1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thay đổi kiến thức của người bệnh gút về chế độ ăn uống và lối sống sau can thiệp giáo dục sức khỏe tại bệnh viện đa khoa tỉnh nam định năm 2017

105 63 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Tên đề tài: Thay đổi kiến thức của người bệnh Gút về chế độ ăn uống và lối sống sau can thiệp giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017 Mục tiêu:

Trang 1

THAY ĐỔI KIẾN THỨC

ỔI KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI BỆNH GÚT

Ề CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ LỐI SỐNG SAU CAN THI

SỨC KHỎE TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2017

ẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2017

ỜI BỆNH GÚT SAU CAN THIỆP

ỆN ĐA KHOA

Trang 2

THAY ĐỔI KIẾN THỨC CỦA

ỔI KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI BỆNH GÚT

Ề CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ LỐI SỐNG SAU CAN THIỆP

SỨC KHỎE TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2017

ẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Mã số: 60.72.05.01

NG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SĨ NGÔ HUY HO

NAM ĐỊNH – 2017

ỜI BỆNH GÚT

ỐI SỐNG SAU CAN THIỆP

ẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

Ĩ NGÔ HUY HOÀNG

Trang 3

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tên đề tài: Thay đổi kiến thức của người bệnh Gút về chế độ ăn uống và lối

sống sau can thiệp giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức về chế độ ăn uống và lối sống của người

bệnh Gút tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017; Đánh giá sự thay đổi kiến thức của người bệnh Gút về chế độ ăn uống và lối sống sau can thiệp giáo dục tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau trên 62

người bệnh Gút điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định trong thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 6/2017

Kết quả nghiên cứu: Trước can thiệp kiến thức về chế độ ăn uống và lối sống

cho người bệnh Gút còn hạn chế, có tới 98,4% đối tượng nghiên cứu thiếu kiến thức, điểm trung bình chung kiến thức 7,31 ± 1,68 trên tổng số 18 điểm Sau can thiệp 100% đối tượng nghiên cứu đã có kiến thức về chế độ ăn uống và lối sống cho người bệnh Gút, điểm trung bình kiến thức 15,52 ± 1,3 điểm Nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng kiến thức của người bệnh về các loại thực phẩm có nguy cơ gây cơn Gút cấp và những thực phẩm không có nguy cơ gây cơn Gút cấp của đối tượng nghiên cứu còn chưa cao, người bệnh Gút chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc thay đổi lối sống để kiểm soát bệnh

Kết luận: Người bệnh còn nhận thức hạn chế về chế độ ăn uống và lối sống

cho người bệnh Gút nhưng đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của việc tư vấn giáo dục sức khỏe, củng cố kiến thức thường xuyên với việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Các giảng viên Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, Trường Đại học Burapha - Thái Lan, Trường Đại học Baylor - Hoa Kỳ, đã trực tiếp hướng dẫn, trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Phòng Đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Thầy, Cô Phòng Đào tạo Đại học Trường Điều dưỡng Nam Định đã động viên, giúp đỡ và dành thời gian cho tôi học tập, nghiên cứu

Ban giám đốc và tập thể cán bộ, nhân viên khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian tiến hành thu thập số liệu tại bệnh viện

Đặc biệt tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ - Bác sĩ Ngô Huy Hoàng - Phó Hiệu trưởng trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định - Người Thầy đã định hướng học tập, nghiên cứu và tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng biết ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, những người bệnh và người nhà đã nhiệt tình cộng tác để tôi có được số liệu cho nghiên cứu này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè cùng tập thể lớp cao học khóa II đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn! TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thị Hương

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thị Hương

Trang 6

MỤC LỤC Nội dung Trang

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Kiến cơ bản về bệnh Gút 4

1.2 Tình hình bệnh Gút trên thế giới và Việt Nam 13

1.3 Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu 20

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.3 Thiết kế nghiên cứu 23

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 25

2.5 Phương pháp thu thập số liệu: 26

2.6 Các bước thu thập số liệu: 27

2.7 Các biến số nghiên cứu 27

2.8 Khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá 32

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 34

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 34

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 34

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 36 3.2 Thực trạng kiến thức về chế độ ăn uống và lối sống đối với người bệnh Gút

Trang 7

của đối tượng nghiên cứu 40

3.3 So sánh kiến thức của đối tượng về chế độ ăn uống và lối sống đối với người bệnh Gút trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe 44

Chương 4: BÀN LUẬN 51

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 51

4.2 Thực trạng kiến thức của người bệnh Gút về chế độ ăn uống và lối sống 53

4.3 Sự thay đổi kiến thức của người bệnh Gút về chế độ ăn uống và lối sống sau can thiệp giáo dục 60

4.4 Những hạn chế của nghiên cứu 66

KẾT LUẬN 67

5.1 Thực trạng kiến thức về chế độ ăn uống và lối sống của người bệnh Gút chưa tốt: 67

5.2 Kiến thức về chế độ ăn uống và lối sống của người bệnh Gút tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017 được cải thiện rõ rệt sau can thiệp giáo dục sức khỏe: 67

KHUYẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Nội dung giáo dục sức khỏe cho người bệnh Gút

Phụ lục 2: Phiếu điều tra thu thập số liệu

Phụ lục 3: Bản đồng thuận

Phụ lục 4: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu

Phụ lục 5: Bảng thành phần Purin trong một số thực phẩm

Phụ lục 6: Hình ảnh minh họa về bệnh Gút, về chế độ ăn uốn và lối sống của người bệnh Gút

Biên bản nhận xét luận văn thạc sĩ của Phản biện 1

Biên bản nhận xét luận văn thạc sĩ của Phản biện 2

Biên bản bảo vệ luận văn thạc sĩ

Biên bản chỉnh sửa luận văn sau bảo vệ

Trang 8

khỏeACR (American College of Rheumatology) Hội thấp khớp học Mỹ

ARA (Australian Rheumatology Association) Hội thấp khớp học Úc

CKD (Chronic kidney disease) Bệnh thận mạn tính

EULAR (European League Against

Rheumatism)

Liên đoàn phòng chống thấp khớp châu Âu

HPFS (Health Profeshionals Follow-up Study) Theo dõi của chuyên gia y tế NHANES (National Health and Nutrition

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng biến số nghiên cứu 28 Bảng 3.1 : Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới 36 Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi ở và nghề nghiệp 37 Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số năm mắc bệnh Gút và số lần tái

phát cơn Gút cấp trong 12 tháng vừa qua 38 Bảng 3.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nguồn thông tin về chế độ ăn uống và

lối sống cho người bệnh Gút mà người bệnh nhận được 39 Bảng 3.5: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết các loại thực phẩm có hàm lượng Purin

cao có nguồn gốc động vật có nguy cơ gây khởi phát cơn Gút cấp 40 Bảng 3.6: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết rằng uống các loại rượu, bia nước ngọt,

đồ uống có ga có nguy cơ khởi phát cơn Gút cấp 41 Bảng 3.7: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu cho rằng sữa và các loại đậu hạt, măng nấm

không có nguy cơ gây khởi phát cơn Gút cấp 41 Bảng 3.8: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu cho rằng những thói quen như bỏ thuốc lá,

uống nhiều nước, tập thể dục, giảm cân có lợi đối với người bệnh Gút 43 Bảng 3.9: Điểm trung bình kiến thức của người bệnh về chế độ ăn uống và lối sống

với người bệnh Gút 43 Bảng 3.10: Thay đổi kiến thức của đối tượng nghiên cứu về thực phẩm giàu Purin

có nguồn gốc động vật có nguy cơ gây khởi phát cơn Gút cấp: 45 Bảng 3.11: Thay đổi kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các loại nước uống

ngọt có ga có nguy cơ gây khởi phát cơn Gút cấp 46 Bảng 3.12: Thay đổi kiến thức về của đối tượng nghiên cứu về các loại thực phẩm

là rau của quả và ngũ cốc có lợi cho người bệnh Gút 47 Bảng 3.13: Thay đổi kiến thức về những thói quen, lối sống trong sinh hoạt hàng

ngày có lợi đối với người bệnh Gút 48 Bảng 3.14: So sánh Điểm trung bình kiến thức của người bệnh về chế độ ăn uống

đối với người bệnh Gút trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe 49

Trang 10

Bảng 3.15: So sánh Điểm trung bình chung kiến thức của người bệnh về lối sống

đối với người bệnh Gút trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe 49 Bảng 3.16: So sánh tổng điểm trung bình kiến thức của người bệnh Gút trước và sau

can thiệp giáo dục sức khỏe 50 Bảng 3.17: Sự thay đổi mức độ kiến thức của người bệnh về chế độ ăn uống và lối

sống sau can thiệp giáo dục 50

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1: Hạt Tô - phi ở bàn tay và bàn chân của người bệnh Gút 6 Hình 2.1: Sơ đồ qui trình nghiên cứu 23 Biểu đồ 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 37 Biểu đồ 3 2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo sự thu nhận thông tin tư vấn về chế

độ ăn uống và lối sống cho người bệnh Gút 39 Biểu đồ 3 3: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu cho rằng các loại rau củ, ngũ cốc không có

nguy cơ gây cơn Gút cấp 44 Biểu đồ 3 4: Thực trạng mức độ kiến thức của người bệnh về chế độ ăn uống và

lối sống 44 Biểu đồ 3 5: Thay đổi kiến thức của đối tượng nghiên cứu đậu hạt và măng nấm có

lợi cho người bệnh Gút 46

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gút (Gout) là bệnh rối loạn chuyển hóa các nhân Purin có đặc điểm chính là tăng acid uric máu Tình trạng viêm khớp trong bệnh Gút là do sự lắng đọng các tinh thể monosodium urat trong dịch khớp hoặc mô [8] Bệnh ảnh hưởng đến khoảng 1-2% người lớn ở các nước phát triển [38] và có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Tỷ lệ người mắc bệnh Gút có xu hướng gia tăng trong các thập kỷ gần đây [48], lý do có thể là đa yếu tố và liên quan đến việc kéo dài tuổi thọ, tăng tỷ lệ béo phì và hội chứng chuyển hóa, thay đổi thói quen ăn uống và lối sống [34],[37],[52]

Theo Khảo sát sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia (NHANES) 2007 - 2008 ở

Mỹ tỷ lệ người mắc bệnh Gút là 3,9% [58], ở Anh (2012) là 3,22% (ở những người trên 20 tuổi) và 2,49% trong toàn bộ dân số [39] Trong khi đó ở các nước đang phát triển ước tính tỷ lệ bệnh Gút chiếm khoảng 0,3 - 0,4% dân số ở Mexico [45], Cuba [47], Venezuela [32]

Ở Việt Nam số người bệnh Gút khoảng 0,14% [43], theo khảo sát của Viện Gút TP Hồ Chí Minh: từ tháng 07/2007 đến 7/2012 trên cả nước có hơn 22 ngàn người mắc bệnh Gút đến khám và điều trị tại Viện Gút TP Hồ Chí Minh, trong đó

số người bệnh Gút tại TP HCM là lớn nhất lên tới 8246 người chiếm hơn 1/3 người bệnh Gút trên cả nước [13]

Với trình độ phát triển của y học, cơ chế bệnh sinh của Gút đã được biết rõ, nhiều loại thuốc hiệu quả trong điều trị Gút cũng đã có sẵn trên thị trường, tuy vậy gánh nặng bệnh tật từ bệnh Gút vẫn còn rất lớn và đang có xu hướng tăng lên [58] Thực tế là có nhiều người bệnh Gút vẫn tái phát các cơn Gút cấp, các cơn Gút cấp tính này thường được cho là do các yếu tố khởi phát chẳng hạn như tiêu thụ thực phẩm giàu Purin hay uống rượu Chính vì vậy, tránh các yếu tố khởi phát này đã được khuyến cáo rộng rãi và được coi là một chiến lược trung tâm trong quản lý và điều trị bệnh Gút như trong khuyến cáo của Hội thấp khớp học Châu Âu các năm

2006 và 2016 [49],[51] Tác giả Leslie R Harold (2012) trong một nghiên cứu trên

Trang 13

1346 người bệnh Gút trong cộng đồng về kiến thức của người bệnh liên quan đến bệnh Gút và điều trị đã chỉ ra một sự hạn chế trong kiến thức của chính bản thân người bệnh Gút về các yếu tố ăn uống, sinh hoạt dẫn đến khởi phát bệnh Gút [40] Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định theo thống kê của Phòng kế hoạch tổng hợp số người bệnh đến khám và được chẩn đoán mắc bệnh Gút tương đối cao, trung bình trong một tháng khoảng 15 - 20 lượt người bệnh, nhiều người bệnh chưa hiểu

rõ về bệnh Gút cũng như về chế độ ăn uống và lối sống dẫn đến bệnh tiến triển nặng, nhiều biến chứng, tăng gánh nặng cho chi phí và điều trị Nâng cao kiến thức cho người bệnh Gút giúp người bệnh có thể thực hiện tốt việc phòng, tránh và theo dõi điều trị Gút là một việc làm hết sức cần thiết Do đó chúng tôi thực hiện đề tài:

“ Thay đổi kiến thức của người bệnh Gút về chế độ ăn uống và lối sống sau can

thiệp giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức về chế độ ăn uống và lối sống của người bệnh Gút tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2017

2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức của người bệnh Gút về chế độ ăn uống và lối sống sau can thiệp giáo dục tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương này sẽ đề cập đến: Kiến thức cơ bản về bệnh Gút; Tình hình bệnh Gút trên thế giới và Việt Nam; Hướng dẫn về chế độ ăn uống và lối sống cho người bệnh Gút; Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe; Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu

1.1 Kiến cơ bản về bệnh Gút

1.1.1 Khái niệm

Gút là bệnh rối loạn chuyển hóa các nhân Purin có đặc điểm chính là tăng acid uric máu Tình trạng viêm khớp trong bệnh Gút là do sự lắng đọng các tinh thể monosodium urat trong dịch khớp hoặc mô [4]

1.1.2 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, phân loại Gút [1],[4]

1.1.2.1 Tăng Acid uric máu

- Định nghĩa: Tăng Acid uric máu khi nồng độ Acid uric vượt quá giới hạn tối

đa của độ hòa tan của urat trong huyết thanh

- Nam > 7,0 mg/l (> 420 µmol/L)

- Nữ > 6,0 mg/l (> 360 µmol/L)

Tăng Acid uric máu thường gặp với tỷ lệ dao động từ 2,6% đến 47,2% trong các quần thể dân chúng khác nhau Ở người trưởng thành, nồng độ urat huyết thanh liên quan chặt chẽ với nồng độ ure, creatinin máu, khối lượng cơ thể, chiều cao, tuổi, huyết áp và uống rượu Cơ chế của nồng độ urat huyết tương ở nữ thấp hơn ở nam là hậu quả của hormone giới tính, gây giảm tái hấp thu urat ở ống thận, làm tăng tiết nhiều urat qua nước tiểu

1.1.2.2 Phân loại Gút theo nguyên nhân

Gút nguyên phát

- Rối loạn chức năng bài tiết Acid uric của tế bào ống thận (>99%): đây là bệnh rối loạn chuyển hóa đa gen di truyền được biểu hiện với chế độ ăn giàu Purin và béo phì Đại đa số người mắc bệnh Gút có tiền sử gia đình

Trang 16

+ Yếu tố di truyền với tính chất gia đình Từ thời cổ đại Gút đã được coi là có tính chất gia đình, 1/3 người bệnh Gút có cha mẹ bị bệnh Gút Trong gia đình

có người bệnh Gút có tới 20% trường hợp có tăng Acid uric máu Tổn thương thận có nguồn gốc di truyền làm giảm sự thanh thải urat qua thận (90%) kết quả là gây tăng Acid uric máu Tỷ lệ người bệnh có tăng sản xuất

AU chỉ gặp trong khoảng 10%

+ Yếu tố thức ăn: bệnh khởi phát thường do ăn và uống quá nhiều bia, rượu

Có mối liên quan giữa trọng lượng cơ thể và nồng độ Acid uric máu

 Rượu bia: bia chứa nhiều Purin có nguy cơ cao nhất Ethanol tăng sản xuất Acid uric do đẩy nhanh chu chuyển adenosinetriphotsphate (ATP) Uống rượu vang số lượng trung bình không làm tăng nguy cơ Gút Nguy cơ Gút tăng 1,5 lần nếu dùng 15 - 30g rượu/ngày, gấp 2 lần nếu lượng rượu uống 30

- 50g/ngày

 Thức ăn: ăn nhiều hải sản làm tăng 50% nguy cơ Gút, ăn nhiều thịt tăng 40% nguy cơ Gút Dùng sữa hay sữa chua làm giảm nồng độ urat huyết thanh Chế độ ăn trong Gút làm giảm nồng độ Acid uric máu 10mg/l

- Tăng qua mức các sản phẩm của Acid uric: thiếu HG-PRT,tăng hoạt tính của PRPP-synthetase

+ Thiếu HG-PRT có hai thể được biết đến bao gồm:

 Bệnh não tăng Acid uric Lesch Nyhan: bệnh di truyền lặn liên quan đến nhiễm sắc thể X, có đặc điểm nồng độ men HG-PRT cực thấp (dưới 1% so với bình thường) Biểu hiện chính qua tam chứng: tăng Acid uric máu, suy thận tiến triển, nhiều thiếu hụt thần kinh liên quan với hành vi tự cắt xẻo

 Hội chứng Kelley-Seegmiller: giảm hoạt tính của HG-PRT (1 - 20% nồng độ bình thường) Biểu hiện với tam chứng: tăng Acid uric, sỏi thận, khiếm khuyết thần kinh (khoảng 20%) nhưng không liên quan với hành vi tự cắt xẻo

+ Tăng hoạt tính của enzym PRPP- synthetase là bệnh rất hiếm gặp

Trang 17

- Giảm đào thải Acid uric qua thận do các bệnh thận (suy thận mạn), toan chuyển hóa, toan ceton (nhịn ăn, đái tháo đường), dùng thuốc lợi tiểu (thiazid), thuốc kháng lao (pyrazinamid, ethambutol, ethanol)…

1.1.2.3 Cơ chế bệnh sinh của Gút

Cơ chế bệnh sinh chính của bệnh Gút là sự tích lũy Acid uric ở mô Trong mọi trường hợp, tăng Acid uric dẫn đến tích lũy tinh thể urat tại mô, tạo nên các microTô - phi Khi các hạt micro Tô - phi tại sụn khớp bị vỡ sẽ khởi phát cơn Gút cấp; sự lắng đọng vi tinh thể cạnh khớp, trong màng hoạt dịch, trong mô sụn và mô xương sẽ dẫn đến bệnh xương khớp mạn tính do Gút; sự có mặt vi tinh thể urat tại

mô mềm, bao gân tạo nên hạt Tô - phi và cuối cùng viêm thận kẽ (bệnh thận do Gút) là do tinh thể urat lắng đọng tại tổ chức kẽ của thận

Acid uric niệu tăng và sự toan hóa nước tiểu dẫn đến sỏi tiết niệu trong bệnh Gút

Hình 1.1: Hạt Tô - phi ở bàn tay và bàn chân của người bệnh Gút

(Nguồn: http://benhgout.net/album/hinh-anh-loet-nhiem-trung-19.html)

Trang 18

1.1.3 Biểu hiện lâm sàng [1],[4]

Hình thức chính của Gút là các đợt Gút cấp Đợt Gút cấp đầu tiên thường ở một khớp, kết hợp với các triệu chứng toàn thân Sau đó, thường có các đợt viêm đa khớp, kết hợp với sốt, kéo dài trong một thời gian nhất định Dần dần các đợt tái phát mau hơn, kéo dài hơn, và không khỏi hoàn toàn, dẫn đến viêm khớp mạn tính Gút tiến triển qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: tăng Acid uric máu không có triệu chứng;

- Giai đoạn 2: Cơn Gút cấp tính;

- Giai đoạn 3: Các đợt không có triệu chứng xen kẽ các đợt Gút cấp;

- Giai đoạn 4: Gút mạn tính

1.1.3.1 Tăng Acid uric máu không có triệu chứng

Đó là trường hợp tăng Acid uric máu nhưng không có triệu chứng của Gút như viêm khớp hay sỏi urat thận Hầu hết người bệnh tăng Acid uric máu không có triệu chứng trong suốt cuộc đời, nguy cơ Gút cấp hay sỏi urat thận tăng lên khi nồng độ Acid uric máu tăng cao Trong hầu hết các trường hợp Gút xuất hiện sau 20 năm tăng Acid uric máu

1.1.3.2 Gút cấp tính

- Đợt Gút cấp đầu tiên thường khởi phát trong độ tuổi 40 - 60 ở nam giới và sau

60 tuổi ở nữ giới Khởi phát Gút cấp trước 25 tuổi gợi ý Gút bất thường do thiếu hụt enzym đặc hiệu gây sản xuất Purin, bệnh thận tăng Acid uric di truyền hay

sử dụng cyclosporine

- Viêm một khớp gặp trong 85% - 90% trường hợp khởi phát Gút với khớp bàn ngón chân cái thường bị viêm nhất Khởi phát viêm đa khớp chỉ gặp trong 3% - 14% trường hợp Viêm khớp cấp tính thường gặp ở chi dưới, dù bất kỳ khớp nào

ở bất kỳ chi nào đều có thể bị viêm, 90% người bệnh bị viêm khớp bàn ngón chân cái trong quá trình bị bệnh Các vị trí khác là mắt cá chân, gót chân, gối, cổ tay, ngón tay, khuỷu tay

- Đợt Gút cấp ít gây tổn thương khớp vai, háng, cột sống, khớp cùng chậu, khớp

ức đòn, khớp cùng vai đòn, khớp thái dương hàm Viêm bao khớp cấp tính, viêm

Trang 19

gân, viêm bao gân có thể gặp trong bệnh Gút Lắng đọng urat và viêm cấp do Gút thường ưu tiên gặp ở các khớp đã bị tổn thương trước đó

Cơn Gút cấp điển hình

- Cơn thường xuất hiện tự phát, khới phát đột ngột vào ban đêm

- Thường gặp ở các khớp chi dưới như: ngón chân cái, gối, bàn ngón chân

- Khớp đau dữ dội, bỏng rát, khám khớp sưng, nóng đỏ, đau

- Đáp ứng tốt với colchicin, các triệu chứng viêm thuyên giảm hoàn toàn sau 48h

- Cơn Gút cấp có thể tự khỏi trong vòng 1-2 tuần thậm chí không cần điều trị

- Gút mạn có các biểu hiện như: hạt Tô - phi (trên bề mặt các khớp, cạnh khớp, các sụn vành tai…), bệnh khớp mạn tính có tổn thương khớp trên X- quang, bệnh thận do Gút (sỏi thận urat, suy thận, siêu âm có thể thấy sỏi thận)

1.1.4 Cận lâm sàng [1],[4]

- Xét nghiệm Acid uric máu:

+ Acid uric máu tăng cao: nam > 420 µmol/l ( 70mg/l), nữ >360µmol/l (60mg/l)

+ Nếu Acid uric máu bình thường cũng không loại trừ chẩn đoán và ngược lại nếu Acid uric máu cao không có triệu chứng lâm sàng cũng không chẩn đoán Gút Không dùng Acid uric làm tiêu chuẩn để chẩn đoán xác định mà chỉ có ý nghĩa

hỗ trợ trong chẩn đoán và theo dõi trong điều trị

- Định lượng Acid uric niệu 24h

Trang 20

- Với mục đích hướng dẫn điều trị nhằm xác định tăng tình trạng bài tiết urat (trên 600mg/24h) hay giảm thải tương đối (dưới 600mg/24h)

- Xét nghiệm dịch khớp (trong trường hợp viêm khớp gối có tràn dịch)

+ Dịch khớp viêm rất giàu tế bào (> 50000 bạch cầu/mm³) chủ yếu là bạch cầu đa nhân (không thoái hóa)

+ Nếu thấy được tinh thể urat, cho phép xác định chẩn đoán cơn Gút Đó là các tinh thể nhọn 2 đầu nằm trong hoặc ngoài bạch cầu dưới kính hiển vi phân cực, tinh thể này phân cực rõ

- Xét nghiệm chức năng thận

+ Cần phải thăm dò chức năng thận một cách có hệ thống : ure, creatinin máu, protein niệu 24h, tế bào niệu, PH niệu, siêu âm thận

- Các xét nghiệm máu về viêm

+ Tốc độ máu lắng tăng cao

+ Bạch cầu máu tăng trong đó bạch cầu đa nhân trung tính tăng

+ Protein C phản ứng tăng cao

- X-quang khớp: giai đoạn Gút cấp hình ảnh X-quang khớp nói chung bình thường

- Xét nghiệm các bệnh lý phối hợp khác: cần thăm dò lipid máu, đường máu vì các rối loạn chuyển hóa này thường phối hợp với nhau

1.1.5 Chẩn đoán Gút [1],[4]

1.1.5.1 Chẩn đoán xác định (có thể áp dụng một trong các tiêu chuẩn sau đây)

 Tiêu chuẩn chẩn đoán của Bennett và Wood 1968: Độ nhạy 70%, độ đặc hiệu

82,7%

a) Hoặc tìm thấy tinh thể Acid uric trong dịch khớp hay trong các hạt Tô - phi

b) Hoặc tối thiểu có trên 2 trong các tiêu chuẩn sau đây:

- Tiền sử hoặc hiện tại có tối thiểu 2 đợt sưng đau của một khớp với tính chất khởi phát đột ngột, sưng đau dữ dội, và khỏi hoàn toàn trong vòng hai tuần

- Tiền sử hoặc hiện tại có một đợt sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất như trên

Trang 21

- Có hạt Tô - phi

- Đáp ứng tốt với colchicin (giảm viêm, giảm đau trong vòng 48h) trong tiền sử hoặc hiện tại

Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn a hoặc ít nhất 2 yếu tố của tiêu chuẩn b.

 Tiêu chuẩn của ILAR và Omeract năm 2000: Độ nhạy 70%, đặc hiệu 78,8%

- Có tinh thể urat đặc trưng trong dịch khớp, và/hoặc:

- Hạt Tô - phi được chứng minh có chứa tinh thể urat bằng phương pháp hóa học hoặc kính hiển vi phân cực, và/hoặc:

- Có 6 trong số 12 biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm và X - quang sau:

1 Viêm tiến triển tối đa trong vòng một ngày;

2 Có hơn một cơn viêm khớp cấp;

3 Viêm khớp ở một khớp;

4 Đỏ vùng khớp;

5 Sưng, đau khớp bàn ngón chân I;

6 Viêm khớp bàn ngón chân I ở một bên;

7 Viêm khớp cổ chân một bên;

8 Tô - phi nhìn thấy được;

9 Tăng Acid uric máu (nam ≥ 420 mmol/l, nữ ≥ 360mmol/l);

10 Sưng đau khớp không đối xứng;

11 Nang dưới vỏ xương, không có hình khuyết xương trên X- quang;

12 Cấy vi khuẩn âm tính

1.1.5.2 Chẩn đoán phân biệt [1],[4]

- Viêm khớp nhiễm khuẩn:

+ Tổn thương một khớp người bệnh có thể sốt, đôi khi kèm rét run

+ Thường có đường vào và có tình trạng nhiễm trùng, không có cơn Gút cấp Dịch khớp có thể có bạch cầu đa nhân trung tính thoái hóa Soi cấy dịch khớp nhằm phát hiện một viêm khớp nhiễm khuẩn, có thể kết hợp với Gút

- Viêm khớp phản ứng có tiền sử nhiễm khuẩn cơ quan khác trước đó (tiết niệu sinh dục) không có cơn Gút cấp

Trang 22

- Viêm khớp dạng thấp: thường ở nữ, khớp đau không nóng đỏ và không có cơn Gút cấp

- Viêm khớp giả Gút: là tình trạng viêm khớp, phần mềm cạnh khớp do tinh thể canxi photphat, tinh thể cholesterol… biểu hiện lâm sàng viêm khớp cấp tương đối giống cơn Gút cấp tuy nhiên thường gặp ở người cao tuổi kết hợp với tình trạng thoái hóa khớp nhiều, không có hạt Tô - phi Xét nghiệm tìm thấy tinh thể canxi không phải tinh thể urat trong dịch khớp hay vị trí tổn thương

- Viêm mô tế bào là tình trạng viêm nhiễm trùng tổ chức da và mô mềm dưới da

có thể cạnh khớp hoặc ngoài khớp Thường gặp ở chi dưới, có yếu tố thuận lợi như: xước da, phồng rộp trước đó

 Chế độ ăn uống và sinh hoạt [5]

- Duy trì cân nặng lý tưởng ở mức sinh lý, ăn giảm kalo nếu béo phì

- Uống nhiều nước (>1,5 lít/ngày)

- Chế độ ăn giảm đạm (thịt ăn không quá 150 gam/ngày) tránh các thức ăn chứa nhiều nhân Purin (phủ tạng động vật, cá hồi, thịt đỏ…)

- Không uống rượu vì uống quá nhiều rượu có thể gây nên toan lactic dẫn tới tạm thời ức chế bài tiết urat ở thận qua đó làm khởi phát Gút cấp

- Cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng Acid uric máu: thuốc lợi tiểu corticoid, thuốc chống lao

 Điều trị bằng thuốc [1],[31]

- Điều trị cơn Gút cấp

+ NSAIDS: là lựa chọn hàng đầu (diclophenac, meloxicam, piroxicam, celecoxib…), cần chú ý tác dụng phụ đặc biệt là trên đường tiêu hóa Có thể kết hợp chườm lạnh giảm đau

Trang 23

+ Colchicin: là lựa chọn thứ 2 do có nhiều tác dụng phụ như rối loạn tiêu hóa, giảm bạch cầu, đau cơ, Colchicin có vai trò trong điều trị chống viêm cơn Gút cấp làm test chẩn đoán bệnh Gút và vai trò điều trị dự phòng cơn Gút cấp

+ Corticoid thường được chỉ định cho những người bệnh có chống chỉ định dùng colchicin, chống viêm không steroid hoặc điều trị nhưng không hiệu quả, Corticoid có thể được dùng đường tiêm nội khớp

+ Thuốc giảm đau chọn một trong các thuốc theo bậc thang giảm đau của tổ chức y tế thế giới: acetaminophen (paracetamol, efferalgan), Efferalgan codein, morphin

+ Kiềm hóa nước tiểu

+ Đảm bảo nước để có thể lọc tốt qua thận sao cho lượng Acid uric niệu không vượt quá 400mg/l Kiềm hóa niệu bằng nước khoáng có kiềm hoặc nước kiềm 14‰ để đảm bảo lượng nước uống 2l/ngày

+ Thuốc giảm Acid uric máu

 Các thuốc ức chế tổng hợp Acid uric: Allopurinol

 Các thuốc tăng thải Acid uric: Probenecid

 Các thuốc tiêu Acid uric: Uricozyme

+ Thuốc dự phòng các cơn Gút cấp: Colchicin

+ NSAIDS: diclophenac, meloxicam, piroxicam…

- Điều trị Gút mạn tính có các biến chứng

+ Suy thận: tùy vào độ suy thận

Trang 24

 Suy thận độ I và II điều trị thuốc chống viên bằng corticoid ngắn ngày rồi ngừng, thuốc hạ acid urcic bằng Allopurinol liều thấp 100-300mg hàng ngày hoặc cách ngày

 Suy thận độ III hoặc IV có chỉ định lọc máu

+ Hạt Tô-phi

 Phẫu thuật cắt hạt Tô - phi: chỉ định rất hạn chế chỉ khi hạt Tô - phi bị vỡ,

dò dịch, quá to ảnh hưởng đến chức năng vận động của khớp

 Nhiễm trùng hạt Tô - phi vỡ: cần thay băng rửa vết thương hàng ngày, cắt lọc vết thương và dùng kháng sinh đường toàn thân Nói chung vết loét sẽ rất lâu lành

1.1.7 Phòng bệnh [1]

- Thực hiện chế độ sinh hoạt nghỉ ngơi hợp lý

- Thực hiện tốt chế độ ăn, tránh uống rượu bia nhiều, tránh để tăng cân kéo dài

- Phát hiện cơn Gút cấp sớm để dùng thuốc và điều chỉnh lối sống kịp thời tránh

1994 tỷ lệ người bệnh Gút tại Mỹ là khoảng 2,9% dân số thì đến năm 2007 – 2008

có khoảng 3,9% người lớn mắc bệnh Gút chiếm 8,3 triệu người [58]

Trong khi đó tỷ lệ mắc bệnh Gút ở Anh năm 2012 cũng đã gần 2,49% [39], đặc biệt Hy Lạp đã báo cáo một tỉ lệ mắc bệnh Gút cao nhất Châu Âu là 4,75% dân

số trưởng thành [18].Tăng Acid uric máu là phổ biến hơn đáng kể, hiện tại có tới 25% người dân ở Trung Quốc đang trong tình trạng tăng Acid uric máu (áp dụng tiêu chuẩn tăng urat huyết thanh > 420 mmol/l ở nam giới và > 360 mmol/l ở phụ nữ) [43]

Trong một nghiên cứu dựa vào dân số Mỹ, tỷ lệ suy thận (giai đoạn ≥2) ở những người bệnh với mức Acid uric máu ≥ 10 mg/dL (594,9 mmol/L) và ở những

Trang 25

người bệnh bị bệnh Gút là 86% và 53%, tương ứng Suy thận dường như là một yếu

tố nguy cơ chính gây bệnh Gút và ngược lại, bệnh Gút có thể gây ra suy chức năng thận [36]

Phạm Quang Cử và cộng sự (2009) tiến hành nghiên cứu phân tích các biến chứng của bệnh Gút và điều kiện, thời gian xuất hiện các biến chứng của Gút ở 116 người bệnh (những người được chẩn đoán theo tiêu chuẩn NewYork 1966) Các biến chứng xác định bằng khám lâm sàng và các xét nghiệm Kết quả cho thấy Gút gặp ở 92,2% là nam và nữ 7,8% Lứa tuổi gặp nhiều nhất trên 50 chiếm 68,8%, có 27,5% người bệnh dưới 50 và 4,3% người bệnh dưới 30 tuổi Các yếu tố nguy cơ: uống rượu (38,7%), béo phì (31,8%) Các biến chứng của Gút là sỏi thận 44,8%, các biến chứng như: viêm thực quản, viêm kết mạc, viêm mạch ngoại vi, viêm dây rễ thần kinh, vỡ hạt Tô - phi gặp với tỷ lệ ít hơn Lứa tuổi xuất hiện các biến chứng hay gặp từ tuổi trên 30 và cao nhất ở tuổi trên 50, có 30% người bệnh có sỏi thận khi phát hiện ngay ở năm đầu tiên bị Gút Điều kiện xuất hiện các biến chứng thường là các yếu tố dinh dưỡng và chuyển hóa (uống rượu, đái đường, béo phì tăng, huyết áp) [5]

1.2.2 Gánh nặng bệnh tật do Gút

Gút cũng có liên quan với việc chăm sóc sức khỏe và chi phí kinh tế [33] Người ta ước tính rằng gánh nặng trực tiếp của bệnh tật đối với những trường hợp mới của bệnh Gút cấp tính có thể lên đến 27 triệu USD tại Hoa Kỳ [37] Chăm sóc bệnh Gút mạn tính chiếm khoảng 6% chi phí chăm sóc sức khỏe hàng năm của người bệnh trong tất cả các nguyên nhân [53] Một chẩn đoán của bệnh Gút là đồng nghĩa với một khả năng cao mắc nhiều bệnh khớp cũng như việc sử phải cần nhiều chăm sóc y tế hơn [50] Gút cũng liên quan với chi phí đáng kể cho nhà tuyển dụng, người bệnh bị bệnh Gút có số ngày vắng mặt nhiều hơn và cũng làm việc kém hiệu quả hơn [34] Điều này một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết của một phương pháp ít tốn kém nhưng hiệu quả trong phòng ngừa và điều trị Gút, chú ý đến các yếu tố nguy cơ đối với bệnh Gút như chế độ ăn uống có chứa hàm lượng Purine cao, sử dụng rượu, béo phì, tiểu đường và bệnh thận sẽ rất quan trọng trong việc ngăn ngừa

Trang 26

và kiểm soát “dịch bệnh’’ tăng AU máu và bệnh Gút, nhưng đó vẫn còn là một thách thức

1.2.3 Chế độ ăn uống và lối sống của người bệnh Gút

Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc thay đổi lối sống và chế độ ăn uống hợp lý

có vai trò quan trọng trong phòng chống bệnh Gút cũng như hạn chế các biến chứng

có thể xảy ra đối với người bệnh Gút

Theo Willliams PT và cộng sự (2008) nghiên cứu trên 28.990 vận động viên nam đã khẳng định giảm cân bằng cách can thiệp chế độ ăn uống có hiệu quả trong việc giảm nồng độ Acid uric máu Các vận động viên này tự báo cáo tỉ lệ bệnh Gút

so sánh với chế độ ăn cơ bản, chỉ số khối cơ thể, hoạt động thể chất, việc so sánh này được thực hiện trung bình trong 7,74 năm của các vận động viên Kết quả cho thấy: những người đàn ông tiêu thụ >15g rượu/ngày có 93% nguy cơ cao hơn so với những người ăn kiêng; những người có BMI >27,5 có yếu tố nguy cơ mắc Gút cao hơn 16 lần so với những người có BMI < 20; người chạy > 8 km/ngày (4m/s) giảm được 50% và 65% nguy cơ Gút tương ứng [52]

Hơn nữa, theo Chen JH và cộng sự (2015) tiến hành nghiên cứu trên 467.976 người lớn đã khẳng định hoạt động thể chất thường xuyên có thể làm giảm tỷ lệ tử vong liên quan với tăng Acid uric máu mạn tính Trong nghiên cứu này đối tượng nghiên cứu được trải qua một chương trình sàng lọc gồm có phiếu điều tra và xét nghiệm máu được tuyển chọn vào trong nghiên cứu trong thời gian từ 1996 - 2008

và mức độ hoạt động thể chất được tự báo cáo Kết quả: hoạt động thể chất có giá trị tương đối so với điều trị bằng thuốc về khả năng làm giảm tỉ lệ tử vong trong những người tăng Acid uric máu bằng cách luyện tập đầy đủ có thể tăng tuổi thọ 4 -

6 năm, đây là một kết quả tốt hơn so với việc giảm 1- 4 năm tuổi thọ do tăng Acid uric máu [21]

Ngoài ra, sự liên quan giữa tiêu thụ quá nhiều thịt và rượu và tăng nguy cơ mắc bệnh Gút đã được khẳng định trong nghiên cứu của Yuqing Zhang và cộng sự (2012) Nghiên cứu được tiến hành trên 633 người bệnh Gút, với mục tiêu xác định các mối liên quan giữa lượng Purin tiêu thụ và nguy cơ tái phát Gút cấp ở những

Trang 27

người bệnh Gút Kết quả cho thấy: tiêu thụ nhiều Purin có nguy cơ tái phát Gút cấp tăng gấp 5 lần trong những người bệnh Gút Tránh hay giảm thức ăn giàu Purin đặc biệt là Purin nguồn gốc động vật có thể giảm nguy cơ các cơn Gút cấp [57]

Tác giả Yuqing Zhang (2006) cũng tiến hành phỏng vấn trực tiếp qua Internet

197 người bệnh Gút trong đó có 91% người bệnh đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Gút theo Hội thấp khớp học Mỹ Kết quả có thể khẳng định tiêu thụ rượu khởi phát cơn Gút cấp tái phát, tác dụng này có khả năng xảy ra trong 24 giờ [56]

Choi HK và cộng sự (2008) theo dõi 46.393 người đàn ông không có tiền sử Gút trong suốt 12 năm, những người này cung cấp thông tin về sử dụng đồ ngọt và Fructose thông qua bảng câu hỏi Kết quả là trong 12 năm có 775 ca bệnh được xác nhận là Gút, trong đó: so sánh với lượng tiêu thụ ít hơn 1 đơn vị đường và đồ uống ngọt trong 1 tháng thì yếu tố nguy cơ tương đối của Gút đối với 5 - 6 đơn vị đường trong 1 tuần là 1,29 còn đối với 1 đơn vị đường mỗi ngày là 1,45 và 2 hoặc nhiều hơn 1 đơn vị đường trong ngày là 1,85 (p = 0,002) Yếu tố nguy cơ tương đối của Gút theo sự tăng lên 5 lần của Fructose tiêu thụ là: 1,00; 1,29; 1,41; 1,84 và 2,02 (p<0,001) [23],[28]

Nghiên cứu của Dalbeth N và cộng sự (2010 và 2012) chỉ ra lợi ích của sữa và các sản phẩm sữa trong việc chống viêm chống bệnh Gút cấp tính Cụ thể uống sữa

từ đậu tương làm tăng nồng độ Acid uric khoảng 10%, ngược lại tiêu thụ tất cả các loại sữa làm giảm nồng độ Acid uric máu khoảng 10% (p < 0,0001) do tăng sự đào thải các phân đoạn Acid uric qua nước tiểu [29],[30]

Theo nghiên cứu của Rees.F và cộng sự (2013) cho thấy viêc giáo dục người bệnh đầy đủ giúp tăng tuân thủ trị liệu giảm AU máu, dẫn đến tỷ lệ cao (92%) người bệnh được điều trị hiệu quả tại 12 tháng Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng việc giáo dục người bệnh thay đổi về lối sống như là một phần của một đề nghị toàn cầu [46]

Theo Doãn Thị Tường Vi, Trần Văn Lộc, Quách Hữu Trung (2008) tiến hành điều tra nghiên cứu trên 711 người tuổi từ 30 - 60 tại bệnh viện 19.8 Hà Nội thấy tỷ lệ tăng Acid uric máu là 4,9%, trong đó nam là 6,0%, nữ là 2,5% (p<0,05)

Trang 28

Trong số những người tăng Acid uric máu có 2,2% bị mắc bệnh Gút và đều là nam giới

Các yếu tố liên quan đến tình trạng tăng Acid uric máu đã được xác định là: + Tần suất tiêu thụ thực phẩm giàu đạm và có nhiều Purin như thịt lợn, tôm, cua, hải sản, cá nục, cá chép, đậu đỗ, phủ tạng và rượu, bia cao (p<0,001 và p<0,005) Những người uống rượu, bia hàng tuần và hàng ngày có nguy cơ tăng Acid uric máu gấp 4,07 lần so với những người không sử dụng rượu, bia

+ Cân nặng và BMI càng cao thì nguy cơ tăng Acid uric máu càng tăng

+ Những người tăng Acid uric máu có nguy cơ bị tăng huyết áp cao gấp 2,0 lần, nguy cơ tăng cholesterol máu gấp 4,5 lần và nguy cơ tăng Triglycerid máu gấp 3,7 lần so với những người không tăng Acid uric (p<0,05 và p<0,001)

Qua đó chúng ta thấy rằng việc cung cấp kiến thức cho người bệnh Gút về thay đổi lối sống và thực hiện chế độ ăn uống có vai trò quan trọng trong phòng chống bệnh Gút [14]

Nguyễn Thị Lâm và cộng sự (2011) trong nghiên cứu “ Đánh giá thực trạng khẩu phần, thói quen ăn uống của người tăng acid uric máu và người bệnh Gút” đã chỉ ra kết quả: Nhóm người bệnh Gút có tần suất tiêu thụ trên 3 lần/tuần các thực phẩm giàu Purin như thịt nạc các loại, phủ tạng, cá và hải sản, đậu đỗ, đậu phụ, bia/rượu nhiều hơn nhóm không bị bệnh (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê) [10]

1.2.4 Kiến thức của người bệnh Gút về lối sống và chế độ ăn uống

Theo nghiên cứu của Leslie R Harold và cộng sự (2012) cho thấy chỉ có một

số ít người bệnh đã nhận thức của các loại thực phẩm phổ biến có thể làm khởi phát bệnh Gút (ví dụ: hải sản 23%, thịt bò 22%, thịt lợn 7%, và bia 43%) [40]

Tác giả Zhang LY(2011) nghiên cứu trên 3 bệnh viện: Sun Yat-sen - tỉnh Quảng Đông, Thanh Đảo - tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc) và Trung tâm Y tế cựu chiến binh tại Philadelphia - Mỹ phát triển bộ câu hỏi đánh giá mức độ kiến thức liên quan đến bệnh Gút để xác định mục tiêu giáo dục sức khỏe cho người bệnh

Trang 29

Gút Kết quả trả cho thấy số câu trả lời đúng trên tổng số 10 câu hỏi của mỗi người bệnh trung bình ở 3 bệnh viện lần lượt là 4,38 ± 3,04; 7,05 ± 1,37 và 6,21 ± 1,74 Cũng trong nghiên cứu này điểm số cao được xác định là số câu trả lời đúng là >7 trong tổng số 10 câu hỏi [55]

Theo Li QH (2013) nghiên cứu Bộ câu hỏi kiến thức liên quan đến bệnh Gút trên 149 người bệnh Gút và 184 bác sĩ ở miền Nam Trung Quốc kết quả đối tượng nghiên cứu được cho là có hiểu biết về bệnh Gút nếu họ trả lời đúng ≥ 7 câu hỏi trong tổng số 10 câu hỏi Cụ thể số câu trả lời đúng trung bình của 149 người bệnh

là 6,6 ± 2,2 điểm với tỉ lệ người bệnh có hiểu biết về bệnh là 51,7% [41]

Phan Văn Hợp (2011) đã nghiên cứu trên đối tượng người cao tuổi ở 2 xã huyện Vụ Bản và nhận thấy rằng tỉ lệ tăng acid uric máu là 9,5% trong đó nam là 16,3 % và nữ là 5,5 % Hiểu biết về các loại thực phẩm giàu Purin của nhóm tăng acid uric máu tốt hơn nhóm không tăng acid uric máu tuy nhiên hàm lượng và tần suất tiêu thụ thực phẩm giàu Purin của nhóm tăng acid uric máu cũng cao hơn nhóm không tăng acid uric máu [5]

Nguyễn Thị Lâm và cộng sự (2011) đã tiến hành một nghiên cứu can thiệp bằng

tư vấ chế độ dinh dưỡng cho người bệnh Gút tại bệnh viện 198 kết quả cho thấy sau

6 tháng tần xuất trung bình xuất hiện các cơn Gút cấp ở nhóm can thiệp là 0,48 lần giảm so với nhóm chứng (2,67 lần) Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng mức tiêu thụ các loại thực phẩm có nguy cơ gây khởi phát cơn Gút cấp ở nhóm can thiệp đã giảm

rõ rệt sau can thiệp so với nhóm chứng (p<0,01), điều này chứng tỏ đã có sự cải thiện rõ rệt kiến thức của người bệnh Gút về chế độ ăn uống sau can thiệp giáo dục sức khỏe [9]

1.2.5 Các hướng dẫn phòng chống bệnh Gút bằng cách thay đổi lối sống và chế

độ ăn uống

Liên đoàn phòng chống thấp khớp Châu Âu (EULAR) năm 2006 và 2016 trong khuyến cáo quản lý bệnh Gút đã đưa ra một nguyên tắc rằng: Mọi người bệnh Gút nên được nhận lời khuyên về lối sống: giảm cân nếu phù hợp, tránh sử dụng rượu (đặc biệt là bia và rượu mạnh), các đồ uống có đường, các bữa ăn nặng, quá

Trang 30

nhiều thịt và hải sản, khuyến khích sử dụng các sản phẩm từ sữa ít béo, tập thể dục thường xuyên [49],[51]

Hội thấp khớp học Mỹ (2012) đã đưa ra các khuyến nghị đặc biệt về chế độ ăn uống, lối sống và sức khỏe chung cho người bệnh Gút [17]

Hội thấp khớp Autralia năm 2014 cũng đã đưa ra các hướng dẫn về chế độ ăn uống và lối sống cho người bệnh Gút: Giữ trọng lượng ở mức lý tưởng, hạn chế rượu, uống sữa ít béo, hạn chế thức ăn nhiều fructose, hạn chế thực phẩm giàu

Purine [20]

Theo quyết định số 2879/QĐ-BYT ngày 10 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng

Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn chế độ ăn bệnh viện [3] Phần II, mục A, tiểu mục IV hướng dẫn chế độ ăn cho người bệnh Gút bao gồm: Bệnh Gút đơn thuần, bệnh Gút có kết hợp với suy thận mạn độ 1, 2, bệnh Gút có kết hợp với suy thận mạn độ 3, 4

1.2.6 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe [11]

1.2.6.1 Khái niệm

Truyền thông - Giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ, tình cảm, lý trí của con người làm thay đổi hành vi sức khỏe có hại thành hành vi sức khỏe có lợi, nhằm bảo vệ, tăng cường và nâng cao sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng

Có thể nhận thấy rằng định nghĩa này nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là:

- Kiến thức của con người về sức khỏe

- Thái độ của con người về sức khỏe

- Thực hành của con người về sức khỏe

1.2.6.2 Mục đích và lợi ích của công tác truyền thông giáo dục sức khỏe

Mục đích:

Giúp cho đối tượng tự tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của cá nhân, tập thể

và cộng đồng

Trang 31

Đối tượng được TT – GDSK tự chịu trách nhiệm, tự quyết định những hành động và biện pháp bảo vệ sức khỏe của mình và cho cả cộng đồng

Đối tượng được TT – GDSK tự giác chấp nhận và duy trì các lối sống mới lành mạnh, từ bỏ những thói quen, tập quán có hại cho sức khỏe

Đối tượng được TT – GDSK biết sử dụng và hướng dẫn mọi người cùng sử dụng các dịch vụ y tế để giải quyết các vấn đề và nhu cầu sức khỏe

Lợi ích của truyền thông giáo dục sức khỏe:

Truyền thông dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quần chúng đối với các vấn đề sức khỏe một cách nhanh chóng

Truyền thông có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu

Truyền thông có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để người nghe - xem thay đổi nếp sống để có một sức khỏe tốt

Truyền thông có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để tranh luận cách thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phương tiện liên lạc

Truyền thông có thể hợp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp

gỡ giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao đổi kiến thức bảo vệ sức khỏe

Tính cách giáo dục, chia sẻ kiến thức, cổ vũ những hành vi có lợi cho cộng đồng

Giúp cải thiện sự gắn bó các quan hệ công cộng, giúp các tổ chức liên quan tới bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc

Góp phần tranh đấu, cổ vũ, truyền thông tiếp tay với các nhà lãnh đạo đưa ra các chính sách y tế, dung hòa các tranh luận và tìm ra các hỗ trợ ý kiến có tính cách quyết định đặc biệt

1.3 Một số thông tin về địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định là bệnh viện loại 1 trực thuộc tỉnh, là đơn vị

vệ tinh của bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức Nằm trên diện tích 2,7 ha trong khu vực nội thành Nam Định, bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định có quy mô hơn 700 giường bệnh với 07 phòng chức năng, 21 khoa lâm sàng, 09 khoa cận lâm sàng với tổng số

Trang 32

hơn 700 y, bác sĩ và điều dưỡng viên Hàng năm bệnh viện thực hiện hơn 6000 ca phẫu thuật bằng các kỹ thuật tiên tiến của tuyến trung ương Theo quy hoạch tổng thể ngành y tế Nam Định đến năm 2020 bệnh viện nâng cấp lên 1000 giường nhằm đảm bảo khám chữa bệnh cho nhân dân vùng nam đồng bằng sông Hồng

Tại phòng khám Nội tổng hợp của bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định hàng ngày có khoảng 20 - 30 người bệnh đến khám bệnh, số người bệnh được chẩn đoán Gút trung bình khoảng 15 - 25 người bệnh/tháng

Tại khoa Nội tổng hợp của bệnh viện lưu lượng người bệnh nằm điều trị nội trú tại khoa khoảng 50 - 60 người bệnh thậm chí lên đến 80 người bệnh tại một thời điểm Người bệnh điều trị nội trú tại khoa tập trung chủ yếu vào các nhóm bệnh chính đó là: nhóm bệnh hô hấp, đái tháo đường, thận - tiết niệu và các bệnh về khớp Trong số những người bệnh khớp nằm điều trị có khoảng 1/3 số người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Gút, một số người bệnh ngoài những biểu hiện của Gút còn có các biểu hiện của các bệnh có liên quan đến Gút, hoặc có các biến chứng của Gút như suy thận, sỏi thận

Theo thống kê của Phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định trong 4 tháng đầu năm 2016 có khoảng 50 - 60 người bệnh Gút đến khám và điều trị tại Bệnh viện

Qua thực tiễn chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định chúng tôi thấy nhiều người bệnh Gút đến khám cũng như người bệnh nằm điều trị tại khoa đều chưa hiểu rõ thế nào là bệnh Gút, làm sao để hạn chế tiến triển của bệnh Gút cũng như chưa biết cách thay đổi lối sống và xây dựng chế độ ăn uống để phòng và hạn chế sự tiến triển của bệnh Do đó đòi hỏi nhân viên y tế cần phải cung cấp kiến thức cho họ đặc biệt về sự tuân thủ chế độ điều trị, thay đổi lối sống và thực hiện chế độ ăn uống phù hợp với bệnh, nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Gút đang điều trị ngoại trú và nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định trong thời gian từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Tất cả những người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Gút theo tiêu chuẩn chẩn đoán ILAR và Omeract năm 2000;

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Người bệnh không có khả năng giao tiếp

- Người bệnh đã từng tham gia một chương trình giáo dục có nội dung tương tự

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian:

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2016 đến tháng 6/ 2017

Thời gian thu thập số liệu: từ ngày 01/01/2017 đến hết ngày 20/5/2017

2.2.2 Địa điểm:

Đánh giá trước can thiệp (lần 1)

Đối với người bệnh ngoại trú chúng tôi tiến hành phỏng vấn đánh giá lần 1 và can thiệp giáo dục sức khỏe ngay tại Phòng khám Nội tổng hợp của Khoa khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định

Đối với người bệnh điều trị nội trú chúng tôi tiến hành phỏng vấn đánh giá lần

1 và can thiệp giáo dục sức khỏe tại phòng 501 của Khoa Nội tổng hợp – Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Nam Định

Trang 34

Đánh giá sau can thiệp (lần 2)

Đối với những người bệnh đến khám lại theo lịch hẹn chúng tôi tiến hành phỏng vấn đánh giá lần 2 ngay tại Phòng khám Nội tổng hợp của Khoa khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định

Đối với những người bệnh không thể đến khám theo lịch hẹn chúng tôi tiến hành phỏng vấn đánh giá lần 2 tại nhà của người bệnh

2.3 Thiết kế nghiên cứu

2.3.1 Khung nghiên cứu:

Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe trên một nhóm (không đối chứng) với việc so sánh đánh giá trước - sau can thiệp

Hình 2.1: Sơ đồ qui trình nghiên cứu 2.3.2 Quy trình can thiệp:

Chúng tôi tiến hành thu thập số liệu và can thiệp giáo dục trên đối tượng nghiên cứu như sau:

Đánh giá thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu (đánh giá lần 1)

- Được tiến hành khi người bệnh đến khám bệnh tại phòng khám được chẩn đoán mắc bệnh Gút theo tiêu chuẩn chẩn đoán ILAR và Omeract năm 2000 bằng cách: người phỏng vấn sẽ đọc phiếu điều tra (Phụ lục 2), giải thích cho ĐTNC

Can thiệp (Giáo dục sức khỏe )

So sánh, bàn luận, kết luận

Đối tượng NC (Người bệnh Gút)

Đánh giá sau can thiệp

(Lần 2) Đánh giá trước can thiệp

(Lần 1 )

Trang 35

hiểu, ĐTNC sẽ trả lời và người phỏng vấn sẽ điền vào phiếu điều tra

- Xây dựng quy trình can thiệp nội dung giáo dục sức khỏe về chế độ ăn uống và lối sống phù hợp với từng người bệnh Gút

- Tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏe cho ĐTNC với nội dung được xây dựng phù hợp (Phụ lục 1), sau khi có kết quả đánh giá lần 1 Đối tượng nghiên cứu còn thiếu, yếu khâu nào về chế độ ăn uống và lối sống thì sẽ được tư vấn, giáo dục bổ sung trực tiếp và có tài liệu kèm theo (Phụ lục 1,5,6)

- Thời lượng cho đánh giá lần 1 kéo dài khoảng 1 giờ bao gồm: tiếp xúc người bệnh, giải thích về mục đích nghiên cứu, phỏng vấn người bệnh, giáo dục sức khỏe cho người bệnh những nội dung người bệnh còn chưa rõ hoặc chưa biết về chế độ ăn uống và lối sống cho người bệnh Gút

Đánh giá sự thay đổi kiến thức của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp giáo dục sức khỏe (đánh giá lần 2)

- Đánh giá lại kiến thức của đối tượng nghiên cứu lần 2 (sau can thiệp giáo dục 1 tháng bằng phiếu điều tra giống lần 1) để so sánh sự thay đổi kiến thức về chế độ

ăn uống và lối sống của ĐTNC trước và sau can thiệp

- Trong tổng số 62 người bệnh tham gia nghiên cứu có 27 người bệnh đến tái khám, chúng tôi tiếp xúc và phỏng vấn ĐTNC trong buổi chiều theo lịch hẹn; 35 người bệnh không đến tái khám, chúng tôi cũng tiến hành thu thập số liệu tại nhà người bệnh vào các buổi chiều bằng cách gọi điện thoại hẹn trước

2.3.3 Nội dung can thiệp [phụ lục 1]

Giáo dục sức khỏe cho người bệnh Gút về chế độ ăn uống và lối sống

- Những loại thức ăn đồ uống có khả năng gây cơn Gút cấp

- Những loại thức ăn, đồ uống có lợi đối với người bệnh Gút

- Lối sống phù hợp với người bệnh Gút

2.3.4 Nhóm nghiên cứu:

- Chủ đề tài nghiên cứu

- Cộng tác viên: 5 điều dưỡng trong đó có 2 điều dưỡng của khoa Nội tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định và 3 điều dưỡng là giảng viên của trường Đại

Trang 36

học Điều dưỡng Nam Định đang đi lâm sàng tại khoa Nội tổng hợp bệnh viện

đa khoa tỉnh Nam Định Các cộng tác viên đã được tập huấn kỹ về cách thức lấy

số liệu và nội dung can thiệp

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

- n là số người bệnh tham gia nghiên cứu

- Z(1-) là giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị  Với lực mẫu là 90% ( = 0,1), mức ý nghĩa 95% ( = 0,05), tương đương với Z(1-) = 1,65 và Z(1-)

= 1,29

- p0 là tỷ lệ người bệnh hiểu biết đúng về bệnh Theo nghiên cứu của Li QH(2013) [41], tỷ lệ người bệnh hiểu biết đúng về bệnh 57,1% Do đó lấy p0= 0,571

- p1 là tỷ lệ người bệnh hiểu biết đúng về bệnh sau can thiệp Qua nghiên cứu thử trên 20 đối tượng không phụ thuộc mẫu, ước tính tỷ lệ người bệnh hiểu biết đúng về bệnh sau can thiệp trong nghiên cứu của chúng tôi tăng lên 18% Do đó lấy

p1= 0,751

- Thay vào công thức trên tính được n = 58

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ

Căn cứ vào cỡ mẫu đã tính toán được, căn cứ vào thống kê của Phòng kế hoạch tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định số lượng người bệnh Gút đến khám và điều trị tại bệnh viện từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2016 là 58 người Để loại trừ trường hợp người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc bỏ cuộc nên chúng tôi chọn cỡ mẫu là toàn bộ người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Gút đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán ILAR và Omeract năm 2000 trong thời gian nghiên cứu

từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017

Trang 37

Với phương pháp chọn mẫu toàn bộ chúng tôi đã lựa chọn được tất cả 65 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn tuy nhiên chỉ có 62 người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu

Trong 62 người bệnh tham gia nghiên cứu của chúng tôi có 03 người bệnh điều trị ngoại trú và 59 người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định

Những người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện sẽ được chọn 1 lần, không lựa chọn lại nếu người bệnh đó đến khám và điều trị lần sau trong khoảng thời gian nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu:

- Phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra đã chuẩn bị trước: người phỏng vấn

sẽ đọc từng câu hỏi cho ĐTNC, giải thích những từ ngữ ĐTNC chưa rõ hoặc không hiểu, ĐTNC trả lời câu hỏi và người phỏng vấn sẽ ghi chép lại vào phiếu điều tra thu thập số liệu

- Đánh giá trước can thiệp:

+ Đối với người bệnh điều trị ngoại trú chúng tôi tiến hành phỏng vấn, đánh giá và can thiệp giáo dục sức khỏe ngay tại Phòng khám Nội tổng hợp của Khoa khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định

+ Đối với người bệnh nội trú chúng tôi tiến hành phỏng vấn, đánh giá và can thiệp giáo dục sức khỏe tại phòng 501 của Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định ngày đầu tiên khi người bệnh mới nhập viện

- Đánh giá sau can thiệp:

+ Chúng tôi hẹn người bệnh tái khám sau 1 tháng, để người bệnh không quên trước khi đến lịch hẹn chúng tôi gọi điện thoại thông báo cho người bệnh ngày giờ đến khám lại theo lịch

+ Trong 62 người bệnh tham gia nghiên cứu có 27 người bệnh đến tái khám đúng hẹn, 35 người bệnh còn lại không thể đến tái khám theo lịch hẹn chúng tôi đã đến tận nhà người bệnh để thu thập số liệu

+ Đối với những người bệnh này chúng tôi gọi điện thoại thông báo trước và

Trang 38

đặt lịch để gặp gỡ người bệnh ngay tại nhà

+ Trong 35 người bệnh chúng tôi đến phỏng vấn tại nhà phân bổ ở các huyện như sau: Nam Trực có 3 người, Mỹ Lộc có 3 người, Vụ Bản có 4 người, Trực Ninh có 3 người, Xuân Trường có 2 người, Giao Thủy có 7 người, Hải Hậu có 5 người, Nghĩa Hưng có 4 người, Ý Yên có 4 người

- Nội dung của phiếu điều tra giống nhau cho hai lần đánh giá trước can thiệp (khi người bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định) và sau can thiệp (sau khi giáo dục sức khỏe 1 tháng)

2.6 Các bước thu thập số liệu:

- Bước 1: Lựa chọn các đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn

- Bước 2: Đối tượng nghiên cứu sẽ được giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền lợi của người tham gia nghiên cứu Nếu đồng ý đối tượng nghiên cứu ký vào bản đồng thuận và được phổ biến về hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong phiếu điều tra

- Bước 3: Đánh giá kiến thức của đối tượng nghiên cứu khi đến khám và được chẩn đoán mắc bệnh Gút (trước giáo dục sức khỏe) bằng phiếu điều tra

- Bước 4: Can thiệp giáo dục sức khỏe bằng cách cung cấp nội dung kiến thức cơ bản về bệnh Gút, chế độ ăn uống và lối sống của người bệnh Gút cho ĐTNC

- Bước 5: Đánh giá lại kiến thức của ĐTNC sau giáo dục sức khỏe bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu điều tra chuẩn bị trước giống lần 1

2.7 Các biến số nghiên cứu

- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới, trình độ học vấn,

nghề nghiệp, nơi ở , năm mắc bệnh, số lần tái phát cơn Gút cấp trong 12 tháng vừa qua, nguồn thông tin về chế độ ăn uống và lối sống cho người bệnh Gút

- Kiến thức về chế độ ăn uống và lối sống cho người bệnh Gút

+ Kiến thức về chế độ ăn uống

+ Kiến thức về lối sống

Trang 39

Bảng 2.1: Bảng biến số nghiên cứu

Phân loại biến

Phương pháp thu thập THÔNG TIN CHUNG

1 Tuổi Tính theo năm dương lịch Rời rạc Bộ câu hỏi

phỏng vấn

2 Giới Là giới tính của ĐTNC theo giấy khai

sinh Gồm: nam, nữ

Nhị phân

Bộ câu hỏi phỏng vấn

3 Nghề

nghiệp

Là công việc chính đang làm hoặc mang lại thu nhập chủ yếu cho bản thân người bệnh

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

4 Trình độ

học vấn Là cấp học cao nhất của ĐTNC

Thứ hạng

Bộ câu hỏi phỏng vấn

5 Nơi ở Nơi hiện tại đang sinh sống Định

danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

6 Năm mắc

bệnh

Tính theo năm dương lịch từ thời điểm người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Gút

Rời rạc Bộ câu hỏi

ĐTNC đã bao giờ được tư vấn về chế độ

ăn uống và lối sống cho người bệnh Gút hay chưa

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

9 Nguồn

thông tin

Là những thông tin về chế độ ăn uống và lối sống mà người bệnh Gút thu nhận được từ đó

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Trang 40

KIẾN THỨC VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CHO NGƯỜI BỆNH GÚT

10 Phủ tạng

động vật

Là ruột và những cơ quan bên trong của động vật không bao gồm thịt và xương như: gan, não, thận, dạ dày, phổi, lách,…những loại này có hàm lượng Purin rất cao > 150mg/100g thực phẩm ăn được

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Bản chất của các loại thức ăn này vẫn là thịt nên sẽ làm tăng Acid uric máu

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

14 Hải sản

Là những sinh vật sống ở biển được sử dụng làm thực phẩm cho con người như cá biển, mực, sò, tôm, cua, ốc, hến những thực phẩm này có hàm lượng Purin rất cao [26]

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

15 Các loại

đậu hạt

Là những loại thực phẩm có hàm lượng đạm cao có nguồn gốc thực vật bao gồm đậu đen, đậu tương, giá đậu tương, đậu xanh [54]

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Định danh

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w