1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của giáo dục sức khỏe đến chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳtại bệnh viện đa khoa tỉnh thái bình năm 2020

130 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 6,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ THU HIỀN TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC SỨC KHỎE ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH CHẠY THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC SỨC KHỎE ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH CHẠY THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUHU HIỀN

TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC SỨC KHỎE ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH CHẠY THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG

Mã số: 8720301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ THANH TÙNG

Nam Định - 2020

Trang 3

Mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh

chạy thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020 (2) Đánh giá thay đổi chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu

kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình sau giáo dục sức khỏe

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp giáo dục

sức khỏe có so sánh trước sau trên 90 người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ tại khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 4 năm 2020 Tư vấn trực tiếp nhóm nhỏ từ 5- 10 người bệnh, nội dung tư vấn dựa trên hướng dẫn của CDC Hoa Kỳ, hướng dẫn của Tổ chức Y

tế Thế giới (WHO), hướng dẫn của Viện dinh dưỡng Quốc gia Sử dụng bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh thận KDQOL-SFTM phiên bản 1.3 cho nghiên cứu này Các dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0

với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05

Kết quả: Với phổ điểm từ 0- 100 điểm, điểm các lĩnh vực đánh giá đều

tăng so với trước can thiệp; cụ thể điểm trung bình chất lượng cuộc sống SF36

là 42,19 ± 19,75; sau can thiệp 1 tháng, tăng lên 45,70 ± 16,01, sau can thiệp 3 tháng, tăng lên 53,85 ± 16,84 Điểm các vấn đề bệnh thận trước can thiệp là 54,91 ± 21,69 tăng lên 57,94 ± 9,62 sau 1 tháng can thiệp và tăng lên 59,67 ± 10,03 sau 3 tháng can thiệp Điểm chất lượng cuộc sống chung của người bệnh trước can thiệp là 48,85 ± 14,01, tăng lên 51,82 ± 11,62 sau can thiệp 1 tháng

và tăng lên 56,76 ± 12,52 sau can thiệp 3 tháng Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p < 0,001

Kết luận: Chương trình giáo dục sức khỏe đã góp phần cải thiện chất

lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ

Khuyến nghị: Cần áp dụng chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe

cho tất cả người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ giúp người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt hơn

Từ khóa: Chất lượng cuộc sống; Giáo dục sức khỏe; Chạy thận nhân tạo chu

kỳ

Trang 4

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ giúp đỡ của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc của mình tới: PSG.TS Lê Thanh Tùng - người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Quý thầy cô của trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

đã luôn tâm huyết để truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô trong Hội đồng xét duyệt đề cương và Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã góp ý, sửa chữa để tôi hoàn thiện nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình cùng toàn thể cán bộ viên chức bệnh viện - nơi tôi đang công tác đã cho phép và tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ viên chức khoa Thận nhân tạo

- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình đã tạo nhiều điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện về vật chất

và tinh thần để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập

Thái Bình, ngày 30 tháng 10 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Bình, ngày 30 tháng 7 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU 3

Chương 1 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1.Tổng quan về bệnh thận mạn tính 4

1.2.Tổng quan về thận nhân tạo chu kỳ 7

1.3.Tổng quan về chất lượng cuộc sống 10

1.4.Các nghiên cứu về CLCS của người bệnh chạy thận chu kỳ 14

1.5.Các nghiên cứu về vai trò của tư vấn, GDSK đối với CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ 16

1.6.Học thuyết điều dưỡng và khung lý thuyết 19

1.7.Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 21

Chương 2 23

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1.Đối tượng nghiên cứu 23

2.2.Công cụ, phương pháp và quy trình thu thập số liệu 26

2.3.Các biến số nghiên cứu 29

2.4.Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 30

2.5.Phương pháp – cách thức, công cụ can thiệp 33

2.6.Phương pháp phân tích số liệu 34

2.7.Vấn đề đạo đức nghiên cứu 34

Trang 7

Chương 3 37

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37

3.2.Thực trạng CLCS của NB chạy thận nhân tạo trước can thiệp 41

3.3.Thay đổi chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ sau can thiệp 44

Chương 4 49

BÀN LUẬN 49

4.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 49

4.2.Thực trạng CLCS của NB chạy thận nhân tạo chu kỳ trước can thiệp 55 4.3.Đánh giá sự thay đổi CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ sau can thiệp giáo dục sức khỏe 61

4.4.Ưu điểm, hạn chế của nghiên cứu 70

KẾT LUẬN 72

KHUYẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1 : Bản đồng thuận

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi

Phụ lục 3: Bảng mã hóa lại các câu trả lời

Phụ lục 4: Công cụ can thiệp

Phụ lục 5: Tài liệu giáo dục sức khỏe

Phụ lục 6: Danh sách người bệnh tham gia nghiên cứu

Trang 8

BMI : Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)

CDC : Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm kiểm

soát và phòng ngừa dịch bệnh) CKD : Chronic Kidney Disease (Bệnh thận mạn tính)

COOP : Dartmouth Cooperative Functional Assessment Charts (Biểu đồ

đánh giá chức năng của Dartmouth) HBM : Heath belief model (Mô hình niềm tin sức khỏe)

KDQOL : Kidney Disease Quality of Life (Chất lượng cuộc sống bệnh thận) KDQOL-SF : Kidney Disease Quality of Life Short Form (Chất lượng cuộc

sống bệnh thận dạng ngắn)

SF – 36 : Short Form -36 (Khảo sát sức khỏe dạng ngắn 36 mục)

WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp, hôn nhân, nơi sống của ĐTNC 38

Bảng 3.3 Đặc điểm về BHYT, kinh tế gia đình của ĐTNC 39

Bảng 3.4 Đặc điểm về thời gian chạy thận nhân tạo của ĐTNC 39

Bảng 3.5 Điểm số sức khỏe thể chất của ĐTNC 41

Bảng 3.6 Điểm sức khỏe tinh thần của ĐTNC 42

Bảng 3.7 Điểm số các lĩnh vực liên quan đến vấn đề của bệnh thận 42

Bảng 3.8 Điểm chất lượng cuộc sống của ĐTNC 43

Bảng 3.9 Thay đổi các lĩnh vực liên quan đến SKTC 44

Bảng 3.10 Thay đổi điểm số các lĩnh vực liên quan đến SKTT 45

Bảng 3.11 Thay đổi chất lượng cuộc sống theo SF-36 46

Bảng 3.12 Thay đổi điểm số các lĩnh vực liên quan đến vấn đề bệnh thận 46

Bảng 3.13 Thay đổi điểm CLCS chung của ĐTNC 48

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về giới của ĐTNC 37

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về trình độ học vấn của ĐTNC 38

Biểu đồ 3.3 Đặc điểm về bệnh kèm theo của ĐTNC 40

Biểu đồ 3.4 Phân bố bệnh kèm theo của ĐTNC 41

Sơ đồ 1.1 Nguyên lý chạy thận nhân tạo……… 7

Sơ đồ 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 21

Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiên cứu……… ……24

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh thận giai đoạn cuối được định nghĩa là sự suy giảm không thể phục hồi trong chức năng thận của một người, đủ nghiêm trọng để gây tử vong trong trường hợp không được lọc máu hoặc cấy ghép thận [90] Bệnh được sự quan tâm ngày càng nhiều như là một vấn đề sức khỏe toàn cầu Ước tính có 2 triệu người trên toàn thế giới mắc bệnh thận giai đoạn cuối và số người được chẩn đoán mắc bệnh tiếp tục tăng với tốc độ 5 - 7% mỗi năm Mỗi năm có gần 750.000 người mắc bệnh thận giai đoạn cuối ở Mỹ, phương pháp điều trị chủ yếu là lọc máu và ghép thận; có hơn 100.000 người bệnh nằm trong danh sách ghép thận nhưng chỉ có 1/5 trong số đó được đáp ứng [70] Chính vì thế mà lọc máu trở thành phương pháp điều trị cho đa số các người bệnh mắc bệnh thận mạn tính, trong đó chạy thận nhân tạo là loại lọc máu phổ biến chiếm 90% Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê chính thức, song ước tính có khoảng 5 triệu người bị suy thận và hàng năm có khoảng 8.000 ca bệnh mới Số người bệnh suy thận giai đoạn cuối cần lọc máu là khoảng 800.000 người, chiếm 0,1% dân

số

Chi phí điều trị bệnh thận mạn tính bằng phương pháp chạy thận nhân tạo chu kỳ đặt ra một gánh nặng tài chính đáng kể lên hệ thống chăm sóc sức khỏe và cá nhân người bệnh [70], [10] Trong quá trình chạy thận nhân tạo rất nhiều biến chứng có thể xảy ra cùng với biến chứng của bệnh thận giai đoạn cuối làm tăng nguy cơ tử vong, chỉ có 35% người bệnh chạy thận nhân tạo còn sống sau 5 năm điều trị [70] Bên cạnh đó, quá trình chạy thận nhân tạo còn gây

ra nhiều vấn đề về nhu cầu không thể đáp ứng [83] làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy người bệnh chạy thận nhân tạo có chất lượng cuộc sống rất thấp [7], [85] và chất lượng cuộc sống của người bệnh có xu hướng giảm dần nếu không có các biện pháp can thiệp phù

Trang 12

hợp [28], [34] Một số nghiên cứu cũng cho thấy người bệnh chạy thận nhân tạo không đủ khả năng tự chăm sóc [25], trong khi các hoạt động tự chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm thời gian, tần suất nhập viện, giảm chi phí y tế và tử vong [35] Vì thế, một chương trình giáo dục sức khỏe hợp lý sẽ cung cấp kiến thức cho người bệnh để tuân thủ chế

độ điều trị, cải thiện hành vi tự chăm sóc từ đó giúp nâng cao chất lượng cuộc sống [44], [50], [69] Giáo dục sức khỏe là nhiệm vụ chuyên môn hàng đầu của người điều dưỡng [2], là nhu cầu cao nhất của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ [93], vì vậy trong quá trình chăm sóc người bệnh chạy thận nhân tạo, người điều dưỡng phải thông qua hoạt động giáo dục để giúp người bệnh nâng cao kiến thức, tuân thủ và cải thiện chất lượng cuộc sống [23]

Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, hoạt động giáo dục sức khỏe cho người bệnh chạy thận nhân tạo được thực hiện với các nội dung và hình thức khác nhau tùy thuộc vào năng lực của người điều dưỡng và nhu cầu của người bệnh Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “Giáo dục sức khỏe có cải thiện được chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ hay không? Nếu có

thì cải thiện ở mức độ nào?” Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tác

động của giáo dục sức khỏe đến chất lượng cuộc sống của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020” nhằm

hai mục tiêu sau:

Trang 14

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn bệnh thận mạn tính theo Hội thận học Hoa Kỳ

NKF-KDOQI (triệu chứng xuất hiện > 3 tháng) [59]

Dấu ấn tổn thương

thận (≥ 1 dấu ấn)

- Albumin niệu (albumin niệu ≥ 30 mg/24 giờ, tỉ lệ albumin/creatinin ≥ 30mg/g hoặc 3 mg/mmol

- Bất thường tổng phân tích nước tiểu

- Rối loạn điện giải hoặc các bất thường khác do bệnh

lý ống thận

- Bất thường về cấu trúc phát hiện bằng hình ảnh học

- Tiền sử ghép thận Giảm mức lọc cầu

thận

< 60 ml/phút/1,73m2

1.1.2 Phân độ giai đoạn và tiên lượng của bệnh thận mạn tính

Sự chia giai đoạn bệnh thận mạn nhằm thống nhất cách gọi các giai đoạn của bệnh thận, giúp các nhà lâm sàng và các nhà nghiên cứu bệnh học có thể trao đổi thông tin dễ dàng hơn dựa trên một quy chuẩn thống nhất có tính toàn cầu

Bệnh suy thận mạn sẽ tiến triển qua 5 giai đoạn theo mức độ nặng dần Theo đó, suy thận mạn giai đoạn 5 là trầm trọng nhất và thường có chỉ định phải điều trị thay thế thận để duy trì sự sống

Trang 15

tăng nhẹ Tăng vừa phải Tăng rất cao

<30 mg/g

<3 mg/mmol

30–300 mg/g 3–30 mg/mmol

>300 mg/g

>30 mg/mmol G1 Bình thường

Ghi chú: màu xanh lá cây, nguy cơ thấp (nếu không có dấu hiệu khác của bệnh thận, không

có CKD); màu vàng, rủi ro tăng vừa phải; cam, nguy cơ cao; đỏ, nguy cơ rất cao

1.1.3 Chẩn đoán bệnh thận mạn tính

1.1.3.1 Lâm sàng [15], [46], [90]

- Phù: từ mức độ nhẹ đến nặng

- Thiếu máu mạn, mức độ nặng dần nếu không được điều trị

- Tăng huyết áp: chiếm khoảng 80%

- Suy tim

- Rối loạn tiêu hóa

- Xuất huyết: có thể ngoài da, chân răng hoặc nội tạng

- Viêm màng ngoài tim

- Ngứa

- Chuột rút

- Hôn mê

Trang 16

1.1.3.2 Cận lâm sàng [15], [21], [90]

Có nhiều xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định bệnh thận mạn cũng như giai đoạn bệnh thận mạn như thiếu máu đẳng sắc với kích thước hồng cầu bình thường, kích thước thận giảm, nhưng chủ yếu vẫn dựa vào nồng độ creatinine máu và hệ số thanh thải creatinine (Bảng 1.2)

1.1.4 Các biến chứng của STGĐC [59], [87], [90]

- Thiếu máu

- Rối loạn chuyển hóa xương và khoáng chất ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và làm tăng tỷ lệ tử vong ở người bệnh bệnh thận mạn tính

- Các nguy cơ tim mạch bao gồm tăng huyết áp, suy tim, thiếu máu, bệnh mạch vành, mất cân bằng canxi-phospho, canxi hóa thành mạch… ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong ở người bệnh STGĐC

- Các rối loạn lipid

- Vấn đề liên quan đến dinh dưỡng: Ở người bệnh bệnh thận mạn, cùng với sự tiến triển qua các giai đoạn bệnh là sự đòi hỏi thay đổi chế độ dinh dưỡng

để phù hợp với các rối loạn chuyển hóa protid, nước, muối, canxi, kali và hospho Đa số người bệnh ít quan tâm đến vấn đề này mặc dù nguồn thức ăn hằng ngày vẫn đảm bảo protit và carbohydrate

p-1.1.5 Điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối

Trang 17

1.2 Tổng quan về thận nhân tạo chu kỳ

1.2.1 Định nghĩa chạy thận nhân tạo chu kỳ

Chạy thận nhân là một phương pháp điều trị dành cho những người bị suy giảm chức năng thận ở giai đoạn nặng Phương pháp này sẽ thay thế chức năng của thận bằng cách sử dụng máy chạy thận Máy chạy thận và màng lọc nhân tạo này có nhiệm vụ lọc bớt nước và các sản phẩm chuyển hóa trong máu

ra ngoài cơ thể

1.2.2 Nguyên lý chạy thận nhân tạo:

Sơ đồ 1.1 Nguyên lý chạy thận nhân tạo 1.2.3 Chỉ định lọc máu [1], [41], [58]

- Có hội chứng suy thận đã gây nên rối loạn chức năng não

- Có tăng Kali máu mà điều trị nội khoa không hiệu quả

- Toan máu không điều trị nội khoa được

- Mức lọc cầu thận < 15ml/phút/1,73m2 cơ thể

1.2.4 Biến chứng của thận nhân tạo chu kỳ: [1], [42], [84]

Tụt huyết áp: Là biến chứng cấp tính hay gặp nhất trong lọc máu Có rất

nhiều yếu tố gây tụt huyết áp: siêu lọc quá mức (làm giảm khối lượng tuần hoàn), đáp ứng hoạt mạch suy giảm, thay đổi thẩm thấu máu, dùng thuốc hạ áp,

Trang 18

giãn mạch do dịch lọc quá nóng Khi bị tụt huyết áp thì phải ngừng siêu lọc, truyền 100-250ml dung dịch muối đẳng trương; ở những người bệnh albumin máu hạ có thể truyền albumin

Phòng ngừa tụt huyết áp trong chạy thận nhân tạo bằng cách: Tư vấn hướng dẫn người bệnh sử dụng chế độ ăn hợp lý, kiểm soát chất lỏng đưa vào

cơ thể; uống thuốc huyết áp hàng ngày sau khi chạy thận, không uống trước chạy thận, có thể thay đổi bằng thuốc có tác dụng ngắn hơn; không ăn thức ăn, uống nước đường trong hoặc ngay trước khi chạy thận ở những người bệnh thường xuyên tụt huyết áp

Chuột rút: Là biến chứng hay gặp Tuy nhiên, từ ngày có máy thận nhân

tạo chỉnh được thể tích, điều hoà chuẩn được Na+, tỉ lệ chuột rút ít gặp hơn Nguyên nhân gây chuột rút còn chưa rõ Những thay đổi tưới máu cơ do rút dịch quá mức, đặc biệt dưới trọng lượng khô và việc dùng dịch lọc nồng độ Na+ thấp có thể gây chuột rút

Dự phòng chuột rút thì khi lọc máu cần giảm siêu lọc, dùng dịch lọc nồng

độ Na+ cao Bên cạnh đó, điều dưỡng cần hướng dẫn người bệnh chế độ tập luyện, vận động phù hợp ngoài thời gian lọc máu; triển khai các bài tập giãn cơ trong thời gian lọc máu vừa giúp tăng hiệu quả lọc máu vừa giúp người bệnh

giãn cơ, tránh chuột rút

Buồn nôn, nôn: Xảy ra ở 10% người bệnh chạy thận chu kỳ Nguyên

nhân do tụt huyết áp, do hội chứng mất thăng bằng, viêm dạ dày,…

Để phòng ngừa cần tránh tụt huyết áp, kiểm tra huyết áp thường xuyên

trong lúc chạy thận

Đau đầu: Xảy ra ở 70% người bệnh trong chạy thận Có thể phòng ngừa

bằng cách cho người bệnh sử dụng một cốc cà phê mạnh, hướng dẫn người

bệnh sử dụng thức ăn có nhiều magie

Trang 19

Đau ngực, đau lưng: Xảy ra ở 1-4% người bệnh chạy thận nhân tạo,

nguyên nhân không rõ ràng

Ngứa: Là vấn đề hay gặp ở người bệnh chạy thận nhân tạo Ngứa thường

được tìm thấy ở người bệnh có nồng độ calci cao hoặc phosphorua và PTH cao Cần tư vấn chế độ ăn cho người bệnh cần tránh thức ăn chứa nhiều phosphor,

dùng thuốc theo đơn của bác sỹ

Hội chứng mất thăng bằng: Là hội chứng bao gồm các triệu chứng thần

kinh liên quan đến đặc tính chênh lệch các điện giải thấy trong hoặc sau chạy thận nhân tạo Biểu hiện sớm: buồn nôn, nôn, bồn chồn, đau đầu Biểu hiện

nặng hơn bao gồm co giật, giảm ý thức, hôn mê

Phản ứng dạng phản vệ với bộ lọc: Đặc biệt hay xảy ra trong lần dùng

đầu tiên bộ lọc cellulosa (do không phù hợp sinh học) Hội chứng này có thể là phản ứng tăng mẫn cảm do IgE với oxyt ethylen (dùng làm chất khử trùng bộ lọc) hoặc là một phức hợp triệu chứng đau lưng, đau ngực không đặc hiệu xuất hiện do hoạt hoá bổ thể và giải phóng cytokine Phòng ngừa điều dưỡng cần rửa quả lọc trước khi sử dụng lần đầu để loại bỏ tối đa khí EO và các dị nguyên

Tan máu: Tan máu trong quá trình chạy thận là một cấp cứu khẩn cấp

Nguyên nhân do tắc hoặc hẹp đường máu, catheter, kim; do dịch chạy thận

Tắc khí: Là biến chứng nặng, không phát hiện sớm, điều trị kịp thời thì

tử vong nhanh

Suy dinh dưỡng thiếu protein năng lượng, nguyên nhân có thể do giảm

chế độ ăn, tăng mất protein, tăng dị hóa protein Để phòng ngừa cần tư vấn cho người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ chế độ ăn uống phù hợp: đủ năng lượng, giàu đạm, hạn chế phosphor, ít kali, hạn chế muối và chất lỏng

Biến chứng liên quan đến vị trí lấy máu (cầu tay) như nhiễm trùng máu,

hẹp, tắc hoặc phình mạch cầu nối, ảnh hưởng đến chất lượng lọc máu Để phòng ngừa cần hướng dẫn người bệnh cách theo dõi, chăm sóc cầu tay, những việc

Trang 20

cần tránh đối với cánh tay có cầu tay, cách kiểm tra cầu tay, cách tập luyện để tăng sức mạnh của cầu tay mới,…

Để phòng ngừa các biến chứng xảy ra đối với người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ bên cạnh việc theo dõi, phát hiện sớm, điều trị kịp thời, người điều dưỡng cần tư vấn, hướng dẫn người bệnh biết cách nhận biết sớm các dấu hiệu của biến chứng, tuân thủ phác đồ điều trị, cách người bệnh tự chăm sóc nhằm hạn chế các biến chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh

1.3 Tổng quan về chất lượng cuộc sống

1.3.1 Chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống (CLCS) là một khái niệm không định hình được dùng để chỉ các quan niệm về sự tốt đẹp của cuộc sống Đó là một khái niệm bao quát rộng rãi tất cả các khía cạnh của trải nghiệm của con người về sự cần thiết của cuộc sống, và được đặc trưng là sức khỏe chủ quan của mỗi cá nhân với các biện pháp chung về mức độ hạnh phúc và/hoặc hài lòng của họ với toàn

bộ cuộc sống Tổ chức y tế Thế gới (WHO) định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống

là nhận thức của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ Đây là một khái niệm phạm vi rộng bị ảnh hưởng một cách phức tạp bởi sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, niềm tin cá nhân, mối quan hệ xã hội và mối quan hệ của họ với các đặc điểm nổi bật của môi trường” [91]

Năm 1995, WHO công nhận tầm quan trọng của việc đánh giá và cải thiện chất lượng cuộc sống con người [92] Khi chất lượng cuộc sống được xem xét trong bối cảnh sức khỏe và bệnh tật, nó thường được gọi là như chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (Health-related quality of life -HRQOL) để phân biệt nó với các khía cạnh khác của chất lượng cuộc sống Vì sức khỏe là một

Trang 21

khái niệm đa chiều, HRQOL cũng là đa chiều và kết hợp các lĩnh vực liên quan đến thể chất, tinh thần và cảm xúc và hoạt động xã hội [48]

CDC Hoa Kỳ định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQOL) là sức khỏe thể chất và tinh thần của một cá nhân hoặc của một nhóm theo thời gian” [38] HRQOL phản ánh cách các cá nhân nhận thức và phản ứng với tình trạng sức khỏe của họ và các khía cạnh phi y tế trong cuộc sống của họ, bao gồm các yếu tố liên quan đến sức khỏe, như sức khỏe thể chất, chức năng, cảm xúc và tinh thần cũng như liên quan đến sức khỏe các yếu tố, chẳng hạn như công việc, gia đình, bạn bè và các tình huống khác trong cuộc sống HRQOL cung cấp một đánh giá toàn diện bao gồm tất cả các khía cạnh quan trọng của CLCS liên quan đến sức khỏe [65]

HRQOL là một khái niệm hai mặt bao gồm cả khía cạnh tích cực và tiêu cực của sức khỏe Khía cạnh tiêu cực bao gồm bệnh tật và rối loạn chức năng, trong khi khía cạnh tích cực bao gồm cảm giác khỏe mạnh về tinh thần và thể chất, hoạt động đầy đủ, thể lực, điều chỉnh và hiệu quả của tâm trí và cơ thể Các khía cạnh của HRQOL bao gồm các hậu quả đối với cuộc sống hàng ngày của các cá nhân, bao gồm nhận thức về sức khỏe, tình trạng chức năng, triệu chứng và sở thích và giá trị của họ [65]

HRQOL có giá trị trong việc tìm hiểu quan điểm của người bệnh về bệnh

và các phương pháp điều trị được áp dụng; có giá trị trong việc tìm hiểu quá trình điều chỉnh bệnh tật, điều trị và chăm sóc bệnh thông thường có gì bất thường và khi cần can thiệp HRQOL là một cân nhắc quan trọng khi so sánh các phương pháp điều trị khác nhau và đánh giá các can thiệp Việc đánh giá HRQOL giúp cho quá trình điều trị và chăm sóc thực sự lấy người bệnh làm trung tâm [65]

Trang 22

1.3.2 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống

Các biện pháp đánh giá CLCS đã trở thành một phần quan trọng và thường được yêu cầu trong đánh giá kết quả chăm sóc sức khỏe Hàng trăm công cụ HRQOL chung và cụ thể đã được phát triển nhằm mục đích đo CLCS [33] Mỗi

bộ công cụ được thiết kế để có thể áp dụng trên một loạt các quần thể và can thiệp khác nhau: SF-36; NHP; SIP; COOP; QWB; HUI; EQ-5D; WHOCLCS Những công cụ này thường được sử dụng vì chúng được trích dẫn trong các tài liệu Tiếng Anh [33], [40], [81] Trong số các công cụ SF-36 là công cụ khảo sát CLCS được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay [54]

Kidney disease quality of life - KDQOL là công cụ kết hợp với công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống chung SF 36 để nghiên cứu đặc thù về bệnh thận Công cụ đánh giá CLCS của bệnh thận - Dạng ngắn ™ (KDQOL-SF™) được phát triển từ KDQOL để đánh giá chất lượng cuộc sống của những người mắc bệnh thận và chạy thận nhân tạo Bộ câu hỏi KDQOL -SFTM được RAND (là tổ chức phi lợi nhuận giúp cải thiện chính sách công cộng thông qua nghiên cứu và phân tích) công bố năm 1997 [76]

KDQOL-SFTM phiên bản 1.3 có hai thành phần; gồm 43 câu hỏi gồm 11 lĩnh vực dành riêng cho người bệnh bị bệnh thận mạn và chạy thận nhân tạo và

36 câu hỏi (SF-36) với 8 lĩnh vực cung cấp thước đo sức khỏe thể chất và tinh thần và 1 câu hỏi đánh giá sức khỏe tổng thể [53]

11 lĩnh vực của bệnh thận bao gồm: Các triệu chứng; Ảnh hưởng của bệnh thận, Gánh nặng của bệnh thận; Chức năng nhận thức; Chất lượng tương tác xã hội, Chức năng tình dục; Giấc ngủ; Hỗ trợ xã hội; Tình trạng công việc;

Sự hài lòng của người bệnh; Sự hỗ trợ của nhân viên lọc máu [53], [82]

SF-36 được chia thành 2 thành phần sức khỏe: sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Các lĩnh vực: Sức khỏe liên quan đến hoạt động thể chất, Hạn chế do vai trò của thể chất, Sức khỏe liên quan đến cảm nhận đau đớn, Tự đánh

Trang 23

giá sức khỏe tổng quát góp phần nhiều vào sức khỏe thể chất.Các lĩnh vực: Sức khỏe liên quan đến cảm nhận cuộc sống, Sức khỏe liên quan đến hoạt động xã hội, Hạn chế do vai trò của tinh thần, Sức khỏe tâm thần tổng quát góp phần nhiều vào sức khỏe tinh thần [53], [82]

Các thuộc tính tâm lý của KDQOL-SFTM là tốt và các lĩnh vực nhằm vào các mục tiêu lọc máu khác nhau có nhiều thông tin với độ tin cậy và giá trị cao giúp hỗ trợ ứng dụng của KDQOL-SFTM trong các nghiên cứu đánh giá liệu pháp lọc máu [63]

Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh bộ công cụ KDQOL-SF™ là bộ

câu hỏi đáng tin cậy trong việc đánh giá CLCS cho người bệnh thận nhân tạo John D Peipert và các cộng sự (2018) [74] đã đánh giá độ tin cậy của thang đo KDQOL-SF và độ tin cậy của cơ sở lọc máu bằng cách sử dụng hệ số alpha và phân tích phương sai 1 chiều Nghiên cứu cung cấp hỗ trợ cho độ tin cậy và xây dựng tính hợp lệ của thang đo KDQOL-SF để đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe của người bệnh chạy thận

Kết quả của nghiên cứu của Sameera Senanayake và các cộng sự (2017) [82] chỉ ra rằng KDQOL-SF™ là một công cụ hợp lệ và đáng tin cậy có thể được sử dụng để đánh giá CLCS của người mắc bệnh thận mạn tính

Những kết quả nghiên cứu của Veena Joshi và các cộng sự (2015) [62] cho thấy rằng phiên bản tiếng Marathi của KDQOL-SFTM đáp ứng độ tin cậy

và hiệu lực cung cấp hiểu biết về sức khỏe và CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo và có thể được sử dụng với người bệnh nói tiếng Marathi

KDQOL-SFTM phiên bản 1.3 đã đươc dịch sang tiếng Tây Ban Nha, được Edgar Dehesa-López và các cộng sự (2017) [43] nghiên cứu chứng minh điểm

số hợp lệ và đáng tin cậy tương tự với kết quả thu được với phiên bản tiếng Anh gốc

Trang 24

Muhammad Anees và các cộng sự (2016) [18] đã nghiên cứu phiên bản tiếng Urdu của KDQOL-SFTM và chứng minh nó đáng tin cậy và hợp lệ để đo CLCS ở người bệnh mắc bệnh thận phải lọc máu ở Pakistan

1.4 Các nghiên cứu về CLCS của người bệnh chạy thận chu kỳ

1.4.1 Một số nghiên cứu nước ngoài

Cepeda Marte J.L và cộng sự (2019) đã nghiên cứu CLCS và tình trạng dinh dưỡng trên những người bệnh đái tháo đường chạy thận nhân tạo Kết quả cho thấy có 66% người bệnh bị suy dinh dưỡng và các khía cạnh ảnh hưởng nhất đến CLCS của người bệnh được là sức khỏe thể chất có điểm số 36,85  9,63 [39]

Theo kết quả nghiên cứu của Saputri V.W và cộng sự (2018) điểm số CLCS chung là 55,70 ± 21,30, điểm số sức khỏe thể chất là 38,85 ± 9,26 và điểm số sức khỏe tinh thần 36,13 ± 7,08 Điểm số thang đo chất lượng giấc ngủ

là 56,18 ± 20,72 Điểm thang đo chức năng tình dục 55,53 ± 27,44 Điểm SF

36 là 45,90 ± 21,95 Các yếu tố như tuổi tác, thu nhập, thời gian chạy thận và

hỗ trợ gia đình ảnh hưởng đáng kể đến CLCS của người bệnh [80]

Arshad A.R và các cộng sự (2019) nghiên cứu 109 người bệnh có tuổi trung bình là 50,22 ± 13,73 tuổi Điểm sức khỏe thể chất, điểm sức khỏe tâm thần và điểm thành phần bệnh thận lần lượt là 33,41 ± 6,85, 46,10 ± 5,89 và 65,00 ± 6,11 Một trình độ học vấn cao hơn dự đoán điểm sức khỏe tinh thần cao hơn và tuổi trẻ hơn dự đoán điểm thành phần bệnh thận tốt hơn [24]

Ghiasi B và các cộng sự (2018) đánh giá CLCS của người bệnh mắc bệnh thận mãn tính (CKD) ở Iran thông qua phân tích tổng hợp cho thấy điểm chất lượng cuộc sống theo KDCLCS-SFTM là 50,37 [51]

Theo Acharya S và các cộng sự (2015) điểm trung bình chung của CLCS

là 52,98 Điểm trung bình của sức khỏe bệnh thận, sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất lần lượt là 59,6, 41,4 và 35,6 Các yếu tố có thể liên quan đến

Trang 25

CLCS là: tuổi, thời gian trên chạy thận nhân tạo, tình trạng việc làm, trình độ học vấn mức độ, BMI, albumin, huyết sắc tố huyết thanh, canxi huyết thanh, phốt pho huyết thanh, cystatin C huyết thanh, huyết thanh nồng độ axit uric[20]

Kết quả nghiên cứu của Thenmozhi P (2018) điểm trung bình của CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo là 48,73 ± 22,65, điểm cao nhất là thang điểm khuyến khích nhân viên lọc máu (84,04 ± 14,89), theo thang điểm hỗ trợ

xã hội (80,38 ± 20,38) và chất lượng tương tác xã hội (71,52 ± 18,74) Tuy nhiên, giới hạn vai trò gây ra bởi các vấn đề sức khỏe thể chất, giới hạn vai trò gây ra bởi sức khỏe cảm xúc và gánh nặng của thang đo bệnh thận mang lại điểm số thấp nhất (lần lượt là 22,12 ± 18,05, 26,92 ± 24,15 và 38,03 ± 12,81)[85]

1.4.2 Một số nghiên cứu trong nước

Theo tác giả Lê Việt Thắng (2012) người bệnh chạy thận chu kỳ có điểm CLCS SF 36  50 chiếm 75,9%, có 5,35% người bệnh có CLCS khá tốt với điểm SF 36 > 75 điểm [16]

Kết quả nghiên cứu của Vương Tuyết Mai và Hoàng Nam Phong (2015)

có mối tương quan giữa các triệu chứng của bệnh thận với sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần với p<0,05 [13]

Theo Lâm Nguyễn Nhã Trúc và Trần Bích Hương (2012), Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn trước khi chạy thận nhân tạo điểm SF

36 là 12,1, điểm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần lần lượt là 4 và 18,5 điểm Sau 2 tuần chạy thận nhân tạo trung bình 2 tuần, điểm SF-36 đạt 41,3 điểm và điểm sức khỏe thể chất tăng gấp 9 lần, điểm sức khỏe tinh thần tăng 2,4 lần, lần lượt đạt 35,8 điểm và 43,9 điểm [17]

Theo Nguyễn Thị Kim Nguyên, Nguyễn Đỗ Nguyên và Tô Minh Ngọc (2014) nghiên cứu trên người bệnh suy thận mạn điều trị ngoại trú bằng thang

đo SF-36, điểm trung bình về chất lượng cuộc sống của người bệnh được đánh

Trang 26

là 42,5; trong đó điểm sức khỏe thế chất là 46,4 và điểm sức khỏe tinh thần là 38,7[11]

Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Huyền (2016) cho thấy điểm trung bình CLCS của người bệnh suy thận mạn là 43,6  11,2 điểm; Điểm sức khỏe thể chất 33,9  13,3; Điểm số sức khỏe tinh thần 53,2  13,2 59,21% người bệnh suy thận mạn có CLCS ở mức trung bình kém; 31,6% trung bình khá Điểm về bệnh thận đều ở mức trên 50 điểm: Hỗ trợ nhân viên lọc máu 68,0  19,2 điểm; tương tác xã hội 67,2  13,5 điểm Điểm chức năng tình dục thấp 24,4  20,0 điểm; điểm gánh nặng bệnh thận thấp 32,1  14,7 [7]

1.5 Các nghiên cứu về vai trò của tư vấn, GDSK đối với CLCS của

người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ

Một chương trình giáo dục đầy đủ, toàn diện cho các người bệnh thận nhân tạo giúp nâng cao nhận thức qua đó giúp cải thiện chức năng thể chất và sức khỏe tâm thần từ đó làm tăng CLCS cho người bệnh [41]

Bakarman M.A và cộng sự (2019) đã áp dụng chương trình giáo dục giáo dục sức khỏe cho người bệnh bao gồm giới thiệu về bệnh thận mạn tính, giải thích chạy thận nhân tạo chu kỳ, cách thức hoạt động và tầm quan trọng của việc tiếp nhận và tuân thủ thận nhân tạo chu kỳ; lời khuyên về chế độ ăn uống, hạn chế chất lỏng; cách chăm sóc vị trí truy cập mạch máu Kết quả nghiên cứu cho thấy, điểm số CLCS trước can thiệp 51,5 ± 13,2 điểm, sau can thiệp tăng lên 64,4 ± 12,2 điểm [28]

Kết quả nghiên cứu của Abraham S và cộng sự (2012) cho thấy tư vấn

có vai trò trong việc cải thiện CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo bằng cách cải thiện nhận thức và quan niệm sai lầm về bệnh Chương trình tư vấn được áp dụng trong nghiên cứu bằng lời nói và tài liệu phát tay liên quan đến chế độ ăn uống, tập thể dục, thay đổi lối sống, tầm quan trong của việc lọc máu

và theo dõi thường xuyên [19]

Trang 27

Başer E và Mollaoğlu M (2019) đã áp dụng chương trình giáo dục dinh dưỡng cho người bệnh chạy thận nhân tạo bằng tư vấn trực tiếp và tài liệu phát tay Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ ăn uống và hạn chế chất lỏng tăng lên [31]

Ghadam M.S và cộng sự [50] đã thực hiện chương trình giáo dục trực tiếp cho người bệnh trước khi chạy thận với thời lượng 1 giờ trong vòng 8 buổi, mỗi người bệnh được phát 1 cuốn sách kèm theo Nội dung giáo dục bao gồm: tìm hiểu quá trình bệnh, tầm quan trọng của chạy thận nhân tạo, chế độ ăn uống, hạn chế chất lỏng, kiểm soát trọng lượng cơ thể, hoạt động thể chất, kiểm soát các biến chứng, làm quen với triệu chứng của bệnh, tầm quan trong của việc ngừng hút thuốc, kiểm soát căng thẳng và thư giãn cơ bắp Kết quả cho thấy điểm chất lượng cuộc sống của nhóm can thiệp cao hơn có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Theo Alexopoulou M và cộng sự (2016) nghiên cứu ảnh hưởng của hỗ trợ xã hội đối với CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo Người bệnh thận nhân tạo có CLCS ở mức vừa phải, họ nhận được sự hỗ trợ chủ yếu từ những người quan trọng, gia đình và bạn bè Những người bệnh nhận được sự hỗ trợ

có CLCS cao hơn vì vậy trong quá trình chăm sóc người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ cần quan tâm đến các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ cho người bệnh để giúp nâng cao CLCS [22]

Kết quả nghiên cứu của V Alikari và cộng sự (2019) cho thấy một chương trình can thiệp GDSK có thể cải thiện kiến thức, tuân thủ và CLCS ở người bệnh thận nhân tạo chu kỳ Việc tăng mức độ kiến thức không liên quan đến việc tuân thủ tăng lên, tuy nhiên, việc tăng tuân thủ có thể cải thiện một số lĩnh vực CLCS của người bệnh [23]

Bahramnezhad F và cộng sự (2015) nghiên cứu hiệu quả của can thiệp giáo dục có sự tham gia của người nhà người bệnh cho thấy: sự hiện diện của

Trang 28

các gia đình trong kế hoạch điều trị có thể là điều cần thiết để tuân theo kế hoạch điều trị và sau đó làm giảm các biến chứng của chạy thận nhân tạo [27]

Để xác định ảnh hưởng của các hướng dẫn giáo dục đối với kiến thức và CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo H Ebrahimi và cộng sự (2016) đã thực hiện chương trình giáo dục dinh dưỡng kéo dài 12 tuần, sau 16 tuần đánh giá lại thấy có sự khác biệt về kiến thức dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống của người bệnh thận nhân tạo chu kỳ Tác giả khuyến cáo nên có hướng dẫn chế độ ăn uống trong tất cả các chương trình giáo dục để cải thiện CLCS của người bệnh thận mạn tính [45]

Theo Feizalahzadeh H và cộng sự (2016) đã áp dụng phương giáo dục

đa phương tiện và phương pháp giáo dục truyền thống (trực tiếp và tờ rơi) cho người bệnh chạy thận nhân tạo Kết quả cho thấy giáo dục sức khỏe bằng cả 2 phương pháp đều có thể cải thiện CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo[47]

Hemmati M.M và Shams S (2015) áp dụng chương trình giáo dục cho người bệnh chạy thận nhân tạo bao gồm chế độ ăn uống, hạn chế chất lỏng, chăm sóc cầu tay, chăm sóc da và quản lý căng thẳng bằng hai phương pháp: giáo dục trực tiếp và giáo dục qua video Kết quả cho thấy với cả 2 phương pháp CLCS của người bệnh chạy thận nhân tạo đều tăng [56]

Theo Hsu S.Y và Huang H.S(2019) giáo dục nâng cao sức khỏe có thể cải thiện đáng kể trầm cảm, hy vọng và CLCS ở người bệnh chạy thận [57]

Đánh giá có hệ thống chương trình can thiệp giáo dục cho người bệnh mắc bệnh mạn tính của Lopez-Vargas P.A và cộng sự (2016) cho thấy nhiều hình thức can thiệp giáo dục được thực hiện như giảng dạy trực tiếp, thông tin bằng văn bản

và theo dõi qua điện thoại Nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả của can thiệp giáo dục giúp cải thiện CLCS của người bệnh [66]

Trang 29

Kết quả nghiên cứu của M Zolfaghari và cộng sự (2015) cho thấy giáo dục lấy gia đình làm trung tâm có hiệu quả hơn trong việc giảm các biến chứng chạy thận nhân tạo so với giáo dục lấy người bệnh làm trung tâm [94]

1.6 Học thuyết điều dưỡng và khung lý thuyết

Học thuyết Mô hình niềm tin sức khỏe (Heath Belief Model - HBM) được phát triển vào đầu những năm 1950 bởi các nhà khoa học xã hội tại Dịch

vụ y tế Công cộng Hoa Kỳ nhằm tìm hiểu sự thất bại khi áp dụng các chiến lược phòng ngừa bệnh HBM cho rằng niềm tin của một người là mối đe dọa đối với bệnh tật hoặc bệnh tật cùng với niềm tin của một người về hiệu quả của hành vi hoặc hành động sức khỏe nào đó sẽ dự đoán khả năng người đó sẽ chấp nhận hành vi đó HBM xuất phát từ lý thuyết tâm lý và hành vi với nền tảng là hai thành phần của hành vi liên quan đến sức khỏe là: mong muốn phòng tránh bệnh tật, hoặc sẽ khỏe lại nếu đã bị bệnh; và niềm tin rằng một hành động sức khỏe cụ thể sẽ ngăn ngừa hoặc chữa khỏi bệnh Cuối cùng, quá trình hành động của một cá nhân thường phụ thuộc vào nhận thức của người đó về lợi ích và rào cản liên quan đến hành vi sức khỏe HBM gồm sáu thành phần cơ bản: Nhận thức nhạy cảm, nhận thức mức độ nghiêm trọng, nhận thức lợi ích, nhận thức rào cản, động lực thúc đẩy hành động và năng lực cá nhân

Áp dụng học thuyết HBM vào nghiên cứu

Nhận thức nhạy cảm trong nghiên cứu này thể hiện các người bệnh suy thận mạn tính phải điều trị bằng chạy thận nhân tạo chu kỳ là một trong những biện pháp cuối cùng để duy trì cuộc sống và quá trình chạy thận nhân tạo có thể xảy ra rất nhiều các biến chứng ảnh hưởng nhiều đến CLCS, nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nếu không được theo dõi, chăm sóc và điều trị đúng cách

Nhận thức mức độ nghiêm trọng thể hiện qua những hậu quả của chạy thận nhân tạo chu kỳ như: mỗi ngày có hơn 240 người chạy thận tử vong [37] Hơn nữa thận nhân tạo chu kỳ còn gây căng thẳng về thể chất và tinh thần như

Trang 30

đau [82], hạn chế chất lỏng, ngứa [63], hạn chế hoạt động thể chất, mệt mỏi, thiếu tự chăm sóc, cảm giác khó chịu và khủng hoảng tâm lý [82] Điều này cùng với những trải nghiệm của người bệnh trong quá trình chạy thận càng làm cho họ cảm thấy mức độ nghiêm trọng của bệnh

Từ đó người bệnh nhận thức được sự cần thiết của việc cần tuân thủ chế

độ điều trị, chăm sóc đúng để có thể kéo dài cuộc sống và hạn chế các biến chứng có thể xảy ra Điều này sẽ kích thích người bệnh tìm hiểu về bệnh, cách phòng ngừa biến chứng, kiến thức tự chăm sóc, tuân thủ điều trị để có CLCS tốt hơn

Nhận thức được lợi ích của việc có kiến thức, hành vi đúng về bệnh và chế độ chăm sóc có thể hạn chế các biến chứng của bệnh, thích nghi với hoạt động thận nhân tạo giúp từng bước nâng cao CLCS Tuy nhiên quá trình thực hiện họ gặp phải những rào cản không nhỏ như không đủ hiểu biết về bệnh và cách tự chăm sóc, khó khăn về kinh tế, hoàn cảnh gia đình, sự kỳ thị phân biệt của cộng đồng, … Nhưng khi họ cảm thấy các triệu chứng nặng lên và được cung cấp thêm thông tin trong quá trình tư vấn, giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế, sự hỗ trợ từ cộng đồng sẽ thúc đẩy họ thay đổi hành vi Điều này cùng với năng lực của bản thân người bệnh như trình độ học vấn, tinh thần lạc quan

sẽ giúp họ đủ tự tin để thực hiện các hành vi có lợi cho sức khỏe từ đó giúp nâng cao CLCS

Từ tổng quan tài liệu và áp dụng học thuyết vào nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu như sau:

Trang 31

Sơ đồ 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu

1.7 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình là bệnh viện hạng I trực thuộc Sở y tế Thái Bình Bệnh viện có bề dày lịch sử với 116 năm hình thành và phát triển Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình có 45 khoa phòng và 02 trung tâm với 1300 cán bộ, mỗi ngày khám bệnh cho 1.000 lượt người bệnh và điều trị

Niềm tin về

tự CS hiệu quả

Lợi ích nhận thức của thực hành tự CS Rào cản của nhận thức về thực hành tự

CS

Chất lượng cuộc sống của NB thận nhân tạo chu kỳ

Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi,

giới, TĐHV, nghề nghiệp, nơi ở,

TG lọc máu,…

Chương trình can thiệp

GDSK

Thay đổi hành vi tự chăm sóc

Đặc điểm lâm sàng: Tuổi, giới, TĐHV, nghề nghiệp, nơi ở, TG

lọc máu,…

Trang 32

nội trú cho gần 1500 người bệnh/ ngày Với đội ngũ bác sỹ, điều dưỡng giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn, Bệnh viện đã phát triển nhiều kỹ thuật cao góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân dân tỉnh Thái Bình

Năm 1997, đơn nguyên Thận nhân tạo được thành lập trực thuộc khoa Hồi sức tích cực với hai máy thận hoạt động 2 ca/ngày Ngày 21 tháng 9 năm

2012, khoa Thận nhân tạo được thành lập với 15 máy thận hoạt động 3 ca/ ngày

Để đáp ứng nhu cầu lọc máu của người bệnh suy thận mạn tính, số máy thận được trang bị bổ sung hàng năm Đến thời điểm hiện nay, khoa Thận nhân tạo

có 34 máy với 04 bác sỹ và 15 điều dưỡng thực hiện lọc máu 3 ca/ngày với tổng số người bệnh thận nhân tạo chu kỳ là 183 người bệnh; tất cả người bệnh đều có thời gian lọc máu trên 1 năm Đa số người bệnh lọc máu 3 lần/tuần, thời gian trung bình cho 1 lần lọc máu là 4 giờ Mỗi ngày, khoa Thận nhân tạo có 3

ca lọc máu, bắt đầu từ 6h sáng kết thúc lúc 21 giờ, giữa mỗi ca có 1 giờ để khử khuẩn máy, chuẩn bị người bệnh và máy thận Người bệnh được phân công lịch

cố định theo tuần

Hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh chạy thận nhận tạo chu kỳ được thực hiện bởi đội ngũ điều dưỡng, bác sỹ trong quá trình người bệnh chạy thận nhân tạo Tuy nhiên, chưa có nội dung thống nhất, không có tài liệu phát cho người bệnh và không tổ chức thành buổi giáo dục sức khỏe mà chỉ thực hiện tư vấn cá nhân khi người bệnh có nhu cầu Nhìn chung, hoạt động giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh tại khoa Thận nhân tạo chưa

có chương trình, nội dung cụ thể và đặc biệt chưa có các phương tiện hỗ trợ như tài liệu phát tay cho người bệnh, màn hình tivi để truyền thông gián tiếp

Để thực hiện chương trình can thiệp nhóm nghiên cứu đã thiết kế tài liệu giáo dục sức khỏe phát tay cho người bệnh, đề xuất bệnh viện trang bị tivi truyền thông đặt tại sảnh chờ khoa Thận nhân tạo, sưu tầm các video truyền thông các nội dung theo chương trình can thiệp

Trang 33

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu :

- Người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, thỏa mãn các tiêu chuẩn sau :

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Là người bệnh > 18 tuổi

- Đã điều trị suy thận mạn bằng phương pháp chạy thận nhân tạo chu kỳ tối thiểu 3 tháng

- Có khả năng tiếp nhận và trả lời các câu hỏi

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh có diễn biến nặng phải điều trị nội trú

- Người bệnh không tham gia đầy đủ các lần đánh giá và chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe trong nghiên cứu này

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.4.1 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020

- Thời gian thu thập số liệu : Từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 4 năm 2020

2.1.4.2 Địa điểm nghiên cứu

- Khoa Thận nhân tạo – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình

2.1.5 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu can thiệp, so sánh kết quả trước sau trên cùng một nhóm ĐTNC để đánh giá

Trang 34

Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiên cứu

T1 : Thời điểm thu thập số liệu liên quan đến CLCS của người bệnh thận nhân tạo chu kỳ trước can thiệp

T2 : Thời điểm thu thập số liệu liên quan đến CLCS của người bệnh thận nhân tạo chu kỳ sau can thiệp 1 tháng

T3 : Thời điểm thu thập số liệu liên quan đến CLCS của người bệnh thận nhân tạo chu kỳ sau can thiệp 3 tháng

Đối tượng nghiên cứu

Đánh giá sau can thiệp 3 (T3)

Đánh giá sau can thiệp 1 tháng (T2)

Trang 35

- p0 là tỷ lệ người bệnh có CLCS khá tốt trước can thiệp Theo tác giả Lê Việt Thắng (2012) người bệnh suy thận mạn tính chạy thận nhân tạo chu

kỳ có CLCS tốt là 5,35% [16] Do đó p0 = 0,05

- p1 là tỷ lệ người bệnh có CLCS tốt sau can thiệp Theo Masumeh H.M

và cộng sự (2015) điểm CLCS trước can thiệp giáo dục sức khỏe 55,45

 18,733, sau can thiệp tăng 65,82  16,035 tăng khoảng 10% so với trước can thiệp [56] Dự kiến trong nghiên cứu này tỷ lệ người bệnh có CLCS tốt tăng lên 10% Do đó lấy p1 = p0 + 10% = 0,05 + 0,1 = 0,15 Thay vào công thức trên tính được n = 79

Để dự phòng người bệnh có thể diễn biến nặng hoặc không tham gia chương trình can thiệp hoặc không được đánh giá đủ 3 lần và dự phòng sai số trong quá trình thu thập số liệu, chúng tôi thêm 10% số ĐTNC

Tổng số ĐTNC là 90 người

2.1.7 Phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu ngẫu nhiên

- Cách thức chọn mẫu: Lập danh sách người bệnh theo 6 ca lọc máu, mỗi

ca lọc máu có 30 người bệnh, sắp xếp danh sách theo ABC Sử dụng lệnh Randbetween trong Exel để lựa chọn ngẫu nhiên ra 20 số, sắp xếp các số chọn được theo thứ tự 1,2,3 Mỗi ca lọc máu chọn ra 15 người bệnh có số thứ tự tương ứng với số đã chọn, nếu người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu thì chọn người bệnh có số ngẫu nhiên tiếp theo đến khi đủ mỗi ca 15 người bệnh Trong tháng 1/2020, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được 90 người bệnh

đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu, số người bệnh này đã tham gia đầy đủ chương trình can thiệp, đánh giá sau 1 tháng can thiệp và đánh giá sau 3 tháng can thiệp Như vậy cỡ mẫu nghiên cứu thực tế là n = 90

Trang 36

2.2 Công cụ, phương pháp và quy trình thu thập số liệu

2.2.1 Công cụ thu thập số liệu

Sử dụng bộ công cụ đánh giá CLCS cho bệnh thận bằng Tiếng Anh (Kidney Disease and Quality of Life – KDQOL-SFTM1.3) là tài liệu công khai, miễn phí của RAND [76] đã được đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronbach alpha đối với từng lĩnh vực [53]

Được sự cho phép của tác giả, nhóm nghiên cứu đã tham khảo bản dịch tiếng viết Bộ công cụ KDQOL-SFTM 1.3 đã được Lê Thị Huyền sử dụng trong nghiên cứu đánh giá CLCS người bệnh suy thận mạn tại Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba, Đồng Hới năm 2016 [7] Bộ công cụ được 3 chuyên gia về lĩnh vực chạy thận nhân tạo và điều dưỡng kiểm tra, chỉnh sửa và đánh giá tính giá trị (thông qua chỉ số hiệu lực Content Validity Index - CVI) để đảm bảo tính chính xác, mức độ phù hợp về nội dung, ngôn từ và văn hóa của người Việt Nam, bao gồm:

1 Thạc sỹ Lê Thị Phương – Trưởng khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình

2 Thạc sỹ Đinh Quang Kiền – Trưởng khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Đại học Y Thái Bình

3 Thạc sỹ Tô Minh Tuấn – Trưởng bộ môn Điều dưỡng Trường Cao đẳng y tế Thái Bình

Kết quả xin ý kiến chuyên gia: 22/24 câu được chuyên gia đánh giá ở mức 3 hoặc mức 4; 2/24 câu (câu 18 và câu 23) được 1 chuyên gia đánh giá là

“Không phù hợp” Bên cạnh đó 3 chuyên gia cũng góp ý chỉnh sửa từ ngữ để phù hợp với văn phong Tiếng Việt và dễ hiểu hơn Kết quả đánh giá của chuyên gia thông qua chỉ số hiệu lực Content Validity Index (CVI) dao động từ 0,67 đến 1 Chỉ số scale CVI (sCVI) đạt 0,97 cao hơn mức đề xuất tối thiểu của Polit

là 0,78 [75] Vì vậy bộ công cụ có tính giá trị

Trang 37

Chúng tôi đã tiến hành chỉnh sửa từ ngữ theo ý kiến của chuyên gia và tiến hành khảo sát thử trên 30 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu (những người này không tham gia vào nghiên cứu) để hiệu chỉnh lại bộ công cụ cho phù hợp và phân tích, đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ Hệ số Cronbach’s Alpha của bộ công cụ gồm 80 câu hỏi, chia thành 19 lĩnh vực là 0,9; trong đó

hệ số Cronbach’s Alpha của từng lĩnh vực là :

- Lĩnh vực dành riêng cho bệnh thận hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 đến 0,9: Các triệu chứng (12 câu) 0,9; Ảnh hưởng bệnh thận (8 câu) 0,9; Gánh nặng bệnh thận (4 câu) 0,7; Tình trạng công việc (2 câu) 0,6; Chức năng nhận thức( 3 câu) 0,8; Chức năng tương tác xã hội (3 câu) 0,7; Chức năng tình dục (2 câu) 0,9; Giấc ngủ (4 câu) 0,6; Hỗ trợ xã hội (2 câu) 0,8; Sự hỗ trợ của nhân viên lọc máu (2 câu) 0,8

- Lĩnh vực sức khỏe thể chất hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,7 đến 0,9: Sức khỏe liên quan đến hoạt động thể chất (10 câu) 0,9; Hạn chế vai trò của thể chất (4 câu) 0,9; Sức khỏe liên quan đến cảm nhận đau đớn (2 câu) 0,7; Tự đánh giá sức khỏe tổng quát (5 câu) 0,8

- Lĩnh vực sức khỏe tinh thần hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,8 đến 0,9: Sức khỏe liên quan đến cảm nhận cuộc sống (5 câu) 0,9; Sức khỏe liên quan đến hoạt động xã hội (3 câu) 0,9; Hạn chế vai trò của tinh thần (2 câu) 0,8; Sức khỏe tâm thần tổng quát (4 câu) 0,8

Như vậy, cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha đều > 0,6 do đó chúng tôi sử dụng bộ công cụ này vào nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi có sẵn (Phụ lục 2)

Người thu thập số liệu : người nghiên cứu và nhóm cộng tác viên là nhân viên Phòng Công tác xã hội (đã được tập huấn)

Trang 38

Địa điểm thu thập : Tại phòng lọc máu, khoa Thận nhân tạo – Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Thái Bình

Thời điểm thu thập : Đánh giá lần 1 trước can thiệp, đánh giá lần 2 sau can thiệp 1 tháng, đánh giá lần 3 sau can thiệp 3 tháng

2.2.3 Quy trình thu thập số liệu

Bước 1 : Tập huấn cho các cộng tác viên về mục đích, nội dung và cách

thức điều tra

Bước 2 : Đánh giá chất lượng cuộc sống của ĐTNC (T1) theo danh sách

đã lựa chọn và theo ca lọc máu của người bệnh Thời điểm sau khi bắt đầu kết nối máy thận 30 phút Trước khi phỏng vấn, người bệnh được giải thích về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu và quyền lợi của ĐTNC Nếu người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký vào bản đồng thuận (Phụ lục 1) và được hướng dẫn

về hình thức tham gia và cách trả lời câu hỏi Thời gian phỏng vấn khoảng 25 – 30 phút

Sau khi phỏng vấn xong, người phỏng vấn sẽ kiểm tra lại bộ câu hỏi để đảm bảo tất cả các thông tin liên quan không bị bỏ sót Chuyển đổi các số ghi nhận được thành điểm số đã qui ước của nghiên cứu theo bảng chuyển đổi điểm

số (Phụ lục 3)

Bước 3 : Tiến hành tư vấn, giáo dục sức khỏe cho ĐTNC theo chương

trình can thiệp

Bước 4 : Tiến hành đánh giá CLCS (T2) sau 1 tháng thực hiện chương

trình can thiệp bằng phiếu điều tra (Phụ lục 2) và cách thực hiện giống bước 2

Bước 5 : Tiến hành đánh giá CLCS (T3) sau 3 tháng thực hiện chương

trình can thiệp bằng phiếu điều tra (Phụ lục 2) và cách thực hiện giống bước 4

Trang 39

2.3 Các biến số nghiên cứu

2.3.1 Biến số đặc điểm nhân khẩu học

- Mã người bệnh : Là mã số khi người bệnh nhập viện được lưu trữ trên phần mềm quản lý bệnh viện, mỗi người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ tại bệnh viện có 1 mã duy nhất

- Tuổi là thời gian đã qua kể từ khi sinh đến thời điểm thu thập số liệu tính bằng năm

- Giới tính là đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới, là biến nhị phân có 2 giá trị nam và nữ

- Trình độ học vấn là trình độ hiểu biết do học hỏi mà có, là cấp học cao nhất của ĐTNC vào thời điểm phỏng vấn, bao gồm : Tiểu học-THCS, THPT, Trung cấp – Cao đẳng, Đại học trở lên

- Nghề nghiệp là biến định danh Là công việc chính hiện tại của ĐTNC đem lại thu nhập để duy trì cuộc sống phân chia theo lao động chân tay, lao động trí óc, đã nghỉ hưu hoặc tuổi già

- Nơi cư trú : là địa danh mà ĐTNC đang thường trú hoặc tạm trú, có 2 giá trị và Thành phố Thái Bình và huyện

- Tình trạng hôn nhân mô tả mối quan hệ của ĐTNC với một người khác,

là biến định danh, có 2 giá trị : Kết hôn, sống cùng vợ/chồng; độc thân/li dị/ góa

- Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật BHYT để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện, có 4 giá trị : không có BHYT

và 3 giá trị liên quan đến mức hưởng BHYT

- Kinh tế gia đình là tổng thu nhập cả gia đình chia cho số người trong gia đình, chia 2 giá trị : Căn cứ vào tiêu chuẩn xét hộ nghèo và cận nghèo của nhà nước

Trang 40

2.3.2 Biến số lâm sàng

- Thời gian chạy thận nhân tạo chu kỳ : là thời gian người bệnh được chỉ định chạy thận nhân tạo dựa trên kế hoạch cố định và thông qua lỗ rò để kết nối mạch máu

- Bệnh kèm theo : là bệnh mắc song song cùng với suy thận mạn hoặc bệnh xuất hiện do biến chứng của suy thận mạn đã được bác sỹ điều trị chẩn đoán xác định

- Ca lọc máu: là thời điểm lọc máu trong ngày của ĐTNC, ca 1 từ 6h đến 10h, ca 2 từ 11h đến 16h, ca 3 từ 17h đến 21h

- Chất lỏng dư thừa là hiệu số cân nặng giữa cân nặng trước lọc lần này với số cân nặng sau lọc lần trước, được tính bằng kg

2.3.3 Biến số liên quan đến CLCS:

- Sức khỏe thể chất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn nhu cầu

cá nhân của người bệnh

- Sức khỏe tinh thần là một trạng thái khỏe mạnh mà trong đó, mỗi cá nhân nhận biết được khả năng của bản thân, có thể ứng phó với sự căng thẳng thông thường, làm việc hiệu quả và có sự đóng góp cho cộng đồng

- Các vấn đề bệnh thận là vấn đề sức khỏe bị ảnh hưởng bởi các triệu chứng, biến chứng của bệnh thận

- Chất lượng cuộc sống bệnh thận là mức độ sảng khoái, hài lòng về thể chất, tâm thần, xã hội của người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ

2.4 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

2.4.1 Bộ công cụ thu thập số liệu :

Bộ công cụ thu thập số liệu gồm 2 phần có nội dung như sau :

- Phần I : Thông tin chung bao gồm các thông tin về đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC như tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi ở, thu nhập, …

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Võ Tam (2012). Suy thận mạn: Bệnh học, Chẩn đoán và điều trị, Nhà xuất bản Đại học Huế, tr. 114-205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy thận mạn: Bệnh học, Chẩn đoán và điều trị
Tác giả: Võ Tam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Huế
Năm: 2012
16. Lê Việt Thắng (2012). Khảo sát một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân suy thận mạn tính chạy thận nhân tạo chu kỳ. Tạp chí Y- Dược học Quân sự, 1, tr. 110-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y- Dược học Quân "sự
Tác giả: Lê Việt Thắng
Năm: 2012
17. Lâm Nguyễn Nhã Trúc và Trần Bích Hương (2012). Sử dụng bảng câu hỏi SF-36 trong đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối trước và sau chạy thận nhân tạo. Y học TP Hồ Chí Minh, 16(3), tr. 335-341.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Lâm Nguyễn Nhã Trúc và Trần Bích Hương
Năm: 2012
18. Anees M, Ibrahim M, Imtiaz M &amp; et al (2016). Panslation, validation and reliability of the kidney diseases quality of life-short form (KDQOL-SF Form) tool in Urdu. J Coll Physicians Surg Pak, 26(8), p. 651-654 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J "Coll Physicians Surg Pak
Tác giả: Anees M, Ibrahim M, Imtiaz M &amp; et al
Năm: 2016
19. Abraham S., Venu A., Ramachandran A. &amp; et al (2012). Assessment of quality of life in patients on hemodialysis and the impact of counseling. Saudi Journal of Kidney Diseases and Pansplantation, 23(5), p. 953-957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saudi Journal of "Kidney Diseases and Pansplantation
Tác giả: Abraham S., Venu A., Ramachandran A. &amp; et al
Năm: 2012
20. Acharya S, Chowdhury A.T.M.M, Shu L.Y &amp; et al (2015). Clinical evaluation of the quality of life of hemodialysis patients. International Journal of Innovative Medicine and Health Science, 4, p. 60-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Innovative Medicine "and Health Science
Tác giả: Acharya S, Chowdhury A.T.M.M, Shu L.Y &amp; et al
Năm: 2015
21. Afzali B, Jayawardene S và Goldsmith D (2014). Diagnostic tests in chronic kidney disease, ABC of Kidney Disease, p. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic tests in chronic kidney "disease
Tác giả: Afzali B, Jayawardene S và Goldsmith D
Năm: 2014
22. Alexopoulou M, Giannakopoulou N, Komna E &amp; et al (2016). The effect of perceived social support on hemodialysis patients' quality of life. Mater Sociomed, 28(5), p. 338-342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mater Sociomed
Tác giả: Alexopoulou M, Giannakopoulou N, Komna E &amp; et al
Năm: 2016
23. Alikari V, Tsironi M, Matziou V &amp; et al (2019). The impact of education on knowledge, adherence and quality of life among patients on haemodialysis. Qual Life Res, 28(1), p. 73-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qual Life "Res
Tác giả: Alikari V, Tsironi M, Matziou V &amp; et al
Năm: 2019
24. Arshad A.R, Khan G, Amjad Z &amp; et al (2019). Predicting quality of life in haemodialysis patients. Pakistan Armed Forces Medical Journal, 69(1), p. 175-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pakistan Armed Forces Medical Journal
Tác giả: Arshad A.R, Khan G, Amjad Z &amp; et al
Năm: 2019
25. Atashpeika S, Jalilazar T và Heidarzadeh M (2012). Self-care ability in hemodialysis patients. Journal of caring sciences, 1(1), p. 31-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of caring sciences
Tác giả: Atashpeika S, Jalilazar T và Heidarzadeh M
Năm: 2012
26. Bahadori M, Ghavidel F, Mohammadzadeh S &amp; et al (2014). The effects of an interventional program based on self-care model on health-related quality of life outcomes in hemodialysis patients. J Educ Health Promot, 3, p. 110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Educ Health Promot
Tác giả: Bahadori M, Ghavidel F, Mohammadzadeh S &amp; et al
Năm: 2014
27. Bahramnezhad F, Asgari P, Zolfaghari M &amp; et al (2015). Family-Centered Education and Its Clinical Outcomes in Patients Undergoing Hemodialysis Short Running. Iran Red Crescent Med J, 17(6), p. e20705 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iran "Red Crescent Med J
Tác giả: Bahramnezhad F, Asgari P, Zolfaghari M &amp; et al
Năm: 2015
29. Barbosa J.B.N., Moura E.C.S.C.d, Lira C.L.O.B.d &amp; et al (2017). Quality of life and duration of hemodialysis in patients with chronic kidney disease (CKD): a cross- sectional study. Fisioterapia em Movimento, 30(4), p. 781-788 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fisioterapia em Movimento
Tác giả: Barbosa J.B.N., Moura E.C.S.C.d, Lira C.L.O.B.d &amp; et al
Năm: 2017
30. Barzegar H, Jafari H, Yazdani C.J &amp; et al (2017). Relationship Between Duration of Dialysis and Quality of Life in Hemodialysis Patients. Iran J Psychiapy Behav Sci, 11(4), p. e6409 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iran J Psychiapy Behav Sci
Tác giả: Barzegar H, Jafari H, Yazdani C.J &amp; et al
Năm: 2017
31. Başer E và Mollaoğlu M (2019). The effect of a hemodialysis patient education program on fluid conpol and dietary compliance. Hemodialysis International, 23(3), p. 392-401 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hemodialysis International
Tác giả: Başer E và Mollaoğlu M
Năm: 2019
32. Bayoumi M.B. và Al Wakeel J.S. (2015). Impacts of Exercise programs on Hemodialysis Patients' Quality of Life and Physical Fitness. Quality in primary care, 23(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality in primary care
Tác giả: Bayoumi M.B. và Al Wakeel J.S
Năm: 2015
33. Berzon R.A, Donnelly M.A, Simpson R.L &amp; et al (1995). Quality of life bibliography and indexes: 1994 update. Qual Life Res, 4(6), p. 547-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qual Life Res
Tác giả: Berzon R.A, Donnelly M.A, Simpson R.L &amp; et al
Năm: 1995
34. Borji M., Tavan H., Azami M. &amp; et al (2016). The effect of continuous care model on blood pressure and quality of life in patients on hemodialysis. Biomedical and Pharmacology Journal, 9(2), p. 689-695 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biomedical and "Pharmacology Journal
Tác giả: Borji M., Tavan H., Azami M. &amp; et al
Năm: 2016
35. Browne T và Merighi J. R (2010). Barriers to adult hemodialysis patients' self- management of oral medications. Am J Kidney Dis, 56(3), p. 547-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Kidney Dis
Tác giả: Browne T và Merighi J. R
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w