TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi và xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT d
Trang 1TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi và xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi với các đặc điểm nhân khẩu học của các
bà mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016 Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được tiến trên 385 bà mẹ
có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT tại khoa nhi bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên Kết quả: Số bà mẹ biết về NHHHCT chiếm tỷ lệ 93,8% Số bà mẹ biết đúng dấu hiệu NKHHCT chiếm 45,7 % Số bà mẹ biết đúng dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay chiếm 17,1% Số bà mẹ biết đúng dấu hiệu bệnh nặng hơn chiếm 14,0%
Số bà mẹ biết cho trẻ ăn đúng khi NKHHCT chiếm 77,4% Biết làm sạch mũi bằng sâu kèn chiếm 37,1% Số bà mẹ biết đúng biện pháp phòng ngừa NKHHCT chiếm 70,4% 100% bà mẹ có thái độ đúng về biện pháp phòng ngừa Số bà mẹ có thái độ đúng về chọn nơi khám, chữa bệnh chiếm 88,3% Số bà mẹ có thái độ đúng về biện pháp chăm sóc trẻ NKHHCT chiếm 86,0% Số bà mẹ thực hành đúng về phòng ngừa NKHHCT chiếm 88,8%.Số bà mẹ thực hành đúng về chọn nơi khám bệnh khi trẻ mắc NKHHCT chiếm 50,1% Số bà mẹ thực hành đúng về chăm sóc khi trẻ mắc bệnh chiếm 21,8% Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có mối liên quan với tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ, dân tộc
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bè bạn Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
PGS.TS Nguyễn Minh Tuấn, Trưởng phòng Đào tạo - KHCN & HTQT, Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên Người thầy đã giành nhiều tâm huyết, trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên và Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thu thập số liệu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè của tôi những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Chu Thị Thùy Linh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu, kết quả của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Chu Thị Thùy Linh
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 4
1.2 Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ NKHHCT 6
1.3 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT ở trẻ em 9
1.4 Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 13
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.3 Thiết kế nghiên cứu 15
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 15
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.6 Các biến số nghiên cứu 16
2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá 17
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 20
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 20
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 21
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT của bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhập viện tại khoa nhi bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên 22
3.2 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành với đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 32
Chương 4: BÀN LUẬN 43
4.1 Kiến thức thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi của các bà mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016 43
Trang 54.2 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi với các đặc điểm nhân khẩu học của các bà mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016 49 4.3 Những điểm mạnh và yếu của đề tài 51 KẾT LUẬN 52
1 Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi của các bà
mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016 52
2 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi với các đặc điểm nhân khẩu học của các bà mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016 52 KHUYẾN NGHỊ 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ARI Acute Respiratory Infections
NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ
NKHHCT Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
TCYTTG Tổ chức y tế thế giới
SL Số lượng
WHO World Health Organization: Tổ chức Y tế thế giới
UNICEP United Nations International Children’s Emergency Fund
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.4 Kiến thức về dấu hiệu bệnh, dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám 24
Bảng 3.10 Thực hành chọn nơi khám bệnh khi trẻ có dấu hiệu
NKHHCT
28
Bảng 3.13 Thực hành dự phòng các yếu tố nguy cơ gây bệnh 30
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh NKHHCT với các đặc
điểm nhân khẩu học của bà mẹ
32
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức về các dấu hiệu NKHHCT với 33
Trang 8các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức về dấu hiệu cần đưa trẻ đi
khám ngay với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
34
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kiến thức về dấu hiệu bệnh nặng hơn với
các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
35
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức về cho trẻ ăn khi trẻ NKHHCT
với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
36
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa kiến thức phòng ngừa NKHHCT với các
đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
37
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa Thái độ chấp nhận việc chọn nơi khám
chữa bệnh với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
38
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa thái độ chấp nhận những biện pháp chăm
sóc trẻ NKHHCT với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
39
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa thực hành về phòng ngừa bệnh
NKHHCT với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
40
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thực hành về chọn nơi khám chữa bệnh
NKHHCT với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
41
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa thực hành về về chăm sóc trẻ bệnh
NKHHCT với các đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
42
Trang 92010, ước tính ở Việt Nam có 3.139 trẻ tử vong do viêm phổi [3], trong những năm gần đây số lượng trẻ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính vẫn tương đối cao ước tính cả nước có 17.927 trẻ tử vong trong đó có 3.293 trẻ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm tỷ lệ 15 % [55]
NKHHCT cũng là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất trong khám và điều trị tại các cơ sở y tế, đặc biệt trong chăm sóc nhi Đây là nhóm bệnh
có tỷ lệ mắc cao, tần số mắc nhiều lần trong năm ( thường từ 4 - 6 lần trong năm ), thời gian điều trị trung bình từ 5 - 7 ngày [3],[6],[12],[18] Bệnh ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của trẻ nên ảnh hưởng tới ngày công lao động của bố mẹ và tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội [12],[22],[46],[49]
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là vấn đề đang được cộng đồng quan tâm Nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ
tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chương trình ARI được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1984 Thành công của chương trình này là cải thiện kiến thức, hướng dẫn bà mẹ phòng ngừa và chăm sóc trẻ bệnh đúng
Bà mẹ là người chăm sóc chính của trẻ, vì vậy họ cần phải có đủ kiến thức về phòng chống bệnh Hạn chế kiến thức về phòng chống bệnh làm tăng số lần mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong năm Nếu các bà mẹ có kiến thức về bệnh,
họ có thể sử dụng kiến thức này một cách thích hợp để cải thiện thực hành và phòng ngừa nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, do đó giảm gánh nặng của bệnh tại cộng đồng
Trang 10[37],[38],[45] Nhiều nghiên cứu đã khẳng định vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe Thông qua truyền thông giáo dục sức khỏe giúp bà mẹ nâng cao kiến thức thay đổi thực hành trong chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ [7],[10],[47],[50]
Hạn chế trong nhận biết sớm dấu hiệu nhiễm khuẩn hô hấp và thiếu kinh nghiệm chăm sóc khi con bị bệnh đã làm tăng số lần nhập viện và làm tình trạng bệnh nặng thêm [38] Nhận biết sớm các dấu hiệu bệnh có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ [9],[37] Do đó xử trí trẻ NKHHCT đạt kết quả không chỉ phụ thuộc vào cán bộ y tế mà còn phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về NKHHCT trong việc phát hiện sớm dấu hiệu, kịp thời đưa trẻ tới
cơ sở y tế, chăm sóc khi trẻ ốm cũng như có biện pháp phòng ngừa bệnh Việc chăm sóc trẻ NKHHCT rất quan trọng, nếu kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ không đúng thì dễ đưa đến hậu quả xấu như bệnh nặng và tử vong
Với mong muốn giúp bà mẹ nhận biết sớm dấu hiệu bệnh, kịp thời đưa trẻ tới
cơ sở y tế, chăm sóc trẻ ốm cũng như lựa chọn biện pháp phòng ngừa phù hợp để giảm tỷ lệ mắc và tránh các hậu quả xấu như tử vong Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi của các bà
mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016” với các mục tiêu sau:
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ NKHHCT dưới 5 tuổi của các bà mẹ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016
2 Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ
NKHHCT dưới 5 tuổi với các đặc điểm nhân khẩu học của các bà mẹ tại bệnh viện
Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2016
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
1.1.1 Định nghĩa
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp bao gồm các nhiễm trùng ở bất kỳ vị trí nào trên đường hô hấp, bao gồm mũi, tai, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi Thời gian bị bệnh không quá 30 ngày, ngoại trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày [2]
1.1.2 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em đã và đang là một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu, thu hút sự quan tâm của mọi quốc gia, là một trong những vấn đề mà Tổ chức Y tế thế giới quan tâm, nhất là tại các nước đang phát triển [17],[32]
Tỷ lệ trẻ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nhiều hơn so với các bệnh khác ở mọi quốc gia Ước tính năm 2007 có 1.8 triệu trẻ tử vong chiếm 17% nhiều hơn số trường hợp tử vong do AIDS, sốt rét, sởi cộng lại [56] Năm 2008 có khoảng 1.6 triệu trẻ tử vong do viêm phổi chiếm 18% [35] Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị tuy nhiên số lượng trẻ chết do bệnh vẫn cao Ước tính năm 2015 toàn cầu có khoảng 2.700.000 trẻ tử vong trong đó số trường hợp trẻ dưới 5 tuổi chết do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính khoảng 920.136 trẻ chiếm 15% [55] Chủ yếu là nhiễm khuẩn hô hấp trên chiếm 85-88% trường hợp, số còn lại là nhiễm khuẩn hô hấp dưới [30]
Tỷ lệ trẻ mắc bệnh và tử vong không đồng đều giữa các quốc gia Ở các nước chậm phát triển và đang phát triển tỷ lệ trẻ mắc bệnh và tử vong nhiều hơn so với các nước phát triển Năm 2015 ở Canada có 1.181 trẻ tử vong trong đó tử vong
do NKHHCT có 38 trẻ chiếm 2%, ở Pháp có 1.726 trẻ tử trong đó 60 trẻ tử vong do NKHHCT chiếm 2%, ở Đức có 1.449 trẻ tử trong đó 47 trẻ tử vong do NKHHCT chiếm 2%, ở Afghanistan có 36.242 trẻ tử trong đó 18.671 trẻ tử vong do NKHHCT chiếm 20%, ở Philippines có 29.601 trẻ tử trong đó 12.224 trẻ tử vong do
Trang 13NKHHCT chiếm 19% [55] Tỷ lệ trẻ tử vong do NKHHCT ở các nước chậm phát triển cao gấp 10 lần so với các nước phát triển [55]
Tỷ lệ trẻ tử vong do NKHHCT cao nhất ở Romania chiếm 28% trong số trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi và thấp nhất ở Thụy Sĩ và Tây Ban Nha chiếm 1% Năm 2015 cả nước có 4 trường tử vong do NKHHCT [55]
Đông Á và Thái Bình Dương nước đã có những thành công to lớn trong việc giảm tỷ lệ tử vong trẻ em trong suốt 20 năm qua Tổng số dưới năm tuổi tử vong giảm từ 2,2 triệu trong năm 1990 lên gần 700.000 năm 2010 NKHHCT và tiêu chảy chiếm gần một phần ba các ca tử vong, hầu hết trong số đó là các trẻ em nghèo Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới năm tuổi giảm đáng kể từ 51 trên 1.000 trẻ sinh năm 1990 xuống 23 trên 1.000 trẻ sinh ra trong năm 2010 Viêm phổi và tiêu chảy vẫn là hai kẻ giết trẻ chính, chiếm 12 % và 10 % dưới 5 người chết tương ứng trong nước [51],[52]
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo Vì vậy khí hậu Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm, từ giữa năm này với năm khác và giữa nơi này với nơi khác Đây cũng là một trong các yếu tố thuận lợi cho vi khuẩn phát triển dẫn tới gia tăng bệnh tật như NKHHCT Trong những năm gần đây số trẻ tử vong do NKHHCT đã giảm xong Việt Nam vẫn đang là quốc gia có số lượng trẻ tử vong do căn bệnh này tương đối cao chiếm 14 % trong số các ca tử vong [55] Tại Việt Nam, mỗi ngày 11 trẻ em dưới năm tuổi chết vì viêm phổi [51]
Tỷ lệ NKHHCT ở trẻ em miền núi theo báo cáo của các cơ sở y tế cho thấy không giảm Đánh giá về tình hình NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi ở 2 xã của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang cho thấy tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT chiếm 39,5%[27] Một nghiên cứu ở cộng đồng trên 2 xã ở tỉnh Nghệ An của tác giả Đàm Thị Tuyết cho thấy tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT là 38, 34% [24] Một nghiên cứu khác tiến hành ở tỉnh Trà Vinh tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT là 36,5%[16], và tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT tại xã Phú Xuân huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế là 35,95% [17] Nghiên cứu mô hình bệnh tật của Võ Phương Khanh năm 2007 bệnh hô hấp chiếm 39,9% [13]
Trang 14Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là một bệnh viện tuyến trung ương nằm tại tỉnh có số lượng trẻ nhập viện ngày càng tăng và chủ yếu là nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Trong 5 tháng của năm 2012, tại khoa nhi bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên tiếp nhận 1338 trẻ nhập viện vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, trong đó chủ yếu ở nhóm dưới 1 tuổi chiếm 55, 98% [11]
1.2 Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ NKHHCT
Trong công tác khám chữa bệnh hàng ngày, cán bộ y tế thường có thói quen
là khám bệnh và kê đơn thuốc, họ thường quên một việc rất quan trọng đó là việc hướng dẫn cho bà mẹ biết cách chăm sóc và theo dõi trẻ tại nhà, như cách cho trẻ uống thuốc, cách cho trẻ bú, ăn, uống ra sao, cần theo dõi những dấu hiệu lệnh như thế nào để nếu có cần chuyển tới cơ sở y tế kịp thời [9]
Quá trình hướng dẫn của cán bộ y tế giúp bà mẹ hiểu được cách chăm sóc trẻ, biết được tình trạng bệnh của con mình Theo dõi để phát hiện sớm các dấu hiệu nguy hiểm Mục đích cuối cùng là giúp trẻ nhanh chóng bình phục sức khỏe
* Nội dung hướng dẫn bà mẹ
1 Chỉ cho bà mẹ những triệu chứng bệnh của trẻ
2 Nói cho bà mẹ biết tên bệnh trẻ mắc
3 Hướng dẫn bà mẹ cách dùng thuốc
4 Hướng dẫn bà mẹ cách chăm sóc trẻ tại nhà
1.2.1 Vai trò của bà mẹ trong chăm sóc trẻ
Người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình Những đứa con từ khi mới sinh ra đến khi trưởng thành, phần lớn thời gian là gần gũi và thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn từ cha Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc sức khỏe cả lúc khỏe mạnh lẫn khi ốm đau [20] Theo sát từng bữa ăn giấc ngủ từ đó biết được sự thay đổi đối với sức khỏe của trẻ Vai trò của người phụ nữ trong gia đình nông thôn ở Việt Nam cho thấy, 90,8% việc nuôi dạy trẻ do người mẹ đảm nhận [14] Vì vậy nhận biết dấu hiệu bệnh, phát hiện sớm kịp thời đưa trẻ đến cơ sở tế, chăm sóc theo dõi khi trẻ ốm sẽ góp phần quan trọng giảm tỷ lệ mắc và tử vong trẻ em
Trang 151.2.2 Hướng dẫn chăm sóc tại nhà [2]
1.2.2.1 Chăm sóc tại nhà cho trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi
- Nuôi dưỡng:
+ Tiếp tục cho trẻ ăn lúc bệnh
+ Thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu
+ Chia làm nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa một ít
+ Không cho trẻ ăn kiêng trong chế độ ăn như: tôm, cua, dầu, mỡ…
- Làm thông thoáng mũi bằng giấy thấm sâu kèn
+ Cách làm
Dùng giấy thấm hoặc vải thấm quấn thành sâu kèn
Đặt sâu kèn vào mũi khi sâu kèn thấm ướt lấy ra vì đặt sâu kèn khác cho đến khi khô
- Cho trẻ uống đủ nước: Nước chín, nước hoa quả Nếu trẻ còn bú thì tăng cường cho bú
- Nếu ho sử dụng thuốc ho dân gian làm giảm ho như quất hấp mật ong, hoa đu đủ đực hấp mật ong, lá hẹ…
- Cần chú ý đưa trẻ đến cơ sở y tế khám khi có một trong các dấu hiệu sau:
Trang 16- Làm thông thoáng mũi
- Cần chú ý đưa trẻ đến cơ sở y tế khám khi có một trong các dấu hiệu sau:
- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
- Phát hiện sớm và xử trí kịp thời các trường hợp NKHHCT theo phác đồ
Trang 17- Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bà mẹ cách phát hiện, xử trí và chăm sóc trẻ NKHHCT
1.3 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT ở trẻ em
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Một số nghiên cứu về kiến thức thái độ và thực hành về NKHHCT của một số tác giả nước ngoài cho kết quả như sau:
Theo Cesar Augusto Gálvez và cộng sự ở Peruvian năm 2002 Trong những năm gần đây, tỷ lệ bà mẹ nhận biết dấu hiệu bệnh NKHHCT đã tăng lên, nhưng vẫn còn một tỷ lệ khá lớn các bà mẹ vẫn không hiểu rõ về bệnh và hậu quả do bệnh mang đến Khoảng 84% các bà mẹ biết về bệnh viêm phổi Tuy nhiên, số bà mẹ cho rằng bệnh do virus, vi khuẩn gây bệnh chỉ chiếm 28,9% 80% bà mẹ biết trẻ thở nhanh hoặc có rút lõm lồng ngực là trẻ mắc bệnh, 94,6% bà mẹ chọn trung tâm y tế để đưa trẻ đến khám Mặc dù 57,1% bà mẹ được tiếp cận chương trình phòng chống bệnh, tuy nhiên 69,3% bà mẹ không thể nhớ lại nội dung của chương trình Các bà mẹ cho biết đã từng nghe nói về chương trình thông qua truyền hình có nhiều khả năng nhận biết đúng hai dấu hiệu của bệnh viêm phổi Bà mẹ ở Peruvian đã nhận thức bệnh viêm phổi là bệnh nguy hiểm ảnh hưởng tới sức khỏe và có thể gây tử vong cho con của chính họ Tuy nhiên, họ chưa ý thức được vai trò cộng tác của mình làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong ở trẻ [36]
Theo nghiên cứu của Simiyu DE, Wafula EM, Nduati RW về kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ có con từ dưới 5 tuổi về NKHHCT tại Kenya, có 309 bà mẹ được phỏng vấn, tuổi trung bình 31,5 tuổi chỉ có 18% bà mẹ mô tả được triệu chứng viêm phổi 87,1% là sẽ đưa bé đến cơ sở y tế khi NKHHCT nặng Giáo dục sức khỏe có ảnh hưởng quan trọng về kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ Kết quả nghiên cứu này cho thấy kiến thức của các bà mẹ với các trường hợp NKHHCT nhẹ là đúng nhưng với trường hợp nặng thì còn hạn chế, về thái độ của họ khi gặp NKHHCT là thích hợp nhưng thực hành còn nhiều thiếu sót Việc sử dụng dịch vụ y
tế khi gặp NKHHCT dạng trung bình còn thấp dẫn đến tỉ lệ tử vong còn cao, vì đưa đến điều trị tại cơ sở y tế là đã quá muộn [50]
Trang 18Theo nghiên cứu của Mamata Jena Bà mẹ là người chăm sóc chính của trẻ, vì vậy
họ cần phải có đủ nhận thức về phòng chống bệnh viêm phổi Hạn chế kiến thức về phòng chống bệnh làm tăng số lần mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong năm Mặt khác họ không thực hành chăm sóc trẻ một cách chính xác Nếu các bà
mẹ có kiến thức về bệnh, họ có thể sử dụng kiến thức này một cách thích hợp để cải thiện thực hành của họ và phòng ngừa nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, do đó giảm gánh nặng của bệnh tại cộng đồng Giáo dục kiến thức về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính thông qua tập sách với đầy đủ các khái niệm quan trọng liên quan đến công tác phòng chống bệnh được trao cho các bà mẹ Nghiên cứu này chỉ
ra hiệu quả của các tập sách Nó giúp bà mẹ có kiến thức hơn về phòng bệnh cũng như thái độ đúng Điều đó giúp thay đổi trong thực hành chăm sóc trẻ [45] Kiểm soát NKHHCT bằng cải thiện kiến thức, thực hành về NKHHCT thông qua chương trình giáo dục sức khỏe thiết kế phù hợp với từng nhóm bà mẹ [40]
Kết quả nghiên cứu của Fawzia El Sayed Abusaad and Sahar Farouk Hashem Một
số lượng lớn trẻ em bị viêm phổi không được đưa tới cơ sở y tế đúng thời điểm thích hợp do các bà mẹ không nhận ra mức độ nghiêm trọng của bệnh Nhận biết sớm các triệu chứng của viêm phổi có thể làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng hơn một nửa (51,1%) bà mẹ có con bị viêm phổi ở
độ tuổi 20-29 tuổi, số lần trẻ viêm phổi xuất hiện nhiều hơn so với bà mẹ lớn tuổi Điều này có thể là do thiếu kinh nghiệm chăm sóc của các bà mẹ trẻ tuổi, 75% bà
mẹ có kiến thức tốt về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính đặc biệt là bệnh viêm phổi Có mối liên quan đáng kể giữa kiến thức và tần số xuất hiện bệnh [37]
Kết quả nghiên cứu của Kumar và cộng sự thì 72% bà mẹ có kiến thức về NKHHCT và có thể nhận ra nó nhưng 28% không có kiến thức về bệnh 56% các bà
mẹ nhận biết NKHHCT là một bệnh nghiêm trọng, trong khi 44% cho rằng không nghiêm trọng 76% các bà mẹ cho rằng việc cho con bú nên được tiếp tục trong khi mắc bệnh, trong khi 24% nói rằng không nên cho trẻ ăn thường xuyên khi trẻ mắc bệnh Kiến thức của các bà mẹ ít học về bệnh NKHHCT còn hạn chế Các can thiệp như buổi giáo dục sức khỏe, chiến dịch truyền thông, nhân viên y tế phụ nữ (LHW), biểu ngữ và phi chính phủ, vv là cần thiết để cải thiện tình hình [31],[42]
Trang 191.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Có nhiều công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về phòng ngừa
và xử trí NKHHCT tại các khu vực, tỉnh, thành phố khác nhau Tuy nhiên chúng tôi xin chọn lọc trình bày một số công trình nghiên cứu dưới đây
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng và Nguyễn Đài Trang: có 96% bà mẹ biết rằng nếu trẻ bị viêm phổi thường xuyên kèm theo không ăn uống được thì sẽ bị sụt cân Có 64% bà mẹ biết rằng nên cho trẻ ăn uống hoặc bú bình thường hoặc nhiều hơn khi trẻ bị bệnh 97% bà mẹ cho rằng cần thiết phải theo dõi các dấu hiệu bệnh nặng 64% bà mẹ cho rằng nên sử dụng thuốc ho tây y để giảm ho cho trẻ, chỉ
có 7% bà mẹ cho uống thuốc ho thảo dược Có 29% bà mẹ biết lau sach mũi Kiến thức phòng bệnh NKHHCT: giữ ấm cơ thể khi trời lạnh 87%, tránh tiếp xúc với nguồn lây 74% Ngoài ra, có 32% bà mẹ nghĩ có thể phòng bệnh bằng bú sữa mẹ [8]
Nhiều nghiên cứu đánh giá cho thấy nguyên nhân tử vong của trẻ là do không được đưa đến cơ sở y tế kịp thời và không được điều trị đúng Vì vậy mặc dù có nhiều can thiệp, nhưng truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng
và tác động thay đổi hành vi chăm sóc trẻ NKHHCT luôn là biện pháp hàng đầu TCYTTG khuyến cáo các nước thực hiện Kết quả của nghiên cứu can thiệp này giúp thay đổi hành vi của bà mẹ trong chăm sóc Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ biết cách chăm sóc trẻ NKHHCT tại nhà tăng có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp tại nhóm được can thiệp [7],[10]
Đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong thực hành xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Ba Vì và Đan Phượng Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy can thiệp đã có tác động tích cực đến kiến thức của bà mẹ Trước can thiệp, đa số bà mẹ ở cả hai nhóm chỉ nhớ được từ 1 đến 2 dấu hiệu nguy hiểm cần đi khám Sau can thiệp, phần lớn bà mẹ ở Ba Vì đã nhớ được nhiều dấu hiệu hơn, khoảng từ 4 đến 5 dấu hiệu Ở nhóm can thiệp, hiểu biết về tất cả dấu hiệu bệnh đều tăng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp Trong khi đó, kiến thức của nhóm bà mẹ đối chứng hầu như không có sự thay đổi Tuy nhiên, mặc dù
đã được can thiệp nhưng còn một số dấu hiệu như ngủ li bì khó đánh thức hoặc co
Trang 20giật có tỷ lệ bà mẹ nhớ được vẫn thấp dưới 50% Sau 2 năm can thiệp, kiến thức lựa chọn cách xử trí cho từng thể bệnh NKHHCT của bà mẹ có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực rõ rệt Trước can thiệp, mặc dù viêm phổi là bệnh dễ gây tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi, nhưng vẫn còn khoảng 25% bà mẹ ở cả hai huyện không biết hoặc cho rằng không cần cho trẻ đi khám Sau can thiệp, hầu như toàn bộ ( khoảng 93%) bà mẹ nhóm can thiệp có kiến thức xử trí đúng đối với bệnh viêm phổi Trong quá trình chăm sóc tại nhà, khi phát hiện thấy có dấu hiệu bệnh cần khám ngay, bà mẹ phải đưa trẻ đến cơ sở y tế Trẻ được điều trị kịp thời có thể giúp phòng tránh biến chứng và tử vong.Trước khi được can thiệp, kiến thức tái khám của bà mẹ ở hai huyện đều chưa tốt Sau can thiệp, kiến thức về hai hình thức tái khám ở nhóm bà mẹ ở Ba Vì đều tăng ở mức có ý nghĩa thống kê rõ rệt so với trước Ở Đan Phượng, kiến thức về nội dung này không thay đổi có ý nghĩa thống
kê Trước can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có con mắc NKHHCT ở huyện Ba Vì và Đan Phượng lần lượt là 70,1% và 65,8% Sau can thiệp có 52,8% bà mẹ tại Ba Vì và 58,3% Qua số liệu trên, ta nhận thấy tỷ lệ trẻ NKHHCT ở huyện can thiệp có dấu hiệu giảm đi rõ rệt Tại Đan Phượng tỷ lệ mắc cũng giảm đi nhưng mức độ giảm thấp hơn Đối với những dấu hiệu bệnh cần đi khám ngay, đánh giá ban đầu cho thấy còn một số lượng không nhỏ (gần 30%) bà mẹ mặc dù nhận biết được nhưng
đã không đưa trẻ đi khám [7]
Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thanh cho thấy: Hiểu biết của bà mẹ về dấu hiệu của trẻ bị NKHHCT còn hạn chế: dấu hiệu sốt và ho được bà mẹ nhắc tới chiếm 55% Kiến thức về phòng bệnh cho trẻ còn hạn chế, biện pháp quan trọng và phổ cập nhất
là giữ ấm đường thở chiếm tỷ lệ 44,2% NCBSM 18,9%, ăn uống hợp lý và an toàn 25,8%, tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch 15,1% Đáng lưu ý là có 43% bà mẹ không
kể được một biện pháp phòng bệnh NKHHCT nào [21]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy trên 500 bà mẹ Dấu hiệu sốt được bà mẹ nhận biết nhiều nhất chiếm tỷ lệ 78,4%, dấu hiệu chảy mũi chiếm tỷ
lệ thấp nhất 53,2% Trong các bệnh của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính thì viêm phổi được bà mẹ biết đến nhiều nhất 77,8% và ít nhất là viêm amidan chiếm 13,2% Dấu hiệu cần đưa trẻ đến cơ sở y tế là số cao liên tục chiếm tỷ lệ 79%, bú kém 42% và
Trang 21thật đáng buồn vẫn còn 1,8% bà mẹ không biết dấu hiệu nào Nguồn thông tin bà
mẹ nhận được chủ yếu từ cán bộ y tế 54% và sách báo 28% Hơn một nửa (51,2%)số bà mẹ cho rằng NKHHCT phải cho trẻ ăn thành nhiều bữa Tuy nhiên vẫn còn 22% bà mẹ cho rằng ăn ít hơn bình thường Việc phòng ngừa NKHHCT cho trẻ bằng giữ ấm khi trời lạnh 79,6%, tiêm chủng 63,4%, tránh khói thuốc lá 60%, tránh khói bụi 57,6% [19]
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Ngọc Hà: Kiến thức chung đúng về bệnh NKHHCT là 7,9% rất thấp, bà mẹ biết về dấu hiệu bệnh là 42% trong đó sốt, ho biết khá cao, còn dấu hiệu khó thở các bà mẹ biết rất ít Bà mẹ biết các bệnh NKHHCT rất cao chiếm 98,2% Biết các dấu hiệu viêm phổi 48,6% Biết chọn nơi khám bệnh 98%, còn một số ít tự mua thuốc uống Biết cách cho ăn khi trẻ bị NKHHCT chiếm 75,8% Biết cách làm khô mũ tai đạt 63,4% Biết cách phòng ngừa NKHHCT đạt thấp 31,8% Nhưng trong các biện pháp phòng bệnh thì giữ ấm trẻ khi trời lạnh được các bà mẹ biết đến nhiều nhất 74%, biện pháp cho bú sữa mẹ biết đến ít nhất 22,5% Thái độ đúng chung của bà mẹ đạt tỷ lệ cao 97,5% Thực hành chung đúng
về bệnh NKHHCT là 41.5% Thực hành chọn đúng nơi khám bệnh cao 90,8%, uống nhiều nước hơn bình thường khi trẻ bị sốt, ho, yêu cầu thành viên không hút thuốc
lá trong nhà 88,3%, cho trẻ bú sữa mẹ đầy đủ 94,1%, tiêm chủng đúng quy định 97,2% Làm sạch mũi bằng giấy thấm đạt ở mức độ dưới trung bình 47.5% [9] 1.4 Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km); diện tích tự nhiên 3.562,82 km² Dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người, trong đó có 8 dân tộc chủ yếu sinh sống đó là dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa, Dao Các dịch vụ y tế cho chăm sóc sức khỏe của 1,2 triệu người sống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là rất cần thiết đặc biệt là trong chăm sóc trẻ Thái Nguyên là một trung tâm y tế vùng Đông Bắc Bệnh viện đa khoa trung
Trang 22ương Thái Nguyên là một bệnh viện tuyến trung ương nằm tại tỉnh có chức năng nhiệm vụ khám chữa bệnh cho người dân các tỉnh miền núi phía Đông Bắc Bộ Khoa Nhi - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên hiện có 41 cán bộ (trong
đó Bác sĩ: 8; Cử nhân điều dưỡng: 5; Thạc Sĩ: 3, Tiến Sĩ 1, Điều dưỡng trung học:
19, và 5 hộ lý ) Với nhiệm vụ khám và điều trị cho các bệnh nhân Nhi dưới 16 tuổi thuộc các tỉnh miền núi phía Đông Bắc Bộ Với 75 giường bệnh luôn đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho các bệnh nhân vào điều trị, trung bình mỗi ngày khoa tiếp nhận từ 12 đến 15 bệnh nhân vào điều trị
Trang 23Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhập viện vào khoa nhi bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên vì bệnh NKHHCT đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Bà mẹ có con được chẩn đoán xác định là NKHHCT trong hồ sơ bệnh án
- Bà mẹ có khả năng giao tiếp và sẵn sàng tham gia nghiên cứu
- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi
2.1.1 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bà mẹ không có khả năng giao tiếp
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2016
- Địa điểm nghiên cứu: khoa Nhi - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang có phân tích
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu [5]
a) Cỡ mẫu của nghiên cứu được dựa theo công thức tính cỡ mẫu trong nghiên cứu
2 / 1 (
d
p p
z
Trang 24Z: là hệ số tin cậy lấy ở ngưỡng xác suất α=0,05 (Z(1- α/2)=1,96)
p: tỉ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ, thực hành về NKHHCT ước tính là 0,5 (50%)
d: độ sai lệch mong muốn, trong nghiên cứu này chọn d = 0,05
Với các dữ liệu trên chúng tôi tính được n = 385 người bệnh
b) Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu không xác suất, lũy tích đủ cỡ mẫu trong khoảng thời gian nghiên cứu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Tham khảo hồ sơ bệnh án để lựa chọn đối tượng nghiên cứu, ghi chép thông tin hành chính của bệnh nhi và địa chỉ
- Phỏng vấn trực tiếp mẹ trẻ dựa vào bộ câu hỏi của (WHO, 2007) được dịch ra tiếng việt gồm 7 câu về kiến thức, 9 câu về thái độ và 6 câu về thực hành
2.6 Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
(tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, dân tộc, số con)
Trang 252.6.4 Thực hành của bà mẹ về bệnh NKHHCT
Chăm sóc khi trẻ bị bệnh (uống nước khi sốt hoặc ho, cho trẻ ăn đầy đủ dinh dưỡng), làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn, đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch, cho trẻ bú mẹ
2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
2.7.1 Biến số kiến thức
2.7.1.1 Kiến thức về dấu hiệu NKHHCT
- Một bà mẹ có kiến thức đúng về dấu hiệu NKHHCT là bà mẹ biết ≥2 trong 4 dấu hiệu
+ Không cho trẻ tiếp xúc khói bụi
+ Không cho trẻ tiếp xúc khói thuốc lá trong nhà
+ Giữ ấm cho trẻ khi thời tiết lạnh
Viêm tiểu phế quản
Viêm thanh quản
Khác (viêm họng, viêm amidan)
Trang 262.7.1.4 Kiến thức về cách cho trẻ ăn khi mắc bệnh NKHHCT
- Bà mẹ có kiến thức đúng về cách cho trẻ ăn trong lúc bệnh NKHHCT là biết ≥2 trong 3 nội dung:
+ Ăn đầy đủ chất dinh dưỡng
+ Không kiêng cữ dầu, mỡ, tôm, cua…
+ Cho ăn làm nhiều bửa, mỗi bữa một ít
2.7.1.5 Kiến thức về cách làm sạch mũi cho trẻ bị NKHHCT
- Bà mẹ có kiến thức đúng về cách làm sạch mũi cho trẻ bị NKHHCT là:
+ Biết làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn
2.7.1.6 Kiến thức về dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay
- Bà mẹ có kiến thức đúng về dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám là bà mẹ biết 3 trong năm 5 dấu hiệu sau
2.7.1.6 Kiến thức về dấu hiệu bệnh nặng hơn
- Bà mẹ có kiến thức đúng về dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám là bà mẹ biết 3 trong năm 5 dấu hiệu sau:
+ Không có người hút thuốc lá trong nhà
+ Giữ ấm cho trẻ khi thời tiết lạnh
Trang 27+ Nuôi con bằng sữa mẹ
+ Tiêm chủng cho trẻ đúng qui định
2.7.2.2 Thái độ chấp nhận việc chọn nơi khám chữa bệnh
- Bà mẹ có thái độ đúng về việc chọn nơi khám chữa bệnh cho trẻ NKHHCT là bà
mẹ chấp nhận sự cần thiết những biện pháp sau:
+ Khi trẻ bị bệnh NKHHCT đưa bé đến khám tại bệnh viện hoặc cơ sở y tế
2.7.2.3 Thái độ chấp nhận những biện pháp chăm sóc trẻ NKHHCT
- Bà mẹ có thái độ đúng về chăm sóc trẻ bị NKHHCT là bà mẹ chấp nhận sự cần thiết của phòng biện pháp sau đây
+ Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng
+ Làm sạch mũi bằng giấy thấm
2.7.3 Các biến số thực hành
2.7.3.1 Thực hành về phòng ngừa bệnh NKHHCT
- Bà mẹ thực hành đúng về phòng ngừa bệnh NKHHCT là bà mẹ có làm những việc sau đây:
+ Giữ trong nhà không có người hút thuốc lá
+ Giữ ấm cho trẻ khi thời tiết lạnh
+ Nuôi con bằng sữa mẹ
+ Cho con tiêm chủng đúng qui định
+ Cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng
+ Ăn không kiêng cữ
+ Làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn
Trang 282.8 Phương pháp phân tích số liệu
- Xử lý trong khi thu thập số liệu
+ Tất cả những dữ liệu thu thập được kiểm tra làm sạch và hoàn thiện
+ Những dữ liệu không phù hợp được điều chỉnh và bổ sung ngay Nếu không thể thu được thông tin cần thiết thay bằng một phiếu điều tra khác
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.9.1 Sai số trong quá trình thu thập số liệu
+ Điều tra viên được tập huấn kỹ thuật trước khi thu thập
2.9.2 Sai số trong quá trình phân tích, xử lý số liệu
- Cách hạn chế:
+ Thống nhất giữa các thành viên trong việc nhập số liệu
Trang 29+ Người xử lý số liệu cần có chuyên môn cao
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả bà mẹ được giải thích cụ thể về mục đích và nội dung nghiên cứu Việc tham gia vào nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện Đối tượng nghiên cứu ký vào phiếu chấp thuận tham gia trước khi tiến hành tham gia phỏng vấn Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu chỉ nhằm mục đích nghiên cứu chứ không vì mục đích nào khác
Các đối tượng được mời tham gia phỏng vấn có quyền từ chối nếu không đồng ý Quá trình nghiên cứu không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến môi trường Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho những bà mẹ có thêm kiến thức về phòng chống NKHHCT và biết làm thế nào để phòng chống NKHHCT cho con mình Đối với khoa nhi và nhân viên Y tế có thể áp dụng kết quả nghiên cứu để lên
kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe cho bà mẹ cách phòng chống NKHHCT cho trẻ dưới 5 tuổi, giúp họ thấy được mối đe dọa tính mạng trẻ từ đó có thái độ tốt, chấp nhận một cách tự nguyện việc thay đổi cách chăm sóc về phòng chống NKHHCT
Trang 30Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT của bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhập viện tại khoa nhi bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ
Nhận xét: Bà mẹ ≤ 25 tuổi chiếm 27,5%, 26 – 35 tuổi chiếm 56,4%, > 35 tuổi chiếm 16,1%, tuổi
trung bình của bà mẹ 29,4 tuổi, tuổi cao nhất 48 tuổi, tuổi thấp nhất 18 tuổi Phần lớn bà mẹ là công chức, viên chức chiếm 35,8% nông dân chiếm 24,4% Trình độ văn hoá đa số là cấp III chiếm 37,4% Bà mẹ dân tộc kinh chiếm 70,4%, bà mẹ dân tộc thiểu số chiếm 29,6% Bà mẹ có 1 con chiếm 50,1%,có từ 2 con trở lên chiếm 49,9%
Trang 31Nhận xét: Phần lớn bà mẹ biết về bệnh NKHHCT chiếm tỷ lệ 93,2% Viêm phổi
được bà mẹ nhắc đến nhiều nhất chiếm tỷ lệ 86% Tuy nhiên vẫn còn 6,8% bà mẹ không biết bệnh nào trong nhóm bệnh NKHHCT
Bảng 3.3 Kiến thức về dấu hiệu bệnh nặng hơn
Nhận xét: Bà mẹ cho rằng trẻ co giật là bệnh của trẻ nặng hơn chiếm 58,7%, tiếp
đến là dấu hiệu không uống được hoặc bỏ bú chiếm 53,5% Dấu hiệu rút lõm lồng ngực 39,7% Trẻ ngủ li bì khó đánh thức 21,8% Dấu hiệu thở rít 14,8%
Trang 32Bảng 3.4 Kiến thức về dấu hiệu bệnh, dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám
Nhận xét: 92,7% bà mẹ biết ho là dấu hiệu trẻ mắc NKHHCT, tiếp đến dấu hiệu sốt
chiếm 76,1% Dấu hiệu cần đưa trẻ khám ngay được bà mẹ nói đến là khó thở chiếm tỷ lệ 84,4%, hơn một nửa bà mẹ nhắc đến dấu hiệu co giật chiếm 52,2%
Trang 33Nhận xét: Khi trẻ mắc bệnh, phần lớn bà mẹ cho rằng phải ăn đầy đủ dinh dưỡng
chiếm 82,6%, 69,9% bà mẹ cho rằng phải ăn nhiều bữa, vẫn còn 54,8% bà mẹ cho rằng trẻ phải ăn kiêng khi mắc bệnh Khi trẻ chảy nước mũi, chủ yếu bà mẹ nói rằng
họ lau bằng khăn chiếm 70,9%, 37,1% bà mẹ biết làm sâu kèn làm sạch mũi Vẫn còn 7,0% bà mẹ không làm gì
Trang 34Nhận xét: Biện pháp phòng NKHHCT được bà mẹ nhắc đến nhiều nhất là giữ ấm
cho trẻ chiếm 91,4, tiếp đến bú sữa mẹ chiếm là 67,0 %, tránh khói thuốc lá 63,9%
Bảng 3.7 Đánh giá kiến thức chung của bà mẹ về NKHHCT
Biết dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám
ngay
Nhận xét: Phần lớn bà mẹ biết về NHHHCT chiếm tỷ lệ 93,8%, tuy nhiên vẫn còn
6,8% bà mẹ không biết Số bà mẹ biết đúng dấu hiệu NKHHCT chiếm 45,7 % Số
bà mẹ biết đúng dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay chiếm 17,1% Số bà mẹ biết đúng dấu hiệu bệnh nặng hơn chiếm 14,0% Số bà mẹ biết cho trẻ ăn đúng khi NKHHCT chiếm 77,4% Biết làm sạch mũi bằng sâu kèn chiếm 37,1% Số bà mẹ biết đúng biện pháp phòng ngừa NKHHCT chiếm 70,4%
Trang 35Số bà mẹ đồng ý đưa trẻ đến cơ sở y tế khi mắc bệnh chiếm 88,3% Phần lớn bà mẹ đồng ý cho trẻ ăn đầy đủ dinh dưỡng chiếm 90,6% Số bà mẹ đồng ý làm sạch mũi bằng giấy thấm sâu kèn chiếm 86,8% Phần lớn bà mẹ đồng ý rằng cần sự hướng dẫn của nhân viên y tế chiếm 96,6%
Trang 36Bảng 3.9 Đánh giá thái độ chung của bà mẹ về NKHHCT
SL(n=385) TL(%) SL(n=385) TL(%) Thái độ chấp nhận những biện
Nhận xét: 100% bà mẹ có thái độ đúng về biện pháp phòng ngừa Số bà mẹ có thái
độ đúng về chọn nơi khám, chữa bệnh chiếm 88,3%, không đúng chiếm 11,7% Số
bà mẹ có thái độ đúng về biện pháp chăm sóc trẻ NKHHCT chiếm 86,0%, không đúng chiếm 14,0%
Nhận xét: Nơi khám bệnh khi trẻ có dấu hiệu NKHHCT được các bà mẹ lựa chọn
nhiều nhất là hiệu thuốc tây chiếm 49,9%, trạm y tế hoặc bệnh viện chiếm 31,4%, đi khám bác sĩ tư chiếm 18,7%