TÓM TẮT Nghiên cứu can thiệp trước-sau không có nhóm đối chứng, được thực hiện trên 38 người bệnh suy thận đang chạy thận nhân tạo định kỳ tại BVĐK tỉnh Đắk Lắk từ tháng 5 đến tháng 9 nă
Trang 1
HUỲNH QUỐC XI
THAY ĐỔI KIẾN THỨC VỀ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH SUY THẬN ĐANG CHẠY THẬN NHÂN TẠO ĐỊNH KỲ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH – 2016
Trang 2HUỲNH QUỐC XI
THAY ĐỔI KIẾN THỨC VỀ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH SUY THẬN ĐANG CHẠY THẬN NHÂN TẠO ĐỊNH KỲ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
Trang 3TÓM TẮT
Nghiên cứu can thiệp trước-sau không có nhóm đối chứng, được thực hiện trên 38 người bệnh suy thận đang chạy thận nhân tạo định kỳ tại BVĐK tỉnh Đắk Lắk từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2016 với mục tiêu mô tả và đánh giá sự thay đổi kiến thức
về sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh đang chạy thận nhân tạo định kỳ sau khi được giáo dục sức khỏe Kết quả cho biết kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh sau khi được giáo dục sức khỏe cải thiện rõ: Kiến thức về chế độ dinh dưỡng trước can thiệp 7,63±2,917, sau can thiệp 1 tháng và 3 tháng lần lượt 11,39±0,887 và 11,11±1,247 (p<0,01); Sự tự tin tuân thủ chế độ dinh dưỡng trước can thiệp 30,39±3,88, sau can thiệp 1 tháng và 3 tháng lần lượt 35,97±2,477 và 34,26±3,391 (p<0,01) Trình độ văn hóa càng cao thì sự thay đổi kiến thức về chế
độ dinh dưỡng càng nhiều Kết luận: Kiến thức về tuân thủ của người bệnh sau khi được tư vấn dinh dưỡng “một-một” có sự cải thiện rõ Khuyến nghị: Tư vấn dinh dưỡng tăng cường kiến thức về sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng và cần lặp lại ít nhất mỗi tháng một lần
Từ khóa: Kiến thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng, chạy thận nhân tạo, tư vấn dinh dưỡng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Huỳnh Quốc Xi
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô, phòng Đào tạo sau đại học và các phòng ban trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Đức Linh, nguyên trưởng Bộ môn Nội, khoa Y-Dược, trường Đại học Tây Nguyên, người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, hỗ trợ và cung cấp những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo và các chuyên viên Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk, Lãnh đạo
và các đồng nghiệp ở trường Trung cấp Y tế Đắk Lắk đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi học tập và thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo và các cán bộ, cùng lãnh đạo khoa Hồi sức cấp cứu
& chống độc và các cán bộ Đơn vị chạy thận nhân tạo Bệnh viên Đa khoa tỉnh Đắk Lắk đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn sự tham gia nhiệt tình của người bệnh tại Đơn vị chạy thận nhân tạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk vào nghiên cứu
Cuối cùng xin vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình đã hỗ trợ, động viên và khuyến khích tôi học tập và hoàn thành luận án
Tác giả
Huỳnh Quốc Xi
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Kiến thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh suy thận đang chạy thận nhân tạo định kỳ: 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản: 4
1.1.2 Dinh dưỡng cho người suy thận CTNT: 4
1.3 Khung lý thuyết: 11
1.4 Địa bàn nghiên cứu 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.2.5 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 19
2.3 Tổ chức can thiệp: 20
2.3.1 Đối tượng can thiệp 20
Trang 72.3.2 Người thực hiện can thiệp 20
2.3.3 Nội dung can thiệp: 20
2.3.4 Tổ chức can thiệp: 20
2.3.5 Các bước can thiệp: 21
2.4 Xử lý số liệu: 21
2.5 Đạo đức của nghiên cứu 22
2.6 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm của người bệnh 23
3.2 Kiến thức của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng trước can thiệp 26
3.2.1 Kiến thức của người bệnh về chế độ dinh dưỡng CTNT 26
3.2.2 Sự tự tin của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng CTNT 30
3.3 Sự thay đổi kiến thức của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng CTNT trước và sau can thiệp GDSK 33
3.3.1 Sự thay đổi kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh trước và sau can thiệp GDSK 33
3.3.2 Sự tự tin của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng trước-sau can thiệp38 Chương 4 BÀN LUẬN 41
4.1 Kiến thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng CTNT của đối tượng nghiên cứu 41
4.1.1 Kiến thức về chế độ dinh dưỡng CTNT của đối tượng nghiên cứu 41
4.1.2 Sự tự tin về tuân thủ chế độ dinh dưỡng CTNT của đối tượng nghiên cứu 43
Trang 84.2 Sự thay đổi kiến thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu sau khi được can thiệp giáo dục sức khỏe 44 4.2.1 Sự thay đổi kiến thức về chế độ dinh dưỡng CTNT của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp 45 4.2.2 Sự thay đổi về tự tin tuân thủ chế độ dinh dưỡng CTNT của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp 46 KẾT LUẬN 49 KHUYẾN NGHỊ 50
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại BMI cho người châu Á 20
Bảng 3.1 Phân bố đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 25
Bảng 3.2 Phân loại chỉ số khối cơ thể của đối tượng nghiên cứu 26
Bảng 3.3 Phân bố đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.4 Kiến thức của người bệnh về chất đạm trong chế độ dinh dưỡng 27
Bảng 3.5 Kiến thức của người bệnh về muối và nước trong chế độ dinh dưỡng
28
Bảng 3.6 Kiến thức của người bệnh về canxi và phốt pho trong chế độ dinh dưỡng
28
Bảng 3.7 Phân độ kiến thức của người bệnh về chế độ dinh dưỡng 29
Bảng 3.8 So sánh kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh giữa các nhóm trong mỗi đặc điểm nhân khẩu học 30
Bảng 3.9 So sánh kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh giữa các nhóm trong mỗi đặc điểm: BMI, thời gian chạy thận, nguyên nhân suy thận
31
Bảng 3.10 Sự tự tin của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng 32
Bảng 3.11 So sánh sự tự tin của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng giữa các nhóm trong mỗi đặc điểm nhân khẩu học 33
Bảng 3.12 So sánh sự tự tin của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng giữa các nhóm trong mỗi đặc điểm: BMI, thời gian chạy thận và nguyên nhân suy thận 34 Bảng 3.13 Sự thay đổi kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh trước và sau can thiệp 35
Bảng 3.14 So sánh kiến thức thành phần của người bệnh về chế độ dinh dưỡng giữa trước và sau can thiệp GDSK 1 tháng 36
Bảng 3.15 So sánh kiến thức thành phần của người bệnh về chế độ dinh dưỡng giữa trước và sau can thiệp GDSK 3 tháng 37
Trang 10Bảng 3.16 So sánh sự thay đổi kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh trước-sau can thiệp giữa các nhóm trình độ văn hóa 38 Bảng 3.17 So sánh sự thay đổi kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh trước-sau can thiệp giữa các nhóm tình trạng hôn nhân 39 Bảng 3.18 Sự thay đổi điểm tự tin của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng trước-sau can thiệp 40 Bảng 3.19 So sánh sự thay đổi điểm tự tin của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng trước-sau can thiệp giữa các nhóm trình độ văn hóa 41
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ khung nghiên cứu 13 Hình 2.1 Sơ đồ các giai đoạn nghiên cứu 16 Hình 3.1 Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo thành phần dân tộc 26
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BMI – Body Mass Index: chỉ số khối cơ thể
BVĐK- Bệnh viện đa khoa
CTNT - Chạy thận nhân tạo
GFR - Glomerular filtration rate: mức lọc cầu thận
K/DOQI - Kidney Disease Outcome Quality Initiatives: Hội đồng lượng giá
về hiệu quả điều trị bệnh thận của Mỹ
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 2015, toàn thế giới có khoảng 10% dân số mắc bệnh thận mạn tính và hàng triệu người chết mỗi năm vì không có điều kiện tiếp cận dịch vụ điều trị [56] Tại Mỹ, ước tính hơn 20 triệu người trưởng thành đang mắc bệnh thận mạn tính với các mức độ khác nhau, tỷ lệ mắc bệnh này gia tăng ở tuổi 50 và cao nhất ở tuổi 70 trở lên [25] Hầu hết, các bệnh thận mạn tính đều dẫn đến suy thận mạn tính giai đoạn cuối và được chỉ định điều trị thay thế thận để duy trì sự sống của người bệnh bằng lọc máu hoặc ghép thận [6] Chi phí cao cho các biện pháp điều trị thay thế thận nên các nước đã phát triển áp dụng chủ yếu cho người bệnh (80%) nhưng chỉ 10-20% tại các nước đang phát triển [2]
Tại Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào ở quy mô toàn quốc về tỷ lệ mắc bệnh suy thận mạn tính Theo nghiên cứu của Võ Tam năm 2004, tỷ lệ suy thận mạn tính chiếm 0,92% trong số người được khảo sát tại tỉnh Thừa Thiên Huế [19] Năm 2014, tỷ lệ tử vong của bệnh thận mạn tính chiếm 2.9% trong nhóm các bệnh không lây nhiễm [1] Chạy thận nhân tạo là phương pháp lọc máu được đưa vào điều trị cho người suy thận mạn tính giai đoạn cuối từ năm 1983 và hiện tại vẫn được hầu hết người bệnh lựa chọn [51]
Dinh dưỡng là yếu tố sống còn với người bệnh suy thận đang chạy thận nhân tạo định kỳ Tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh suy thận giai đoạn cuối cao và là yếu tố tiên lượng tử vong ở người bệnh đang điều trị lọc máu hay thẩm phân phúc mạc định kỳ [17] Vì vậy, tuân thủ chế độ dinh dưỡng người bệnh chạy thận nhân tạo giúp người bênh duy trì cân nặng hợp lý, hạn chế các biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống
Hơn nữa, người bệnh chưa được tư vấn đầy đủ về tuân thủ chế độ dinh dưỡng khi được chỉ định lọc máu chu kỳ.Giáo dục sức khỏe là một biện pháp giúp người bệnh mạn tính nói chung, người bệnh suy thận đang chạy thận thận nhân tạo định
kỳ nói riêng tăng cường tuân thủ dinh dưỡng, hạn chế các tác động tiêu cực đến sức khỏe
Trang 14Để đánh giá hiệu quả của tư vấn dinh dưỡng có tăng cường kiến thức về sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng cho người bệnh suy thận đang chạy thận nhân tạo định
kỳ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thay đổi kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh suy thận đang chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk năm 2016”
Trang 15MỤC TIÊU Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đang chạy thận nhân tạo định kỳ tại BVĐK tỉnh Đắk Lắk năm 2016
2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đang chạy thận nhân tạo định kỳ sau khi được giáo dục sức khỏe
Giả thuyết nghiên cứu
Giáo dục sức khỏe sẽ thay đổi được kiến thức về chế độ dinh dưỡng cho người bệnh chạy thận nhân tạo định kỳ
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh suy thận đang CTNT định kỳ:
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản:
1.1.1.1 Bệnh suy thận mạn tính (chronic kidney disease) là những bất thường về
cấu trúc hoặc chức năng thận, kéo dài trên 3 tháng và ảnh hưởng lên sức khỏe người
bệnh
Bệnh thận mạn giai đoạn cuối (end stage renal disease) là bệnh thận mạn giai đoạn
5 Đây là giai đọan nặng nhất của bệnh thận mạn với mức lọc cầu thận GFR < 15mL/ph/1,73 m2, biểu hiện bằng hội chứng urê máu, và tình trạng này sẽ gây tử vong nếu không được điều trị thay thế thận
Ba nhóm nguyên nhân hàng đầu gây bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối trên thế giới là đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh cầu thận
Mọi người bệnh suy thận mạn tính giai đoạn cuối với hội chứng urê huyết cao đều có chỉ định điều trị thay thế thận Có ba hình thức điều trị thay thế chức năng thận: thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc và ghép thận [6]
1.1.1.2 Chạy thận nhân tạo:
Thận nhân tạo là phương pháp lọc máu ngoài cơ thể, bằng cách tạo một vòng tuần hoàn ngoài cơ thể dẫn máu ra bộ lọc để lọc các sản phẩm cặn chuyển hóa và nước dư thừa, rồi máu được dẫn trở lại cơ thể
Thận nhân tạo chu kỳ được chỉ định khi suy thận giai đoạn cuối, mức lọc cầu thận < 15 ml/phút
Các biến chứng thường gặp trong khi lọc máu bằng thận nhân tạo: hạ huyết
áp, buồn nôn và nôn, chuột rút, đau đầu, đau ngực, đau lưng, sốt và ớn lạnh và ngứa [5]
1.1.2 Dinh dưỡng cho người suy thận CTNT:
1.1.2.1 Tầm quan của dinh dưỡng đối với người CTNT:
Trang 17Vai trò chất đạm: lượng đạm cho người bình thường là 0,8 -1,0/kg/ngày Đối với người bệnh CTNT thì nhu cầu cao hơn là 1,2-1,4g/kg/ngày nhằm duy trì cân bằng nitơ cho những ngày không lọc máu
Vai trò năng lượng của người bệnh CTNT phụ thuộc vào tiêu hao năng lượng vào hoạt động và tình trạng bệnh lý của họ Một số nghiên cứu cho rằng nhu cầu năng lượng của người bệnh CTNT cao hơn so với người bình thường cả trong những ngày không lọc máu, những ngày lọc máu nhu cầu năng lượng cần cao hơn khoảng 10 - 20% do tình trạng dị hóa, mất dinh dưỡng qua cuộc lọc máu Mức năng lượng tối thiểu đuợc khuyến nghị cho người bệnh CTNT trong giai đoạn ổn định là 30-35 Kcal/kg/ngày
Vai trò điện giải và nhu cầu nước hàng ngày: Điện giải cho người bình thường: muối NaCl 137–147 mmol/l, kali 3,5–5,0 mmol/l Người bệnh CTNT cần hạn chế muối và kali để ngăn ngừa các biến chứng Nhu cầu nước hàng ngày của người bệnh cần phải theo dõi cẩn thận để tránh phù vì thế cần phải theo dõi lượng dịch vào và ra của bệnh nhân hàng ngày theo công thức Nhu cầu nước/ngày bằng nước tiểu trong 24 giờ cộng thêm 500ml Nhu cầu canxi trong giới hạn 2000 mg/ ngày và hạn chế phốtpho tối đa trong khoảng 800-1000 mg/ ngày
Vai trò chất béo cho người bình thường chiếm < 30 % của tổng năng lượng trong đó chất béo bão hòa chỉ chiếm dưới 10% đối với bệnh nhân chạy thận nhân tạo và lọc máu chu kỳ nhu cầu cũng phải duy trì ở mức bình thường để đề phòng biến chứng rối loạn mỡ máu
Vai trò chất đường-bột cho người bình thường từ 55 - 65% Đối với bệnh nhân chạy thận nhân tạo và lọc máu chu kỳ nhu cầu cũng phải duy trì ở mức bình thường để đề phòng thiếu dinh dưỡng nếu cho lượng Glucid quá nhiều sẽ gây tăng đường máu
Để đảm bảo hiệu quả của thận nhân tạo chu kỳ, người bệnh cần tuân thủ đúng lịch lọc máu, tuân thủ thuốc và đặc biệt là tuân thủ chế độ dinh dưỡng Thực hiện tốt người bệnh sẽ hạn chế được các biến chứng và sẽ kéo dài sự sống của chính họ [48]
Trang 18* Mất các chất dinh dưỡng
Trong quá trình lọc máu, người bệnh có những thay đổi bất thường về thành phần acid amin trong máu Lượng acid amin cần thiết giảm, lượng acid amin không cần thiết lại tăng cao Khoảng 25-30g protein của cơ thể bị dị hóa để bù vào sự mất mát qua lọc Albumin và các globulin miễn dịch cũng bị mất trong quá trình lọc máu Trong một cuộc lọc 4h có khoảng 25g glucose bị mất qua dịch lọc Do đó, sẽ có sự mất cân bằng nitơ và năng lượng xảy ra khi bệnh nhân không có một chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng
Các vitamin tan trong nước thường bị giảm thấp ở người bệnh, do bị mất nhiều qua lọc và giảm lượng ăn vào qua khẩu phần Do vậy, nhu cầu các vitamin B6, vitamin C, acid folic ở người bệnh cao hơn so với người bình thường [48]
* Giảm các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn
Ở người chạy thận nhân tạo, chỉ số urê máu cao, tình trạng urê ức chế trực tiếp quá trình đồng hóa protein, mặt khác cũng gây nên hội chứng về tiêu hóa: buồn nôn, chán ăn, tiêu chảy… dẫn đến giảm lượng dinh dưỡng ăn vào và giảm hấp thu Ngoài
ra tình trạng toan chuyển hóa do urê máu cao cũng là tác nhân gây tăng dị hóa protein [48]
1.1.2.2 Thực trạng dinh dưỡng của người bệnh CTNT:
Tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh chạy thận nhân tạo ở nước ta rất cao Năm
2013 tại Bệnh viện 103, tỷ lệ suy dinh dưỡng của người bệnh CTNT là 98,6% theo thang điểm SGA (Subjective global assessment) [9]
* Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh bằng phương pháp nhân trắc học: Trong phương pháp nhân trắc, các chỉ số chính thường được sử dụng là chỉ số khối
cơ thể (BMI) = cân nặng(kg)/[chiều cao(m)]2, bề dày nếp gấp da, vòng cánh tay và
sức mạnh của cơ, kích thước của khối cơ và khối mỡ trong cơ thể
Thuận lợi của phương pháp này là:
- Các bước tiến hành đơn giản, an toàn có thể dùng ở mọi nơi
- Các phương tiện không đắt tiền, bền, có thể mang theo dễ dàng
Trang 19- Thu được những thông tin về dinh dưỡng của một thời gian dài trước đó một cách tin cậy
- Có thể được dùng để đánh giá sự thay đổi tình trạng dinh dưỡng theo thời gian
- Như là một test sàng lọc để phát hiện các cá thể có nguy cơ cao với suy dinh dưỡng
Hạn chế:
- Không thể dùng để phát hiện sự thiếu hụt dinh dưỡng trong một thời gian ngắn, hoặc thiếu hụt các chất dinh dưỡng đặc hiệu
- Những yếu tố như bệnh tật, di truyền, giảm tiêu hao năng lượng có thể làm giảm
độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp
1.1.2.3 Tuân thủ chế độ dinh dưỡng cho người chạy thận nhân tạo
Tuân thủ chế độ dinh dưỡng là hành vi của người bệnh thực hiện chế độ ăn uống theo hướng dẫn về điều trị
Sự tuân thủ này phụ thuộc vào kiến thức chế độ dinh dưỡng, nhận thức lợi ích khi thực hiện, những khó khăn khi thực hiện, nhận thức khả năng tự thực hiện của bản thân Ngoài ra, sự tuân thủ còn phụ thuộc vào các điều kiện khách quan: khả năng kinh tế, sự hỗ trợ của người thân và xã hội
1.1.3 Giáo dục sức khỏe tăng cường sự nhận thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng cho người chạy thận nhân tạo
1.1.3.1 Khái niệm:
Giáo dục sức khỏe là một quá trình truyền thông, bao gồm những tác động tương hỗ thông tin hai chiều giữa người giáo dục sức khỏe và đối tượng được giáo dục sức khỏe
1.1.3.2 Vai trò:
Giáo dục sức khỏe làm thay đổi hành vi sức khỏe: nhằm tạo lập những hành
vi có lợi cho sức khỏe Giáo dục nhằm tăng cường sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng nhằm tạo lập thói quen ăn uống có lợi cho sức khỏe
1.1.3.3 Giáo dục sức khỏe cho người CTNT
Trang 20Giáo dục nhằm tăng cường sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng cho người chạy thận nhân tạo là một quá trình bao gồm:
- Nhận ra vấn đề: cung cấp thông tin và giải thích về chế độ dinh dưỡng
- Quan tâm đến hành vi mới: thay đổi chế độ ăn theo hướng dẫn sẽ giúp người bệnh duy trì sức khỏe và hạn chế biến chứng
- Áp dụng thử nghiệm hành vi mới: tuân thủ chế độ dinh dưỡng nghiêm ngặt cần sự hỗ trợ từ gia đình
- Đánh giá kết quả thử nghiệm hành vi mới: tuân thủ chế độ dinh dưỡng giúp người bệnh kiểm soát cân nặng, ổn định huyết áp
- Duy trì hành vi mới: cần sự tự tin của bản thân, sự hỗ trợ từ gia đình, cán
Bộ y tế giúp người bệnh duy trì hành vi tuân thủ dinh dưỡng
Trong nghiên cứu này, người nghiên cứu chỉ dừng lại ở quá trình thay đổi nhận thức về sự tuân thủ dinh dưỡng ở người chạy thận nhân tạo
Theo KDOQI, trước khi bắt đầu điều trị bằng lọc máu, bệnh nhân nên được
tư vấn về dinh dưỡng cũng như chế độ ăn và có một kế hoạch chăm sóc, theo dõi tùy theo tình trạng bệnh lý và điều kiện kinh tế - xã hội Kế hoạch chăm sóc cần xem xét lại 3-4 tháng/lần Nếu TTDD không được cải thiện, đầu vào dinh dưỡng không đầy đủ hoặc có sự cố bất lợi xảy ra thì đánh giá lại 1-2 tháng/lần [55] Đưa một danh sách liệt kê các thực phẩm nên dùng và các thực phẩm không nên dùng để giúp bệnh nhân lập một kế hoạch ăn uống tốt nhất mà bệnh nhân dễ dàng tuân theo [56] Mặt khác, bệnh nhân phải được lọc máu đầy đủ, sử dụng các màng lọc có chất lượng phù hợp để tránh thất thoát dinh dưỡng qua dịch lọc và tương thích về mặt sinh học
1.1.4 Yếu tố liên quan đến kiến thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng ở người chạy thận nhân tạo:
- Yếu tố cá nhân: tuổi, giới, hôn nhân, trình độ văn hóa, BMI, thời gian chạy thận và nguyên nhân dẫn đến suy thận mạn tính
- Kiến thức về chế độ dinh dưỡng cho người chạy thận
- Sự tự tin với tuân thủ chế độ dinh dưỡng
Trang 211.2 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về can thiệp tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người CTNT định kỳ
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu can thiệp tuân thủ chế độ dinh dưỡng là một nội dung trong nghiên cứu sự tuân thủ điều trị Theo nghiên cứu tổng hợp của Matteson và cộng sự (2010) chỉ ra các can thiệp giáo dục sức khỏe tăng cường sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người chạy thận nhân tạo: can thiệp đơn thuần chỉ nhận thức hoặc hành
vi, can thiệp kết hợp kiến thức, thái độ và thực hành và mang lại hiệu quả tăng cường sự tuân thủ sau giáo dục sức khỏe từ 65-88% [45] Kết quả cho thấy các thông số dinh dưỡng của người chạy thận được cải thiện khi được tư vấn dinh dưỡng [28]
Một số nghiên cứu chỉ can thiệp tuân thủ chế độ dinh dưỡng chỉ bàn đến một hoặc kết hợp vài chất dinh dưỡng mà không thực hiện tất cả các chất dinh dưỡng trong nghiên cứu Nghiên cứu của Magda A.M.M và cộng sự, cung cấp chương trình giáo dục sức khỏe đến từng người bệnh đã thay đổi tích cực kiến thức dinh dưỡng từ 64,3% lên 73%, thực hành và tuân thủ dinh dưỡng với Creatinin giảm xuống ở người chạy thận nhân tạo, tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập mỗi chất đạm trong khẩu phần dinh dưỡng [44] Hoặc có nghiên cứu chỉ quan tâm đến tuân thủ hạn chế Phốt pho trong khẩu phần dinh dưỡng của người bệnh [24] [29] Hoặc kiến thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng trong nghiên cứu gồm các vấn đề dinh dưỡng cần hạn chế: cholesterol, muối, phốt pho, kali và nước mà không bàn đến chất đạm, canxi [21] Mặt khác có quan niệm cho rằng tiến hành giáo dục dinh dưỡng đồng thời nhiều nội dung sẽ không đánh giá chính xác hiệu quả của quá trình can thiệp [32]
Người ta cũng chỉ ra vai trò của giáo dục sức khỏe đối với sự tuân thủ của người chạy thận nhân tạo Theo Sophie Desroches và cộng sự (2013), hầu hết các chương trình can thiệp tăng cường sự tuân thủ dinh dưỡng ở người suy thận mạn tính tạo ra kết quả tích cực Hơn nữa, khi đưa ra các lời khuyên dinh dưỡng phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và nhu cầu cá nhân của người bệnh [32] Như vậy, trước khi tiến hành chương trình can thiệp người nghiên cứu cần đánh giá các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như nhu cầu hiện tại của người bệnh Ngoài
Trang 22ra, đánh giá nhu cầu học tập của người bệnh trước can thiệp giúp nhà giáo dục sức khỏe nắm bắt được nội dung người bệnh cần và muốn được tư vấn, chia sẻ [26]
Một nghiên cứu khác chỉ ra có ít nhất 50% người bệnh chạy thận nhân tạo không tuân thủ thủ điều trị, dẫn đến trầm cảm và làm giảm chất lượng cuộc sống [39] Để cải thiện vấn đề này, trang bị kiến thức là bước đầu tiên để người bệnh có
sự hiểu biết đầy đủ về tuân thủ điều trị giúp họ tăng sự tự tin tuân thủ, tự quản lý bệnh của mình
Hơn nữa, việc nhắc lại theo định kỳ nội dung tư vấn sẽ giúp tăng cường kiến thức cũng như sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh Theo AlSadhan A A
và cộng sự (2015), mức độ kiến thức về tuân thủ chế dinh dưỡng của người bệnh chạy thận nhân tạo phụ thuộc vào số lần được tư vấn từ chuyên gia dinh dưỡng và trình độ văn hóa [21] Một nghiên cứu khác tại Hàn Quốc năm 2014 cũng khuyến nghị tương tự [35]
Có nhiều mô hình nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đánh giá hiệu quả chương trình can thiệp theo thời gian như: theo Garagarza, C A và cộng sự, tiến hành nghiên cứu can thiệp tổ chức tư vấn dinh dưỡng cá nhân kèm theo tài liệu hướng dẫn chế độ ăn cho từng cá nhân và đánh giá các thông số dinh dưỡng theo thời gian 1, 3 và 6 tháng sau đó [33] Có nghiên cứu đánh giá các kỹ thuật giáo dục tăng sự tuân thủ dinh dưỡng như nghiên cứu của Masoume Rambod và cộng sự, giáo dục thúc đẩy người bệnh thay đổi và thực hiện theo chế độ dinh dưỡng bằng tư vấn trực tiếp và bằng băng hình [52]
Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra khả năng nâng cao kiến thức dinh dưỡng cho người bệnh bằng tư vấn và tài liệu phát tay, trao quyền họ những kỹ năng mới và khuyến khích lựa chọn thực phẩm phù hợp [28] Và theo Ansy Paul John và cộng sự chỉ ra cần giáo dục cách tự quản lý bệnh giúp tăng cường sự tự tin về sự tuân thủ dinh dưỡng của người bệnh chạy thận nhân tạo trên lâm sàng là cần thiết, điều này giúp họ kiểm soát tốt hơn lượng nước đưa vào cơ thể và duy trì huyết áp ổn định [40]
Tóm lại, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào can thiệp giáo dục dinh dưỡng đầy đủ các chất theo khuyến nghị dinh dưỡng cho người chạy thận nhân tạo đồng
Trang 23thời đánh giá hiệu quả từ chương trình đối với sự tự tin tuân thủ dinh dưỡng của người bệnh
1.2.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đề tài nghiên cứu về tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh chạy thận nhân tạo còn rất hạn chế
Theo nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị Vân Anh và cộng sự (2008) về thực trạng tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Bạch Mai có 76% người bệnh được tư vấn dinh dưỡng, tuy nhiên có đến 81% người bệnh chưa hiểu rõ về chế độ ăn hợp lý cho người chạy thận nhân tạo[10]
Ngoài ra, các nghiên cứu về dinh dưỡng cho người chạy thận nhân tạo chỉ dừng lại ở việc đánh giá dinh dưỡng Theo tác giả Phạm Văn Bùi, 63,75% người bệnh có Calci máu thấp (<8,4 mg/dl) và 91,25% người bệnh có Phospho máu cao(> 5,5 mg/dl) trong những người chạy thận nhân tạo [15] Điều này sẽ dẫn đến rối loạn cân bằng Calci/Phospho máu gây nguy cơ loạn dưỡng xương và vôi hóa mạch máu
có thể gây tử vong cho người chạy thận Giáo dục dinh dưỡng cho người bệnh chạy thận nhân tạo giúp hạn chế biến chứng trên
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan, hầu hết người bệnh suy thận đang chạy thận nhân tạo chu kỳ có thiếu máu Cần xem xét điều trị thiếu máu bằng truyền máu, thuốc và chế độ dinh dưỡng cho từng người bệnh [12]
Một nghiên cứu khác của Trần Văn Vũ cho thấy cần đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy thận mạn tính giai đoạn cuối bằng kết hợp 3 phương pháp: đánh giá tổng thể tình trạng dinh dưỡng theo chủ quan rút gọn, BMI và Albumin huyết thanh [17]
Tại tỉnh Đắk Lắk, chưa có một nghiên cứu nào liên quan đến nhận thức về sự tuân thủ dinh dưỡng của người bệnh chạy thận nhân tạo định kỳ
1.3 Khung lý thuyết:
Học thuyết mô hình tăng cường sức khỏe của Pender, đây là một học thuyết tầm trung phát triển để giải thích, dự đoán hành vi có lợi cho sức khỏe nhằm mục đích tăng cường sức khỏe cho khách hàng Nó giải thích rằng thúc đẩy hành vi sức
Trang 24khỏe là kết quả từ sự tương tác của con người và môi trường trên một số phương diện, để duy trì hạnh phúc, thực hiện và tự thực hiện của cá nhân Pender phát triển học thuyết này vào năm 1982, lần lượt được sửa đổi vào năm 1987 và 1996
Có 3 phần gồm 11 khái niệm trong mô hình này Ba phần gồm: Đặc điểm cá nhân và kinh nghiệm; Nhận thức của hành vi cụ thể và ảnh hưởng; Hành vi tăng cường sức khỏe
Đặc điểm cá nhân và kinh nghiệm:
- Hành vi trước liên quan - tần số của các hành vi sức khỏe tương tự hoặc tương tự trong quá khứ
- Các yếu tố cá nhân (sinh học, tâm lý, văn hóa xã hội) - Đặc điểm chung của các cá nhân có ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe như tuổi tác, cấu trúc nhân cách, chủng tộc, sắc tộc, và tình trạng kinh tế xã hội
Nhận thức của hành vi cụ thể và ảnh hưởng:
- Lợi ích của các hành động: nhận thức về những kết quả tích cực hay củng
cố của thực hiện một hành vi sức khỏe
- Rào cản nhận thức đến hành động: nhận thức của các khối, trở ngại, và các chi phí cá nhân của thực hiện một hành vi sức khỏe
- Nhận thức tự hiệu quả: phán đoán về khả năng cá nhân để tổ chức và thực hiện một hành vi sức khỏe cụ thể; tự tin trong việc thực hiện các hành vi sức khỏe thành công
- Hoạt động liên quan đến ảnh hưởng: trạng thái cảm giác chủ quan hoặc những cảm xúc xảy ra trước, trong và sau một hành vi sức khỏe cụ thể
- Ảnh hưởng giữa các cá nhân (gia đình, đồng nghiệp, nhà cung cấp): tiêu chuẩn, hỗ trợ xã hội, vai trò của các mô hình nhận thức liên quan đến các hành vi, niềm tin, hoặc thái độ của những người khác có liên quan trong liên quan đến tham gia vào một hành vi sức khỏe cụ thể
- Ảnh hưởng tình huống (tùy chọn, đặc điểm nhu cầu, thẩm mỹ): nhận thức
về tính tương thích của bối cảnh cuộc sống hoặc môi trường có tham gia vào một hành vi sức khỏe cụ thể
Trang 25- Ngay lập tức cạnh tranh nhu cầu và sở thích : các hành vi khác mà xâm nhập vào ý thức như các khóa học có thể hành động ngay trước khi sự xuất hiện dự kiến của một hành vi sức khỏe kế hoạch
- Cam kết với một kế hoạch hành động: có ý định thực hiện một hành vi sức khỏe đặc biệt bao gồm cả việc xác định các chiến lược cụ thể để làm nên thành công
Thúc đẩy hành vi sức khỏe: là điểm cuối mong muốn hành vi hoặc kết quả của sức khỏe ra quyết định và chuẩn bị cho hành động [50]
Trong nghiên cứu này nhằm thay đổi sự nhận thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng cho người bệnh chạy thận định kỳ, tôi chọn các biến dựa trên mô hình là: Các yếu tố cá nhân (tuổi, giới, hôn nhân, trình độ văn hóa); Kiến thức về chế độ dinh dưỡng; sự tự tin tuân thủ dinh dưỡng
Các yếu tố cá nhân, yếu tố BMI và các đặc điểm lâm sàng ảnh hưởng đến kiến thức
về chế độ dinh dưỡng và sự tự tin tuân thủ dinh dưỡng Kiến thức về chế độ dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến sự tự tin tuân thủ chế độ dinh dưỡng Kiến thức về sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng bao gồm: kiến thức về chế độ dinh dưỡng và sự tự tin tuân thủ chế độ dinh dưỡng
Hình 1.1 Sơ đồ khung nghiên cứu
Kiến thức về chế độ dinh dưỡng
Sự tự tin tuân thủ chế độ dinh dưỡng
Kiến thức về
sự tuân thủ chế độ dinh dưỡng
Trang 261.4 Địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28'57" đến 108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45" đến 13o25'06" độ vĩ Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km Đắk Lắk có diện tích 13.125,37 km2, dân số toàn tỉnh tính đến năm 2012 đạt 1.796.666 người, mật độ dân số đạt hơn 137 người/km² Trong đó, dân số sống tại thành thị đạt 432.458 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.364.208 người [4]
Bệnh viên đa khoa tỉnh Đắk Lắk nằm cạnh trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, với quy mô 1000 giường bệnh, được công nhân Bệnh viện loại I vào năm 2013 Đơn vị Thận nhân tạo thuộc khoa Hồi sức tích cực và Chống độc - Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk, được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 6/2008 có nhiệm
vụ điều trị cho bệnh nhân suy thận cấp, một số bệnh lý ngộ độc có chỉ định lọc máu cấp cứu và thu nhận bệnh nhân suy thận mãn phải điều trị lọc máu chu kỳ Hiện nay, phòng Thận nhân tạo đã có 13 máy, cùng với 10 nhân viên, trực tiếp quản lý và điều trị cho 70 bệnh nhân lọc máu chu kỳ, tạo cơ hội duy trì cuộc sống với chất lượng sống ở mức chấp nhận được, một số vẫn có thể sinh hoạt và lao động gần như người bình thường; cùng với hàng chục lượt lọc máu cấp cứu mỗi tháng được thực hiện cho những bệnh nhân có chỉ định tại các khoa phòng khác trong bệnh viện [3]
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh suy thận mạn tính được chỉ định chạy thận nhân tạo định kỳ
Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Đọc và viết tốt
+ Có thời gian từ lúc bắt đầu chạy thận định kỳ ít nhất 3 tháng
+ Tuổi trưởng thành (>= 18 tuổi)
Tiêu chuẩn không lựa chọn:
+ Người bệnh trong tình trạng nguy kịch
+ Người bệnh chuyển đi điều trị bệnh viện khác
+ Người bệnh tử vong trong thời gian nghiên cứu
+ Người bệnh lú lẫn, suy giảm trí nhớ
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: từ tháng 5 năm 2016 đến hết tháng 10 năm 2016
- Địa điểm: Khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk, số 01 Mai Hắc
Đế, P Tân Thành, Tp Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu can thiệp 1 nhóm có so sánh trước-sau bằng giáo dục sức khỏe, gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Đánh giá nhận thức của người bệnh chạy thận nhân tạo về tuân thủ chế độ dinh dưỡng bằng phỏng vấn trực tiếp tại giường bệnh
- Giai đoạn 2: Nghiên cứu viên là người tư vấn dinh dưỡng trực tiếp cho từng người bệnh tại giường sau khi hoàn thành lọc máu tại phòng nghỉ, thời gian tư vấn 45 phút/ lần, mỗi người bệnh được tư vấn 2 lần cách nhau 4 ngày Mỗi ngày tư vấn cho
Trang 2810 người bệnh, tổng thời gian hoàn thành tư vấn cho 38 người bệnh là 4 ngày cho 1 lượt Sau đó tư vấn nhắc lại lần 2 tương tự như lần 1 Tư vấn dinh dưỡng dựa trên kết quả đánh giá ở giai đoạn 1 nhằm bổ sung kiến thức người bệnh chưa hiểu rõ Trong quá trình tư vấn, người bệnh được phát cho tờ rơi về chế độ dinh dưỡng và bảng thành phần thực phẩm thông thường (phụ lục 1)
- Giai đoạn 3: Đánh giá nhận thức của người bệnh chạy thận nhân tạo về tuân thủ chế độ dinh dưỡng bằng phỏng vấn trực tiếp tại giường 2 lần vào thời điểm sau giáo dục sức khỏe 1 tháng và 3 tháng
và lần 2 sau 3 tháng giáo dục
Hình 2.1 Sơ đồ các giai đoạn nghiên cứu
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu:
Tại thời điểm nghiên cứu có 38 người bệnh đáp ứng đủ tiêu chuẩn chọn mẫu đều được đưa vào nghiên cứu
2.2.3 Các biến số nghiên cứu:
Biến số nhân khẩu học:Giới tính, tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân, trình độ văn
hóa, tình trạng việc làm
Biến số nhân trắc học: Chỉ số khối cơ thể BMI
Biến số đặc điểm lâm sàng:Thời gian chạy thận (tuổi chạy thận), nguyên nhân gây
suy thận
Biến số kiến thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng:
- Kiến thức về chế độ dinh dưỡng: là những hiểu biết về chế độ dinh dưỡng cho người chạy thận nhân tạo gồm 3 phần:
Trang 29+ Kiến thức về chất đạm: kiến thức về nguồn thực phẩm chứa chất đạm (thịt, cá, trứng), về lượng chất đạm tối thiểu cần cung cấp 17hoc ơ thể mỗi ngày, lợi ích của chất đạm đối với sức khỏe
+ Kiến thức về muối và nước: kiến thức về lượng nước (dịch) tối đa đưa vào cơ thể,
về các thực phẩm chứa nhiều muối, về lợi ích của ăn nhạt
+ Kiến thức về canxi và phốt pho: kiến thức về tăng lượng canxi và giảm lượng phốt pho trong khẩu phần ăn, về sữa chua có nhiều Canxi và ít Phốt pho, về lợi ích của Canxi và tác hại của Phốt pho đối với cơ thể
- Sự tự tin về tuân thủ dinh dưỡng: dự đoán của bản thân về thực hiện hành vi tuân thủ dinh dưỡng
Bảng biến số nghiên cứu
STT Tên biến số Định nghĩa biến Phân loại Phương pháp
thu thập
1 Giới Giới tính sinh học, có 2
giá trị: Nam và nữ
Biến định danh Phỏng vấn
2 Tuổi Tính từ khi sinh đến hiện
tại theo đơn vị năm
Biến định danh Phỏng vấn
5 Trình độ
văn hóa
Lớp học cao nhất mà người bệnh đã hoàn tất
Biến định danh Phỏng vấn
6 Tình trạng
việc làm
Tình trạng việc làm tại thời điểm nghiên cứu, gồm: có việc làm, hưu trí, thất nghiệp và khác (nội trợ)
Biến định danh Phỏng vấn
7 BMI Chỉ số khối cơ thể được
tính trên cân nặng và chiêu cao
Biến liên tục Cân, đo, tính
kỳ đến hiện tại (đơn vị tháng)
Biến liên tục Phỏng vấn
9 Nguyên tất cả nguyên nhân dẫn Biến định danh Phỏng vấn
Trang 30STT Tên biến số Định nghĩa biến Phân loại Phương pháp
thu thập nhân gây
suy thận
đến suy thận ở người bệnh, chia làm 2 nhóm:
tại thận (cầu thận, mạch máu thận,…) và ngoài thận (các bệnh tim mạch:
Biến liên tục Phỏng vấn
Kiến thức chất đạm Biến liên tục
(giá trị từ 0 - 4)
Phỏng vấn Kiến thức muối/ nước Biến liên tục
(giá trị từ 0 - 4)
Phỏng vấn
Kiến thức Canxi/ Phốt pho
Biến liên tục (giá trị từ 0 - 4)
có giá trị từ 0 - 5 điểm
Biến liên tục (giá trị từ 0 - 45)
Phỏng vấn
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập số liệu thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp
Bộ câu hỏi phỏng vấn 31 nội dung gồm 3 phần (phụ lục 2):
A-Nhân khẩu học (10 câu)
B-Kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người chạy thận nhân tạo (12 câu)
C-Sự tự tin về tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người chạy thận nhân tạo (9 câu)
Thời điểm phỏng vấn người bệnh: trước khi GDSK, sau khi GDSK 1 tháng và 3
tháng
Cách thu thập số liệu:
- Cách phỏng vấn:
+ Người phỏng vấn: nghiên cứu viên
+ Phỏng vấn trực tiếp khi người bệnh đang điều trị lọc máu tại giường bệnh
Trang 31+ Phỏng vấn khoảng 15 phút/ người bệnh
+ Phỏng vấn khoảng 12 người bệnh/ngày (mỗi ngày 3 ca lọc máu, phỏng vấn 4 người bệnh/ca)
- Đo lường chỉ số chiều cao và cân nặng:
+ Chiều cao: Bệnh nhân cởi bỏ giày dép, mũ và đứng quay lưng vào thước đo, giữa trục của thước, hai tay buông thõng tự nhiên Thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt phẳng nằm ngang Kiểm tra các điểm chạm của cơ thể vào mặt phẳng thẳng đứng đóng thước: chẩm, vai, mông, bắp chân và gót chân Đọc và ghi lại kết quả Thời điểm đo: sau khi cân “khô”
+ Cân nặng: theo K/DOQI 2006, trọng lượng “khô” của người bệnh đạt được sau ca lọc máu, khi đó người bệnh ở trạng thái đẳng dịch, đa số huyết áp bình thường mà không cần dung thuốc Thời điểm đo: sau khi người bệnh hoàn thành xong thời gian lọc máu Cách đo: Đặt cân ở vị trí bằng phẳng, chắc chắn, thuận tiện cho bệnh nhân bước lên bước xuống khi cân Chỉnh cân về vị trí “0” Bệnh nhân đứng vào giữa bàn cân ở tư thế đứng thẳng và yên lặng, không chạm vào bất cứ vật gì xung quanh Khi cân ổn định, đọc và ghi lại kết quả với đơn vị là kg
2.2.5 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Thang đo BMI:
Cân nặng (Kg) Công thức: BMI = -
Chiều cao (kg) 2Đánh giá kết quả BMI dựa theo thang đo của Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế và Tây Thái Bình Dương của WHO (IDI & WPRO) năm 2000 cho người châu Á [25]:
Bảng 2.1: Phân loại BMI cho người châu Á
Trang 32Phân loại Châu Á
Thang đo bộ câu hỏi:
Kiến thức về chế độ dinh dưỡng cho người chạy thận nhân tạo: trả lời Đúng/ không đúng (1 điểm cho trả lời đúng) Tổng điểm cho kiến thức về chế độ dinh dưỡng từ 0 đến 12 điểm và được phân thành 3 mức độ [24],[34]:
- Thiếu kiến thức: 0 – 6 điểm (0 – 50%)
- Kiến thức trung bình: 7 – 9 điểm (51 – 75%)
- Kiến thức tốt: 10 – 12 điểm (76 – 100%)
Sự tự tin về tuân thủ dinh dưỡng: thang đo 5 bậc, từ 1= “hoàn toàn không tự tin” đến 5= “rất tự tin” Cách tính điểm này sẽ tính cho 9 nội dung về sự tự tin, như vậy tổng điểm sự tự tin về tuân thủ chế độ dinh dưỡng từ 0 đến 45 điểm, phân thành 5 mức điểm:
- Từ 0 – 9 điểm: hoàn toàn không tự tin
- Từ 10 – 18 điểm: không tự tin
- Từ 19 – 27 điểm: bình thường (tự tin 50%)
- Từ 28 – 36 điểm: có tự tin
- Từ 37 – 45 điểm: rất tự tin
2.3 Tổ chức can thiệp:
2.3.1 Đối tượng can thiệp: 38 đối tượng tham gia nghiên cứu
2.3.2 Người thực hiện can thiệp: Nghiên cứu viên là người giáo dục sức khỏe 2.3.3 Nội dung can thiệp: (phụ lục 1)
Trang 332.3.5 Các bước can thiệp:
- Kiểm tra lại
Lần 2: Sau 4 ngày thực hiện các bước tương tự như lần 1
2.4 Xử lý số liệu:
Mã hóa bảng hỏi và nhập liệu bằng phần mềm SPSS 20
Làm sạch số liệu bằng các lệnh tần số để kiểm tra sai số, kiểm tra các biến số kiến thức chế độ dinh dưỡng và sự tự tin tuân thủ chế độ dinh dưỡng đạt phân phối gần chuẩn trong giới hạn cho phép (bằng độ nhọn, độ nghiêng và so sánh số trung bình với số trung vị)
Sử dụng các phép kiểm định thống kê:
- T-test mẫu độc lập: sử dụng để kiểm định sự khác nhau của 2 nhóm trong biến độc lập (nhân khẩu học, đặc điểm lâm sàng) với biến phụ thuộc (kiến thức về chế độ dinh dưỡng, sự tự tin tuân thủ dinh dưỡng)
- T-test mẫu cặp: sử dụng để so sánh kết quả can thiệp trước-sau của các biến phụ thuộc (kiến thức về chế độ dinh dưỡng, sự tự tin tuân thủ dinh dưỡng)
- Anova một chiều: sử dụng để so sánh sự khác nhau của từ 3 nhóm trong biến độc lập (nhóm tuổi, trình độ văn hóa, BMI) với biến phụ thuộc (kiến thức về chế độ dinh dưỡng, sự tự tin tuân thủ dinh dưỡng)
- Anova tái đo lường: được sử dụng để đánh giá sự khác nhau sau can thiệp GDSK của các biến (kiến thức về chế độ dinh dưỡng, sự tự tin tuân thủ dinh dưỡng) được đo tại 3 thời điểm
Trang 342.5 Đạo đức của nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và sự cho phép của Hội đồng BVĐK tỉnh Đắk Lắk
Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện và có thể rời khỏi nghiên cứu bất cứ khi nào họ mong muốn
Tất cả thông tin về người bệnh được mã hóa, bảo mật và chỉ dung cho nghiên cứu Tất cả những người bệnh chạy thận nhân tạo trong khoa đều được phát tờ rơi
về chế độ dinh dưỡng
2.6 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Hạn chế: nghiên cứu này chỉ quan tâm đến thay đổi kiến thức về tuân thủ dinh dưỡng của người bệnh mà chưa đánh giá được hành vi tuân thủ dinh dưỡng
Sai số:
- Người bệnh chưa hiểu hết các thuật ngữ chuyên môn dinh dưỡng
- Tâm lý người chạy thận nhân tạo có thể thay đổi: trả lời không trung thực, mệt mỏi …
Khắc phục sai số:
- Bộ câu hỏi này được nghiên cứu thử nghiệm trên 30 người bệnh đang chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Buôn Ma Thuột để đánh giá độ tin cậy: Điểm Cornbach Alpha của Kiến thức về chế độ dinh dưỡng (0,824) và Sự tự tin về tuân thủ dinh dưỡng (0,865) (phụ lục 3)
- Nghiên cứu viên giải thích từng câu hỏi rõ ràng
- Phỏng vấn người bệnh khi lọc máu khoảng 10-15 phút tại giường
- Mỗi khi chuẩn bị phỏng vấn cần đánh giá thái độ hợp tác tích cực của người bệnh
- Hỗ trợ từ người nhà của người bệnh
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của người bệnh
Bảng 3.1 Phân bố đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm nhân khẩu học
Trang 36Hình 3.1 Biểu đồ phân bố đối tượng nghiên cứu theo thành phần dân tộc
Về đặc điểm giới tính tỷ lệ nam giới 52,6% cao hơn nữ giới 47,4%, tuy nhiên sự chênh lệch giữa 2 giới là không nhiều Về đặc điểm tuổi: nhóm tuổi từ 18 – 40 chiếm 31,6%, từ 41 – 60 chiếm nhiều nhất 57,9% và từ trên 60 chiếm 10,5% thấp nhất; tuổi trung bình là 46,82 ± 13,1 là mức tuổi trung bình thấp ở một bệnh mạn tính Hầu hết đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người Kinh chiếm 92,1%, còn lại là dân tộc thiểu số khá ít chiếm 7,9% Đa số người bệnh đã kết hôn chiếm 78,9%, chỉ một số ít còn độc thân chiếm 21,1% Người bệnh có việc làm chiếm tỷ lệ thấp 23,7%, hưu trí chiếm 10,5%, tuy nhiên tỷ lệ người bệnh thất nghiệp chiếm 21,1% cũng thấp, còn lại là những người còn 1 phần khả năng lao động làm nông hoặc nội trợ chiếm tỷ lệ cao nhất (44,7%), cộng dồn tỷ lệ phụ thuộc vào gia đình (thất nghiệp, khác) là chủ yếu (65,8%) Về trình độ văn hóa: người bệnh có trình độ từ THPT trở xuống là chủ yếu chiếm 78,9%, trong khi trình độ trên THPT thấp chiếm 21,1% Từ tỷ lệ tình trạng việc làm và trình độ văn hóa ta thấy đối tượng nghiên cứu chủ yếu là những có điều kiện kinh tế không được thuận lợi và những người có trình
độ văn hóa tương đối thấp
Trang 37Bảng 3.2 Phân loại chỉ số khối cơ thể của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3 Phân bố đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm lâm sàng gồm thời gian chạy thận và nguyên nhân suy thận
Hầu hết người bệnh có thời gian chạy thận trên 24 tháng là chủ yếu chiếm 94,7%, trong khi người bệnh có thời gian chạy thận dưới 24 tháng quá ít chiếm 5,3%; thời gian chạy thận trung bình của người bệnh là 72,16±40,6 tháng Qua thời gian chạy thận trung bình ta thấy hầu hết đối tượng nghiên cứu có tuổi chạy thận khá cao
Trang 38Nguyên nhân suy thận mạn tính của nhóm bệnh tại thận chiếm 52,6% cao hơn nhóm bệnh ngoài thận 47,4% Điều này cho thấy, nguyên nhân dẫn đến suy thận mạn tính tại thận thường gặp hơn so với nguyên nhân ngoài thận
3.2 Kiến thức của người bệnh về tuân thủ chế độ dinh dưỡng trước can thiệp
3.2.1 Kiến thức của người bệnh về chế độ dinh dưỡng CTNT
Bảng 3.4 Kiến thức của người bệnh về chất đạm trong chế độ dinh dưỡng Kiến thức về chất đạm
Người bệnh
Nguồn thực phẩm chứa đạm (%)
Lượng đạm cần thiết (%)
Hạn chế phù, ngăn ngừa teo cơ (%)
Tăng cường miễn dịch (%)
Đúng 34 (89,5) 17 (44,7) 16 (42,1) 22 (57,9) Không đúng 4 (10,5) 21 (55,3) 22 (57,9) 16 (42,1)
Kiến thức đúng của người bệnh về các nguồn thực phẩm chứa chất đạm tốt cho người CTNT chiếm tỷ lệ cao 89,5%, tuy nhiên, kiến thức đúng về lượng chất đạm cần thiết cho người CTNT, kiến thức đúng về lợi ích chống phù, ngăn ngừa teo cơ
và kiến thức đúng về lợi ích tăng sức đề kháng đều ở mức thấp lần lượt là 44,7%, 42,1% và 57,9% Như vậy, hiểu biết về lượng chất đạm cần cho người CTNT và lợi ích của chất đạm của đối tượng nghiên cứu là chưa tốt
Bảng 3.5 Kiến thức của người bệnh về muối và nước trong chế độ dinh dưỡng
Kiến thức về muối/nước Người bệnh
Loại thức
ăn có lượng muối cao (%)
Lượng dịch tối đa 500ml/ngày (%)
Ổn định cân nặng, kiểm soát huyết áp (%)
Giảm nhu cầu nước (%)
Đúng 31 (81,6) 31 (81,6) 30 (78,9) 33 (86,8) Không đúng 7 (18,4) 7 (18,4) 8 (21,1) 5 (13,2)
Tỷ lệ kiến thức đúng về muối và nước trong chế độ dinh dưỡng đều cao: kiến thức đúng về loại thức ăn có hàm lượng muối cao và kiến thức đúng về lượng dịch đưa
Trang 39vào cơ thể người CTNT tối đa 500ml/ngày đều chiếm 81,6%, kiến thức đúng về ăn nhạt giúp ổn định cân nặng, kiểm soát huyết áp là 78,9% và kiến thức đúng về ăn nhạt giúp giảm nhu cầu nước đưa vào là 86,8% Như vậy, hiểu biết của người bệnh
về muối và nước trong chế độ dinh dưỡng cho người CTNT tốt Tuy nhiên, vẫn còn đến 21,1% người bệnh thiếu hiểu biết về lợi ích của ăn nhạt trong ổn định và kiểm soát huyết áp
Bảng 3.6 Kiến thức của người bệnh về canxi và phốt pho trong chế độ
dinh dưỡng Kiến thức về
Canxi/Phốtpho
Người bệnh
Tăng lượng canxi, giảm lượng phốt pho (%)
Sữa chua
có nhiều canxi, ít phốt pho (%)
Tác hại của phốt pho (%)
Lợi ích của canxi (%)
Đúng 16 (42,1) 21 (55,3) 12 (31,6) 27 (71,1) Không đúng 22 (57,9) 17 (44,7) 26 (68,4) 11 (28,9)
Tỷ lệ kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về Canxi và Phốt pho là không cao: Kiến thức về nhu cầu tăng lượng Canxi và giảm lượng Phốt pho thấp 42,1%; kiến thức đúng về hàm lượng Canxi và Phốt pho trong sữa chua cũng thấp 55,3%; Kiến thức đúng về tác hại của Phốt pho quá thấp chỉ 31,6%; chỉ có kiến thức về lợi ích của Canxi là đạt trên 71,1% Ta thấy, hiểu biết của người bệnh về Canxi và Phốt pho là thấp, đặc biệt là hiểu biết về lợi ích của Phốt pho rất hạn chế
Bảng 3.7 Phân độ kiến thức của người bệnh về chế độ dinh dưỡng
Trang 40Tổng 38 100
Kết quả cho thấy kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh thấp, chỉ có 28,9% người bệnh có kiến thức tốt Hơn nữa, có đến 31,6% người bệnh thiếu kiến thức về chế độ dinh dưỡng cho người CTNT Tỷ lệ người có kiến thức về chế độ dinh dưỡng ở mức trung bình cũng chỉ có 39,5%