lành bù trừ hoặc thay thế cho bên liệt
Điều chỉnh trương lực cơ trở lại bình thường, hoặc gần bình thường bằng
kỹ thuật kích thích hay ức chế
Trang 21 Người bệnh tai biến mạch máu não thuộc loại đa tàn tật, có thể cần chăm sóc PHCN ở nhiều mặt: vận động, ngôn ngữ, tâm lý, làm việc trong đó chức năng vận động được quan tâm nhiều nhất và sớm nhất Việc chăm sóc phục hồi chức năng có tác động tốt đến khả năng phục hồi của người bệnh tai biến mạch máu não Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Lệ, Phạm Thị Mỹ Luật và nhiều tác giả khác đều cho kết luận: người bệnh được chăm sóc phục hồi chức năng thì hồi phục tốt hơn [15], [16], [18], [43], [36]
1.2.4 Quá trình phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não
Việc phục hồi chức năng cần toàn diện, sớm và tuỳ thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh Ở giai đoạn cấp của bệnh, việc chăm sóc chiếm vị trí quan trọng, phục hồi chức năng cũng đồng thời phải tiến hành ngay Nội dung các hoạt động này bao gồm: giữ tư thế tốt và đúng để tránh cứng khớp và biến dạng khớp, tập luyện để duy trì và tăng cường sức mạnh cơ, giúp người bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp
1.2.4.1 Vị trí người bệnh trên giường
Đặt tư thế đúng, vị trí đúng ở trên giường rất quan trọng cho đến khi người bệnh có thể tự di chuyển được từ nơi này đến nơi khác Người bệnh cần được đặt ở
tư thế đúng để giảm bớt mẫu co cứng, đề phòng biến dạng khớp Các tư thế đúng gồm có:
- Tư thế nằm ngửa
- Tư thế nằm nghiêng bên lành
Trang 2211
- Tư thế nằm nghiêng bên liệt
Hình 1.3 Các tư thế nằm đúng (Nguồn: Trần Văn Chương, 2010)
+ Nằm nghiêng bên liệt là tốt nhất
+ Thay đổi tư thế 2 giờ một lần Giường người bệnh nên để ở vị trí mà người chăm sóc có thể đến từ các phía Các đồ dùng đặt phía bên liệt để khuyến khích người bệnh sử dụng phần cơ thể liệt càng nhiều càng tốt
1.2.4.2 Các bài tập giai đoạn đầu:
Khi cho người bệnh TBMMN tập các bài tập phục hồi chức năng cần chú ý quan sát sắc thái của họ Khi thấy người bệnh toát mồ hôi và tỏ ra mệt mỏi, cộng tác viên hoặc người nhà cần cho họ nghỉ ngơi ngay
A Người bệnh hôn mê: Tập thụ động tất cả các chi phòng ngừa teo cơ cứng khớp
B Người bệnh tỉnh:
- Tập lăn nghiêng phải trái tại giường
- Tập vận động khớp vai: với sự trợ giúp của tay lành
Hình 1.4 Cách tập lăn nghiêng tại giường (Nguồn: Trần Văn Chương, 2010)
- Tập vận động khớp khuỷu: gấp duỗi khuỷu với sự trợ giúp của tay lành
Trang 2312
- Bài tập vận động với khớp cổ- bàn- ngón tay: vận động các khớp cổ, bàn, ngón tay với sự trợ giúp của tay lành
- Tập dồn trọng lượng lên chân liệt
- Tập kỹ thuật bắt cầu: người bệnh nằm ngữa, hai gối gập, sau đó nâng mình lên khỏi mặt giường
Hình 1.5 Tập dồn trọng lượng lên chân bên liệt và tập kỹ thuật bắt cầu
(Nguồn: Trần Văn Chương, 2010)
- Tập vận động khớp gối và khớp háng: Tập gấp, duỗi gối và khớp háng ở chân liệt
Hình 1.6 Tập vận động khớp gối và khớp háng
(Nguồn: Trần Văn Chương, 2010)
- Tập vận động khớp cổ chân: Gấp khớp cổ chân bênh liệt về phía mu
- Tập phục hồi các cơ bên liệt: chú ý rằng trước khi tập các bài tập cho người bệnh cần đảm bảo giải phóng họ khỏi tình trạng co cứng trước, đối với các trường hợp liệt cứng và có tăng trương lực cơ
Có thể áp dụng các cách đơn giản sau để ức chế trương lực cơ ở tay và chân Kiểm soát trương lực cơ ở tay: để người bệnh ngồi, tay bị liệt duỗi thẳng (khuỷu duỗi), bàn tay và các ngón tay mở xòe ra đặt trên mặt giường, chống tay cạnh thân mình Giữ ở tư thế đó 5 – 10 phút
Trang 2413
Kiểm soát trương lực cơ chân: để người bệnh ở tư thế ngồi, gối chân liệt vuông góc, bàn chân liệt đặt sát trên nền nhà Bảo người bệnh bắt chéo chân lành sang bên chân liệt, cẳng chân bên lành tì đầu gối chân bên liệt xuống Nếu người bệnh không làm được thì người giúp đỡ có thể dùng tay của mình để tì ấn gối bên liệt của người bệnh xuống Giữ tư thế đó 5-10 phút hoặc tới khi chân liệt của người bệnh không run, giật nữa thì ngừng lại
- Tập hoạt động, sinh hoạt hàng ngày: Gia đình cần hỗ trợ để người bệnh tự làm các hoạt động chăm sóc bản thân như: ăn uống, vệ sinh: chải đầu, đánh răng, rửa mặt, thay quần áo, tắm rửa, đi vệ sinh Trong đó, cần biết cách hỗ trợ người bệnh di chuyển từ giường sang xe lăn và ngược lại
1.2.4.3 Dụng cụ tập luyện
Có thể làm một số dụng cụ để tập như: ròng rọc, thanh gỗ để tập khớp vai, tạ (hoặc bao cát) để tập mạnh cơ Tuỳ theo mục đích tập mà người bệnh nên được được chọn dụng cụ nào
Dùng nẹp chỉnh hình để duy trì tư thế đúng: nẹp chỉnh hình là các dụng cụ để ngăn ngừa hoặc nắn chỉnh sai lệch tư thế của chi thể Có loại nẹp nắn chỉnh khớp cổ chân gọi là nẹp dưới gối; nẹp nắn chỉnh khớp gối gọi là nẹp khớp gối Nguyên tắc
sử dụng các nẹp này là đeo càng nhiều thời gian càng tốt, thường là lúc không vận động, nhưng có thể đeo cả lúc vận động như nẹp dưới gối
Đối với người bị liệt nửa người sau TBMMN, các nẹp chỉnh hình hay dùng là:
- Nẹp dưới gối: để đề phòng bàn chân thuổng
- Nẹp cổ tay: giữ cổ tay khỏi quặp và biến dạng gập
- Đai treo cánh tay: đỡ vai khỏi xệ và bán trật khớp
1.2.4.4 Phục hồi chức năng về mặt xã hội
Những người bị tai biến mạch não chiếm tỷ lệ khá lớn trong xã hội, do vậy họ cần được xã hội quan tâm và hỗ trợ Quan trọng nhất là tạo cơ hội để họ tiếp cận dịch vụ công cộng: y tế - phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm và các dịch vụ khác như thể thao, văn hoá Những cá nhân này cần được liên kết với nhau để chia
sẻ kinh nghiệm và giúp nhau trong quá trình hội nhập xã hội Hội hoặc câu lạc bộ
Trang 2514
người khuyết tật là một tổ chức có vai trò quan trọng hỗ trợ người khuyết tật hoà nhập cộng đồng
1.2.4.5 Phục hồi chức năng về tâm lý
Người bệnh thường bị rối loạn cảm xúc như: trầm cảm, không ham muốn, thiếu động cơ tập luyện, không cố gắng, nhiều người tự coi mình làm trung tâm sự chú ý và chăm sóc, muốn được phục vụ và quan tâm Do vậy, tuỳ theo tâm lý của người bệnh mà gia đình, cộng tác viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và những người xung quanh cần hỗ trợ, nâng đỡ, động viên họ, giúp họ tham gia tích cực vào việc tập luyện và phục hồi chức năng
1.2.5 Kiến thức, thực hành của NCSC về chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não
Trong kết quả nghiên cứu kiến thức của điều dưỡng viên về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy: 73,1% có kiến thức đạt và 26,9% có kiến thức không đạt Trong đó, có 80% điều dưỡng viên nhận thức đúng về nhiệm vụ của người điều dưỡng cũng như tầm quan trọng của công tác này; 80,6% điều dưỡng viên trả lời đúng về các nội dung cần chăm sóc, nhưng khi phân tích từng nội dung cụ thể thì chỉ có khoảng trên 80% có kiến thức đạt về nội dung chăm sóc da và chăm sóc ăn uống Những nội dung khác như chăm sóc đường tiểu/bàng quang, chăm sóc hô hấp, chăm sóc phòng ngừa táo bón, chăm sóc phòng ngừa tắc mạch, chăm sóc tư thế đúng, chăm sóc luyện tập/vận động chỉ đạt khoảng 70% Đặc biệt, chỉ có 67,2% có kiến thức đạt về tổn thương thứ cấp, là những biến chứng mà người bệnh tai biến mạch máu não thường gặp phải nếu không được chăm sóc sớm và đúng Kết quả này xảy ra là do
có tới ¾ các điều dưỡng viên chưa từng được tập huấn về chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN và hướng dẫn kỹ thuật từ các kỹ thuật viên Bên cạnh đó, các nội dung tập huấn cho điều dưỡng viên thì còn khá sơ sài, chưa đi sâu vào kiến thức
và kỹ năng thực hiện các nội dung chăm sóc PHCN cho người bệnh.Về phòng tránh liệt: có 10% người bệnh được đáp ứng nhu cầu được chỉ dẫn vị thế nằm đúng trên giường Không có người bệnh nào được điều dưỡng viên đáp ứng đầy đủ nhu cầu
Trang 2615
được luyện tập-vận động tay chân hai bên trong 13,8% người bệnh có nhu cầu Trong khi còn 1/4 số lượng người bệnh không được chăm sóc và 3/4 được chăm sóc chưa đầy đủ Về đáp ứng nhu cầu được hướng dẫn/hỗ trợ vận động để tuần hoàn lưu thông, có 45,7% người bệnh được chăm sóc tốt[25]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Tấn về công tác chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não ở Cầu Giấy năm 2006 chỉ ra rằng,
có mối liên quan giữa việc tìm hiểu kiến thức về chăm sóc người bệnh với thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh Trong đó, những người có tìm hiểu kiến thức về bệnh thì thực hành chăm sóc PHCN cho người bệnh là cao hơn 4,5 lần so với những người không tìm hiểu kiến thức về bệnh (p<0,05) Có mối liên quan giữa quan điểm về sự cần thiết PHCN cho người bệnh của gia đình với thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh của NCSC, trong đó những gia đình
có quan điểm cần thiết phải PHCN tại nhà thì người bệnh được chăm sóc PHCN cao gấp 4,1 lần so với những gia đình có quan điểm không cần thiết (p<0,05) Theo nghiên cứu của Mai Thọ Truyền và Ngô Đăng Thục năm 2010 về thực trạng điều trị và chăm sóc tại nhà của người bệnh TBMMN sau ra viện ở thành phố Cần Thơ thì có 68% người chăm sóc có kiến thức đạt về chăm sóc người bệnh TBMMN [26]
1.3 Một số nghiên cứu liên quan
1.3.1 Thế giới
Khi nghiên cứu theo dõi những người sống sót sau tai biến mạch máu não lần đầu tiên, Motegi A và cộng sự cho biết hai năm sau tai biến mạch máu não có 62% các trường hợp độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày khi người chăm sóc chính của họ có kiến thức đạt về phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não.[30]
Nakayama H và cộng sự khi truyền thông chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng trong 3 tháng cho 220 người chăm sóc chính của người bệnh tai biến mạch máu não, kết quả sau can thiệp cho thấy có 68% người chăm sóc biết cách lăn
Trang 27Theo Sveen U và cộng sự, mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh sau tai biến mạch máu não cao hay thấp phụ thuộc không nhỏ vào tần suất người chăm sóc chính tập vận động cho người bệnh [60]
Okamusa T và cộng sự khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị phục hồi chức năng vận động cho người bệnh liệt1/2 người do tai biến mạch máu não thì thấy rằng: Việc người chăm sóc chính có kiến thức tốt và tiến hành phục hồi chức năng vận động cho người bệnh một cách thường xuyên thì có tác dụng tốt cải thiện mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh [57]
Kristeins và cộng sự khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ở những người bệnh tai biến mạch máu não thấy: Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày là khoảng thời gian kể từ khi bệnh khởi phát đến khi bắt đầu được tiến hành chương trình phục hồi chức năng và mức độ người chăm sóc thực hiện các động tác lăn trở người và tập các bài tập vận động [31]
Nghiên cứu của Ishikawa và cộng sự cho thấy rằng nam giới có sự thay đổi kiến thức về phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não tích cực hơn nữ giới, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 Theo tác giả, có sự khác biệt về mức độ thay đổi kiến thức này có thể do nam giới thường có xu hướng tiếp thu các thông tin mới tốt hơn nữ giới; mặt khác, họ cũng có nhiều thời gian và cơ hội tiếp xúc với các phương tiện truyền thông nhiều hơn nữ giới[55]
Trang 2817
Schutte T và cộng sự tiến hành chương trình truyền thông về phục hồi chức năng cho 72 người chăm sóc chính của 72 người bệnh sau tai biến mạch máu não, với thời gian trung bình là 72,3 ngày, sau khi kết thúc chương trình người bệnh đã
có những tiến triển đáng kể trong đó có 76,6% tiến bộ về chức năng vận động và 61,1% độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày [58].Chính vì vậy mà tác giả cho rằng việc cung cấp kiến thức cho người chăm sóc chính của người bệnh tai biến mạch máu não là rất quan trọng, nó tác động trực tiếp đến kết quả hồi phục các chức năng của người bệnh
Samuelsson M và cộng sự nghiên cứu 81 người bệnh nhồi máu não lần đầu sau khi người chăm sóc chính được truyền thông kiến thức về phục hồi chức năng cho biết với thời gian dưới 3 năm tai biến mạch máu não, mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày chiếm từ 58 - 64%, còn mức độ phụ thuộc hoàn toàn giảm đáng kể chiếm 12 - 24% [50]
1.3.2 Tại Việt Nam
Theo tác giả Nguyễn Văn Lệ nghiên cứu tại Hà Đông năm 2015 kiến thức của NCSC còn hạn chế trong một số nội dung khác như kiến thức về xoay trở người cho người bệnh chỉ chiếm 37,5%, điều này có thể là do sau khi ra viện thì sức khỏe của người bệnh đã ổn định hơn, do đó người chăm sóc chính cho rằng người bệnh có thể không cần xoay trở người, vì thế kiến thức của người chăm sóc chính về việc xoay trở người cho người bệnh là thấp Thêm vào đó, trong nội dung về chăm sóc tư thế đúng cho người bệnh thì kiến thức của NCSC về việc người bệnh cần có tư thế nằm đúng trên giường tương đối thấp Điều này cho thấy việc tăng cường kiến thức cho NCSC về chăm sóc tư thế đúng của người bệnh là rất cần thiết, đặc biệt sau khi người bệnh rời khỏi bệnh viện và trở về nhà thì các nhân viên y tế rất cần cung cấp thông tin và hướng dẫn, hỗ trợ người bệnh và người nhà trong việc chăm sóc PHCN tại nhà nhằm phục hồi sức khỏe của người bệnh và phòng ngừa biến chứng có thể xảy ra [14]
Bên cạnh đó, trong việc đáp ứng nhu cầu về chăm sóc tư thế đúng cho người bệnh thì chỉ có 22,7% người bệnh được đáp ứng nhu cầu có vị thế nằm đúng trên
Trang 2918
giường [14] Trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy, có 10% người bệnh được đáp ứng nhu cầu được chỉ dẫn vị thế nằm đúng trên giường Điều này có thể là do người chăm sóc chính chưa biết hoặc chưa quan tâm nhiều đến việc cho việc chăm sóc tư thế nằm đúng cho người bệnh, và được giải thích phần nào bởi
tỷ lệ NCSC có kiến thức về việc cần cho người bệnh có tư thế nằm đúng chỉ đạt 18,2% [25]
Trong kết quả nghiên cứu kiến thức của điều dưỡng viên về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy: 73,1% có kiến thức đạt và 26,9% có kiến thức không đạt Đặc biệt, chỉ có 67,2% có kiến thức đạt về tổn thương thứ cấp, là những biến chứng mà người bệnh tai biến mạch máu não thường gặp phải nếu không được chăm sóc sớm và đúng [25]
Nguyễn Thuỳ Hương cho biết, di chứng của TBMMN thường là liệt nửa người, do đó ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt hàng ngày [16] Theo Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự với chương trình PHCN dựa vào cộng đồng có 43,5% người tàn tật hội nhập xã hội [1] Còn khi tìm hiểu nhận thức nhu cầu và nguyện vọng của người tàn tật qua chương trình PHCN dựa vào cộng đồng tại 3 tỉnh: Thái Bình, Nam
Hà, Hoà Bình thấy rằng sự tiến bộ về mặt tinh thần, xã hội và thể chất là đáng ghi nhận tỉ lệ sức khoẻ của người tàn tật được cải thiện là 75,5%, người tàn tật có thể chăm sóc bản thân nhiều hơn là 54,4% từ khi tham gia vào chương trình PHCN dựa vào cộng đồng [1] Cao Minh Châu và cộng sự qua nghiên cứu tổng kết 83 trường hợp liệt nửa người tại các huyện triển khai chương trình PHCN dựa vào cộng đồng
có sử dụng dụng cụ PHCN thấy rằng chức năng của người tàn tật được cải thiện, để phòng được các di chứng nặng nề , các biến dạng ở cổ tay, cổ chân so với nơi không
có chương trình PHCN dựa vào cộng đồng và 81,4% người bệnh liệt nửa người có
sử dụng dụng cụ PHCN thì tình trạng tàn tật được cải thiện rõ rệt [1] Theo Dương Xuân Đạm PHCN vận động cho người sau TBMMN là một quá trình lâu dài, chủ yếu là tại cộng đồng, thời gian khoảng từ 12 - 18 tháng [27]
Trang 3019
1.4 Địa bàn nghiên cứu
Nằm trên diện tích 2,7 ha trong khu vực nội thành Nam Định, bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định là bệnh viện hạng I có quy mô 600 giường với bảy phòng chức năng, 21 khoa lâm sàng, 09 khoa cận lâm sàng với tổng số gần 600 y, bác sĩ và điều dưỡng viên Tại khoa Thần kinh của bệnh viện, đơn nguyên Đột quỵ là nơi điều trị chính cho người bệnh tai biến mạch máu não, trung bình lượng người bệnh nằm điều trị nội trú tại khoa khoảng 40 – 50 người bệnh tại một thời điểm Bên cạnh đó còn một số người bệnh tai biến mạch máu não nằm điều trị rải rác tại các khoa khác của bệnh viện như khoa Tim mạch, Phục hồi chức năng trong cùng thời điểm Với
số lượng người bệnh cùng nằm điều trị tại bệnh viện vào một thời điểm cho thấy lượng người bệnh tai biến trên địa bàn tỉnh Nam Định là tương đối lớn, do đó đòi hỏi sự cần thiết điều trị và chăm sóc cho họ, đồng thời nâng cao kiến thức chăm sóc cho những người chăm sóc chính của người bệnh là việc làm quan trọng góp phần thúc đẩy tích cực cho quá trình điều trị và phục hồi cho người bệnh
Trang 3120
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người chăm sóc chính của người bệnh TBMMN đang được điều trị tại khoa Thần Kinh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn
Người chăm sóc trực tiếp người bị TBMMN hàng ngày đang điều trị tại khoa thần kinh từ 4/2016-7/2016
Người chăm sóc chính có khả năng nhận thức và giao tiếp để trả lời các câu hỏi
Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ
Người chăm sóc chính không thể tiếp nhận và trả lời được các câu hỏi
Người chăm sóc chính không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian: Từ 4/2016 đến 10/2016
Địa điểm: Khoa Thần Kinh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau
Nội dung can thiệp: Giáo dục sức khỏe cho người chăm sóc chính người bệnh TBMMN về: tư thế nằm của người bệnh, cách lăn trở người bệnh, tập hoạt
Can thiệp giáo dục: tư vấn trực tiếp tại khoa, tài liệu phát tay
Đánh giá kiến thức phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não lần 2 Đánh giá sự thay đổi
Hình 2.1: Sơ đồ nghiên cứu
Trang 3221
động sinh hoạt hàng ngày, các động tác tập theo tầm vận động khớp và tập phục hồi các cơ bên liệt, dụng cụ tập luyện Trong quá trình giáo dục sức khoẻ, chúng tôi có minh họa bằng thực hiện các động tácdựa trên cơ sở lý thuyết đã được tư vấn, để NCSC dễ hình dung và hiểu sâu về vấn đề nghiên cứu
Người can thiệp: người nghiên cứu là người trực tiếp tư vấn
Chương trình can thiệp: Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, qua khảo sát nhận thấy trung bình thời gian nằm viện của người bệnh TBMMN là 2 tuần Vì vậy chúng tôi tiến hành thu thập số liệu và can thiệp trên đối tượng nghiên cứu vào các thời điểm:
Đánh giá kiến thức của đối tượng nghiên cứu lần 1 (khi bắt đầu nhập khoa điều trị) bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi có sẵn tại buồng bệnh vào lúc 10h30phút ngày đầu nhập viện với thời gian phỏng vấn 15 phut Sau đó tổng hợp, phân tích sơ bộ kết quả đánh giá kiến thức của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) để tìm ra những thiếu sót, hạn chế của ĐTNC về phục hồi chức năng sau TBMMN để xây dựng chương trình can thiệp phù hợp với ĐTNC
Tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏe cho ĐTNC với nội dung được xây dựng phù hợp ( Phụ lục 4), trong thời gian người bệnh TBMMN còn nằm điều trị tại bệnh viện (03 ngày kể từ khi đánh giá kiến thức lần 1) tại buồng bệnh lúc 10h trong khoảng 30 phút
Phát cho đối tượng nghiên tài liệu tư vấn về phục hồi chức năng sau TBMMN (Phụ lục 4) Tiến hành truyền thông về phục hồi chức năng sau TBMMN ngay tại khoa phòng, kết hợp với làm mẫu mẫu cho đối tượng quan sát
Đánh giá lại kiến thức của đối tượng nghiên cứu lần 2 (trước khi ra viện, 1 tuần sau can thiệp giáo dục) thông qua bộ câu hỏi giống lần 1 để so sánh sự thay đổi kiến thức về phục hồi chức năng sau TBMMN của ĐTNC sau can thiệp tại buồng bệnh lúc 10h trong khoảng 30 phút
2.4 Phương pháp lấy mẫu
Chọn mẫu toàn bộ theo danh sách người bệnh tai biến mạch máu não điều trị tại khoa thần kinh bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định phù hợp với tiêu chuẩn lựa
Trang 3322
chọn trong thời gian lấy số liệu nghiên cứu Mỗi người bệnh chọn một người chăm sóc thường xuyên nhất (người hỗ trợ phần lớn các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người bệnh) Những đối tượng đi vắng hoặc không trả lời phỏng vấn được ở thời điểm phỏng vấn thì sẽ được phỏng vấn vào thời điểm khác
2.5 Cỡ mẫu
Chọn toàn bộ những NCSC của người bệnh tai biến mạch máu não nằm điều trị tại khoa thần kinh bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định từ tháng 4/2016 đến tháng 7/2016, tổng số NCSC đạt tiêu chuẩn là 50 người
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn với cùng nội dung cho 2 lần đánh giá trước can thiệp (khi vào viện) và sau can thiệp (trước khi ra viện)
Tiến trình thu thập số liệu:
+ Bước 1: Lựa chọn những NCSC đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
+ Bước 2: Những NCSC đủ tiêu chuẩn lựa chọn sẽ được giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu Nếu đồng ý người chăm sóc chính ký vào bản đồng thuận và được phổ biến về hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong bộ câu hỏi
+ Bước 3: Đánh giá nhận thức của người chăm sóc chính trước giáo dục sức khỏe bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi (phụ lục 2) + Bước 4: Can thiệp giáo dục sức khỏe cho người chăm sóc chính thông qua phát tài liệu truyền thông về kiến thức về phục hồi chức năng người bệnh sau TBMMN, kết hợp với truyền thông trực tiếp kết hợp với làm mẫu thực hành tại khoa phòng (phụ lục 4)
+ Bước 5: Đánh giá nhận thức của người chăm sóc chính sau can thiệp giáo dục sức khỏe với cùng bộ câu hỏi như lần 1 (phụ luc 2)
Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên cuốn” phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não” cuả Bộ Y tế ban hành, đồng thời có tham khảo một số bộ công cụ
trong các nghiên cứu về chăm sóc phục hồi chức năng người bệnh tai biến mạch máu não đã được tiến hành trước đây [14], [25] Bộ công cụ được thử nghiệm 2 lần
Trang 3423
trước khi tiến hành thu thập số liệu Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi và bảng kiểm quan sát sẽ được chỉnh sửa và hoàn thiện
Bộ câu hỏi gồm :
Phần A – Thông tin chung của ĐTNC từ câu số 1 đến câu số 7
Phần B – Các câu hỏi về kiến thức của NCSC về PHCN cho người bệnh sau TBMMN từ câu số 8 đến câu 27
2.7 Các biến số nghiên cứu
Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu gồm: Họ và tên, tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa chỉ, hoàn cảnh kinh tế
Nhận thức về chăm sóc người bệnh sau TBMMN gồm:
Kiến thức cơ bản về PHCN cho người bệnh sau TBMMN
Kiến thức về tư thế của người bệnh
Kiến thức về dụng cụ dùng để tập PHCN cho người bệnh
Kiến thức về phục hồi vận động cho người bệnh
Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu
biến
Phương pháp thu thập
1 Tuổi Tính theo năm dương lịch Rời rạc Bộ câu hỏi
phỏng vấn
2 Trình độ học
vấn Bậc học cao nhất của ĐTNC Định danh
Bộ câu hỏi phỏng vấn
3 Nghề nghiệp Nghề nghiệp chính mà
Bộ câu hỏi phỏng vấn
Trang 35Rời rạc Bộ câu hỏi
Định danh Bộ câu hỏi
Định danh Bộ câu hỏi
7 Thời điểm tiến
hành PHCN
Thời điểm nên bắt đầu các bài tập để phục hồi các chức năng đã mất cho người bệnh
Định danh Bộ câu hỏi
Định danh Bộ câu hỏi
phỏng vấn
Trang 36Định danh Bộ câu hỏi
phỏng vấn
10 Tần suất của
mỗi động tác
Số lần mỗi động tác nên thực hiện mỗi khi tập (10 –
Nội dung: tâm lý, xã hội,
Bộ câu hỏi phỏng vấn
12 Mức độ quan
sát sắc thái
Tần suất quan sát người bệnh khi tập phục hồi cho họ (luôn luôn quan sát)
Định danh Bộ câu hỏi
Định danh Bộ câu hỏi
Định danh Bộ câu hỏi
phỏng vấn
15 Mục đích của Tác dụng của việc chăm sóc Định danh Bộ câu hỏi
Trang 37Định danh Bộ câu hỏi
Định danh Bộ câu hỏi
Định danh Bộ câu hỏi
Trang 38Định danh Bộ câu hỏi
2.8 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Các khái niệm
Phục hồi chức năng: là khôi phục các khả năng cho người tàn tật hay giúp họ
xử trí tốt hơn với tình trạng tàn tật của mình trong khi ở viện, ở nhà và ở cộng đồng [13]
Người chăm sóc chính: là người thường xuyên chăm sóc trực tiếp người bệnh hàng ngày như: vệ sinh cá nhân, tắm rửa, cho ăn, di chuyển, vận động… (thời gian
và công việc chăm sóc người bệnh chiếm nhiều nhất trong số những người chăm sóc)
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá
Đánh giá về kiến thức (tham khảo phụ lục 3 và phụ lục 4)
- Người chăm sóc chính tham gia trả lời phỏng vấn 20 câu hỏi về kiến thức tương đương với 66 tiêu chí đánh giá, với mỗi tiêu chí trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai hoặc không biết 0 điểm (Xác định tiêu chí đúng/sai dựa trên những nội dung
về phục hồi chức năng sau TBMMN do Bộ Y tế ban hành)
- Tính tổng điểm kiến thức và lấy điểm cắt 50% để phân loại kiến thức của NCSC, cụ thể như sau:
Trang 3928
Tổng các tiêu chí đánh giá kiến thức từ câu 8 – câu 27 bao gồm 66 tiêu chí NCSC có tổng điểm kiến thức >= 33 điểm thì được xếp vào nhóm có kiến thức đạt và ngược lại những NCSC có điểm kiến thức < 33 điểm thì được đánh giá là kiến thức chưa đạt
- Cách tính điểm và phân loại kiến thức đạt và không đạt trước và sau can thiệp là giống nhau
- Đánh giá sự thay đổi sau can thiệp giáo so với trước can thiệp dựa trên sự chênh lệch về tỷ lệ trả lời đúng đối với mỗi nội dung đánh giá
2.9 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu
Thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu sẽ được thực hiện 2 tuần trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu Tiến hành điều tra thử đối tượng phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn (những đối tượng này sẽ không tham gia vào đối tượng nghiên cứu sẽ được điều tra sau đó nhằm tránh đối tượng đã biết trước nội dung câu hỏi lần đánh giá kiến thức
về sau sẽ thiếu khách quan) để xác định tính khả thi của bộ thu thập dữ liệu, và để đánh giá độ dài, sự phù hợp của bộ công cụ Sau đó chúng tôi tiến hành chỉnh sửa
và cập nhật bộ công cụ cho phù hợp bằng cách điều chỉnh các câu hỏi và những lựa chọn của câu trả lời
2.10 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được làm sạch, nhập 2 lần độc lập, sau đó được xử lý trên phần mềm SPSS 18.0
Phân tích mô tả: tính n, tỷ lệ phần trăm
Phân tích sự khác biệt: kiểm định T test, kiểm định Khi bình phương
Sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
2.11 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu đã được thực hiện với sự chấp thuận của người tham gia
- Các thông tin về đối tượng tham gia nghiên cứu được giữ bí mật và được lưu giữ và chỉ nhằm phục vụ cho mục đích của nghiên cứu
- Được sự ủng hộ, cho phép của ban Giám đốc bệnh viện, khoa thần kinh bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
Trang 4029
2.12 Sai số và cách khắc phục
Sai số: sai số thông tin do đối tượng không hiểu rõ nội dung của câu hỏi Cách khắc phục:
+ Các khái niệm, thuật ngữ rõ ràng
+ Thiết kế bộ câu hỏi dễ hiểu để đối tượng dễ trả lời
+ Tiến hành phỏng vấn thử để hoàn thiện bộ câu hỏi
+ Trước khi phỏng vấn điều tra viên phải giải thích rõ mục đích và ý nghĩa
để đối tượng hợp tác đảm bảo được tính trung thực
+ Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra số liệu trước khi phân tích