1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thay đổi kiến thức và thái độ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính sau giáo dục sức khoẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện nhi tỉnh nam định năm 2017

101 70 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ĐỖ THỊ HÒA THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH SAU GIÁO DỤC SỨC KHOẺ CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

ĐỖ THỊ HÒA

THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH SAU GIÁO DỤC SỨC KHOẺ CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI ĐIỀU TRỊ TẠI

BỆNH VIỆN NHI TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

ĐỖ THỊ HÒA

THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH SAU GIÁO DỤC SỨC KHOẺ CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI ĐIỀU TRỊ TẠI

BỆNH VIỆN NHI TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Chuyên ngành: Điều Dưỡng

Mã số: 60.72.05.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Vũ Văn Thành

Nam Định – 2017

Trang 3

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Thay đổi kiến thức và thái độ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính sau giáo dục sức khoẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2017

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và đánh giá sự thay đổi

kiến thức, thái độ về bệnh, chăm sóc và dự phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của

các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cách chọn mẫu thuận tiện và can

thiệp một nhóm có so sánh trước sau cho 83 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2017 với các nội dung về bệnh, chăm sóc và dự phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em Đánh giá kết quả dựa trên phiếu khảo sát tại các thời điểm trước và sau can thiệp

Kết quả nghiên cứu:

Thực trạng kiến thức, thái độ của bà mẹ về bệnh, chăm sóc và dự phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trước can thiệp còn thấp Về bệnh, chăm sóc và dự phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ có điểm kiến thức lần lượt là: 3,5 ± 1,3; 4,3

± 1,8; 3,5 ± 1,1 và điểm thái độ lần lượt là: 7,9 ± 0,9; 11,6 ± 1,3; 20,4 ± 2,1 Có 15,7% bà mẹ có kiến thức đạt và 53% bà mẹ có thái độ đúng Sau can thiệp, kiến thức và thái độ của bà mẹ được cải thiện rõ rệt Kiến thức đạt tăng từ 15,7% lên 77,1% và thái độ đúng tăng từ 53% lên 91,6% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p < 0,05 Có mối tương quan thuận giữa kiến thức và thái độ của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính với r = 0,35 và p < 0,05

Kết luận: Thực trạng kiến thức, thái độ của bà mẹ về bệnh, chăm sóc và dự

phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính còn thấp và có sự thay đổi rõ rệt về kiến thức

và thái độ của các bà mẹ sau can thiệp giáo dục sức khỏe

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ

tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bè bạn Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ và trang bị những kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

TS Vũ Văn Thành, Trưởng khoa Y học Cơ Sở, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, Người thầy hướng dẫn đã giành nhiều tâm huyết và trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám đốc và các cán bộ lãnh đạo cùng tập thể nhân viên Khoa Hô hấp và Khoa Cấp cứu sơ sinh – Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng nghiệp tại Khoa Điều dưỡng

Hộ sinh Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định cùng gia đình, bạn bè và tập thể lớp Cao học Điều dưỡng khoá II, những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Nam Định, ngày 01 tháng 9 năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hòa

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu, kết quả của

luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hòa

Trang 6

MỤC LỤC Nội dung Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 4

1.1.1 Kiến thức về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 4

1.1.2 Tình hình NKHHCT trên thế giới và Việt Nam 11

1.2 Kiến thức và thái độ của các bà mẹ về NKHHCT ở trẻ em 15

1.2.1 Các nghiên cứu kiến thức và thái độ của các bà mẹ về NKHHCT 15

1.2.2 Vai trò của truyền thông - giáo dục sức khỏe 20

1.3 Đôi nét về địa điểm nghiên cứu 22

1.4 Khung lý thuyết trong nghiên cứu 22

1.4.1 Giả thuyết nghiên cứu 22

1.4.2 Cây vấn đề các yếu tố liên quan 23

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 24

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 25

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 27

2.6 Các biến số nghiên cứu, cách thức đo lường 28

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 32

2.8 Xử lý và phân tích số liệu 33

2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 33

Trang 7

2.10 Sai số và cách khắc phục sai số 34

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 35

3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ của bà mẹ về NKHHCT trước GDSK 38

3.3 Thay đổi kiến thức, thái độ của bà mẹ về NKHHCT sau GDSK 43

Chương 4: BÀN LUẬN 50

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 50

4.2 Kiến thức, thái độ của bà mẹ về bệnh, chăm sóc và dự phòng NKHHCT 51

4.3 Bàn luận về ưu điểm và hạn chế của đề tài 63

KẾT LUẬN 64

KHUYẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bản đồng thuận

Phụ lục 2: Phiếu khảo sát

Phụ lục 3: Nội dung giáo dục sức khỏe

Phụ lục 4: Tài liệu phát tay

Phụ lục 5: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu

Phụ lục 6: Biên bản bảo vệ luận văn thạc sĩ

Phụ lục 7: Biên bản chỉnh sửa luận văn sau bảo vệ

Trang 8

TT - GDSK: Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ

TT – BYT: Thông tư - Bộ y tế

WHO: World Health Organization

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi cư trú và số con 36

Bảng 3.2 Các đặc điểm về thông tin GDSK 37

Bảng 3.3 Kiến thức của bà mẹ về bệnh NKHHCT 38

Bảng 3.4 Kiến thức của bà mẹ về dấu hiệu bệnh NKHHCT 39

Bảng 3.5 Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc NKHHCT 39

Bảng 3.6 Kiến thức của bà mẹ về dự phòng NKHHCT 40

Bảng 3.7 Điểm kiến thức của bà mẹ về bệnh, chăm sóc, dự phòng NKHHCT 40

Bảng 3.8 Thái độ của bà mẹ về bệnh NKHHCT 41

Bảng 3.9 Thái độ của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc NKHHCT 41

Bảng 3.10 Thái độ của bà mẹ về dự phòng NKHHCT 42

Bảng 3.11 Thái độ của bà mẹ về NKHHCT 42

Bảng 3.12 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về bệnh NKHHCT 43

Bảng 3.13 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về dự phòng NKHHCT 43

Bảng 3.14 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc NKHHCT 44

Bảng 3.15 Sự thay đổi về điểm kiến thức của bà mẹ về bệnh, chăm sóc, dự phòng NKHHCT 44

Bảng 3.16 Sự thay đổi về điểm kiến thức của bà mẹ về NKHHCT sau GDSK 45

Bảng 3.17 Sự thay đổi thái độ của bà mẹ về bệnh NKHHCT 46

Bảng 3.18 Sự thay đổi thái độ của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc NKHHCT 46

Bảng 3.19 Sự thay đổi thái độ của bà mẹ về dự phòng NKHHCT 47

Bảng 3.20 Sự thay đổi về điểm thái độ của bà mẹ về NKHHCT sau GDSK 48

Bảng 3.21 Thay đổi về phân loại kiến thức, thái độ của bà mẹ về NKHHCT sau GDSK 48

Bảng 3.22 Mối tương quan giữa kiến thức và thái độ về NKHHCT 49

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 35

Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 36

Biểu đồ 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 37

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bà mẹ biết về bệnh NKHHCT 38

Biểu đồ 3.5 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về NKHHCT sau GDSK 45

Biểu đồ 3.6 Thay đổi thái độ của bà mẹ về NKHHCT sau GDSK 47

Biểu đồ 3.7 Mối tương quan giữa kiến thức và thái độ về NKHHCT 49

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là một bệnh phổ biến ở trẻ em, nhất là trẻ em

dưới 5 tuổi, chiếm vị trí hàng đầu về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trên thế giới [52]

Tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở các nước đang phát triển cũng như

ở Việt Nam cao gấp 30-50 lần ở các nước phát triển Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có khoảng 4 triệu trẻ em tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính; Trong đó, trên 90% là các nước đang phát triển [15]

Tại Việt Nam, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính hiện đang có tỷ lệ mắc và tử vong cao [10], là nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật và đứng thứ 3 gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [25] Mỗi năm có khoảng 20 đến 30 ngàn trẻ dưới 5 tuổi chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chủ yếu là do bệnh viêm phổi [34] Các thống kê nghiên cứu ở tuyến bệnh viện và ở cộng đồng đều cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn

hô hấp cấp tính ở trẻ em những năm gần đây không có xu hướng thuyên giảm [32] Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính có tỷ lệ mắc bệnh cao và tái diễn nhiều lần trong năm, xảy ra trung bình 4-6 đợt trên một trẻ /1 năm, gây tốn kém về chi phí điều trị Thời gian để chăm sóc cho trẻ ốm đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động

và ngày công của các bà mẹ, là gánh nặng với ngành y tế [17] Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là bệnh có thể phòng được

Theo nghiên cứu của Lý Thị Chi Mai, Huỳnh Thanh Liêm năm 2011, các bà mẹ có kiến thức đúng về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính thì con của họ mắc bệnh (31,2%) thấp hơn con của các bà mẹ có kiến thức không đầy đủ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (47,9%) [22] Nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết năm 2010, kiến thức chăm sóc trẻ của bà mẹ có liên quan chặt chẽ đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính dưới cấp cao gấp 3,69 lần so với nhóm trẻ là con của bà mẹ có kiến thức trung bình, khá [34]

Do đó, việc chăm sóc, xử trí và phòng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không chỉ phụ thuộc vào cán bộ y tế mà còn phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức của bà mẹ Cùng với kiến thức, bà mẹ cần có thái độ đúng khi chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ Nếu bà mẹ có kiến thức, thái độ không đúng sẽ dẫn đến hậu quả xấu như bệnh nặng hoặc tử vong Một số nghiên cứu đã chỉ ra hiệu quả của can thiệp giáo dục

Trang 12

sức khoẻ tác động làm thay đổi kiến thức, thái độ và cải thiện thực hành của bà mẹ

về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính [17], [34], [55] Bà mẹ có kiến thức và thái

độ tốt góp phần quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc và tử vong do nhiễm khuẩn

hô hấp cấp tính ở trẻ em [15] Theo Tổ chức Y tế Thế giới có đến 75% bệnh nhi nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính được điều trị, chăm sóc tại nhà Kiến thức, thái độ của

bà mẹ về bệnh đóng vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh, phát hiện sớm nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy kiến thức, thái độ của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính còn thấp [27], [34]

Tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, số trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính phải nhập viện điều trị còn cao, trung bình là 753 lượt trẻ/tháng trong năm 2015 và 792 lượt trẻ/tháng trong 9 tháng đầu năm 2016 Theo thông tư số 07/2011/TT-BYT, quy định rõ nhiệm vụ của điều dưỡng về công tác giáo dục sức khoẻ [11] Do đó phải đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe đến mọi người dân Việc nâng cao kiến thức, thái độ cho các bà mẹ là việc vô cùng quan trọng nhằm phát hiện sớm bệnh để đưa trẻ nhập viện điều trị kịp thời Bà mẹ có kiến thức, thái độ tốt khi chăm sóc trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính góp phần hạn chế tối đa các hậu quả do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính gây ra Từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề

tài “Thay đổi kiến thức và thái độ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính sau giáo dục sức khỏe của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2017”

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về bệnh, chăm sóc và dự phòng nhiễm

khuẩn hô hấp cấp tính trước can thiệp giáo dục sức khỏe của các bà mẹ có con dưới

5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2017

2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ về bệnh, chăm sóc và dự phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính sau can thiệp giáo dục sức khỏe của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

1.1.1 Kiến thức về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

1.1.1.1 Khái niệm

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nhiễm trùng ở bất kỳ vị trí nào trên đường hô hấp, bao gồm: mũi, tai, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi Thời gian bị bệnh không quá 30 ngày, ngoại trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày [1], [26]

* Phân loại theo vị trí giải phẫu

Lấy nắp thanh quản là ranh giới để phân ra nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới Nếu tổn thương ở phía trên nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp trên, tổn thương ở phía dưới nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp dưới Theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG):

- Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên gồm: Viêm tai giữa, mũi, họng

- Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới gồm: Viêm thanh quản, phế quản, phế nang Phần lớn nhiễm khuẩn của trẻ em là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (2/3 trường hợp) như ho, cảm lạnh, viêm họng, viêm mũi, viêm VA, viêm xoang, viêm tai giữa,….nhiễm khuẩn hô hấp trên thường nhẹ còn nhiễm khuẩn hô hấp dưới thường

ít hơn (1/3 trường hợp) nhưng thường nặng, dễ tử vong như viêm thanh quản, viêm thanh khí - phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi, đặc biệt là viêm phổi cấp tính

ở trẻ nhỏ có tỉ lệ tử vong cao nhất, vì vậy cần phải theo dõi và phát hiện kịp thời

* Phân loại theo mức độ nặng nhẹ

Phân loại theo mức độ nặng nhẹ hay được sử dụng nhằm xử trí kịp thời các trường hợp NKHHCT

Theo TCYTTG có thể dựa vào dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu khác để phân loại xử trí theo mức độ nặng nhẹ của bệnh

- Bệnh rất nặng: Trẻ có một trong các dấu hiệu nguy kịch

Trang 15

-Viêm phổi nặng: Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực

- Viêm phổi: Trẻ có dấu hiệu thở nhanh, không rút lõm lồng ngực

- Không viêm phổi ( ho và cảm lạnh): Trẻ chỉ có dấu hiệu ho, chảy nước mũi, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực [5], [8], [14]

* Dấu hiệu thường gặp:

+ Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ có RLLN nhẹ thì chưa có giá trị chẩn đoán

vì lồng ngực của trẻ còn mềm RLLN phải mạnh và sâu mới có giá trị chẩn đoán

+ Trong trường hợp có RLLN, dấu hiệu này phải rõ ràng và thường xuyên Nếu bạn chỉ nhìn thấy có RLLN khi trẻ khóc hoặc đang bú, hoặc chỉ có phần mềm giữa các xương sườn lõm xuống khi trẻ hít vào, thì trẻ này không có dấu hiệu RLLN

-bThở khò khè

+ Tiếng thở khò khè là âm thanh êm dịu nghe thấy ở thì thở ra

+ Tiếng khò khè xuất hiện khi lưu lượng không khí bị tắc lại ở trong phổi vì thiết diện các phế quản nhỏ bị hẹp lại

Trang 16

+ Khò khè hay gặp trong hen phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi

-0Thở rít:

+ Tiếng thở rít là tiếng thở thô ráp nghe thấy ở thì hít vào

+ Tiếng thở rít xuất hiện khi luồng khí đi qua chỗ hẹp ở thanh – khí quản + Hay gặp trong mềm sụn thanh quản bẩm sinh, viêm thanh quản rít, dị vật đường thở

- Tím tái

* Dấu hiệu nguy kịch [5], [8]

Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

- Trẻ không uống được hoặc bỏ bú

- Co giật

- Ngủ li bì hoặc khó đánh thức: Là khi gọi hoặc gây tiếng động mạnh trẻ vẫn ngủ li

bì hoặc mở mắt rồi lại ngủ ngay (khó đánh thức)

- Thở rít khi nằm yên

- Suy dinh dưỡng nặng

Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi

Virus có ái lực với đường hô hấp

Khả năng lây lan của virus dễ dàng

Tỷ lệ người lành mang virus cao

Trang 17

Khả năng miễn dịch với virus ngắn và yếu

Trẻ dưới 5 tuổi mắc NKHHCT do virus là khá cao [31] Virus hay gặp nhất là virus hợp bào hô hấp (RSV), sau đó đến Adenovirus, virus cúm, á cúm,…

Ở các nước đang phát triển vi khuẩn vẫn chiếm vị trí quan trọng trong NKHHCT

Vi khuẩn hay gặp nhất là các vi khuẩn phế cầu và H.influenzae, sau đó đến tụ cầu,

liên cầu và các vi khuẩn khác [1]

Các nguyên nhân khác như nấm và ký sinh trùng ít gặp hơn [15] Mycoplasma thường gây NKHHCT ở trẻ em trên 5 tuổi, Pneumocystic carinii thường gặp ở trẻ

sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi [1]

* Các yếu tố nguy cơ

Nhiều công trình nghiên cứu ở các nước đang phát triển và ở nước ta đều có nhận xét chung về các yếu tố dễ gây NKHHCT ở trẻ em (yếu tố nguy cơ) [30], [51]

- Trẻ đẻ ra có cân nặng thấp (dưới 2500g): Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chết

do viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi có cân nặng lúc sinh dưới 2500g cao hơn so với trẻ

- Khói thuốc lá cũng là một yếu tố gây ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ

- Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây NKHCT ở trẻ em

- Ngoài các yếu tố trên, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A cũng là điều kiện làm trẻ dễ mắc NKHHCT

Thiếu vitamin A làm giảm đáp ứng miễn dịch của cơ thể và giảm khả năng biệt hoá của các tổ chức biểu mô dễ gây sừng hoá niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc đường hô hấp và đường tiêu hoá, do đó trẻ dễ bị NKHHCT

Trang 18

Theo nghiên cứu của Macedo S.E năm 2007 và một số tác giả khác cho thấy, ngoài yếu tố liên quan đến NKHHCT ở trẻ dưới 1 tuổi là trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ, bà mẹ hút thuốc, thu nhập của gia đình, tình trạng nhà ở thấp, nhà đông người còn có một số yếu tố liên quan khác như: Giới nam, trẻ dưới 6 tháng tuổi, trình độ học vấn của bà mẹ [47]

+ Tiếp tục cho trẻ ăn lúc bệnh

+ Thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu

+ Chia làm nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa một ít vì trẻ bị chán ăn

+ Không kiêng trong chế độ ăn như: tôm, cua, dầu, mỡ…

- Cho trẻ uống nhiều nước (nước chín, nước chanh, nước cam )/ Bú mẹ nhiều lần

để bù lại lượng nước mất do sốt, thở nhanh, nôn trớ, tiêu chảy và hơn nữa nước còn

có tác dụng làm loãng đàm

- Giảm ho, làm dịu đau họng bằng các loại thuốc đông y không gây độc hại như quất hấp đường, hoa hồng hấp đường, mật ong,…[6]

- Lau sạch làm thông mũi

- Vấn đề quan trọng nhất là theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy 1 trong các dấu hiệu sau:

+ Thở nhanh hơn

+ Khó thở hơn

+ Không uống được nước

+ Trẻ mệt hơn

* Chăm sóc trẻ dưới 2 tháng tuổi

- Cho trẻ bú mẹ nhiều hơn bình thường

Trang 19

+ Trẻ dưới 1 tháng tuổi, tăng cường bú mẹ bằng cách cho bú nhiều bữa hơn trong ngày hoặc bú với một lượng nhiều hơn trong một lần bú

- Làm sạch và thông thoáng mũi nếu trẻ bị chảy mũi, tắc mũi ảnh hưởng đến việc

ăn, bú của trẻ

- Cách làm:

+ Dùng giấy thấm hoặc vải thấm quấn thành sâu kèn

+ Đặt sâu kèn vào mũi khi sâu kèn thấm ướt lấy ra và đặt sâu kèn khác đến khi khô

- Giữ ấm cho trẻ nhất là về mùa lạnh

- Quan trọng nhất là theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy 1 trong các dấu hiệu sau:

- Nới rộng quần áo, tã lót

- Cho trẻ uống nhiều nước

- Chườm mát

- Khi trẻ sốt ≥ 38,5 0C dùng thuốc hạ sốt Paracetamol 10 – 15mg/kg/lần

- Làm tốt công tác quản lý thai nghén để đảm bảo trẻ không bị đẻ non, đẻ thấp cân

Tổ chức cuộc đẻ an toàn, không để trẻ hít phải nước ối, không bị ngạt

- Đảm bảo nuôi trẻ bằng sữa mẹ, cho trẻ bú mẹ sau khi sinh càng sớm càng tốt, ăn sam một cách khoa học đảm bảo chế độ dinh dưỡng, đủ vitamin, đặc biệt vitamin A

- Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch [56]

Trang 20

- Vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ Nhà ở và lớp học của trẻ cần thoáng mát

về mùa hè, ấm về mùa đông, không đun bếp trong nhà, không hút thuốc lá trong buồng trẻ

- Giữ ấm cho trẻ về mùa đông và khi thay đổi thời tiết

- Phát hiện sớm và xử lý đúng các trường hợp mắc bệnh NKHHCT theo phác đồ

- Tuyên truyền GDSK cho bà mẹ về cách phát hiện, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khi bị NKHHCT

- Khi trẻ bị viêm đường hô hấp cần được khám bệnh và theo dõi kịp thời

- Cách ly trẻ với người đang mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan

+ Đường lây truyền NKHHCT gồm lây truyền qua tiếp xúc, lây truyền qua giọt bắn và qua không khí [13]

- Có thái độ tôn trọng, thông cảm với hoàn cảnh của cháu bé và bà mẹ

Cần tạo được niềm tin tưởng của bà mẹ vào người cán bộ y tế Bà mẹ cảm thấy được tôn trọng, từ đó thấy thoải mái và dễ dàng chấp nhận những hướng dẫn của cán bộ y tế

- Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, ngắn gọn, chính xác và dễ hiểu

- Khen ngợi, khuyến khích và động viên đúng nơi, đúng lúc

- Quan tâm lắng nghe những điều bà mẹ trình bày

* Các phương pháp khi hướng dẫn bà mẹ [6], [7]

- Giao tiếp có ích thông qua ngôn ngữ: là biểu thị thái độ thông qua dáng điệu, vẻ mặt, hành động mà không qua lời nói Qua đây, cán bộ y tế tỏ thái độ tôn trọng, thông cảm, quan tâm hoàn cảnh của bé và bà mẹ, tạo cho bà mẹ cảm thấy được tôn trọng.Từ đó, bà mẹ sẽ nói chuyện cởi mở và dễ dàng làm theo hướng dẫn của cán

bộ y tế

- Phương pháp “HKKK”: hỏi, khen, khuyến khích, kiểm tra

+ Hỏi: để thu thập các thông tin cần thiết có 2 loại câu hỏi

Câu hỏi đóng: Khi cần thông tin đơn giản “Có” hoặc “Không”

Trang 21

Câu hỏi mở: Khi cần thông tin đầy đủ, buộc bà mẹ không thể trả lời “có” hoặc

“không”, mà câu hỏi được bắt đầu bằng các mệnh đề: như thế nào, khi nào, làm sao, bằng cách nào, bao nhiêu,…

+ Khen, khuyến khích thái độ có ích của bà mẹ

Thông thường bà mẹ sẽ có phản ứng tốt trước những lời khen và bà mẹ cảm thấy mình được tôn trọng.Từ đó bà mẹ lắng nghe lời khuyên của bạn, không nên dùng

từ phê phán Cần khen ngợi những gì có ích mà bà mẹ đã làm cho trẻ Đảm bảo lời khen ngợi thật chân thật

+ Khuyên bảo bà mẹ nên làm gì:

Cung cấp thông tin: nói cho bà mẹ biết cách làm như thế nào, tại sao làm như vậy Nếu có thể, hãy sử dụng tranh ảnh hoặc những ví dụ thực tế để minh hoạ cho những lời khuyên của bạn Nhắc nhở bà mẹ về những việc làm có hại cho trẻ Khi sửa đổi những việc làm chưa tốt, cần phải giải thích rõ ràng và cần thận trọng để bà

mẹ không cảm thấy mình có lỗi và vụng về Giải thích cho bà mẹ hiểu tại sao những việc làm đó là có hại

+ Kiểm tra lại sự hiểu biết của bà mẹ:

Thường dùng câu hỏi mở: yêu cầu bà mẹ nói lại, diễn tả lại hoặc làm lại những điều vừa hướng dẫn Tránh hỏi những câu hỏi mang tính chất dẫn dắt và những câu hỏi

có thể trả lời có hoặc không một cách đơn giản

1.1.2 Tình hình NKHHCT trên thế giới và Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình NKHHCT ở trẻ em trên thế giới

Hiện nay các nước đang phát triển, các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp vẫn là nguyên nhân mắc bệnh và tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi, chủ yếu do viêm phổi [48], [54] Theo số liệu của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), mỗi trẻ em trung bình trong 1 năm mắc NKHHCT từ 4 đến 9 lần, ước tính trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 2 tỷ lượt trẻ mắc NKHHCT chiếm 19 – 20% số trẻ dưới 5 tuổi tử vong trên toàn cầu Tỷ lệ tử vong do NKHHCT ở các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam cao gấp 30-50 lần ở các nước phát triển Theo số liệu của WHO, hàng năm có khoảng 4 triệu trẻ em tử vong vì NKHHCT, trong đó trên 90% là các nước đang

Trang 22

phát triển [15] Tỷ lệ trẻ tử vong do viêm phổi chiếm gần 1/5 số trẻ tử vong trên

toàn thế giới Ở Châu Âu, tỷ lệ viêm phổi chiếm từ 30 đến 40 trường hợp/1000

trẻ/năm [28], [38]

Theo nghiên cứu của Rudan và Igor năm 2008, viêm phổi là nguyên nhân hàng

đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt tỉ lệ tử vong ở nhóm tuổi này cao

hơn tại các nước đang phát triển [53]

Theo nghiên cứu của Harish Naire và các cộng sự ước tính có 66000-199000 trẻ

em dưới 5 tuổi chết vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp liên quan đến virus

trong năm 2005, với 99% các ca tử vong xảy ra ở các nước đang phát triển [43] Theo nghiên cứu của Ruan I năm 2005, trên 90% trẻ mắc viêm phổi trên thế giới là

ở các nước đang phát triển [34] Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở

trẻ em trên thế giới [45]

Theo Singh Varinder đã đề cập đến gánh nặng viêm phổi ở trẻ em Châu Á và cho

rằng viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong khoảng 2 triệu trẻ em mỗi năm trên

toàn thế giới (20% trong tất cả tử vong ở trẻ), gần 70% trong số các trường hợp tử

vong xảy ra ở Châu Phi và Đông Nam Châu Á Hầu hết các nước ở Châu Phi và

Châu Á trẻ em bị viêm phổi cao gấp từ 2 đến 20 lần so với trẻ em ở Hoa Kỳ [57]

Một nghiên cứu phân tích của Carrlos G và các cộng sự tại Mỹ chỉ ra hiệu quả

của tiêm phòng vaccine trong phòng bệnh viêm phổi ở trẻ, là bằng chứng về tác

dụng có lợi của vaccine trong phòng bệnh NKHHCT Kết quả nghiên cứu cho thấy

đã giảm các trường hợp nhập viện vì viêm phổi sau khi chủng ngừa vaccine kết hợp

phế khuẩn [39]

Nghiên cứu của Shivaprakash N.C, Kutty D.N năm 2017 [56], là bằng chứng cho

thấy những trẻ được bú mẹ cũng như tình trạng dinh dưỡng tốt, tiêm phòng đầy đủ

giúp làm giảm nguy cơ mắc NKHHCT ở trẻ

Viêm phổi gây ra khoảng 750.000 trẻ em tử vong mỗi năm ở các nước châu Phi,

vùng hạ Sahara Việc thiếu khả năng tiếp cận để tư vấn và xử lý hiệu quả là một

đóng góp quan trọng đối với gánh nặng này [41]

Trang 23

Nghiên cứu tại Nepal năm 2006, thấy rằng có 56,8% bà mẹ chăm sóc kịp thời, 26,4% bà mẹ chăm sóc hợp lý, tổng hợp lại chỉ có 11,3 % bà mẹ chăm sóc vừa kịp thời và vừa hợp lý [59]

Theo nghiên cứu Gombojav N và cộng sự năm 2009, tác giả đưa ra nhận định: trẻ mắc NKHHCT được tiếp cận với các dịch vụ y tế còn chậm và người chăm sóc trẻ được hỗ trợ hạn chế Do vậy, cần đẩy mạnh công tác truyền thông – giáo dục sức khoẻ đến người chăm sóc trẻ sơ sinh trong quản lý NKHHCT, đặc biệt là những người trẻ tuổi [42] Một số nghiên cứu đã cho thấy được hiệu quả của can thiệp giáo dục giúp nâng cao được kiến thức cho các bà mẹ và góp phần làm giảm tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ [44], [55]

1.1.2.2 Tình hình NKHHCT ở trẻ em tại Việt Nam

Tại Việt Nam, NKHHCT là bệnh phổ biến có tỷ lệ mắc và tử vong cao [10], đứng đầu các bệnh trong nhóm nhiễm trùng cấp tính, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi (Theo ước tính hàng năm có khoảng 30 – 50% số trẻ đến khám vì NKHHC) [24], [35] Mỗi năm có khoảng 20 ngàn đến 30 ngàn trẻ dưới 5 tuổi chết vì NKHHCT chủ yếu là do bệnh viêm phổi chiếm khoảng 22 - 24 ngàn trẻ tử vong [26] Qua điều tra nghiên cứu 2821 trẻ sơ sinh vào điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên về tình hình bệnh tật và tử vong sơ sinh từ năm 2008 đến năm 2010 cho thấy viêm phổi là một trong những bệnh thường gặp và tử vong cao

ở trẻ sơ sinh [19] NKHHCT có tỷ lệ mắc bệnh cao và tái diễn nhiều lần trong năm, xảy ra trung bình 4-6 đợt trên một trẻ /1 năm, đây là gánh nặng to lớn đối với ngành y tế Thời gian để chăm sóc cho trẻ ốm đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động và ngày công của các bà mẹ [15], [17] Hiện nay, viêm phổi vẫn là nguyên nhân tử vong cao nhất (31,3%) trong tổng số các nguyên nhân gây tử vong

ở trẻ em, cao gấp 6 lần so với tử vong do tiêu chảy (5,1%) Trong số trẻ tử vong do viêm phổi, chỉ có 52% trẻ được chăm sóc trước khi tử vong Nguyên nhân trẻ không được chăm sóc y tế trước khi tử vong hoặc tử vong trước 24 giờ tại bệnh viện cao là vì các bà mẹ không phát hiện được dấu hiệu của bệnh hoặc khi trẻ mắc bệnh không được điều trị đúng đắn, đến khi bệnh nặng chuyển đi bệnh viện thì

Trang 24

bệnh đã quá nặng [4] Theo Niên giám Thống kê Y tế năm 2011, NKHHCT có tỉ lệ mắc và tử vong cao Trong đó, viêm phổi đứng đầu trong 10 bệnh mắc cao nhất và đứng thứ 2 trong 10 bệnh có tỉ lệ chết cao nhất trong toàn quốc [10] Theo kết quả nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết và Trần Thị Hằng năm 2014 về tình hình NKHHCT tại 2 xã huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An cho thấy tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT ở địa điểm nghiên cứu còn cao (38,34%) Độ tuổi trẻ mắc NKHHCT chủ yếu là từ 12- 35 tháng tuổi (41,04%) [35] Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Mai Anh Tuấn là nhóm tuổi mắc NKHHCT cao nhất là 12 đến 35 tháng tuổi chiếm 40,76% Tác giả cũng cho thấy được thực trạng bệnh NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi còn cao chiếm tỷ lệ là 40,76% Năm 2007, bệnh viện Lao và bệnh Phổi Trung ương, dự án NKHHCT trẻ em đã tổ chức hội thảo “Triển khai kế hoạch hoạt động dự án NKHHCT trẻ em các tỉnh trọng điểm năm 2007 và giai đoạn 2007 – 2010” cho thấy tình hình mắc NKHHC ở trẻ của các tỉnh miền núi là cao nhất (62,8%), sau đó đến các tỉnh miền Trung (42,9%), đồng bằng tỷ lệ mắc bệnh ít hơn (34,8%) Còn đối với tình hình tử vong ở trẻ do NKHHC thì ở miền núi (0,28%0) cao hơn so với đồng bằng (0,06%0 ) [3]

Với tỷ lệ tử vong cao ở trẻ em dưới 5 tuổi do NKHHCT, chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em đã được TCYTTG đề xuất từ năm 1981, chương trình được triển khai tại Việt Nam từ năm 1984 Việt Nam là quốc gia thứ nhì trên thế giới và đầu tiên của Châu Á có chương trình này [22] Chương trình được triển khai từ rất sớm và đã đạt được những kết quả đáng kể [9] Tuy vậy, theo báo cáo hàng năm của Bộ Y tế cho thấy NKHHCT luôn nằm trong nhóm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi [4] Các thống kê nghiên cứu ở tuyến bệnh viện và ở cộng đồng đều cho thấy tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ em những năm gần đây không có xu hướng thuyên giảm [32] Mục đích cơ bản của chương trình NKHHCT là làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi có liên quan đến NKHHCT đặc biệt là viêm phổi Giáo dục kiến thức cho bà mẹ để phát hiện sớm bệnh, đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời là một trong 3 nội dung hoạt động chính của chương trình

Trang 25

Chiến lược thành công này là cải thiện kiến thức, hướng dẫn bà mẹ, phòng ngừa và chăm sóc trẻ bệnh đúng [12], [24]

1.2 Kiến thức và thái độ của các bà mẹ về NKHHCT ở trẻ em

1.2.1 Các nghiên cứu kiến thức, thái độ của các bà mẹ về NKHHCT

1.2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Kumar R năm 2012, đã chỉ ra kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân gây NKHHCT còn thấp Chỉ có 28% bà mẹ biết đúng nguyên nhân của NKHHCT Nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT cho các bà mẹ

có thể làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ do NKHHCT [46]

Theo nghiên cứu của Neeru G và các cộng sự cho thấy chỉ có 16% bà mẹ nhận thức được về bệnh của trẻ Kiến thức về các triệu chứng nguy hiểm về NKHHCT của các bà mẹ còn thấp và các bà mẹ mong muốn nhận được tư vấn từ nhân viên y

tế [49]

Nghiên cứu tiến hành trên 140 bà mẹ có con dưới 5 tuổi về kiến thức bệnh viêm phổi năm 2007 tại Thái Lan của tác giả Siswanto E và cộng sự cho thấy kiến thức của bà mẹ còn thấp Chỉ có 19% bà mẹ có kiến thức tốt và còn 15% bà mẹ có kiến thức kém về bệnh [58]

Nghiên cứu của Prajapati và cộng sự chỉ ra sự thiếu hụt kiến thức của bà mẹ về phòng và kiểm soát bệnh NKHHCT Cung cấp kiến thức cho bà mẹ có thể thay đổi được thái độ và hành vi chăm sóc sức khoẻ cho trẻ NKHHCT [37]

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 132 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Nepal năm

2014 về kiến thức, thực hành quản lý bệnh NKHHCT [36], kết quả cho thấy phần lớn là các bà mẹ ở nhóm tuổi 20 – 24 tuổi, nghề nghiệp chủ yếu là nội trợ, hầu hết

bà mẹ có thông tin về bệnh (93%) trong đó nguồn thông tin từ nhân viên y tế chiếm 30% Về kiến thức nhận biết dấu hiệu bệnh, 2 dấu hiệu được bà mẹ biết đến nhiều nhất là ho (78%), chảy nước mũi (71%) Chỉ có 48% bà mẹ biết đúng về dấu hiệu nguy hiểm của bệnh Sự thiếu hụt kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của bệnh đã đặt

ra một đề xuất về chương trình giáo dục tại cộng đồng cho các bà mẹ về NKHHCT

Trang 26

1.2.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Kiến thức của bà mẹ đóng vai trò quan trọng trong sự giảm mắc NKHHCT và tử vong ở trẻ bệnh [1], [15] Theo nghiên cứu của Lý Thị Chi Mai, Huỳnh Thanh Liêm năm 2011, các bà mẹ có kiến thức đúng về NKHHCT thì con của họ mắc bệnh thấp hơn (31,2%) con của các bà mẹ có kiến thức không đầy đủ về NKHHCT (47,9%) [22] Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Mai Anh Tuấn năm 2008 [32], nhóm trẻ là con của các bà mẹ có kiến thức kém thì nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn gấp 1,54 lần nhóm trẻ là con của các bà mẹ có kiến thức trung bình Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra được yếu tố liên quan giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ, tình trạng tiêm chủng có mối liên quan với tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ Nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết năm 2010, kiến thức chăm sóc trẻ của bà mẹ có liên quan chặt chẽ đến NKHH dưới cấp cao gấp 3,69 lần so với nhóm trẻ là con của bà mẹ có kiến thức trung bình, khá và tốt với p < 0,01 Trình độ học vấn của bà mẹ có liên quan tới nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp của trẻ Nhóm trẻ của

bà mẹ có trình độ từ tiểu học trở xuống có nguy cơ mắc nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp cao gấp 1,79 lần nhóm trẻ của bà mẹ có trình độ học vấn từ THCS trở lên với p

< 0,05 [34] Bên cạnh kiến thức, bà mẹ cần có thái độ tích cực khi chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ Theo nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết năm 2010, cũng cho thấy

tỷ lệ thái độ chưa tốt của bà mẹ về NKHHCT chiếm khoảng 9,2% đến 24,1% Sau can thiệp, tỷ lệ thái độ đồng ý và rất đồng ý của các bà mẹ ở nhóm can thiệp tăng hơn nhóm chứng rõ rệt trong khoảng từ 90,9% đến 95,0%, nhóm chứng trong khoảng từ 59,4 đến 67,8% với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,01 [34]

Do đó, việc chăm sóc, xử trí và phòng bệnh NKHHC chỉ phụ thuộc vào cán bộ y

tế mà còn phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thái độ của bà mẹ trong việc phòng bệnh, phát hiện sớm trẻ bị bệnh, kịp thời đưa trẻ đến các cơ sở y tế cũng như chăm sóc và theo dõi khi trẻ ốm Nếu kiến thức, thái độ của bà mẹ không đúng sẽ dẫn đến hậu quả xấu như bệnh nặng hoặc tử vong Theo TCYTTG có đến 75% bệnh NKHHCT được điều trị, chăm sóc tại nhà Sự hiểu biết của bà mẹ và có thái độ đúng về bệnh là vô cùng quan trọng để phòng bệnh, phát hiện sớm NKHHCT và

Trang 27

đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời cũng như chăm sóc và theo dõi khi trẻ ốm Một số nghiên cứu cho biết kiến thức của bà mẹ về NKHHCT còn hạn chế Theo nghiên cứu 393 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh của Phạm Ngọc Hà [15], cho thấy tỉ lệ bà mẹ biết đúng dấu hiệu về NKHHCT (42,0%), biết đúng các dấu hiệu viêm phổi (48,6%) Theo khảo sát về bệnh NKHHCT của chương trình ARI quốc gia của Bộ Y Tế có 86,7% trả lời bệnh viêm phổi là bệnh nguy hiểm; 0,7% cho là không nguy hiểm và có 12,6% không biết Về dấu hiệu của bệnh viêm phổi phần lớn chỉ biết dấu hiệu ho và sốt (trong đó biết về ho 46,5% trong 1106 người, sốt 75,8% trong 1801 người được khảo sát)

Nghiên cứu của Lý Thị Chi Mai và Huỳnh Thanh Liêm năm 2011 [22], cho thấy kiến thức đúng của bà mẹ về NKHHCT còn rất thấp Phần lớn các bà mẹ chưa nhận biết được dấu hiệu bệnh Dấu hiệu nhận biết kém nhất là thở nhanh và thở khò khè (5,2%), sau đó đến dấu hiệu nghẹt mũi (16,2%), sốt, ho (27%) Tuy nhiên, kiến thức về phòng bệnh của các bà mẹ là khá tốt, các bà mẹ biết giữ ấm, vệ sinh mũi họng cho trẻ và cách ly trẻ với người mắc bệnh hô hấp để tránh lây lan Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Sơn năm 2013 [26], tìm hiểu kiến thức, thái độ

xử trí chăm sóc của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ dưới 5 tuổi chỉ ra có 86,7% cho biết có sự lây lan về NKHHCT, kiến thức nhận biết dấu hiệu bệnh thấp nhất là nhận biết dấu hiệu rút lõm lồng ngực (55,6%) Bà mẹ phần lớn cho con ăn uống bình thường khi trẻ mắc bệnh NKHHCT (66,7%) và chỉ có 35,6% bà mẹ cho trẻ đi khám bác sĩ khi trẻ bị sốt và ho nhẹ

Nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự [27], kết quả chỉ có 5% bà mẹ nhận biết được dấu hiệu không uống/ bú được, 4,1% nhận biết dấu hiệu co giật, 3,4% nhận biết dấu hiệu li bì và khó đánh thức Đối với 2 dấu hiệu điển hình của bệnh viêm phổi, chỉ có 37,3% bà mẹ nhận biết được các dấu hiệu thở (thở khác thường, thở nhanh, khó thở), có 0,9% nhận biết được dấu hiệu RLLN

Theo nghiên cứu của Thái Lan Anh và cộng sự năm 2015 [2], cho thấy trẻ mắc NKHHCT còn cao Trong số, 249 bà mẹ có con dưới 5 tuổi có 211 trẻ đã và đang mắc NKHHCT, chiếm tỷ lệ 84,7% Về kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ mắc

Trang 28

NKHHCT, đa số các bà mẹ đều biết triệu chứng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Phần lớn các bà mẹ có kiến thức về phòng bệnh NKHHCT cho trẻ Tuy nhiên các

bà mẹ có thực hành đúng về chế độ ăn của trẻ khi mắc NKHHCT còn thấp (11,4%) Những trẻ mắc NKHHCT ở nhóm bà mẹ có hiểu biết không đúng về hậu quả bệnh cao gấp 2,72 lần so với những trẻ mắc NKHHCT ở nhóm các bà mẹ có hiểu biết đúng về hậu quả bệnh NKHHCT

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương và công sự năm 2008 [18], nghiên cứu thực hành chăm sóc tại nhà ở trẻ dưới 5 tuổi mắc NKHHCT của các bà mẹ cho thấy tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức tốt về NKHHCT còn thấp (34%)

Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Ngọc Hà [15]: Kiến thức chung đúng về bệnh NKHHCT là rất thấp (7,9%), bà mẹ biết về dấu hiệu bệnh là 42% trong đó sốt, ho là 2 dấu hiệu được biết đến nhiều, còn dấu hiệu khó thở các bà mẹ biết rất ít Kiến thức phòng ngừa NKHHCT thấp đạt 31,8% Nhưng trong các biện pháp phòng bệnh thì giữ ấm cho trẻ khi thời tiết lạnh được các bà mẹ biết đến nhiều nhất 74%, biện pháp cho bú sữa mẹ biết đến ít nhất đạt 22,5% Thái độ đúng chung của

Theo kết quả nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết và Trần Thị Hằng năm 2014 [35], kiến thức về bệnh NKHHCT có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ

Tỷ lệ con của các bà mẹ có kiến thức kém mắc NKHHCT (42,27%) cao hơn con của các bà mẹ có kiến thức trung bình, khá và tốt (26,63%) với p <0,05 Bên cạnh

đó, tác giả cũng chỉ ra mối liên quan giữa trình độ học vấn và nghề nghiệp của bà

mẹ với tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ Nhóm trẻ là con của các bà mẹ có trình độ học vấn từ bậc THCS trở xuống mắc NKHHCT (43,22%) cao hơn so với nhóm trẻ là

Trang 29

con của các bà mẹ có trình độ học vấn từ bậc THPT trở lên (25,81%) Nhóm trẻ là con của các bà mẹ làm ruộng mắc NKHHCT (41,84%) cao hơn so với nhóm trẻ là con của các bà mẹ làm các nghề khác như giáo viên, công chức, buôn bán, nội trợ, nghề tự do (16%) với p <0,05 Một thực tế là dù CBYT có trình độ giỏi, được trang

bị thuốc men và các phương tiện y tế đầy đủ nhưng khi bà mẹ thiếu kiến thức, không biết phát hiện sớm các dấu hiệu NKHHCT, chỉ đưa con đến CSYT khi bệnh

đã quá nặng thì khả năng tử vong của trẻ là rất cao Không có kiến thức, hiểu biết đúng về bệnh bà mẹ sẽ không thấy hết mối đe doạ đến tính mạng của trẻ, từ đó sẽ

có thái độ không đúng với việc chăm sóc trẻ và hậu quả không có hành vi tốt với vấn đề về bệnh của trẻ

Theo nghiên cứu của Đặng Thị Thu Lệ và các cộng sự tại khoa hô hấp nhi, Bệnh viện Xanh Pôn năm 2015 [20], kết quả cho thấy các bà mẹ có kiến thức đúng về viêm phổi thực hành đúng cao gấp 8,1 lần các bà mẹ thiếu kiến thức, trong đó các

bà mẹ có trình độ học vấn trên THPT thực hành đúng cao gấp 2,1 lần các bà mẹ có trình độ học vấn từ THPT trở xuống Đối với trẻ em thì sự bình phục nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào sự chăm sóc đúng cách của người mẹ Việc nâng cao khả năng thực hành chăm sóc trẻ của các bà mẹ sẽ làm giảm thời gian điều trị và những biến chứng xấu có thể xảy ra cho trẻ

Nhiều nghiên cứu đánh giá cho thấy nguyên nhân tử vong của trẻ là do không được đưa đến cơ sở y tế kịp thời và không được điều trị đúng Vì vậy, mặc dù có nhiều can thiệp, nhưng truyền thông giáo dục sức khoẻ nhằm cung cấp kiến thức,

kỹ năng và tác động hành vi chăm sóc trẻ mắc NKHHCT luôn là biện pháp hàng đầu TCYTTG khuyến cáo các nước thực hiện Kết quả nghiên cứu can thiệp này giúp thay đổi hành vi của bà mẹ trong chăm sóc Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ biết cách chăm sóc trẻ NKHHCT tại nhà tăng có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp tại nhóm được can thiệp [16], [17], [21]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hiếu năm 2012 [17], về đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong thực hành xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Ba Vì và Đan Phượng, Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy

Trang 30

can thiệp đã tác động tích cực đến kiến thức của bà mẹ Trước can thiệp, đa số bà

mẹ ở cả hai nhóm chỉ nhớ được từ 1 đến 2 dấu hiệu nguy hiểm cần đi khám Sau can thiệp, phần lớn các bà mẹ đã nhớ được từ 4 đến 5 dấu hiệu Ở nhóm can thiệp, hiểu biết về dấu hiệu bệnh đều tăng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp Trong khi kiến thức của bà mẹ ở nhóm đối chứng hầu như không

có sự thay đổi Trước can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có con mắc NKHHCT ở huyện Ba Vì

và Đan Phượng lần lượt là 70,1% và 65,8% Sau can thiệp tỷ lệ này đã giảm rõ rệt

ở huyện Ba Vì và Đan Phượng lần lượt là 52,8% và 58,3%

Như vậy, qua một số nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam cho thấy, tình hình mắc và tử vong do NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta nói riêng và các nước đang phát triển nói chung còn cao Tuy nhiên, kiến thức của bà mẹ về NKHHCT còn hạn chế và kiến thức, thái độ của bà mẹ có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ mắc và

tử vong ở trẻ Can thiệp giáo dục sẽ nâng cao kiến thức và thái độ cho bà mẹ đóng vai trò quan trọng giảm tỷ lệ mắc và tử vong ở trẻ Hiện nay các nghiên cứu đề cấp đến hiệu quả sau can thiệp tư vấn GDSK cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT còn hạn chế Vì vậy, đây là vấn đề cần quan tâm nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em

1.2.2 Vai trò của truyền thông - giáo dục sức khỏe

1.2.2.1 Khái niệm về truyền thông

Truyền thông (giao tiếp) là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ

và tình cảm giữa con người với nhau, với mục đích làm tăng kiến thức, làm thay đổi thái độ và hành vi của cá nhân, của nhóm người và của cộng đồng [23]

1.2.2.2 Khái niệm về giáo dục sức khỏe

Theo Green và cộng sự (1980) đã định nghĩa GDSK là sự tổng hợp các kinh nghiệm nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người dân chấp nhận một cách tự nguyện các hành vi có lợi cho sức khoẻ Chúng ta có thể định nghĩa GDSK là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến người dân, giúp họ nâng cao sự hiểu biết để

Trang 31

thay đổi thái độ, chấp nhận và duy trì thực hiện những hành vi lành mạnh, có lợi cho sức khoẻ cá nhân và cộng đồng [23]

1.2.2.3 Vị trí, tầm quan trọng của truyền thông – giáo dục sức khỏe

TT – GDSK giúp cho người dân nâng cao được kiến thức, đồng thời hướng dẫn cho họ những kỹ năng cần thiết, giúp cho họ có khả năng lựa chọn giải pháp thích hợp nhất và đưa ra được các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của họ, tạo ra được những hành vi đúng đắn; giúp người dân tự giác chấp nhận và duy trì lối sống lành mạnh, từ bỏ thói quen có hại cho sức khoẻ góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho chính họ và cộng đồng, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn tật, tỷ lệ tử vong do bệnh gây ra Vì vậy, nếu làm tốt công tác TT – GDSK thì hiệu quả của công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân sẽ đạt được hiệu quả TT – GDSK là một công tác khó làm, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao, chi phí lại thấp

so với các dịch vụ y tế khác, nhất là ở tuyến y tế cơ sở

Để bà mẹ có thể chăm sóc tốt sức khoẻ cho trẻ cần có nhiều yếu tố nhưng TT – GDSK là một yếu tố rất quan trọng Nhờ TT – GDSK, bà mẹ sẽ biết cách chăm sóc trẻ cả lúc khoẻ lẫn lúc đau ốm, biết cách phát hiện các dấu hiệu khi trẻ mắc bệnh, biết đưa trẻ đến các cơ sở y tế kịp thời tránh được tử vong Truyền thông nói chung không chỉ tác động đến một cá nhân mà có tác động đến toàn thể cộng đồng TT – GDSK huy động các cấp chính quyền tạo điều kiện về hành lang pháp lý, về nhân lực, hỗ trợ kinh phí và có thể trực tiếp tham gia vào công tác chăm sóc sức khoẻ Kinh nghiệm trên thế giới, cũng như ở Việt Nam cho thấy nhờ làm tốt công tác TT-GDSK mà nhiều vấn đề về sức khoẻ đã trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội, đẩy lùi được nhiều dịch bệnh, cải thiện tình trạng sức khoẻ cho trẻ em [23]

1.2.2.4 Nhiệm vụ Điều dưỡng với công tác giáo dục sức khỏe

Theo thông tư số 07/2011/TT – BYT: Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe tại bệnh viện được đặt ở vị trí đầu tiên trong nhiệm vụ chuyên môn của người điều dưỡng Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, bệnh viện cần có quy định và tổ chức các hình thức tư vấn, truyền thông, giáo dục sức khỏe phù hợp Người bệnh nằm viện

Trang 32

cần được điều dưỡng viên, hộ sinh viên hướng dẫn phương pháp tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện [11].

1.3 Đôi nét về địa điểm nghiên cứu

Nam Định là tỉnh duyên hải ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ với diện tích khá rộng (1652,6 km2) và dân số khoảng hơn 2 triệu người Nam Định mang đầy đủ đặc điểm khí hậu của khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, đây chính là yếu

tố thuận lợi làm gia tăng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính đặc biệt là ở trẻ em dưới 5 tuổi

Trên địa bàn tỉnh Nam Định, nhóm nghiên cứu chọn Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định là địa điểm nghiên cứu Bệnh viện được thành lập từ năm 2009, là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, được xếp hạng 3 Bệnh viện gồm 9 tầng, 6 khoa lâm sàng,

3 phòng ban, 150 giường bệnh và hiện có 150 nhân viên y tế Hàng ngày tiếp nhận nhiều trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính phải nhập viện trong tình trạng bệnh nặng Theo số liệu thống kê, số trẻ mắc NKHHCT phải nhập viện điều trị trung bình là 753 lượt trẻ/tháng trong năm 2015 và 792 lượt trẻ/tháng trong 9 tháng đầu năm 2016 Trẻ mắc NKHHCT khi nhập viện được điều trị tại khoa cấp cứu sơ sinh

và khoa hô hấp của bệnh viện Bệnh viện tiếp nhận các bệnh nhi từ tuyến trung ương chuyển về và nhiều bệnh nhi từ tuyến huyện chuyển lên, cùng các bệnh nhi trong địa bàn thành phố Nam Định

1.4 Khung lý thuyết trong nghiên cứu

1.4.1 Giả thuyết nghiên cứu

Liệu can thiệp giáo dục sức khoẻ có thay đổi được kiến thức và thái độ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho các bà mẹ không

Trang 33

1.4.2 Cây vấn đề các yếu tố liên quan

Yếu tố liên quan

Trước can thiệp Sau can thiệp

GDSK

Sơ đồ 1.1 Cây vấn đề các yếu tố liên quan

Theo mô hình nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết (2010)

và Chu Thị Thuỳ Linh (2016) [21], [34]

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT nhập viện điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

- Tiêu chuẩn chọn mẫu:

+ Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT nhập viện tại khoa hô hấp và khoa cấp cứu – sơ sinh, bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định trong thời gian từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2017

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Bà mẹ không có khả năng nhận thức và giao tiếp

+ Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa cấp cứu – sơ sinh và khoa hô hấp, bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2016 đến tháng 9/2017

2.3 Thiết kế nghiên cứu:

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp một nhóm có so sánh trước sau

So sánh trước và sau can thiệp

Sơ đồ 2.1: Qui trình nghiên cứu

Đánh giá kiến thức, thái độ của bà mẹ trước can thiệp

Bệnh NKHHCT, Chăm sóc trẻ mắc NKHHCT,

Đánh giá kiến thức, thái độ của bà mẹ sau can thiệp

Bệnh NKHHCT, Chăm sóc trẻ mắc NKHHCT,

Dự phòng

Trang 35

- Nội dung can thiệp giáo dục sức khoẻ: kiến thức, thái độ của bà mẹ về bệnh

NKHHCT; kiến thức, thái độ của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc NKHHCT; kiến thức, thái độ của bà mẹ về dự phòng NKHHCT

- Người can thiệp: Nhóm nghiên cứu

thấy trung bình thời gian nằm viện của trẻ mắc NKHHCT là 7 – 10 ngày Vì vậy, chúng tôi tiến hành thu thập số liệu và can thiệp trên đối tượng nghiên cứu vào các thời điểm:

Đánh giá kiến thức, thái độ về NKHHCT của các bà mẹ trong ngày đầu sau khi trẻ nhập khoa điều trị (Đánh giá lần 1) bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi có sẵn tại phòng bệnh khoa Hô Hấp/ khoa Cấp Cứu – Sơ Sinh trong thời gian 20 phút/1 lần đánh giá cho 1 bà mẹ

Sau đó tổng hợp, phân tích sơ bộ kết quả đánh giá kiến thức của các bà mẹ để tìm ra những thiếu sót, hạn chế của các bà mẹ về kiến thức, thái độ về bệnh, chăm sóc và dự phòng NKHHCT để xây dựng chương trình can thiệp phù hợp với các bà

mẹ

Tiến hành can thiệp giáo dục sức khoẻ cho các bà mẹ sau đánh giá lần 1 là 1 ngày với nội dung được xây dựng phù hợp trong khoảng thời gian là 20 phút tại phòng bệnh (Phụ lục 3) Hướng dẫn, phổ biến và giải đáp mọi thắc mắc cho các bà

mẹ trong thời gian bệnh nhi nằm viện điều trị Cung cấp tài liệu phát tay về NKHHCT cho các bà mẹ (Phụ lục 4)

Đánh giá lại kiến thức, thái độ của các bà mẹ lần 2 (Trước khi trẻ ra viện, sau đánh giá lần 1 là 5 – 7 ngày), thông qua bộ câu hỏi giống lần 1 để so sánh sự thay đổi kiến thức, thái độ về NKHHCT của các bà mẹ sau can thiệp tại phòng bệnh khoa Hô Hấp/ khoa Cấp Cứu – Sơ Sinh trong khoảng thời gian là 20 phút

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:

2.4.1 Cỡ mẫu

- Mẫu: Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT đang điều trị tại khoa cấp cứu-

sơ sinh và khoa hô hấp, bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định theo tiêu chuẩn chọn mẫu

Trang 36

- Cỡ mẫu can thiệp được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho việc kiểm định sự khác nhau giữa 2 tỷ lệ được áp dụng như sau:

1 0

1 1 0 0

) (

) 1 ( ) 1 (

P P

P P P P

n là số bà mẹ tham gia nghiên cứu

α là xác suất sai lầm loại 1

β là xác xuất sai lầm loại 2

Z2(α, β): Tra từ bảng Z tương ứng với giá trị α = 0,05 và β = 0,10 thì Z2(α, β) = 10,5

P0 là tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ không đúng về NKHHCT tại quần thể trước can thiệp

- P1 là tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ không đúng về NKHHCT tại quần thể sau can thiệp

Theo nghiên cứu của Đàm Thị Tuyết năm 2010 [34]: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái

độ không đúng về NKHHCT trước can thiệp là 30,8% và tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ không đúng về NKHHCT sau can thiệp là 7,6%.Do đó lấy P0 là 0,31 và P1

là 0,08 Thay vào công thức trên tính được n = 57 Để tránh trường hợp sai sót, mất

số liệu chúng tôi lấy thêm 15% Tuy nhiên, trong khoảng thời gian thu thập số liệu

từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2017 là khoảng thời gian có sự thay đổi của yếu tố khí hậu nên số trẻ nhập viện tăng lên so với lưu lượng thông thường và để đảm bảo vấn

đề đạo đức nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành can thiệp và tư vấn cho tất

cả bà mẹ đã lựa chọn được theo tiêu chuẩn chọn mẫu Thực tế nhóm nghiên cứu đã lấy được 83 bà mẹ

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu:

Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện: chọn tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2017 đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được 83 bà mẹ có đủ điều kiện tham gia nghiên cứu

Trang 37

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu:

- Công cụ thu thập số liệu được xây dựng dựa trên chương trình ARI (Bộ y tế, 2014) và đề tài nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hiếu (2012) với các nội dung: + Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: gồm 12 câu hỏi được đánh số

+ Phần C: Đánh giá thái độ của bà mẹ về NKHHCT gồm 10 câu hỏi lựa chọn được đánh số từ C1 đến C10 Bao gồm 3 nội dung: thái độ của bà mẹ về bệnh NKHHCT

từ câu C1 đến câu C2, thái độ của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc NKHHCT từ câu C3 đến câu C5, thái độ của bà mẹ về dự phòng NKHHCT từ câu C6 đến câu C10

Bộ công cụ sau khi xây dựng đã được 3 chuyên gia thẩm định với tính giá trị (CVI) là 0,93 và đánh giá thử nghiệm trên 30 bà mẹ (30 bà mẹ này không tham gia vào đối tượng nghiên cứu được điều tra sau đó nhằm tránh đối tượng đã biết trước nội dung câu hỏi lần đánh giá sau sẽ thiếu tính khách quan) có độ tin cậy như sau:

alpha

Bộ công cụ có điểm Cronbach’s alpha > 0,70 nên đạt tiêu chuẩn được sử dụng trong nghiên cứu này

- Tiến trình thu thập số liệu:

+ Bước 1: Lựa chọn được các bà mẹ đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu

Trang 38

+ Bước 2: Các bà mẹ được giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu, các bà mẹ đồng ý sẽ ký vào bản đồng thuận (Phụ lục 1) và được phổ biến về hình thức tham gia nghiên cứu, sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin phiếu đánh giá

+ Bước 3: Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ về kiến thức, thái độ của bệnh, cách chăm sóc và dự phòng NKHHCT Từ đó, phân tích tìm ra nội dung kiến thức, thái độ còn thiếu và yếu của bà mẹ (Đánh giá lần 1)

+ Bước 4: Can thiệp giáo dục sức khoẻ về kiến thức, thái độ cho các bà mẹ sau phỏng vấn lần 1 là 1 ngày, nhấn mạnh phần kiến thức, thái độ còn thiếu và yếu

về NKHHCT, phát tài liệu phát tay cho các bà mẹ (Phụ lục 3, 4)

+ Bước 5: Phỏng vấn trực tiếp lại các bà mẹ sau 5 – 7 ngày can thiệp giáo dục sức khoẻ vào thời điểm trước khi trẻ ra viện (Đánh giá lần 2) Sử dụng cùng một bộ câu hỏi để đánh giá trước và sau can thiệp

2.6 Các biến số nghiên cứu, cách thức đo lường

2.6.1 Các biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu:

- Tuổi: là số tuổi hiện có của đối tượng nghiên cứu khi trả lời phỏng vấn Đây là một biến định lượng được tính bằng công thức sau: tuổi = 2017 – năm sinh

- Trình độ học vấn: là mức độ bằng cấp cao nhất mà bà mẹ có được hiện tại, là biến định tính với các giá trị là: không biết chữ; tiểu học; trung học cơ sở; trung học phổ thông; trung cấp; cao đẳng, đại học và sau đại học

- Nghề nghiệp: là hình thức công việc hiện tại bà mẹ đang làm, là biến định tính gồm các giá trị sau: cán bộ, viên chức; công nhân; nông dân; nội trợ; khác

- Nơi cư trú: là khu vực hiện nay bà mẹ đang sinh sống, là biến định tính gồm các giá trị sau: thành thị; nông thôn

- Số con của bà mẹ: là biến định lượng gồm 2 giá trị: 1 con và từ 2 con trở lên

- Nhận được thông tin là biến định tính có 2 giá trị: có và không

- Nguồn thông tin: là biến định tính, xác định bà mẹ nhận được các thông tin về bệnh NKHHCT gồm các giá trị: nhân viên y tế; thông tin truyền thông đại chúng; bạn bè/ người thân

Trang 39

2.6.2 Các biến số kiến thức của bà mẹ về NKHHCT

Kiến thức của bà mẹ về NKHHCT là sự ghi nhận những hiểu biết của bà mẹ về bệnh NKHHCT, chăm sóc trẻ mắc NKHHCT và dự phòng NKHHCT

2.6.2.1 Kiến thức của bà mẹ về bệnh NKHHCT: bao gồm kiến thức đúng về

khái niệm, nguyên nhân và yếu tố nguy cơ, dấu hiệu bệnh:

- Khái niệm: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nhiễm trùng ở bất kỳ vị trí nào trên đường hô hấp, bao gồm: mũi, tai, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi Thời gian bị bệnh không quá 30 ngày, ngoại trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày

- Nguyên nhân thường gặp gây NKHHCT do virus và vi khuẩn Các nguyên nhân khác như nấm và ký sinh trùng ít gặp hơn

- Các yếu tố nguy cơ

+ Trẻ đẻ ra có cân nặng thấp (dưới 2500g)

+ Không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ

+ Ô nhiễm nội thất, khói bụi trong nhà, khói thuốc lá

+ Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây NKHCT ở trẻ em

+ Ngoài các yếu tố trên, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A cũng là điều kiện làm trẻ dễ mắc NKHHCT

- Dấu hiệu thường gặp:

Trang 40

+ Trẻ không uống được hoặc bỏ bú

+ Co giật

+ Ngủ li bì hoặc khó đánh thức

+ Thở rít khi nằm yên

+ Suy dinh dưỡng nặng

- Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi

2.6.2.2 Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc NKHHCT: bao gồm kiến

thức đúng về cách làm thông thoáng đường thở, giảm khó thở, giảm ho bằng thuốc đông y, vệ sinh mũi và họng, giữ ấm cho trẻ, chế độ ăn uống hợp lý

-1Làm thông thoáng đường thở và giảm khó thở cho trẻ bằng cách:

+ Tư thế vai cao, cổ ngửa

+ Làm sạch mũi họng: dùng khăn lau sạch/ dùng giấy thấm sâu kèn, nhỏ mũi

và vệ sinh họng bằng dung dịch nước muối sinh lý

+ Trẻ đang bú mẹ thì bà mẹ cần vắt sữa đổ thìa

- Giảm ho, làm dịu đau họng bằng các loại thuốc đông y không gây độc hại như quất hấp đường, hoa hồng hấp đường, mật ong,…

- Giữ ấm cho trẻ về mùa lạnh và khi thời tiết thay đổi, đặc biệt phần cổ và ngực trẻ

- Chế độ ăn uống hợp lý là:

+ Cho trẻ ăn tốt hơn khi ốm, tiếp tục cho trẻ ăn lúc bệnh

+ Cho trẻ bú mẹ nhiều hơn bình thường, tăng cường bú mẹ bằng cách cho

bú nhiều bữa hơn trong ngày hoặc bú với một lượng nhiều hơn trong một lần bú

+ Thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu

+ Chia làm nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa một ít

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w