1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thực trạng nhân lực và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng viên tại huyện thanh oai, hà nội năm 2018

111 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGÔ MINH ĐẠT KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NHÂN LỰC VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGÔ MINH ĐẠT

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NHÂN LỰC VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI

HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGÔ MINH ĐẠT

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NHÂN LỰC VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI

HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI NĂM 2018

Chuyên ngành: Điều dưỡng

Mã số chuyên ngành: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS TS TRƯƠNG VIỆT DŨNG

NAM ĐỊNH – 2018

Trang 4

TÓM TẮT

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính được tiến hành tại Bệnh viện huyện, Trung tâm y tế, và các Trạm y tế xã của huyện Thanh Oai với các mục tiêu mô tả thực trạng nhân lực điều dưỡng và khảo sát nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng viên tại bệnh viện huyện, trung tâm y tế và các trạm y tế xã của huyện Thanh Oai, Hà Nội năm 2018

Kết quả nghiên cứu cho thấy huyện Thanh Oai đang trải qua giai đoạn thiếu hụt nguồn nhân lực điều dưỡng rất nhiều so với quy định tại Quyết định Số 153/2006/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch Số 08/2007/TTLT-BYT – BNV

Về nhu cầu được tham gia các lớp đào tạo liên tục của điều dưỡng là rất cao (92%) Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhu cầu đào tạo với giới tính, độ tuổi, bằng cấp (p>0,05) Có mối liên quan giữa cơ quan công tác, thâm niên công tác và thu nhập của ĐDV với nhu cầu đào tạo (p<0,05)

Đề nghị tổ chức các khóa đào tạo liên tục theo chuyên đề cho điều dưỡng cập nhật chuyên môn nghiệp vụ Các khóa đào tạo cho điều dưỡng tuyến cơ sở không nên kéo dài, địa điểm nên gần nhà để tiện cho họ tham gia Cần bố trí kế hoạch và ngân sách cho công tác đào tạo liên tục cho cán bộ điều dưỡng tuyến huyện, xã

Tuy nhiên do hạn chế về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở góc độ người học vì vậy kết quả nghiên cứu chỉ mang tính chất tham khảo cho các nghiên cứu sau này sâu hơn

Từ khóa: nhân lực điều dưỡng, đào tạo liên tục

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình học tập Cao học Điều dưỡng và luận văn này, tôi

đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân Nhân dịp này, tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học điều dưỡng Nam Định đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Trương Việt Dũng – Nguyên Vụ trưởng Vụ khoa học – Đào tạo, Trưởng khoa Khoa học sức khoẻ, Trường Đại học Thăng Long – Người thầy và đồng thời là Lãnh đạo của tôi đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện để tôi được hoàn thành luận văn

Xin chân thành cám ơn các Lãnh đạo và đồng nghiệp tại Bộ môn Điều dưỡng, Trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cám ơn sự giúp đỡ tận tình của Lãnh đạo và Cán bộ y tế đang công tác tại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Oai, Trung tâm y tế huyện Thanh Oai

và các Trạm y tế xã của huyện Thanh Oai, đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin cám ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã chia sẻ khó khăn, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của tôi hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào được công bố trước đó

Hà Nội, tháng 10 năm 2018

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

TÓM TẮT i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Điều dưỡng và thực trạng nhân lực điều dưỡng 6

1.3 Đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng viên 12

1.4 Khung lý thuyết của nghiên cứu 19

1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 22

Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.3 Thiết kế nghiên cứu 23

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 24

2.6 Các biến số nghiên cứu 26

2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá 27

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 29

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31

2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 31

Chương 3 : KẾT QUẢ 33

3.1 Thực trạng nhân lực điều dưỡng viên 33

3.2 Thực trạng về công tác đào tạo liên tục của cán bộ điều dưỡng 51

3.3 Các yếu tố liên quan đến nhu cầu đào tạo của điều dưỡng viên 54

Trang 8

3.4 Mối liên quan đa biến giữa nhu cầu đào tạo liên tục và các yếu tố liên quan

……….58

Chương 4 : BÀN LUẬN 59

4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 59

4.2 Kiến thức điều dưỡng của đối tượng nghiên cứu 61

4.3 Nhiệm vụ thực hành của người điều dưỡng 62

4.4 Nhiệm vụ thực hiện quản lý của người điều dưỡng 65

4.5 Nhiệm vụ tư vấn, giáo dục sức khỏe của người điều dưỡng 66

4.6 Nhiệm vụ thực hiện các kỹ năng của điều dưỡng viên 66

4.7 Nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng viên 67

4.8 Các yếu tố liên quan đến nhu cầu đào tạo của điều dưỡng viên 69

4.9 Những hạn chế của đề tài 72

KẾT LUẬN 73

KHUYẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bản đồng thuận

Phụ lục 2: Phiếu điều tra

Phụ lục 3: Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu

Phụ lục 4: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 9

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

2 CME (Continue medical education) Đào tạo liên tục

10 TNA (Training needs analysis) Đánh giá nhu cầu đào tạo

13 WFME (World Federation for

Medical Education)

Liên đoàn Giáo dục y học Thế giới

14 WHO (World Health Organization) Tổ chức y tế thế giới

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3 2 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3 3 Kiến thức điều dưỡng cơ bản của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3 4 Kiến thức kiểm soát nhiễm khuẩn và chăm sóc toàn diện của ĐD 38

Bảng 3 5 Nhiệm vụ thực hành điều dưỡng cơ bản của người điều dưỡng 40

Bảng 3 6 Nhiệm vụ thực hành chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên 41

Bảng 3 7 Nhiệm vụ chăm sóc ban đầu và dự phòng của điều dưỡng viên 42

Bảng 3 8 Nhiệm vụ quản lý của người điều dưỡng 44

Bảng 3 9 Nhiệm vụ tư vấn, giáo dục sức khỏe của người điều dưỡng 46

Bảng 3 10 Kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng viên 47

Bảng 3 11 Kỹ năng làm việc nhóm và lập kế hoạch của điều dưỡng viên 49

Bảng 3 12 Thực trạng về công tác đào tạo liên tục của cán bộ điều dưỡng 51

Bảng 3 13 Yếu tố liên quan giữa nhu cầu đào tạo với tuổi và giới tính 54

Bảng 3 14 Yếu tố liên quan giữa nhu cầu đào tạo với nơi công tác 54

Bảng 3 15 Yếu tố liên quan giữa nhu cầu đào tạo với thâm niên công tác 55

Bảng 3 16 Yếu tố liên quan giữa nhu cầu đào tạo với trình độ chuyên môn 55

Bảng 3 17 Yếu tố liên quan giữa nhu cầu đào tạo với thu nhập 56

Bảng 3 18 Yếu tố liên quan giữa nhu cầu đào tạo với vị trí công tác và chức trách nhiệm vụ chính 57 Bảng 3 19 Mối liên quan đa biến giữa nhu cầu ĐTLT và các yếu tố liên quan58

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3 1 Thâm niên công tác của điều dưỡng viên 35

Biểu đồ 3 2 Biểu đồ về bằng cấp chuyên môn của điều dưỡng viên 36 Biểu đồ 3 3 Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng 52

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách

ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước

Nghị quyết số 46 – NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo

vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới đã đề ra mục tiêu

“Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[4]

Theo báo cáo tổng kết công tác điều dưỡng của Cục quản lý khám bệnh, chữa bệnh năm 2015 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh trên tổng số nguồn nhân lực y tế

là 42,4% Tỷ lệ điều dưỡng trên bác sĩ là 1,8, tức là thuộc trong những nước có tỷ lệ điều dưỡng trên bác sĩ thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á (Philippine là 5,1, ở Indonesia là 8,0 trong khi ở Thái Lan là 7,0) Từ đó có thể thấy rằng để hội nhập với các quốc gia cùng khu vực thì chúng ta cần cải thiện rất nhiều về nguồn nhân lực điều dưỡng Bên cạnh đó, trong tổng số 120.875 điều dưỡng 92.106 điều dưỡng, hộ sinh

ở trình độ trung học và sơ học cần phải chuẩn hóa Có thể thấy nhu cầu đào tạo liên tục cho đối tượng này cũng đang là một vấn đề thực sự cấp thiết[10]

Xác định được nhu cầu đào tạo (NCĐT) của cán bộ y tế (CBYT) là rất cần thiết bởi không phải chỉ có nhu cầu của bản thân người CBYT mà còn là nhu cầu, trách nhiệm của các nhà quản lý đang sử dụng nguồn nhân lực y tế, xác định NCĐT nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần đào tạo, đối tượng cần đào tạo và hình thức đào tạo cho phù họp [15],[25] Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường về “Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cán bộ điều dưỡng (ĐD) tại 14 trạm y tế (TYT) phường quận Ba Đình Hà Nội, năm 2010” cho thấy sự cần thiết phải xác định nhu cầu ĐTLT của CBYT làm cơ sở cho việc thực hiện ĐTLT phù họp nhằm nâng cao năng lực chuyên

Trang 13

môn của đội ngũ này[12] Ở Việt Nam, ĐD đã được xem là một nghề độc lập trong

hệ thống y tế, cấp bậc, trình độ đã được quy định cụ thể theo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT – BYT – BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015[5] Tuy nhiên trong thực

tế tại các cơ sở y tế, người ĐD thường có đặc thù riêng về công việc mà họ được đảm nhận Do chưa có phân cấp cụ thể phạm vi hành nghề của ĐD theo trình độ đào tạo dẫn đến dù có trình độ đào tạo khác nhau nhưng tại các cơ sở y tế vẫn còn tình trạng

ĐD đại học (ĐDĐH), ĐD Cao đẳng (ĐDCĐ) thực hiện nhiệm vụ như điều dưỡng trung cấp (ĐDTC) [12],[19]

Theo nghiên cứu của Trần Quốc Kham, Đinh Danh Tuân và Phan Quốc Hội năm 2009 cho thấy nhân lực điều dưỡng của tỉnh Điện Biên chủ yếu là ĐDTC, chỉ có 28,6% ĐD tuyến y tế cơ sở trong 2 năm gần đây được đào tạo bồi dưỡng cập nhật kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ Có tới 82,5% ĐDTC ở tuyến cơ sở của tỉnh Điện Biên có nhu cầu được đào tạo liên tục, trong đó cao nhất là nhu cầu về chủ đề điều dưỡng chung, ĐD ngoại khoa và ĐD hồi sức cấp cứu[15] Nghiên cứu này một lần nữa cho thấy rằng ĐTLT cho ĐD đang là vấn đề rất cấp thiết, đặc biệt là tại tuyến y

tế cơ sở

Mặc dù Ban lãnh đạo Huyện Thanh Oai đã chú trọng đến công tác đào tạo liên tục cho cán bộ viên chức, tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế như: chưa sắp xếp được các đối tượng điều dưỡng với trình độ khác nhau thì cần đào tạo những nội dung

và hình thức nào dẫn tới công tác đào tạo chưa đạt kết quả cao và gặp một số khó khăn Mặt khác, chưa có một khảo sát thực tế hay nghiên cứu nào đánh giá về thực trạng nhân lực, năng lực trong thực hiện các chức năng nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng tại huyện Thanh Oai Chính vì vậy để tạo điều kiện cho lãnh đạo Huyện có cái nhìn khách quan về thực trạng nhân lực và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng viên tại địa bàn Huyện từ đó có biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên chúng tôi tiến hành nghiên cứu

“Khảo sát thực trạng nhân lực và nhu cầu đào tạo liên tục của điều đưỡng viên tại

huyện Thanh Oai, Hà Nội năm 2018”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1) Mô tả thực trạng nhân lực điều dưỡng tại bệnh viện huyện, trung tâm y tế và các trạm y tế xã của huyện Thanh Oai, Hà Nội năm 2018

2) Khảo sát nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng viên tại bệnh viện huyện, trung tâm y tế và các trạm y tế xã của huyện Thanh Oai, Hà Nội năm 2018

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

- Điều dưỡng: Có rất nhiều định nghĩa, khái niệm về điều dưỡng, cho đến nay

chưa có sự thống nhất về một định nghĩa chung, dưới đây là một số định nghĩa được

đa số các nước công nhận[1],[27],[35]:

Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ, phục hồi người bệnh (Florent Nightingale,1860)

Điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao, phục hồi sức khỏe của người bệnh hoặc người khỏe hoặc cho cái chết được thanh thản Giúp đỡ mọi người sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt (Viginia Handerson,1960)

Điều dưỡng là chẩn đoán và điều trị để đáp ứng những vấn đề bất thường liên quan đến sức khỏe con người (Hội điều dưỡng Mỹ, 1995) Cho đến nay định nghĩa này được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới[45]

Theo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV của liên Bộ Y tế và Bộ Nội Vụ thì: Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện,

tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế[5]

- Y tế cơ sở: bao gồm Phòng Y tế; Bệnh viện huyện; Trung tâm Dân số kế

hoạch hoá gia đình; Trung tâm y tế quận, huyện, thị xã và TYT phường, xã, thôn bản Y tế cơ sở đảm nhiệm chức năng thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện dịch sớm và phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu và đỡ đẻ thông thường Cung ứng thuốc thiết yếu Lồng ghép các chương trình, mục tiêu, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông – giáo dục sức khoẻ; huy động cộng đồng tích cực thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình Tham gia các hoạt động vệ sinh, phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ, rèn luyện thân thể, tạo ra phong trào toàn dân vì sức khoẻ[12],[16]

- Nhân lực y tế: Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao

gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức

Trang 16

khoẻ”[45],[46] Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y

tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lương y ); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp)

Có hai khái niệm thường được sử dụng khi bàn luận về nguồn nhân lực y

tế Khái niệm Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến cơ chế nhằm phát triển kỹ

năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân và về mặt tổ chức công việc

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến khái niệm quản lý nguồn nhân lực Mục đích

chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý[3],[12],[16]

- Đào tạo liên tục (ĐTLT):không phải là một khái niệm mới tại Việt Nam,

khái niệm này đã xuất hiện trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh và rất nhiều các

văn bản quản lý cũng như những tài liệu hướng dẫn quản lý do Bộ Y tế ban hành

Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn bao gồm đào tạo bồi dưỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và những khoá đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc

hệ thống bằng cấp quốc gia[9] Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education – CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân[9]

Nhu cầu đào tạo: Có rất nhiều định nghĩa về nhu cầu đào tạo nhưng sau

đây có hai định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở để đánh giá nhu cầu đào tạo (NCĐT)[21],[25]:

Trang 17

+ Nhu cầu được định nghĩa là sự chênh lệch giữa các mong muốn, các yêu cầu hay các tiêu chuẩn đặt ra và những thực tế đạt được

+ NCĐT của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay trong công việc

- Đánh giá nhu cầu đào tạo: Có rất nhiều định nghĩa về đánh giá nhu cầu

đào tạo nhưng sau đây có hai định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở cho việc thực hiện đánh giá NCĐT[11],[12],[13]:

+ Đánh giá nhu cầu đào tạo: (Trainning needs analysis) là phương pháp xác định nếu có nhu cầu đào tạo và tồn tại những gì đào tạo là cần thiết để lấp đầy khoảng trống Đánh giá nhu cầu đào tạo (NCĐT) là tìm cách xác định chính xác mức độ của tình hình hiện nay qua các cuộc điều tra mục tiêu, phỏng vấn, quan sát, số liệu thứ cấp hoặc hội thảo Việc tìm hiểu khoảng cách giữa trạng thái hiện tại và trạng thái mong muốn có thể chỉ ra những vấn đề mà lần lượt có thể được dịch thành một nhu cầu đào tạo Đánh giá NCĐT được coi là bước quan trọng đầu tiên mà mỗi cơ sở đào tạo cần thực hiện để đưa ra những chương trình học phù hợp với yêu cầu và thực tiễn công việc hàng ngày[21]

+ Đánh giá NCĐT là quá trình mà bạn phải cố gắng hiểu rõ về người tham gia và năng lực của họ trước khi đào tạo Đánh giá NCĐT quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đến việc thích hay không thích của người học

Nó giúp đánh giá sự chênh lệch giữa các kĩ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với kĩ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải có[21]

1.2 Điều dưỡng và thực trạng nhân lực điều dưỡng

1.2.1 Chức năng nhiệm vụ của người điều dưỡng

1.2.1.1 Phân loại điều dưỡng

Theo thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT – BYT- BNV ngày 07/10/2015 của

Bộ Y tế và Bộ Nội vụ cũng quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng

có trình độ sau đại học như sau[5],[18]:

Điều dưỡng hạng II có nhiệm vụ:

- Chăm sóc người bệnh tại cơ sở y tế:

Trang 18

Khám, nhận định, xác định vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh;

Nhận định tình trạng sức khỏe người bệnh và ra chỉ định chăm sóc, theo dõi phù hợp với người bệnh;

Tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá diễn biến hằng ngày của người bệnh

Tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh;

Tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá việc ghi chép hồ sơ theo quy định;

Tổ chức xây dựng và triển khai thực hiện quy trình chăm sóc người bệnh

- Sơ cứu, cấp cứu:

Tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và tham gia cấp cứu dịch bệnh và thảm họa

- Truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe:

Lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh; Tham gia xây dựng nội dung, chương trình, tài liệu và thực hiện truyền thông,

tư vấn, giáo dục sức khỏe;

Tổ chức đánh giá công tác truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe

- Chăm sóc sức khỏe cộng đồng:

- Bảo vệ và thực hiện quyền của người bệnh:

- Phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị:

- Đào tạo, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp:

Điều dưỡng hạng III có nhiệm vụ

Thực hiện và tham gia việc ghi chép hồ sơ theo quy định;

Tham gia xây dựng và thực hiện quy trình chăm sóc người bệnh

Trang 19

- Sơ cứu, cấp cứu:

Chuẩn bị sẵn sàng thuốc và phương tiện cấp cứu;

Tham gia cấp cứu dịch bệnh và thảm họa

- Truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe

- Chăm sóc sức khỏe cộng đồng:

Truyền thông, giáo dục vệ sinh phòng bệnh tại cơ sở y tế và cộng đồng;

Thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu và các chương trình mục tiêu quốc gia; Thực hiện kỹ thuật chăm sóc điều dưỡng tại nhà: tiêm, truyền, chăm sóc vết thương, chăm sóc người bệnh có dẫn lưu và chăm sóc phục hồi chức năng

- Bảo vệ và thực hiện quyền người bệnh

Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho người bệnh

- Phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị

- Đào tạo, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp

1.2.1.2 Nhiệm vụ chuyên môn:

Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 11 năm 2011 của Bộ Y tế về hướng dẫn công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện có qui định

rõ 12 nhiệm vụ của điều dưỡng như sau[6],[17]:

(1)Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe

(2) Chăm sóc về tinh thần

(3) Chăm sóc vệ sinh cá nhân

(4)Chăm sóc dinh dưỡng

(5) Chăm sóc phục hồi chức năng

(6) Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật

(7) Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh

(8) Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong

(9) Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng

(10) Theo dõi, đánh giá người bệnh

(11) Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh

Trang 20

(12) Ghi chép hồ sơ bệnh án

Theo nghiên cứu của Châu Hồng Ngọc năm 2013 cho thấy tỷ lệ đạt tốt 03 lĩnh vực năng lực và năng lực chung là năng lực thực hành chăm sóc (lĩnh vực I) tỷ lệ đạt tốt: ĐDCĐ là 62,6%; ĐDĐH là 74,7% Năng lực quản lý và phát triển nghề nghiệp (lĩnh vực II) có tỷ lệ đạt tốt: ĐDCĐ là 64,2%, ĐDĐH là 74,7% Thực hành pháp luật

và đạo đức nghề nghiệp (lĩnh vực III) có tỷ lệ đạt tốt: ĐDCĐ là 79,7%, ĐDĐH là 92,2% Năng lực chung (cả 3 lĩnh vực) có tỷ lệ đạt tốt : ĐDCĐ là 67,2% và ĐDĐH

là 79,6% Như vậy có thể thấy rằng mức độ đạt tốt theo 03 lĩnh vực năng lực của ĐDĐH là cao hơn so với ĐDCĐ [2],[19]

1.2.1.3 Chức năng của Điều dưỡng: Gồm 2 chức năng chính:

Chức năng độc lập

Người điều dưỡng cần chủ động trong quá trình thực hiện các kĩ thuật chuyên môn liên quan đến chăm sóc NB trong phạm vi đã qui định Mặt khác , điều dưỡng chủ dộng trong công việc giúp đáp ứng được nhu cầu cơ bản của NB

Chức năng phối hợp

Chức năng này liên quan tới việc thực hiện các y lệnh của thầy thuốc và việc báo cáo tình trạng người bệnh cho thầy thuốc Trong khi thực hiện chức năng này người Điều dưỡng phải hiểu được mình là người cộng tác với thầy thuốc chứ không phải là người trợ giúp cho thầy thuốc như quan điểm trước đây Chức năng phối hợp của người Điều dưỡng bao hàm cả việc người Điều dưỡng cần có sự phối hợp với bạn bè đồng nghiệp (ĐD, Hộ sinh, kỹ thuật viên khác) để hoàn thành công việc của

mình [1],[27],[31]

Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc tại 21 khoa lâm sàng bệnh viện E năm 2013 cho thấy tỷ lệ ĐD có kiến thức “Đạt” cả 03 quy trình tiêm tĩnh mạch, truyền tĩnh mạch và thay băng là 79,1% Tỷ lệ ĐD có kiến thức “Đạt” trong quy trình tiêm tĩnh mạch là 66,4%; truyền tĩnh mạch là 71,6% và thay băng là 85,1% Tỷ lệ điều dưỡng

có thái độ “Đạt” trong quy trình tiêm tĩnh mạch là 72,7%; truyền dịch là 73,2%, và thay băng là 74,2% Như vậy, có thể thấy rằng, tỷ lệ kiến thức “không đạt” chiếm trên 20% và gần 30% là thái độ “không đạt” Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra

Trang 21

những khuyến nghị cho nhà quản lý là cần chú trọng kế hoạch quản lý các quy trình

kỹ thuật, xây dựng kế hoạch đào tạo huấn luyện và giáo dục nhằm thay đổi những hành vi chưa tốt để đảm bảo an toàn người bệnh và nâng cao chất lượng thực hành quy trình kỹ thuật cho điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện[20]

Từ năm 1990 đến nay, ngành Điều dưỡng Việt Nam được sự hỗ trợ của chính phủ và Bộ Y tế đã phát triển nhanh chóng trên các lĩnh vực về quản lý, đào tạo, thực hành và nghiên cứu ĐD Trong xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế, chính phủ đã

ký Thỏa thuận khung về thừa nhận lẫn nhau với 10 quốc gia ASEAN về việc công nhận dịch vụ Điều dưỡng trong khu vực Để tăng cường chất lượng nguồn nhân lực điều dưỡng làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo và sử dụng nhân lực điều dưỡng có hiệu quả và đáp ứng yêu cầu hội nhập của các nước trong khu vực, Bộ

Y tế phối hợp với Hội Điều dưỡng Việt Nam đã xây dựng Bộ Chuẩn năng lực cơ bản của Điều dưỡng Việt Nam với sự hỗ trợ của Hội Điều dưỡng Canada và chuyên gia điều dưỡng của Đại học Kỹ thuật Queensland – Úc Tài liệu này đã được các chuyên gia điều dưỡng trong nước, các nhà quản lý y tế và giáo dục điều dưỡng tham gia biên soạn trên cơ sở tham khảo Tiêu chuẩn năng lực điều dưỡng của các nước trong khu vực và trên thế giới Trên cơ sở kết luận thẩm định của Hội đồng chuyên môn được thành lập theo Quyết định số 3602/QĐ-BYT ngày 04 tháng 10 năm 2011, Bộ Y tế ban hành Bộ Chuẩn năng lực cơ bản của Điều dưỡng Việt Nam để các cơ sở đào tạo,

sử dụng điều dưỡng nghiên cứu áp dụng và để thông tin cho các nước trong khu vực

và Thế giới về chuẩn năng lực điều dưỡng Việt Nam [7],[8] ,[13],[28],[32]

1.2.2 Thực trạng nhân lực điều dưỡng trên thế giới

Thế giới đã bước vào giai đoạn quan trọng đối với nguồn nhân lực vì sức khoẻ

Sự khan hiếm của nhân viên y tế có trình độ, bao gồm điều dưỡng, đang được nhấn mạnh là một trong những trở ngại lớn nhất để đạt được hiệu quả của hệ thống y tế Vào tháng 1 năm 2004, Diễn đàn cấp cao về các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về

y tế (the High Level Forum on the Health Millennium Development Goals - MDGs)

đã báo cáo, "Có một cuộc khủng hoảng nhân lực về chăm sóc sức khoẻ, cần được giải quyết khẩn cấp" (High Level Forum on the Health MDGs, 2004, trang 4) Cũng trong

Trang 22

năm này, tổ chức the Joint Learning Initiative báo cáo rằng "Có sự thiếu hụt nhân lực

y tế trên toàn cầu" (Joint Learning Initiative 2004, trang 3) Năm 2006, Tổ chức Y tế Thế giới đã dành toàn bộ Báo cáo Y tế Thế giới cho những tác động tiêu cực đến sự thiếu hụt nhân lực đối với chăm sóc sức khoẻ toàn cầu[12],[14],[44]

Theo Yoshifumi Nakata, Fumiaki Yasukawa và James Buchan (2008), Nhật Bản

là một trong số các quốc gia có số lượng điều dưỡng lớn nhất trên thế giới, những chính sách và giải pháp đang được áp dụng ở quốc gia này nhằm đối phó với những thách thức từ sự thiếu hụt nhân lực điều dưỡng Kết quả nghiên cứu cho thấy đang có

sự mất cân bằng giữa nguồn cung cấp nhân lực điều dưỡng và nhu cầu sử dụng nhân lực điều dưỡng tại quốc gia này[42]

Theo Buchan (2008), sự thiếu hụt nhân lực điều dưỡng không chỉ là một thách thức về tổ chức hoặc một chủ đề cho phân tích kinh tế; nó có một tác động tiêu cực lớn đến việc chăm sóc sức khoẻ Việc không thể giải quyết được vấn đề thiếu hụt điều dưỡng - có thể là ở cấp địa phương, khu vực, quốc gia hoặc toàn cầu - sẽ dẫn đến việc không duy trì hoặc cải thiện chăm sóc sức khoẻ[33],[34]

Theo nghiên cứu của Nahid Dehghan Nayeri năm 2005, những điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu chỉ ra rằng vấn đề nhân sự là yếu tố quan trọng nhất trong việc thúc đẩy hoặc cản trở năng suất của họ Điều dưỡng viên này cũng cho rằng các yếu

tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các yếu tố nguồn nhân lực bao gồm: đánh giá có hệ thống số nhân viên; một quá trình lựa chọn tốt dựa trên các tiêu chí kiểm chứng; cung cấp đủ nhân lực trong suốt cả năm; sự tham gia đầy đủ của điều dưỡng viên trong quá trình tiếp nhận bệnh nhân; và truyền thông tốt trong đội chăm sóc Chú ý đến các yếu

tố này tạo ra một nền tảng thích hợp cho việc nâng cao năng suất và giảm các tác động tiêu cực của sự thiếu hụt nguồn nhân lực, trong khi bỏ qua hoặc làm gián đoạn chúng

sẽ làm giảm năng suất của điều dưỡng[41]

Theo nghiên cứu của Lammitakanen và cộng sự (2008) thì tại Mỹ có tỷ lệ điều dưỡng trên 1000 dân là 10/1000, đồng thời cũng cho rằng cần phải có biện pháp để cải thiện sự thiếu hụt điều dưỡng Cũng vậy, các quốc gia ở Châu Phi và Châu Á có

tỷ lệ điều dưỡng trên 1000 dân được báo cáo là: ít hơn 0,5 điều dưỡng trên 1000 dân

Trang 23

số Rõ ràng, vấn đề xác định, đo lường và giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực chăm sóc cần phải tính đến sự khác biệt rất lớn trong kỹ năng chăm sóc hiện tại ở các quốc gia, các ngành và khu vực khác nhau Tuy nhiên, bất kể nguồn lực sẵn có, bằng chứng cho thấy rằng có một tập hợp các vấn đề và phương pháp chung mà các nhà hoạch định chính sách cần tập trung nhằm tối đa hoá tác động của các can thiệp nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt [39]

1.2.3 Thực trạng nhân lực điều dưỡng tại Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Y tế, số lượng nhân lực y tế đã tăng lên nhiều qua các năm qua, đặc biệt là số điều dưỡng và nữ hộ sinh Hiện nay số nhân lực y tế trên 10.000 dân của Việt Nam được xếp vào nhóm những nước có tỷ lệ cao, tăng từ 29,2 năm 2001 lên 35,1 năm 2009 Có 100% số xã và 90% số thôn bản đã có nhân viên y

tế hoạt động, 80% số xã có bác sỹ hoạt động vào năm 2010 (bao gồm cả 10% số bác

sỹ thuộc phòng khám đa khoa khu vực và bác sỹ tăng cường từ tuyến huyện) [10],[22]

Mạng lưới các trường đào tạo nhân lực y tế đã được mở rộng Cả nước có 21

trường/khoa đại học y, dược công lập (17 trường thuộc dân sự, 1 trường thuộc quân đội) và 3 trường/khoa y đại học tư thục Hầu hết các tỉnh đều có trường trung cấp hoặc cao đẳng y tế

Theo nghiên cứu của Trần Quốc Kham và cộng sự năm 2009, nhân lực điều dưỡng trung cấp tuyến cơ sở tỉnh Điện Biên có sự chênh lệch giữa nam và nữ (55,38%

so với 44,62%) và phần lớn điều dưỡng viên trung cấp là người dân tộc thiểu số (63,49%), độ tuổi dưới 30 tuổi (76,98%), mới tốt nghiệp điều dưỡng: có thâm niên dưới 1 năm chiếm 32,54% và thâm niên từ 1- 5 năm chiếm 48,41% Cũng theo nghiên cứu này, nhân lực điều dưỡng chủ yếu của tuyến cơ sở có trình độ trung cấp (98,84%) Đồng thời nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ lên đại học, cao đẳng của điều dưỡng trung cấp là 92,86%[15]

1.3 Đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng viên

1.3.1 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế trên thế giới

ĐTLT trong ngành y tế là một hoạt động không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng quyết định năng lực, trình độ nghề nghiệp của nhân viên y tế Trong đó, ĐTLT

Trang 24

cho cán bộ y tế nói chung và cho đội ngũ điều dưỡng nói riêng là một trong những hoạt động nhằm củng cố lại kiến thức, kĩ năng thực hành nghề nghiệp để tránh nguy

cơ lỗi thời về yêu cầu công việc đồng thời cập nhật những kiến thức và tiến bộ mới trong lĩnh vực khoa học chăm sóc sức khỏe con người và nâng cao thực hành chuẩn năng lực điều dưỡng Công tác ĐTLT và việc người thầy thuốc phải học tập suốt đời ngày càng trở nên quan trọng nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng trong hệ thống chăm sóc y tế Chính vì vậy, Liên đoàn Giáo dục y học Thế giới (World Federation for Medical Education-WFME) với tư cách là tổ chức quốc tế đại diện cho tất cả các

cơ sở đào tạo y học đã khởi xướng các phương pháp học tập mới, các công cụ hướng dẫn mới và đổi mới quản lý giáo dục y học Năm 1988, với sự phối hợp của Tổ chức

y tế thế giới(WHO), WFME đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học với mục tiêu chung là cung cấp được một số chính sách cho việc nâng cao chất lượng trong giáo dục y học, trong phạm vi toàn cầu để áp dụng cho tất cả các nước trên thế giới Bộ tiêu chuẩn quốc tế của WHO và WFME gồm có ba tập bao gồm cả ba giai đoạn của quá trình đào tạo y học là: Giáo dục y học cơ bản, Giáo dục y học sau đại học và ĐTLT/Phát triển nghề nghiệp liên tục Bộ tiêu chuẩn quốc tế này đã được đưa

ra Hội nghị toàn cầu về giáo dục y học tại Cophenhaghen (2003) và đã được chính thức thông qua, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và sử dụng tại nhiều nước[14],[15],[45],[46]

Theo nghiên cứu tổng quan của Mbemba Gisèle và cộng sự năm 2013, một trong

số các phương pháp can thiệp nhằm khuyến khích các điều dưỡng trẻ và làm việc ở các vùng xa xôi bao gồm bốn hình thức: đào tạo liên tục và can thiệp phát triển nghề nghiệp, can thiệp pháp lý, ưu đãi tài chính và hỗ trợ cá nhân và nghề nghiệp Cần có thêm kiến thức về hiệu quả của các chiến lược cụ thể để giải quyết các yếu tố được biết là góp phần đảm bảo nguồn nhân lực điều dưỡng ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa Để đảm bảo việc truyền đạt kiến thức, các chiến lược lưu giữ phải được đánh giá một cách chặt chẽ bằng cách sử dụng các thiết kế phù hợp[37]

Tại các nước Châu Âu, nơi có nền y học phát triển, một cuộc khảo sát trên

18 quốc gia đã minh họa sự đa dạng của các hệ thống CME Hà Lan có một hệ

Trang 25

thống tái chứng nhận theo luật định, nhưng một số quốc gia khác bao gồm cả Anh

và Ireland CBYT được phân loại và xem xét để giới thiệu đào tạo lại bắt buộc hoặc tái cấp chứng nhận hành nghề Các nước khác nhau có cách tính chu kỳ đào tạo khác nhau, cứ hai năm, ba năm hoặc năm năm, và số tín chỉ yêu cầu dao động

từ 50 đến 100 [39]

1.3.2 Đào tạo liên tục cán bộ y tế tại Việt Nam

Việc cập nhật thường xuyên, liên tục những kiến thức mới, kĩ thuật và tiến bộ mới của nền y học giúp cho bản thân người CBYT nói chung và đội ngũ ĐD nói riêng

là rất quan trọng nhằm hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn, đồng thời đây cũng là nhiệm vụ bắt buộc đối với người hành nghề y tế, nghề đặc trưng gắn liền với tính mạng, sức khỏe của con người

Ở nước ta, công tác ĐTLT nhân lực y tế đã được triển khai và thường gọi

là bổ túc cán bộ, thông qua các hình thức ban đầu như tập huấn chuyên môn, chỉ đạo tuyến, hội thảo, hội nghị, giao ban chuyên môn của khoa, của bệnh viện….Vào những năm 1960 Bộ Y tế đã quan tâm mở các lớp học ngắn hạn về chuyên môn và quản lý tại trường bổ túc cán bộ y tế trung ương Các lớp ngắn hạn được tổ chức song song với đào tạo mới cán bộ y tế, nhưng số lượng còn hạn chế Những năm 1980 do có khó khăn về kinh tế nên công tác bổ túc cán bộ y tế không được coi trọng và nhiều khi bị lãng quên, trong các kế hoạch đào tạo chính thức của ngành thường không đề cập đến vấn đề này[21],[25]

Khái niệm Đào tạo liên tục cán bộ y tế bắt đầu được đưa vào ngành và được

tổ chức có hệ thống từ những năm 1990 dưới sự giúp đỡ của Dự án Hỗ trợ đào tạo nhân lực cán bộ Y tế (Training System Support Area – TSSA hay còn gọi là

Dự án 03/SIDA Thụy Điển)

Nghị quyết 46/NQ-TƯ của Bộ chính trị (2005) đã chỉ rõ” Nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”, đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, nêu bật tính đặc thù trong đào tạo, sử dụng nhân lực y tế Hơn 10 năm qua, Chính phủ đã ban hành rất nhiều những chính sách liên quan đến đào tạo,sử dụng, đãi ngộ CBYT như: Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg về “Chương

Trang 26

trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TW[23] Luật Khám chữa bệnh đã qui định nghĩa vụ học tập của Bác sĩ, điều dưỡng, kĩ thuật viên hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và qui định những người không tham gia cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong 2 năm sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề Trước đây, Bộ Y

tế đã ban hành thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28 tháng 05 năm 2008 về Hướng dẫn công tác ĐTLT đối với CBYT Thông tư này qui định tất cả các CBYT đang hoạt động trong lĩnh vự y tế của Việt Nam phải được đào tạo, câp nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình Tuy nhiên, công tác ĐTLT cho nhân lực ngành y tế triển khai còn chậm, chưa hiệu quả, thụ động, trông chờ các chính sách hỗ trợ từ Bộ y tế và các dự án trong và ngoài nước, nên hiệu quả của ĐTLT chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu như mong muốn Nhận thấy được những hạn chế tồn tại trong công tác ĐTLT, đồng thời để phù hợp với Luật Khám bệnh, chữa bệnh và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành thông

tư 22/2013/TT-BYT về hướng dẫn ĐTLT cho CBYT Theo đó, Thông tư quy định rõ CBYT đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh

có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp Cán

bộ y tế thuộc các đối tượng còn lại có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu

120 tiết học trong 5 năm liên tiếp, trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết học Cán bộ y

tế tham gia các hình thức đào tạo liên tục khác nhau được cộng dồn để tính thời gian đào tạo liên tục[9]

Năm 2014 Bộ Y tế đã phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới để xuất bản tài liệu hướng dẫn về công tác quản lý đào tạo liên tục cán bộ y tế, tài liệu hướng dẫn công tác đảm bảo chất lượng đối với cơ sảo đào tạo cán bộ y tế Đây là những nội dung hướng dẫn cụ thể cho công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế

Theo Bộ y tế đến nay Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống đào tạo liên tục nhưng chưa hoàn chỉnh Những chế độ, chính sách còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ khiến cho việc triển khai thực hiện ĐTLT gặp nhiều khó khăn Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của ngành y tế Công tác triển khai ĐTLT theo hướng

Trang 27

dẫn của Bộ Y tế tại các tỉnh thành trong cả nước hiện nay vẫn còn nhiều bất cấp, chưa đồng bộ, công tác báo cáo chưa đầy đủ, chưa có đánh giá cụ thể về hiệu quả của công tác đào tạo liên tục CBYT tại các tỉnh theo hướng dẫn của Bộ Y tế Thực

tế cho thấy, CBYT được đào tạo tại chỗ sát với nhu cầu công việc hàng ngày hiệu quả hơn là về các trường để học tập Chính vì vậy, hiện nay, Bộ y tế đã giao cho các Sở y tế, các đơn vị trung ương cùng với các trường phải tham gia tổ chức công tác ĐTLT cho CBYT Hệ thống cơ sở ĐTLT trong cả nước cũng được mở rộng qui mô hơn [14],[15],[25],[32]

1.3.3.Đánh giá nhu cầu đào tạo cho điều dưỡng viên trên thế giới

Hiện nay ngành ĐD trên Thế giới được xếp vào một ngành nghề riêng biệt, ngang bằng các ngành nghề khác Có nhiều trường đào tạo ĐD với các trình độ khác nhau: trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Ở một số nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Úc và một số nước tiên tiến ừong khu vực như Thái Lan, Malayxia, Hàn Quốc, việc đào tạo ĐD đã đi vào nề nếp, có hệ thống, ổn định về quy mô đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy đạt chuẩn chất lượng Xây dựng chương trình đào tạo ĐD theo tín chỉ và dựa trên năng lực Đây là cách xây dựng bền vững cho một hệ thống đào tạo lâu dài Tuy nhiên các nước này đang gặp phải vấn đề, đó là thiếu sinh viên theo học tức là sẽ thiếu những ĐD viên tương lai Trong khi tình trạng dân số già đi nhanh chóng, những bệnh mạn tính, ung thư tăng cao đòi hỏi phải có lực lượng CBYT chăm sóc thường xuyên Chính vì thế việc nhập khẩu các ĐD viên là vấn đề bắt buộc

để giải quyết tình trạng thiếu hụt này Nhiều nước như Mỹ, Canada, Anh, Nhật Bản khi mở ra các cơ sở y tế không có ĐD để tuyển, vì vậy các nước này đưa ra chính sách thu hút về lương và gia hạn thị thực để tuyển ĐD viên có trình độ tại các quốc gia đang phát triển Do vậy việc ĐTLT càng được các nước phát triển nhập khẩu ĐD chú ý dựa trên xác định nhu cầu của họ để đảm bảo chất lượng chăm sóc ĐD theo chuẩn của các quốc gia này

Nghiên cứu của tác giả Lyn Dyson và cộng sự năm 2009 với 563 ĐD viên và

101 ĐD viên chính/cao cấp về đánh giá nhu cầu ĐTLT của các ĐD tại bộ phận chăm sóc bệnh cấp tính của hai bệnh viện ở khu vực thành thị ở New Zealand Kết quả

Trang 28

nghiên cứu đã tìm thấy sự đồng nhất về một số nhu cầu học tập qua phản hồi của 2 nhóm ĐD đó là các ĐD đều thể hiện NCĐT cao hơn về các hoạt động chăm sóc bệnh nhân trực tiếp so với nội dung về làm việc nhóm và các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp khác như thiết lập mối quan hệ với bệnh nhân, kỹ năng đánh giá về các yếu tố liên quan đến lối sống và sức khỏe gia đình Tuy nhiên nghiên cứu cũng ghi nhận một số sự khác biệt về NCĐT của các nhóm ĐD khác nhau qua phản hồi của các ĐD viên và ĐD viên chính Nghiên cứu đưa ra kết luận là bên cạnh việc đáp ứng các NCĐT cao về một số lĩnh vực của ĐD nói chung, những người làm quản lý và đào tạo cũng cần chú ý để xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập liên tục đặc thù của các nhóm ĐD khác nhau[36]

Tác giả Chunping Ni và cộng sự năm 2010 đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên 2.727 ĐD tại 10 bệnh viện ở Trung Quốc, nghiên cứu cho thấy đa số các ĐD (97,3%) đã tham dự các chương trình ĐTLT trong 12 tháng gần đây; trên 92,2% ĐD

đã biết về ý nghĩa của ĐTLT Các ĐD mong muốn tham gia các hoạt động ĐTLT diễn ra trong thời gian 05 ngày và mỗi hoạt động chỉ diễn ra trong khoảng 02 giờ Các yếu tố chính thúc đẩy ĐD tham gia ĐTLT là mong muốn đạt được và cập nhật kiến thức ĐD mới nhất, nâng cao kỹ năng thực hành của họ cũng như chất lượng công việc để duy trì chuyên môn nghiệp vụ và có được các chứng chỉ đào tạo Các yếu tố cản trở sự tham gia của ĐD trong ĐTLT bao gồm: thời gian, cam kết công việc, thiếu

cơ hội, chi phí của các khóa học và sự thiếu hụt kinh nghiệm trước đó ĐD Trung Quốc coi ĐTLT là một biện pháp cực kỳ quan trọng để phát triển hơn nữa năng lực chuyên môn của họ[43]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Mei Chan Chong và cộng sự (năm 2013) nhằm

mô tả thực hành của ĐD tại thời điểm điều tra và nhu cầu ĐTLT nói chung trong tương lai được tiến hành ừên 792 ĐD ở các bệnh viện công và các phòng khám của Malaysia qua phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn Bảng hỏi tự điền đã được

sử dụng để thu thập số liệu Kết quả nghiên cứu chỉ rõ có 80% (562) ĐD đã tham gia vào hoạt động ĐTLT trong 12 tháng qua; hội thảo là hoạt động ĐTLT phổ biến nhất chiếm 43,6% ĐD trong nghiên cứu đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động ĐTLT đối với sự phát triển nghề nghiệp của họ ĐTLT bắt buộc là giải pháp để đảm

Trang 29

bảo rằng các ĐD nâng cao kiến thức và kỹ năng của họ Tuy nhiên, nghiên cứu cũng khuyến cáo rằng, những người hoạch định chính sách và những nhà quản lý ĐD trong lĩnh vực ĐTLT của các cơ sở chăm sóc sức khỏe nên lập kế hoạch để các hoạt động ĐTLT đáp ứng được nhu cầu của ĐD chứ không đơn giản chỉ dựa trên yêu cầu đào tạo của tổ chức[40]

1.3.4 Đánh giá nhu cầu đào tạo cho điều dưỡng viên tại Việt Nam

Ngày nay, NCĐT của CBYT là rất quan trọng và cần thiết Nó không chỉ đơn thuần là nhu cầu của bản thân người CBYT mà nó có là nhu cầu, trách nhiệm, nguyện vọng của các cơ quan, tổ chức hay các nhân sử dụng nguồn nhân lực Trong đó, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế là một trong những vấn đề quan trọng, cần được quan tâm trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào Kết quả là người học có thể đáp ứng được các yêu cầu chuyên môn gắn với nhu cầu xã hội Chính các nhu cầu xã hội ấy sẽ quay trở lại định hướng và xây dựng những chuẩn đào tạo, năng lực mong muốn của ngành nghề đó [22],[10],[21]

Đánh giá nhu cầu đào tạo là phương pháp xác định nếu có nhu cầu đào tạo

và tồn tại, những gì đào tạo là cần thiết để lấp đầy khoảng trống Đánh giá nhu cầu đào tạo tìm cách xác định chính xác mức độ của tình hình hiện nay trong các cuộc điều tra mục tiêu, phỏng vấn, quan sát, số liệu thứ cấp hoặc hội thảo Khoảng cách giữa các trạng thái hiện tại và trạng thái mong muốn có thể chỉ ra những vấn

đề mà lần lượt có thể được dịch thành nhu cầu đào tạo[11],[12],[14],[26]

Theo nghiên cứu của Phan Văn Tường và Chu Huyền Xiêm năm 2013 về đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý bệnh viện cho các cán bộ quản lý của bệnh viện tuyến huyện của các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Nam thì có trên 50% cán bộ

từ cấp trưởng/phó Khoa phòng trở lên chưa có bằng quản lý hoặc chứng chỉ về quản lý bệnh viện Có 95% đối tượng có nhu cầu đào tạo để nâng cao kiến thức

về quản lý Tỉ lệ các lĩnh vực quản lý bệnh viện được đánh giá ở mức khá và tốt vẫn còn thấp, dưới 50% Những kiến thức và kỹ năng về một số lĩnh vực quản lý bệnh viện của đối tượng vẫn còn ở mức trung bình, và hiện còn một khoảng cách khá lớn so với mức độ cần thiết đối với yêu cầu công việc Thời gian đào tạo phù

Trang 30

hợp là từ 2 – 4 tuần Hình thức đào tạo phù hợp là tập huấn thực tế tại bệnh viện

có năng lực QL tốt (58,8%) và đào tạo tại cơ sở đào tạo lớn (26,3%)[30]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thoảng năm 2016 cho thấy có 02 tiêu

chuẩn đạt kết quả cao nhất là dùng thuốc đảm bảo an toàn hiệu quả (93%) và tiến hành các kỹ thuật chăm sóc đúng quy trình (91%) Ngược lại, có 02 tiêu chuẩn được đánh giá là thấp nhất là: Thiết lập mối quan hệ tốt với người bệnh, gia đình

và đồng nghiệp và tiêu chuẩn giao tiếp hiệu quả với người bệnh và gia đình người bệnh đạt 54% Có mối liên quan giữa năng lực thực hành chăm sóc của điều dưỡng với việc tham gia đào tạo liên tục (p<0,05)[24]

1.4 Khung lý thuyết của nghiên cứu

Trang 31

KHUNG LÝ THUYẾT

Trang 32

Khung lý thuyết trên đây mô tả quá trình đánh giá vị trí việc làm, mức độ

thực hiện nhiệm vụ và NCĐT của ĐD dựa trên việc thu thập thông tin từ các bên: lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa/phòng liên quan và quan trọng nhất là bản thân các ĐD tự đánh giá để phân tích và xác định khoảng cách hoặc sự khác biệt giữa các thức tổ chức, các quy định về nhiệm vụ của ĐD phải thực hiện và đối chiếu xem thực

tế nhiệm vụ nào người ĐD chưa thực hiện được/thực hiện chưa hiệu quả trong công tác CSNB tại bệnh viện Ngoài ra còn dựa trên những mong muốn thực sự của họ về việc học tập liên tục để đáp ứng đúng nhu cầu cần phải học Từ đó xác định được NCĐT và đưa ra được những định hướng quan trọng cho công tác ĐTLT, bao gồm: đối tượng đào tạo theo trình độ, nội dung đào tạo theo các nhóm đối tượng, các lĩnh vực cần ưu tiên đào tạo, các hình thức đào tạo, cách thức tổ chức đào tạo và đội ngũ giảng viên phù họp với đối tượng là ĐD của bệnh viện bệnh viện huyện, TTYT huyện

và các TYT xã

Trang 33

1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

1.5.1 Bệnh viện Huyện Thanh Oai

Bệnh viện Đa khoa Thanh Oai được xây dựng năm 1980 trên tổng diện tích 22.498 m2, là bệnh viện hạng III, với 16 khoa, phòng và 197 cán bộ, nhân viên trong

đó có 46 bác sỹ và 90 điều dưỡng Bệnh viện có nhiệm vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên toàn huyện Thanh Oai, và một số vùng lân cận Bệnh viện biên chế 200 giường bệnh với số người đến điều trị trong 6 tháng đầu năm 2017 vào khoảng 5000 người Bệnh Viện có 04 phòng chức năng là : Phòng Kế Toán Tài

Vụ, Phòng Tổ Chức Hành Chính, Phòng Kế Hoạch, Phòng Điều Dưỡng

1.5.2 TTYT huyện và các TYT xã

TTYT huyện quản lý 21 TYT, 1 phòng khám đa khoa khu vực Ngoài việc làm công tác khám chữa bệnh, Trung tâm Y tế và các TYT xã còn có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động y tế như tiêm chủng mở rộng, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm Tổng số hộ dân là 51 792 hộ trên toàn huyện (tính theo đầu nóc nhà, không phải theo hành chính quản lý) trong khi tổng số điều dưỡng của TTYT huyện và trạm y tế xã là

40 điều dưỡng viên Ở tuyến trung tâm y tế chưa có điều trị nội trú, mới chỉ có điều trị ngoại trú Các chăm sóc điều dưỡng chủ yếu thực hiện khi bệnh nhân nằm lưu theo dõi, đẻ, truyền dịch, thay băng, chăm sóc vết thương

Trung tâm Y tế dự phòng huyện có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm

vụ chuyên môn kỹ thuật về y tế dự phòng, phòng, chống HIV/AIDS, phòng, chống bệnh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và truyền thông giáo dục sức khoẻ trên địa bàn huyện

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cán bộ điều dưỡng tại Bệnh viện huyện, TTYT huyện và TYT xã của huyện

Thanh Oai, Hà Nội

- Lãnh đạo bệnh viện, TTYT và TYT xã

- Sổ sách, báo cáo thường niên của Bệnh viện và TTYT huyện

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Cán bộ điều dưỡng đang công tác tại bệnh viện huyện, TTYT huyện và TYT

xã trong thời gian nghiên cứu

- Giám đốc bệnh viện huyện, Trưởng phòng Điều dưỡng bệnh viện huyện, Giám đốc TTYT huyện và Trạm trưởng TYT của một số TYT xã của huyện Thanh Oai, Hà Nội

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Những đối tượng không làm việc tại địa điểm nghiên cứu trong tháng 12/2017

- 5/2018

- Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian tiến hành: từ tháng 12/2017 đến tháng 6/2018;

- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành ở tại bệnh viện huyện, TTYT

huyện và các TYT xã của huyện Thanh Oai, Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

NC mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng

- Cỡ mẫu: 130 điều dưỡng

Trang 35

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện toàn bộ 130 điều dưỡng đang

công tác tại bệnh viện huyện, TTYT huyện và các TYT xã của huyện Thanh Oai, Hà Nội

- Trong quá trình thu thập số liệu có 4 điều dưỡng không tham gia nghiên cứu

do nghỉ thai sản Có 126 điều dưỡng tham gia trả lời bộ câu hỏi, nhưng có 1

bộ trả lời có khuyết thiếu số liệu nhiều nên bị loại

- Cỡ mẫu cuối cùng đưa vào xử lý số liệu là 125

2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính

- Cỡ mẫu: 10 lãnh đạo và quản lý tại bệnh viện huyện, TTYT huyện và TYT xã

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích bằng cách mời Giám đốc bệnh

viện huyện, Trưởng phòng Điều dưỡng bệnh viện, Giám đốc TTYT huyện và 07 Trạm trưởng TYT xã tham gia phỏng vấn sâu

- Chọn 07 Trạm trưởng bằng cách: sắp xếp danh sách 21 TYT xã thành 7 nhóm

(mỗi nhóm có 3 xã) Mỗi nhóm được sắp xếp tương đồng về khoảng cách từ TYT xã đến TTYT và Bệnh viện huyện từ gần nhất đến xa nhất Bốc ngẫu nhiên mỗi nhóm 1 xã để phỏng vấn sâu Trạm trưởng

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

- Phỏng vấn điều dưỡng viên bằng bộ câu hỏi (phụ lục II) để thu thập thông tin

chung về thực trạng nhân lực điều dưỡng, vị trí việc làm (khả năng thực hiện nhiệm vụ) và phân tích nhu cầu đào tạo của tất cả điều dưỡng thuộc bệnh viện huyện, TTYT huyện và TYT xã của huyện Thanh Oai

- Phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện huyện, TTYT huyện và Trạm trưởng các

đơn vị trực thuộc (phụ lục III) nhằm có những đánh giá dưới góc độ người lãnh đạo

về việc đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ chuyên môn (tay nghề) của điều dưỡng viên

2.5.1 Thu thập số liệu định lượng

Bước 1: Tập huấn thu thập số liệu

- Đối tượng tập huấn: Tổng số 10 người gồm:

 Cán bộ giám sát: Là nghiên cứu viên trực tiếp giám sát

Trang 36

 Điều tra viên: 10 điều tra viên, 3 người được chọn là cán bộ y tế TTYT huyện Thanh Oai, 3 người của bệnh viện huyện Thanh oai, 3 sinh viên chính quy năm thứ 4 Đại học Thăng Long đang thực tập cộng đồng tại huyện Thanh Oai và nghiên cứu viên

- Nội dung tập huấn:

 Mục đích cuộc điều tra

 Phương pháp thu thập số liệu theo mẫu và cách tiến hành

 Kỹ năng phỏng vấn

- Thời gian, địa điểm: 01 buổi, tại TTYT huyện Thanh Oai

- Giảng viên: Nghiên cứu viên

Bước 2: Thực hiện điều tra, giám sát

- Chuẩn bị: Sau khi tập huấn, nghiên cứu viên liên hệ với Giám đốc bệnh viện, Giám đốc TTYT huyện và các trạm trưởng để nhận danh sách cán bộ điều dưỡng, trao đổi kế hoạch làm việc

- Nhân lực: 06 người

- Cán bộ tham gia nghiên cứu là người có khả năng giao tiếp tốt, được tập huấn

kỹ về nội dung thông tin điều tra

 Điều tra viên: Lựa chọn 09 điều tra viên, điều tra viên được chọn từ những

cán bộ của bệnh viện Huyện (03 người), từ TTYT huyện (03 người) và 03 sinh viên điều dưỡng chính quy đang thực tập cộng đồng tại địa điểm nghiên cứu, những điều tra viên cần đạt những tiêu chuẩn sau: Có khả năng giao tiếp tốt, sắp xếp được thời gian công tác tham gia nghiên cứu, bắt buộc phải tham dự lớp tập huấn điều tra do

nghiên cứu viên tổ chức và điều tra thử tại thực địa

 Giám sát viên: Giám sát viên chính là nghiên cứu viên

- Tiến hành điều tra: Điều tra viên nhận biểu mẫu và kế hoạch điều tra Giám sát viên trực tiếp đi cùng các điều tra viên, quan sát phỏng vấn 03 đối tượng để hỗ trợ kịp thời những thiếu sót trong quá trình điều tra

Bước 3: Thu thập phiếu điều tra định lượng:

Trang 37

Xin ý kiến lãnh đạo Bệnh viện Huyện và Trung tâm y tế huyện để tiến hành thực hiện việc thu thập số liệu định lượng

Đối với điều dưỡng tại phòng khám của TTYT và các TYT xã: tiến hành phỏng vấn thu thập số liệu vào các ngày giao ban chuyên đề điều dưỡng, hoặc các buổi tập huấn tại TTYT huyện

Đối với điều dưỡng tại bệnh viện: xin danh sách điều dưỡng từ phòng Kế hoạch nghiệp vụ Sau đó thực hiện phỏng vấn điều dưỡng theo từng khoa lâm sàng của bệnh viện

Sau mỗi ngày điều tra điều tra viên tập hợp cho nghiên cứu viên, nghiên cứu viên kiểm tra phiếu điều tra về số lượng, chất lượng bộ câu hỏi và kiểm tra xác suất một số đối tượng, nếu không đạt yêu cầu thì điều tra lại

2.6 Các biến số nghiên cứu

Mục tiêu 1:

Số lượng, tuổi, giới, trình độ văn hoá, bằng cấp của đối tượng ĐD

Số lượng và tỷ lệ ĐD trên 1000 dân, số lượng và tỷ lệ ĐD/ Bác sĩ

Số lượng và tỷ lệ ĐD có kiến thức theo nhiệm vụ đã được đào tạo đạt

Trang 38

Những công việc thực hiện hàng ngày đã được đào tạo liên tục

Mục tiêu 2:

Số lượng, danh sách và nội dung các chương trình đào tạo liên tục cho đội ngũ

ĐD trong 3 năm và 1 năm gần đây

Hình thức và nội dung các chương trình đào tạo liên tục cho đội ngũ ĐD gần đây

3 lĩnh vực ưu tiên nhất cần đào tạo liên tục trong 5 lĩnh vực đưa ra

Nội dung, hình thức đào tạo, cách thức tổ chức các lớp đào tạo liên tục

Ưu nhược điểm của các chương trình đào tạo liên tục cho đội ngũ ĐD hiện nay

và các khuyến nghị về đổi mới chương trình đào tạo liên tục

Nhu cầu đào tạo liên tục là chủ quan (do bản thân điều dưỡng viên cảm thấy cần nâng cao chuyên môn, cập nhật kiến thức) hay nhu cầu khách quan (do yêu cầu của cấp trên, do quy định chức năng, nhiệm vụ của người điều dưỡng)

2.7 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá

2.7.1 Công cụ điều tra định lượng

Gồm 03 bộ công cụ:

Bộ công cụ số 1 được xây đựng để phân tích đặc điểm nhân khẩu học, và tình

trạng nhân lực điều dưỡng tại địa điểm nghiên cứu

Bộ công cụ số 2 đã được phát triển từ bộ công cụ của tác giả Nguyễn Việt Cường

để phù hợp với đối tượng nghiên cứu bao gồm cả bệnh viện huyện, TTYT huyện và các TYT Bộ công cụ này đánh giá về việc thực hiện các nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện công việc của người điều dưỡng dựa trên chương trình học Đồng thời

tìm hiểu nhu cầu đào tạo của điều dưỡng viên

Bộ công cụ số 3 là bộ công cụ được tham khảo từ Ban quản lý Dự án giáo dục

và đào tạo nhân lực y tế phục vụ cải cách hệ thống y tế - Bộ Y tế Bộ công cụ này đánh giá kiến thức, thực hành và kỹ năng của người điều dưỡng trong một số tình

huống cụ thể gắn liền với y tế cơ sở

Trang 39

Các biến số nghiên cứu đánh giá kiến thức, thực hành, thái độ của ĐD dựa trên Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam, ban hành kèm theo Quyết định số 1352/BYT ngày 21 tháng 04 năm 2012 của Bộ Y tế

Để đánh giá về kiến thức của điều dưỡng viên khi thực hiện các nhiệm vụ của người điều dưỡng, với bộ câu hỏi đánh giá kiến thức gồm 10 câu chúng tôi thực hiện qua các bước sau:

- Bước 1, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai được 0 điểm

- Bước 2, tính tổng số điểm của mỗi đối tượng

- Bước 3, tính điểm trung bình của tất cả đối tượng

- Bước 4, Đối tượng nào có điểm số lớn hơn điểm trung bình thì được coi là

“Đúng”, đối tượng nào có tổng số điểm bằng hoặc nhỏ hơn số điểm trung bình thì coi

là “Sai”

Để đánh giá về thực hành khi thực hiện các nhiệm vụ, chúng tôi chia làm 2 mức:

- Những nhiệm vụ nào ít được thực hiện hoặc không thực hiện thì được xếp vào nhóm “không thực hành”

- Những nhiệm vụ nào được thực hiện thường xuyên thì được xếp vào nhóm

- Nhu cầu đào tạo chủ quan được tìm hiểu chủ yếu qua câu hỏi bản thân đối tượng nghiên cứu có nhu cầu được đào tạo để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ hay không?

- Nhu cầu đào tạo khách quan được tìm hiểu thông qua

Trang 40

+ Kết quả đánh giá kiến thức, thực hành của điều dưỡng viên Những kiến thức, kỹ năng nào còn thiếu thì đó là một phần của nhu cầu đào tạo

+ Kết quả phỏng vấn sâu lãnh về mong đợi đối với điều dưỡng viên

2.7.2 Công cụ điều tra định tính

Bộ công cụ điều tra định tính được xây dựng nhằm hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, TTYT huyện và trạm trưởng TYT xã

Sử dụng bộ công cụ này thử nghiệm tại TYT phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội để phỏng vấn 01 Trạm trưởng trạm y tế phường và sau đó chỉnh sửa nội

dung

Được xây dựng dựa trên nội dung cần thu thập, quá trình thu thập thông tin có

thể điều chỉnh cho phù hợp với thực tế, bao gồm các bảng phỏng vấn riêng cho các

đối tượng khác nhau.(Phụ lục 3)

Sử dụng bộ công cụ này thử nghiệm tại TYT phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội để phỏng vấn 01 Trạm trưởng trạm y tế phường và sau đó chỉnh sửa nội

Các biến đo lường yếu tố cá nhân: Được mô tả qua các biến như giới, tuổi,

bằng cấp, thu nhập hàng tháng, thâm niên công tác…

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Thị Bình (2008). Đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên bệnh viện và đề xuất giải pháp can thiệp. Luận án tiến sĩ y tế công cộng, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên bệnh viện và đề xuất giải pháp can thiệp
Tác giả: Lê Thị Bình
Năm: 2008
3. Trịnh Yên Bình (2013). Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiểu quả một số biện pháp can thiệp. Luận án tiến sĩ, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung Ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiểu quả một số biện pháp can thiệp
Tác giả: Trịnh Yên Bình
Năm: 2013
11. Nguyễn Thị Ngọc Chi (2010). Nghiên cứu nhu cầu đào tạo cho khối cán bộ xạ trị bệnh viện K. Khoá luận tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu đào tạo cho khối cán bộ xạ trị bệnh viện K
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Chi
Năm: 2010
12. Nguyễn Việt Cường (2010). Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của cán bộ Điều dưỡng tại 14 trạm y tế phường quận Ba Đình năm 2010. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của cán bộ Điều dưỡng tại 14 trạm y tế phường quận Ba Đình năm 2010
Tác giả: Nguyễn Việt Cường
Năm: 2010
13. Nguyễn Thị Thu Hằng (2015). Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng các khoa lâm sàng bệnh viện C Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016. Luận văn thạc sĩ quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng các khoa lâm sàng bệnh viện C Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Năm: 2015
14. Hoàng Thị Hạnh (2014). Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng tại phòng khám gia đình. Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Thăng Long, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng tại phòng khám gia đình
Tác giả: Hoàng Thị Hạnh
Năm: 2014
15. Trần Quốc Kham, Đinh Danh Tuân và Phan Quốc Hội (2011). Thực trạng và nhu cầu đào tạo điều dưỡng trung học tuyến cơ sở của ngành y tế tỉnh Điện Biên năm 2009. Tạp chí y học Thực hành, 4(760), tr. 111 - 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y học Thực hành
Tác giả: Trần Quốc Kham, Đinh Danh Tuân và Phan Quốc Hội
Năm: 2011
16. Nguyễn Duy Luật (2006). Tổ chức, quản lý và chính sách y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức, quản lý và chính sách y tế
Tác giả: Nguyễn Duy Luật
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
17. Phạm Đức Mục (2013). Tài liệu đào tạo quản lý và lãnh đạo điều dưỡng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo quản lý và lãnh đạo điều dưỡng
Tác giả: Phạm Đức Mục
Năm: 2013
19. Châu Hồng Ngọc (2013). Đánh giá năng lực và các yếu tố liên quan của điều dưỡng cao đẳng và điều dưỡng đại học đang công tác tại các sở y tế Việt Nam năm 2012. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng lực và các yếu tố liên quan của điều dưỡng cao đẳng và điều dưỡng đại học đang công tác tại các sở y tế Việt Nam năm 2012
Tác giả: Châu Hồng Ngọc
Năm: 2013
20. Đỗ Thị Ngọc (2013). Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ thực hiện ba quy trình kỹ thuật chuyên môn trong chăm sóc người bệnh của điều dưỡng lâm sàng trẻ tại bệnh viện E năm 2013. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ thực hiện ba quy trình kỹ thuật chuyên môn trong chăm sóc người bệnh của điều dưỡng lâm sàng trẻ tại bệnh viện E năm 2013
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc
Năm: 2013
21. Nguyễn Ngô Quang và Phí Thị Nguyệt Thanh (2014). Quản lý công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế
Tác giả: Nguyễn Ngô Quang và Phí Thị Nguyệt Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
24. Nguyễn Văn Thoảng (2016). Năng lực thực hành chăm sóc của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan tại ba khoa Nội, Ngoại và Cấp cứu tổng hợp của bệnh viện đa khoa khu vực Cù Lao Minh, tỉnh Bến Tre năm 2016. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực thực hành chăm sóc của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan tại ba khoa Nội, Ngoại và Cấp cứu tổng hợp của bệnh viện đa khoa khu vực Cù Lao Minh, tỉnh Bến Tre năm 2016
Tác giả: Nguyễn Văn Thoảng
Năm: 2016
25. Nguyễn Thị Hoài Thu (2015). Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện phổi trung ương, giai đoạn 2013-2015. Luận văn thạc sĩ quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện phổi trung ương, giai đoạn 2013-2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Thu
Năm: 2015
26. Nguyễn Thị Hoài Thu, Hoàng Thanh Vân và Nguyễn Thanh Hương (2016). Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng tại các khoa Lâm sàng Bệnh viện Phổi Trung ương, năm 2015. Kỷ yếu hội nghị khoa học Điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức lần thứ VIII, tr. 161 - 166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội nghị khoa học Điều dưỡng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức lần thứ VIII
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Thu, Hoàng Thanh Vân và Nguyễn Thanh Hương
Năm: 2016
28. Lê Ngọc Trọng và cộng sự (2006). Tổ chức, quản lý y tế và chính sách y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức, quản lý y tế và chính sách y tế
Tác giả: Lê Ngọc Trọng và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
29. Nguyễn Văn Tuấn (2014). Tự đánh giá năng lực thực hành chăm sóc của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2014. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự đánh giá năng lực thực hành chăm sóc của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh năm 2014
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Năm: 2014
30. Phan Văn Tường và Chu Huyền Xiêm (2013). Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý bệnh viện cho các cán bộ quản lý của bệnh viện tuyến huyện của các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Nam, năm 2013. Tạp chí y học Thực hành, 8, tr. 35 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y học Thực hành
Tác giả: Phan Văn Tường và Chu Huyền Xiêm
Năm: 2013
31. Nguyễn Quang Vinh (2014). Thực trạng năng lực điều dưỡng trung cấp và một số yếu tố liên quan tại các khoa lâm sàng bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đồng Tháp năm 2014. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng năng lực điều dưỡng trung cấp và một số yếu tố liên quan tại các khoa lâm sàng bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đồng Tháp năm 2014
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh
Năm: 2014
32. Osborne Yvonne (2010). Hướng dẫn xây dựng chương trình đào tạo dựa trên năng lực, Nâng cao năng lực cho hoạt động giáo dục điều dưỡng tại Việt Nam, Trường Đại học Công Nghệ Quensland, Brisbane Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn xây dựng chương trình đào tạo dựa trên năng lực
Tác giả: Osborne Yvonne
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w