1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật của người trồng hoa, cây cảnh tại xã nam phong thành phố nam định tỉnh nam định năm 2019

52 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 470,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu về nhận thức và thói quen sử dụng thuốc BVTV của người nông dân tại huyện Hải Hậu, Nam Định cho thấy 81,4% hộ nông dân cất thuốc BVTV trong nhà, 16% để ngoài vườn và 7%

Trang 1

NGUYỄN ĐỨC KHÁNH DUY

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NGƯỜI TRỒNG HOA, CÂY CẢNH TẠI XÃ NAM PHONG – THÀNH

PHỐ NAM ĐỊNH – TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2019

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2019

Trang 2

NGUYỄN ĐỨC KHÁNH DUY

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NGƯỜI TRỒNG HOA, CÂY CẢNH TẠI XÃ NAM PHONG – THÀNH

PHỐ NAM ĐỊNH – TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2019

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS ĐỖ MINH SINH

NAM ĐỊNH - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nên trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Trang 4

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi của các thầy cô giáo, lãnh đạo bệnh viện nơi em thực hiện nghiên cứu, gia đình và bạn bè

Em xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu cùng toàn thể các Thầy giáo,

Cô giáo của Trường Đại học điều dưỡng Nam Định; cùng bạn bè là những người đã tận tình giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm, đóng góp những ý kiến quý báu cho việc hoàn thành khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Đỗ Minh Sinh - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh, động viên giúp đỡ, chia sẻ với tôi những khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận

Nam Định, ngày 06 tháng 6 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Đức Khánh Duy

Trang 5

LỜI CẢM ƠN 4

MỤC LỤC 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 3

CƠ SỞ LÍ LUẬN THỰC TIỄN 3

1 Cơ sở lí luận 3

1.1 Một số khái niệm liên quan 3

1.2 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật[8] 3

1.3 Các nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn[16] 5

1.4 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật 6

1.5 Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường và sức khỏe 6

2 Cơ sở thực tiễn 10

2.1 Thực trạng tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 10

2.2 Một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 16

Chương 2 19

LIÊN HỆ THỰC TIỄN 19

1 Thực trạng tình hình sử dụng thuốc BVTV của người trồng hoa, cây cảnh xã Nam Phong, thành phố Nam Định 19

1.1 Thông tin chung về xã Nam Phong, thành phố Nam Định 19

1.2 Đặc điểm người dân và sự phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh xã Nam Phong, thành phố Nam Định 20

Trang 6

2 Một số ưu điểm và tồn tại về tình hình sử dụng thuốc BVTV của người trồng

hoa, cây cảnh xã Nam phong 31

2.1 Một số ưu điểm và nguyên nhân 31

2.2 Một số tồn tại và nguyên nhân 32

Chương 3 34

KHUYẾN NGHỊ 34

1 Đối với người trồng hoa, cây cảnh 34

2 Đối với chính quyền địa phương 34

Chương 4 35

KẾT LUẬN 35

1 Đặc điểm cá nhân và hành vi sử dụng thuốc BVTV của người dân 35

2 Tuân thủ nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ LỤC I 38

PHỤ LỤC II 40

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BVTV thuốc bảo vệ thực vật

Trang 8

Bảng 1 Đặc điểm cá nhân của người trồng hoa, cây cảnh 22

Bảng 2 Căn cứ mua và pha trộn thuốc BVTV để sử dụng (tỷ lệ %) 22

(có thể chọn nhiều đáp án) 22

Bảng 3 Các hành vi sử dụng thuốc BVTV (tỷ lệ %) 23

Bảng 4 Một số hành vi khi đang sử dụng thuốc BVTV (tỷ lệ %) 24

Bảng 5 Một số triệu chứng sau khi phun thuốc (tỷ lệ %) 25

(có thể chọn nhiều đáp án) 25

Bảng 6 Mức độ tuân thủ nguyên tắc đúng thuốc (tỷ lệ %) 26

Bảng 7 Mức độ tuân thủ nguyên tắc đúng nồng độ và liều lượng (tỷ lệ %) 27

Bảng 8 Mức độ tuân thủ nguyên tắc đúng lúc (tỷ lệ %) 28

Bảng 9.1 Mức độ tuân thủ nguyên tắc đúng cách (tỷ lệ %) 29

Bảng 9.2 Mức độ tuân thủ nguyên tắc đúng cách (tỷ lệ %) 30

Bảng 10 Đáng giá chung mức độ tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV 31

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thuốc bảo vệ thực vật là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác

dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc[12]

Có thể chia thuốc bảo vệ thực vật thành hai nhóm chính đó là thuốc bảo vệ thực vật sinh học và thuốc bảo vệ thực vật hóa học Trong đó, thuốc bảo vệ thực vật sinh học là loại thuốc bảo vệ thực vật có thành phần hữu hiệu là vi sinh vật sống hoặc chất có nguồn gốc từ

vi sinh vật, thực vật, động vật; thuốc bảo vệ thực vật hóa học là loại thuốc bảo vệ thực vật

có thành phần hoạt chất là các chất hóa học vô cơ hoặc hữu cơ tổng hợp[14]

Tại Việt Nam, theo số liệu của cục BVTV trong giai đoạn 1981 - 1986 số lượng thuốc

sử dụng là 6,5 - 9,0 ngàn tấn thương phẩm, tăng lên 20 - 30 ngàn tấn trong giai đoạn 1991 -

2000 và từ 36 - 75,8 ngàn tấn trong giai đoạn 2001 - 2010 Lượng hoạt chất tính theo đầu diện tích canh tác (kg/ha) cũng tăng từ 0,3kg (1981 - 1986) lên 1,24 - 2,54kg (2001 - 2010) Giá trị nhập khẩu thuốc BVTV cũng tăng nhanh, năm 2008 là 472 triệu USD, năm 2010 là

537 triệu USD Số loại thuốc đăng ký sử dụng cũng tăng nhanh, trước năm 2000 số hoạt chất là 77, tên thương phẩm là 96, năm 2000 là 197, và 722, đến năm 2011 lên 1202 và

3108 Như vậy trong vòng 10 năm gần đây (2000 - 2011) số lượng thuốc BVTV sử dụng tăng 2,5 lần, số loại thuốc nhập khẩu tăng khoảng 3,5 lần Trong năm 2010 lượng thuốc Việt Nam sử dụng bằng 40% mức sử dụng TB của 4 nước lớn dùng nhiều thuốc BVTV trên thế giới (Mỹ, Pháp, Nhật, Brazin) trong khi GDP của nước ta chỉ bằng 3,3%GDP trung bình của

họ Số lượng hoạt chất đăng ký sử dụng ở Việt Nam hiện nay xấp xỉ 1000 loại trong khi của các nước trong khu vực từ 400 - 600 loại, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Malasia 400

- 600 loại Sử dụng thuốc BVTV bình quân đầu người ở Trung Quốc là 1,2 kg, ở Việt Nam

là 0.95 kg (2010)[1]

Nghiên cứu trên người nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại huyên Bình Chánh thuộc thành phố Hồ Chí Minh, các triệu chứng biểu hiện sau khi phun thuốc như: đau đầu 66,3%; mệt mỏi, khó chịu 78,8%; chóng mặt 85,2%; sẩn, ngứa 41,3%; đau mũi, họng 29%; buồn nôn 43,8% Các biểu hiện nhiễm độc cấp thường gặp là chóng mặt:85,5%, mệt mỏi khó chịu:78,7%, đau đầu: 66,4%, ra mồ hôi: 50,3%, buồn nôn: 43,8% Ðối chiếu với mức

Trang 11

tối thiểu là 43,6 (kat/l) thì ở nhóm tiếp xúc có 10 người không đạt chiếm tỷ lệ 30,3%, trong

đó có 6 người giảm dưới 25%, thậm chí có 2 người giảm đến 65% Nhóm đối chứng có 2 người không đạt chiếm tỷ lệ 6,7%[9]

Với điều kiện và khí hậu tự nhiên đa dạng, hệ thống sông ngòi dày đặc, Việt Nam là nước có lợi thế lớn trong canh tác các loại cây trồng, rau quả và dặc biệt là lúa nước Trên

cả nước đã hình thành nên các vùng chuyên canh rau lớn đó là đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu long và Đông Nam Bộ Tuy nhiên, cũng chính do có khí hậu nóng ẩm mà sâu bệnh, cỏ dại xuất hiện quanh năm Vì vậy, để bảo vệ cây trồng thì sử dụng thuốc BVTV

là một phần không thể thiếu Thực tế cho thấy phần lớn người nông dân có ít kiến thức về các loại hoạt chất BVTV Do đó, dẫn đến việc người dân sử dụng thuốc BVTV không an toàn Trong nghiên cứu về nhận thức và thói quen sử dụng thuốc BVTV của người nông dân tại huyện Hải Hậu, Nam Định cho thấy 81,4% hộ nông dân cất thuốc BVTV trong nhà, 16%

để ngoài vườn và 7% nhét ở chuồng lợn, 94% số hộ sử dụng thuốc không có hướng dẫn và chưa đến 20% hiểu biết về tính chất độc hại của thuốc[10]

Với mục đích bổ sung thêm thông tin vào kho tàng tri thức khoa học, đồng thời cung cấp thông tin để có các giải pháp về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhằm nâng cao sức khỏe cho người nông dân, khóa luận được thực hiện với 2 mục tiêu:

1 Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người trồng hoa, cây cảnh tại

xã Nam Phong, thành phố Nam Định năm 2019

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc BVTV cho người trồng hoa, cây cảnh tại xã Nam Phong, thành phố Nam Định năm 2019

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN THỰC TIỄN

1 Cơ sở lí luận

1.1 Một số khái niệm liên quan

Thực vật là cây và sản phẩm của cây.Bảo vệ thực vật là hoạt động phòng, chống sinh vật gây hại thực vật[12]

Thuốc bảo vệ thực vật là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều sử dụng thuốchòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc[12]

1.2 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật[8]

- Dựa vào đối tượng phòng chống:

+ Thuốc trừ sâu (Insecticide): Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường (AAPCO) Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người Trong thuốc trừ sâu, dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng, người ta còn chia ra: thuốc trừ trứng (Ovicide ), thuốc trừ sâu non ( Larvicide)

+ Thuốc trừ bệnh (Fungicide): Thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hoá học (vô cơ và hữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật ), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý ñất Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trị những bệnh do những yếu tố phi sinh vật gây ra (thời tiết, ñất úng; hạn ) Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi khuẩn (Bactericides) Thường thuốc trừ vi khuẩn có khả năng trừ được cả nấm; còn thuốc trừ nấm thường ít có khả năng trừ vi khuẩn Hiện nay ở Trung quốc, mới xuất hiện một số thuốc trừ bệnh có thể hạn chế mạnh sự phát triển của virus ( Ningnanmycin .) Nhiều khi người ta gọi thuốc trừ bệnh là thuốc trừ nấm (Fungicides) Trong trường hợp này, thuốc trừ nấm bao gồm cả thuốc trừ vi khuẩn

Trang 13

+ Thuốc trừ chuột (Rodenticde hay Raticide): là những hợp chất vô cơ, hữu cơ; hoặc

có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và kho tàng và các loài gậm nhấm Chúng tác ñộng ñến chuột chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi ( ở nơi kín đáo)

+ Thuốc trừ nhện (Acricide hay Miticide): những chất được dùng chủ yếu để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết thuốc trừ nhện thông dụng hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc đại đa số thuốc trong nhóm là những thuốc đặc hiệu

có tác dụng diệt nhện, có khả năng chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch Nhiều loại trong chúng còn có tác dụng trừ trứng và nhện mới nở; một số khác còn diệt nhện trưởng thành Nhiều loại thuốc trừ nhện có thời gian hữu hiệu dài, ít dộc với động vật máu nóng Một số thuốc trừ nhện nhưng cũng có tác dụng diệt sâu Một số thuốc trừ sâu, trừ nấm cũng có tác dụng trừ nhện

+ Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): các chất xông hơi và nội hấp được dùng để xử

lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây

+ Thuốc trừ cỏ (Herbicide): các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinh trưởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt và gồm cả các thuốc trừ rong rêu trên ruộng, kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dùng các thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng

- Dựa vào con đường xâm nhập (hay cách tác động của thuốc) đến dịch hại: tiếp xúc,

vị độc, xông hơi, thấm sâu và nội hấp

- Dựa vào nguồn gốc hoá học:

+ Thuốc có nguồn gốc thảo mộc : bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại

+ Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật ( như các loài kháng sinh ) có khả năng tiêu diệt dịch hại + Thuốc có nguồn gốc vô cơ : bao gồm các hợp chất vô cơ ( như dung dịch boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi ) có khả năng tiêu diệt dịch hại

+ Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại ( như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat )

Trang 14

Gần đây, do nhiều dịch hại ñã hình thành tính chống nhiều loại thuốc có cùng một cơ chế, nên người ta đã phân loại theo cơ chế tác động của các loại thuốc ( như thuốc kìm hãm men cholinesterase, GABA, kìm hãm hô hấp ) hay theo phương thức tác động (thuốc điều khiển sinh trưởng côn trùng, thuốc triệt sản, chất dẫn dụ, chất xua đuổi hay chất gây ngán) Phân chia theo các dạng thuốc ( thuốc bột, thuốc nước ) hay phương pháp sử dụng ( thuốc dùng để phun lên cây, thuốc xử lý giống )

1.3 Các nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn[16]

1.3.1 Đúng thuốc

Khi sử dụng thuốc BVTV, cần phải biết rõ loài sâu bệnh cần phòng trừ, tham vấn ý kiến cán bộ chuyên môn BVTV hoặc cán bộ nông nghiệp địa phương Ưu tiên lựa chọn sử dụng các loại thuốc có tác động chọn lọc, có hiệu lực cao, thời gian cách ly ngắn và ít độc đối với sinh vật có ích, động vật máu nóng Cần chọn mua những loại thuốc an toàn với cây trồng, ít gây hại với người tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt chú ý khi mua và sử dụng thuốc diệt

cỏ

1.3.2 Đúng liều lượng

Cần sử dụng đúng nồng độ, liều lượng bao gồm lượng thuốc và lượng nước pha trộn

để phun trên một đơn vị diện tích cây trồng theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật Việc tùy tiện tăng nồng độ thuốc lên cao sẽ gây nguy hiểm cho người sử dụng, cây trồng, vật nuôi, môi trường và làm tăng chi phí; còn nếu phun ở nồng độ quá thấp sẽ làm cho sâu bệnh nhờn thuốc, kháng thuốc, tạo nguy cơ bùng phát dịch

Để đảm bảo sử dụng đúng liều lượng, nồng độ, phải có dụng cụ cân, đong thuốc, không ước lượng bằng mắt, không bốc thuốc bột bằng tay Phải phun hết lượng thuốc đã pha trộn, không để dư thừa qua hôm sau hay lần sau

1.3.3 Đúng thời điểm

Cần phun thuốc vào thời điểm sâu bệnh dễ bị tiêu diệt, phun ở giai đoạn tuổi nhỏ đối với sâu và ở giai đoạn đầu đối với bệnh Phun vào lúc trời râm mát, không có gió to để thuốc tiếp xúc bám dính tốt hơn trên bề mặt lá Hạn chế phun lúc cây đang ra hoa Việc phun thuốc khi trời nắng nóng sẽ làm giảm hiệu lực của thuốc, còn phun khi trời sắp mưa có thể làm rửa trôi thuốc Không phun thuốc vào thời điểm sắp thu hoạch (thời gian cách ly tùy thuộc từng loại thuốc, thường có khuyến cáo là thời gian trước thu hoạch) Phun khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh đạt đến ngưỡng gây hại kinh tế

Trang 15

1.3.4 Đúng cách

Thuốc BVTV được hướng dẫn sử dụng từng thuốc và đa dạng thuốc Chế phẩm dạng bột, thấm nước, dạng sữa phải pha với nước; dạng hạt, viên nhỏ thì rải vào đất; có dạng để phun mù, phun sương với lượng rất nhỏ hoặc có dạng thuốc chỉ để xông hơi, khử trùng kho tàng Đa số thuốc BVTV trong trồng trọt thuộc dạng pha với nước hoặc rải vào đất

Riêng với thuốc trừ cỏ càng phải thận trọng, sử dụng đúng cách để không chỉ hạn chế tác hại của cỏ dại mà còn bảo vệ cây trồng, kể cả diện tích cây trồng gần nơi xử lý Cần lưu

ý hướng gió và tốc độ gió để thuốc không bay xa vào nơi không cần thiết

1.4 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc bảo vệ thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn, khống chế sự phát sinh, phát triển của các đối tượng gây hại, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản Thuốc BVTC dễ sử dụng, áp dụng trên diện tích lớn trong thời gian ngắn Ðiều này quan trọng khi dịch hạigia tăng trên diện dích lớn Tiêu diệt nhanh côn trùng, đáp ứng nhanh với bộc phát sâu hại Áp dụng một biện pháp có thể kiểm soát nhiều loài dịch hại khác nhau:

ví dụ như xử lý mạ/hạtgiống vẫn để lại tồn dư thuốc tiếp tục bảo vệ cây trồng chống lại bệnh hại và/hoặc sâu hại vàingày sau khi sử dụng thuốc Cho hiệu quả kinh tế nếu sử dụng chúng một cách có trách nhiệm[3]

1.5 Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường và sức khỏe

1.5.1 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường

Thuốc bảo vệ thực vật được tạo ra nhằm mục đích tiêu diệt nhanh các loại côn trùng, dịch bệnh có hại cho cây trồng, kiểm soát dịch hại bùng phát một cách nhanh chóng, hiệu quả Tuy nhiên, nếu người dân sử dụng một cách bừa bãi và không có các biện pháp quản lí,

xử lí chất thải, sẽ dẫn tới việc thuốc BVTV tồn dư gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường sống và các loài thiên địch

Kết quả kiểm tra, năm 2000 - 2002 của cục BVTV cho thấy ở vùng Hà Nội số mẫu có

dư lượng quá mức cho phép khá cao, trên rau, nho, chè từ 10% - 26%, ở TPHCM từ 10 - 30% Mười năm sau, trên rau con số đó vẫn còn 10,2% - Thuốc BVTV làm tăng tính kháng thuốc của sâu bệnh, tiêu diệt ký sinh thiên địch, có thể gây bộc phát các dịch hại cây trồng Theo Phạm Bình Quyến - 2002, khi phu thuốc Padan trên lúa, nhóm thiên địch nhện lớn bắt mồi giảm mật độ 13 lần trong khi không phun tăng 25 lần Điều tra tổng số loài thiên địch ở vùng chè Thái Nguyên nơi không sử dụng thuốc trừ sâu nhiều gấp 1,5 - 2 lần so với nơi có

Trang 16

sử dụng thuốc Sâu tơ hại rau kháng 24 loại thuốc - Sử dụng nhiều thuốc tác động xấu đến môi trường, gây ô nhiễm đất và nước không khí ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Theo thống kê cả nước hiện còn tồn đọng trên 706 tấn thuốc cần tiêu hủy và 19.600 tấn rác bao bì thuốc bảo vệ thực vật chưa được thu gom và xử lý, hàng năm phát sinh mới khoảng 9.000 tấn[1]

Trong “Dự án xây dựng năng lực nhằm loại bỏ hóa chất bảo vệ thực vật POP tồn lưu tại Việt Nam”[13] đã đề cập đến sự phát tán của thuốc BYTV vào môi trường:

- Ô nhiễm môi trường đất: Đất canh tác là nơi tập trung nhiều dư lượng hóa chất BVTV Hóa chất BVTV đi vào trong đất do các nguồn: phun xử lý đất, các hạt thuốc BVTV rơi vào đất, theo mưa lũ, theo xác sinh vật vào đất Theo kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tới 50% số thuốc rơi xuống đất, ngoài ra còn có một số thuốc rải trực tiếp vào đất Khi vào trong đất một phần thuốc trong đất được cây hấp thụ, phần còn lại thuốc được keo đất giữ lại Thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân giải qua hoạt động sinh học của đất và qua các tác động của các yếu tố lý, hóa Tuy nhiên tốc độ phân giải chậm nếu thuốc tồn tại trong môi trường đất với lượng lớn, nhất là trong đất có hoạt tính sinh học kém Những khu vực chôn lấp hóa chất BVTV thì tốc độ phân giải còn chậm hơn nhiều

- Ô nhiễm môi trường nước: Theo chu trình tuần hoàn, hóa chất BVTV tồn tại trong môi trường đất sẽ rò rỉ ra sông ngồi theo các mạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi, xói mòn khiến hóa chất BVTV phát tán ra các thành phần môi trường nước Mặt khác, khi sử dụng thuốc BVTV, nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do người sử dụng đổ hóa chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất, nước súc rửa xuống thủy vực, điều này có ý nghĩa đặc biệt nghiêm trọng khi các nông trường vườn tược lớn nằm kề sông bị xịt thuốc xuống ao hồ Hóa chất BVTV vào trong nước bằng nhiều cách: cuốn trôi từ những cánh đồng có phun thuốc xuống ao, hồ, sông, hoặc do đổ hóa chất BVTV thừa sau khi đã sử dụng, phun thuốc trực tiếp xuống những ruộng lúa nước để trừ cỏ, trừ sâu, trừ bệnh Ô nhiễm nguồn nước do hóa chất BVTV cũng có nhiều hình thức khác nhau, từ rửa trôi thuốc từ các cánh đồng có chứa hóa chất BVTV, người sử dụng đổ hóa chất BVTV thừa, rửa dụng cụ ở các kênh mương hoặc do nuớc mưa chảy tràn từ các kho hóa chất BVTV tồn lưu

Thuốc trừ sâu trong đất, dưới tác dụng của mưa và rửa trôi sẽ tích lũy và lắng đọng trong lớp bùn đáy ở sông, ao, hồ,…sẽ làm ô nhiễm nguồn nước Thuốc trừ sâu có thể phát hiện trong các giếng, ao, hồ, sông, suối cách nơi sử dụng thuốc trừ sâu vài km Mặc dù độ hoà tan của hoá chất BVTV tương đối thấp, song chúng cũng bị rửa trôi vào nước tưới tiêu,

Trang 17

gây ô nhiễm nước bề mặt, nước ngầm và nước vùng cửa sông ven biển nơi nước tưới tiêu đổ vào

- Ô nhiễm môi trường không khí: Khi phun thuốc BVTV, không khí bị ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi Dưới tác động của ánh sáng, nhiệt, gió… và tính chất hóa học, thuốc BVTV

có thể lan truyền trong không khí Lượng tồn trong không khí sẽ khuếch tán, có thể di chuyển xa và lắng đọng vào nguồn nước mặt ở nơi khác gây ô nhiễm môi trường Rất nhiều loại hoá chất BVTV có khả năng bay hơi và thăng hoa, ngay cả hóa chất có khả năng bay hơi ít như DDT cũng có thể bay hơi vào không khí, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng

ẩm nó có thể vận chuyển đến những khoảng cách xa, đóng góp vào việc ô nhiễm môi trường không khí

Hình 1.1: Con đường phát tán của thuốc BVTV trong môi trường

(Nguồn: Nguyễn Phúc Hưng, 2013)

Không khí k

Cây trồng Diệt sâu

bệnh

Mưa, sương mù

Đất

Nước sạch

Biển

Con người

Động vật

Thu hoạch Phát tán

Trang 18

1.5.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến con người và động vật[13]

Ngoài tác dụng diệt dịch bệnh, các loại cỏ và sâu bệnh phá hoại mùa màng, dư lượng hóa chất BVTV cũng đã gây nên các vụ ngộ độc cấp tính và mãn tính cho người tiếp xúc và

sử dụng chúng, và cũng là nguyên nhân sâu xa dấn đến những căn bệnh hiểm nghèo Các độc tố trong hóa chất BVTV xâm nhập vào rau quả, cây lương thực, thức ăn gia súc và động vật sống trong nước rồi xâm nhập vào các loại thực phẩm, thức uống như: thịt cá, sữa, trứng,… Một số loại hóa chất BVTV và hợp chất của chúng qua xét nghiệm cho thấy có thể gây quái thai và bệnh ung thư cho con người và gia súc Con đường lây nhiễm độc chủ yếu

là qua ăn, uống (tiêu hóa) 97,3%, qua da và hô hấp chỉ chiếm 1,9% và 1,8% Thuốc gây độc chủ yếu là Wolfatox (77,3%), sau đó là 666 (14,7%) và DDT (8%)

Hình 1.2: Tác hại của hóa chất BVTV đối với con người

(Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2009) Thông thường, các loại hóa chất BVTV xâm nhập vào cơ thể con người và động vật chủ yếu từ 3 con đường sau:

- Hấp thụ xuyên qua các lỗ chân lông ngoài da;

- Đi vào thực quản theo thức ăn hoặc nước uống;

- Đi vào khí quản qua đường hô hấp

Một số các triệu chứng khi nhiễm hóa chất BVTV ở con người:

+ Hội chứng về thần kinh: Rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ Rối loạn thần kinh thực vật như ra mồ hôi Ở mức độ nặng hơn có thể gây tổn thương thần kinh ngoại biên dẫn đến tê liệt, nặng hơn nữa có thể gây tổn thương não bộ, hội chứng

Trang 19

nhiễm độc não thường gặp nhất là do thủy ngân hữu cơ sau đó là đến lân hữu cơ và Clo hữu cơ;

+ Hội chứng về tim mạch: Co thắt ngoại vi, nhiễm độc cơ tim, rối loạn nhịp tim, nặng

là suy tim, thường là do nhiễm độc lân hữu cơ, clo hữu cơ và Nicotin;

+ Hội chứng hô hấp: Viêm đường hô hấp, thở khò khè, viêm phổi, nặng hơn có thể suy

hô hấp cấp, ngừng thở, thường là do nhiễm độc lân hữu cơ, clo hữu cơ;

+ Hội chứng tiêu hóa – gan mật: Viêm dạ dày, viêm gan, mật, co thắt đường mật, thường là do nhiễm độc clo hữu cơ, carbamat, thuốc vô cơ chứa Cu, S;

+ Hội chứng về máu: Thiếu máu, giảm bạch cầu, xuất huyết, thường là do nhiễm độc Clo, lân hữu cơ, carbamat Ngoài ra trong máu có sự thay đồi hoạt tính của một số men như men Axetyl cholinesteza do nhiễm độc lân hữu cơ Hơn nữa, có thể thay đổi đường máu, tăng nồng độ axit pyruvic trong máu

Ngoài 5 hội chứng kể trên, nhiễm độc do thuốc BVTV còn có thể gây ra tổn thương đến hệ tiết niệu, nội tiết và tuyến giáp[13]

Ngày 19/01/2018, trong một cuộc xét nghiệm định tính định kì do Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế thực hiện với 67 người tham gia xét nghiệm đều là học viên tại một lớp học thuộc Trung tâm học tập cộng đồng các xã, thị trấn đến từ 4 huyện ngoại thành Hà Nội gồm Sóc Sơn, Đông Anh, Mê Linh, Hoài Đức Xét nghiệm được sàng lọc bằng phương pháp kiểm tra nhanh nồng độ thuốc BVTV, kết quả cho thấy có 31/67 người

có lượng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong máu Nhưng điều đáng nói là hầu hết các học viên là những người không trực tiếp tham gia sản xuất trên ruộng đồng Với cuộc xét nghiệm này,tuy diện nghiên cứu rất hẹp, nhưng kết quả trên thực sự là con số đáng báo động

về vấn đề tác hại của thuốc BVTV đối với con người

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Thực trạng tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

2.1.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới

Nông nghiệp là một ngành nghề quan trọng và không thể thiếu ở mỗi quốc gia, góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho người dân trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Tuy nhiên một trong những vấn đề lớn của sản xuất nông nghiệp ở mọi quốc gia đó là sâu bệnh, dịch hại Việc phụn/xịt thuốc BVTV tại các quốc gia phát triển như châu

Trang 20

Âu và châu Mĩ luôn có sự hỗ trợ của máy móc, tiến hành trên hình thức công nghiệp Vì vậy, các nghiên cứu về sử dụng thuốc BVTV phần lớn được tìm thấy ở các quốc gia kém hoặc đang phát triển như ở châu Phi và một số nước châu Á Phạm vi nghiên cứu về vấn đề này rất lớn, tuy nhiên chúng ta có thể chia nhóm theo 04 nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV gồm: nguyên tắc đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng cách Các kết quả cụ thể được phân tích chi tiết theo các mục dưới đây:

a, Sử dụng đúng thuốc:

Việc sử dụng đúng thuốc BVTV được áp dụng trên những tiêu chí quan trọng đó là lựa chọn loại thuốc có tác động chọn lọc ( tác dụng tiêu diệt dich bệnh, sâu hại nhưng lại ít tác động đến các loài thiên địch, sinh vật có ích); thuốc an toàn với người tiêu thụ, ít có tác hại đến cây trồng; thuốc không tồn tại lâu dài trong môi trường Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu lại cho thấy phần lớn người nông dân lựa chọn thuốc BVTV với các tiêu chí đó là “hiệu quả tiêu diệt sâu bệnh, dịch hại” và “giá trị thị trường của sản phẩm thuốc BVTV” Tức là những loại thuốc BVTV có hiệu quả cao, giá rẻ có khả năng được lựa chọn tiêu thụ nhiều hơn[17]

Trong một nghiên cứu khác tại Bắc Tanzania, châu Phi, về việc sử dụng thuốc BVTV của người nông dân cho thấy có tới 90% người nông dân có tối đa 3 loại thuốc trừ sâu trong hỗn hợp thuốc khi tiêu thụ Trong mọi trường hợp, họ đều không có hướng dẫn cụ thể nào

từ nhãn thuốc hoặc nhân viên khuyến nông liên quan đến các hỗn hợp này Từ phân tích của nghiên cứu trên, các loại công thức thuốc BVTV khác nhau được sử dụng bởi nông dân trong khu vực hầu hết là thuốc trừ sâu (59%), thuốc diệt nấm (29%) và thuốc diệt cỏ (10%) với 2% còn lại là thuốc diệt chuột Trong đó, có một loại thuốc trừ sâu - methomyl là loại Ib duy nhất của WHO (rất nguy hiểm).đã được ghi nhận sử dụng Người nông dân cho rằng giải pháp duy nhất cho các vấn đề dịch hại là phun thường xuyên hơn và sử dụng các loại thuốc trừ sâu khác nhau Suy nghĩ này bắt nguồn từ việc người nông dân không nhận được các dịch vụ khuyến nông và sự ảnh hưởng rất nhiều bởi các nhà sản xuất và nhà cung cấp thuốc trừ sâu đang thực hiện công việc kinh doanh của họ ngay trong cộng đồng nông nghiệp và họ rất quan tâm đến việc đạt được doanh số lớn thuốc trừ sâu[19]

b, Sử dụng thuốc đúng liều lượng:

Liều lượng là lượng thuốc cần dùng cho một đơn vị diện tích và nồng độ là độ pha loãng của thuốc trong nước để phun Pha đúng nồng độ và phun đủ lượng nước quy định để đảm bảo thuốc trải đều và tiếp xúc với dịch hại nhiều nhất Tuy nhiên, theo nghiên cứu cho

Trang 21

thấy việc không tuân thủ sử dụng thuốc BVTV xảy ra khá phổ biến Khoảng một phần ba nông dân áp dụng thuốc trừ sâu trong hỗn hợp; có sự kết hợp của tối đa 5 loại thuốc trừ sâu trong một hỗn hợp tiêu thụ và có tới 90% ba loại thuốc trừ sâu trong một hỗn hợp[19] Song song với việc pha trộn các loại thuốc trừ sâu không theo hướng dẫn về liều lượng thì sử dụng thuốc trừ sâu thường xuyên gây tác hại nghiêm trọng tới môi trường Hơn 50 phần trăm số người được hỏi đã sử dụng thuốc trừ sâu bằng cách sử dụng máy phun đeo ba

lô lên đến 5 lần hoặc nhiều hơn trong mỗi vụ mùa tùy thuộc vào loại cây trồng Hơn ba phần

tư nông dân được phỏng vấn (77%) báo cáo việc sử dụng thuốc trừ sâu thường xuyên và 7% cho biết việc áp dụng thuốc diệt nấm thường quy Thực tế là hơn 15% nông dân báo cáo sử dụng thuốc trừ sâu 16 lần trở lên mỗi mùa cho thấy xu hướng sử dụng thuốc trừ sâu ngày càng tăng, và những người được hỏi đang canh tác tương đối giống nhau[19]

c, Sử dụng thuốc đúng thời điểm:

Phun thuốc đúng thời điểm có vai trò quan trọng trong tiêu diệu dịch hại, bảo vệ chất lượng cây trồng và làm giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Việc phun thuốc đúng thời điểm thường được dựa trên khuyến cáo của chính quyền địa phương hoặc kinh nghiệm của người nông dân

Nghiên cứu tại Faridabad, Haryana, Ấn Độ, cho thấy 40% nông dân tiết lộ họ thường

áp dụng thuốc trừ sâu khi có sự hiện diện củasâu bệnh hoặc ngay trước thời kỳ dịch hại xảy

ra Khuyến nghị và lời khuyên của các đại lý hóa chất nông nghiệp (24%) vànhững người nông dân (20%) cũng là những nhân tố chính đóng góp vào việc quyết định thời điểm áp dụngthuốc trừ sâu Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể của nông dân (16%) đã xác nhận việc sử dụng thuốc trừ sâu thường xuyên trong suốt vụ mùa mà không xem xét sự hiện diện của các triệu chứng sâu bệnh Thêm nữa,người ta thấy rằng hơn 70% nông dân áp dụng thuốc trừ sâu cho cây trồng ít nhất hơn bốn lần trong một mùavà 14% trong số họ áp dụng cho hơn mười lần thường ở một khoảng thời gian khác nhau giữa 2 ngày đến mộttuần Hơn 16% số người được hỏi xác nhận phun thuốc trừ sâu ngay cả trong khi thu hoạch trong khi phần lớnhọ (37%) báo cáo rằng họ ngừng áp dụng thuốc trừ sâu gần 11 ngày đến hai tuần trước khi thu hoạchmùa vụ Tất cả những người được hỏi xác nhận buổi sáng hoặc buổi tối là thời gian để áp dụng thuốc trừ sâu[20]

d, Sử dụng thuốc đúng cách:

Trang 22

Sử dụng thuốc đúng cách là một nguyên tắc rất rộng có nhiều nội dung từ cách pha thuốc, phun thuốc đến việc đảm bảo các nguyên tắc an toàn trước, trong và sau khi phun thuốc Điều đó được thể hiện qua người nông dân khi họ sử dụng thuốc BVTV Tuy nhiên, trên thực tế các nghiên cứu cho thấy việc tuân thủ hướng dẫn sử dụng thuốc, không pha chế các loại thuốc một cách tùy tiện hay chuẩn bị an toàn khi phun/xịt thuốc đều không được người nông dân quan tâm

Qua nghiên cứu tại Faridabad, Haryana, Ấn Độ, có đến 56% nông dân đã không áp dụng bất kỳ loại biện pháp an toàn và biện pháp phòng ngừa nào trong khi áp phun thuốc trừ sâu họ chỉ sử dụng khẩu trang bằng vải; 70% nông dân thực hiện phun thuốc trừ sâu trên một diện tích lớn mà không cần sự trợ giúp từ các máy móc cơ giới[20]

Một nghiên cứu khác tại Kuwait đã chỉ ra hơn 70% nông dân không đọc hoặc làm theo hướng dẫn trên nhãn thuốc trừ sâu, vì họ không thể đọc và hiểu ý nghĩa của nhãn (56%), nhãn được viết bằng tiếng Anh (tiếng nước ngoài đối với họ) (35% ) và các hướng dẫn quá dài và phức tạp (45%) Hơn 15% nông dân chỉ ra rằng kích thước phông chữ trên nhãn quá nhỏ để dễ đọc Chỉ có 28% nông dân có thể đọc, hiểu[18]

Khi được hỏi họ làm gì với các giải pháp thuốc trừ sâu còn sót lại, 82% số người được hỏi cho biết họ áp dụng giải pháp còn sót lại trên các cây trồng khác, xử lý dung dịch trên đồng ruộng (35%), trong cống (4%) hoặc đưa giải pháp cho thành phố địa điểm thu gom chất thải nguy hại để xử lý (23%) Đáng báo động, 6% nông dân báo cáo sử dụng lại các hộp đựng thuốc trừ sâu rỗng cho mục đích gia đình[18]

2.1.2 kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam cho đến nay hầu hết các nghiên cứu về tuân thủ các nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV đều ở dạng mô tả thực trạng thực hành sử dụng thuốc BVTV của người dân

a, Sử dụng đúng thuốc và đúng liều lượng:

Người dân thường áp dụng thuốc với liều lượng cao hơn so với chỉ dẫn ghi trên nhãn thuốc Phần còn lại, mặc dù họ sử dụng theo liều lượng hướng dẫn nhưng họ dễ dàng tăng liều nếu lần phun xịt đầu tiên không hiệu quả Không có trường hợp người dân sử dụng ít hơn liều lượng chỉ dẫn Lý do chính của việc sử dụng với liều cao hơn chỉ dẫn là để chắc chắn đạt hiệu quả sau khi phun Ngoài ra, người dân còn trộn hai hoặc nhiều hơn loại thuốc trong một lần phun xịt Lý do của thực tế này là do họ không tin chất lượng của thuốc Bên cạnh đó còn có lý do khác cho thực tế này là để tiết kiệm thời gian và công lao động, để

Trang 23

ngừa và đẩy lùi được nhiều loại sâu bệnh sau khi phun, và đơn giản là chỉ làm theo người bên cạnh khi họ nhận thấy hiệu quả của cách làm này[11]

Trong một nghiên cứu khác tại tỉnh Thái Bình, có khoảng 70% số hộ tăng nồng độ sử dụng thuốc từ 1,5-2 lần, có rất ít hộ tăng nồng độ lên trên 2 lần Trên các vùng rau, việc tăng nồng độ thuốc (đặc biệt là thuốc sâu) là khá phổ biến, phần lớn tăng từ 1,5-2 lần Khoảng 35% số hộ tăng từ 2-2,5 lần, cá biệt có hộ tăng trên 3 lần Việc hỗn hợp các loại thuốc cũng

đã trở thành xu hướng diễn ra khá phổ biến với 2 lý do như sau: (i) Nông dân thường sử dụng hỗn hợp thuốc với kỳ vọng là có thể tạo ra một loại thuốc mới có tác động rộng, có thể trừ đồng thời nhiều loại sâu bệnh và nâng cao hiệu quả của thuốc; (ii) Tình trạng nhiều hộ nông dân không trực tiếp phun thuốc BVTV mà đi thuê, dẫn đến tình trạng người phun thuê không đảm bảo nguyên tắc 4 đúng: họ muốn tiết kiệm thời gian nên đã hỗn hợp nhiều loại thuốc vào một lần, không đảm bảo đủ lượng nước theo khuyến cáo làm tăng nông độ thuốc, không phun đúng kỹ thuật[15]

b, Sử dụng thuốc đúng thời điểm:

Tại Việt Nam, thời điểm phun thuốc bảo vệ thực vật luôn được phổ biến bởi chính quyền địa phương vào từng mùa vụ trong năm để người dân thực hiện Tuy nhiên, trong các nghiên cứu thì thực tế lại không như vậy

Nghiên cứu tại tỉnh Hậu Giang, kết quả phỏng vấn cho thấy người dân vùng khảo sát phun xịt thuốc với tần suất cao 7 – 8 lần/vụ, chiếm lần lượt 63,01% và 49,49% ở khu vực canh tác lúa 2 vụ/năm và 3 vụ/năm; tiếp theo là tần suất phun xịt 5 – 6 lần/vụ với 21,92% và 32,14% tương ứng Ở khu vực canh tác lúa 3 vụ/năm, tỷ lệ nông dân phun xịt với tần suất ≥

9 lần/vụ cao hơn so với khu vực canh tác lúa 2 vụ/năm, chiếm 17,86% và 10,96% Chỉ một

bộ phận nhỏ nông dân phun xịt với tần suất < 5 lần/vụ[7]

Ngoài ra, việc phun thuốc đúng thời điểm cũng phụ thuộc vào thời gian thu hoạch Nghiên cứu tại xã Thuận An, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long cho thấy tỉ lệ hộ trồng rau

có thời gian sử dụng thuốc trước thu hoạch 6 ngày chiếm khoảng 54,7%, thời gian xịt thuốc

từ 1-6 ngày chiếm 39,6% và không xác định rõ thời gian là 5,7% Kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy thời gian ngưng phun thuốc trước khi thu hoạch phụ thuộc khá nhiều vào thị trường tiêu thụ, nếu giá rau tăng cao thì các nông hộ không quan tâm đến thời gian ngưng phun thuốc, bởi vì họ cho rằng việc tưới nước thường xuyên cho rau sẽ góp phần rửa trôi thuốc nên dư lượng thuốc lưu tồn trên rau là không đáng kể[2] Nghiên cứu khác tại tỉnh Hậu Giang, các đợt phun xịt thuốc của người nông dân thường tập trung nhiều ở giai đoạn lúa

Trang 24

sau 40 ngày tuổi, nhưng theo phỏng vấn nông dân vẫn sử dụng thuốc trừ sâu ở giai đoạn lúa trước 40 ngày tuổi[7]

c, Sử dụng thuốc đúng cách:

Một trong những nguyên tắc quan trọng khi sử dụng thuốc BVTV là không pha trộn các loại thuốc với nhau Tuy nhiên, người nông dân khi sử dụng thuốc thường pha trộn mà không quan tâm đến liều lượng và loại thuốc Trong nghiên cứu tại thành phố Thanh Hóa, gần 80% số hộ nông dân đang phối trộn, pha chế nhiều loại thuốc với nhau vì họ cho rằng việc làm này sẽ mang lại hiệu quả trong khi phần lớn các hộ lại chưa hiểu rõ nguyên tắc phối trộn, họ trộn theo kinh nghiệm và hướng dẫn của hàng xóm[6] Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với tỉnh Thái Bình khi việc hỗn hợp các loại thuốc cũng đã trở thành xu hướng diễn ra khá phổ biến với người nông dân[15]

Ngoài ra, để đảm bảo an toàn khi phun thuốc BVTV cần sử dụng các phương tiện bảo

vệ cá nhân (PTBVCN) như mũ, kính, khẩu trang, găng tay, ủng, … Các kết quả nghiên cứu

về vấn đề này cho thấy tỷ lệ người nông dân tuân thủ nguyên tắc sử dụng PTBVCN còn chưa cao Nghiên cứu tại Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ người có sử dụng các loại PTBVCN chỉ đạt từ 26%-77% (thấp nhất là kính mắt, cao nhất là ủng) Cùng với đó, có 198 người (66%) không ăn hoặc uống bất kỳ thứ gì trong khi sử dụng thuốc trừ sâu và 183 người (61%) không để chung quần áo lao động và quần áo mặc hằng ngày với nhau[5] Như vậy,

có đến 40% - 77% người dân không tuân thủ các nguyên tắc an toàn khi sử dụng thuốc BVTV

Việc xử lí chất thải thuốc BVTV cũng là một phần quan trọng trong sử dụng thuốc đúng cách Trong nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long, kết quả cho thấy Sau khi được

sử dụng phần lớn hộp, chai và vỏ thuốc BVTV bị vứt trực tiếp tại nơi sử dụng Khoảng 70% nông hộ được phỏng vấn vứt bỏ vỏ thuốc sau khi sử dụng ngay tại nơi phun thuốc Rất dễ tìm thấy chai, lọ thuốc đã sử dụng ở ngoài đồng, chẳng hạn như dọc theo các bờ ruộng, dưới kênh hay trong vườn Chỉ một phần nhỏ nông hộ (17%) giữ lại các chai lọ thuốc có thể bán phế liệu Tuy nhiên, chúng thường được thu gom và cất giữ không an toàn tại ruộng, vườn hay xung quanh nhà Phần không bán phế liệu được thường đốt hoặc chôn lấp một cách không an toàn ngay tại ruộng, vườn Phần lớn nông dân được điều tra (88%) rửa bình phun thuốc ngay trong kênh nội đồng hoặc trong các mương, ao trong ruộng Nước thải từ việc rửa các dụng cụ phun thuốc được đổ ngay trong ruộng Những người còn lại mang bình phun thuốc rửa và đổ nước thải trực tiếp trong kênh Có thể thấy thói quen này đã đưa dư

Trang 25

lượng thuốc BVTV vào nước trong kênh rạch, nó là một nguồn gây ô nhiễm nước mặt Liên quan đến hỗn hợp thuốc còn dư sau khi phun thuốc, gần phân nửa số hộ được điều tra phỏng vấn (48%) xử lý hỗn hợp thuốc còn dư bằng cách phun lại cho lúa hay hoa màu ven bờ ruộng hay những nơi có mức độ sâu bệnh tàn phá nhiều Khoảng 43% người được hỏi đổ hỗn hợp thuốc còn dư trực tiếp xuống ruộng Khoảng 5% người dân được phỏng vấn đổ thuốc còn dư trực tiếp xuống kênh rạch Việc xử lý hỗn hợp thuốc dư không hợp lý này làm cho dư lượng thuốc BVTV phát tán trong nguồn nước mặt, dẫn đến sự phơi nhiễm thuốc khi

sử dụng nước cho nhu cầu ăn uống, vệ sinh và tác động đến hệ thủy sinh vật[11]

2.2 Một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

2.2.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới

Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV, trong đó đều đề cập tới các yếu tố liên quan tác động tới việc tuân thủ nguyên tắc của người nông dân

Nghiên cứu tại Bắc Tanzania đã cho thấy người nông dân không nhận được dịch vụ khuyến nông do đó đã thử nhiều cách khác nhau, đặc biệt là sử dụng thuốc trừ sâu khi xử lý các vấn đề về dịch hại nhưng bị hạn chế do thiếu kiến thức phù hợp Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc trừ sâu trong khu vực nghiên cứu dường như bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các nhà sản xuất và nhà cung cấp thuốc trừ sâu đang thực hiện công việc kinh doanh của họ ngay trong cộng đồng nông nghiệp và họ rất quan tâm đến việc đạt được doanh số lớn thuốc trừ sâu Đây là một tình huống điển hình ở nhiều nước đang phát triển nơi sự lựa chọn thuốc trừ sâu được sử dụng bởi nông dân bị ảnh hưởng bởi các nhà cung cấp[19] Từ đó có thể thấy các kế hoạch phổ biến kiến thức của chính quyền địa phương và việc cung cấp tư vấn thuốc BVTV của các nhà cũng cấp thuốc thực sự có ảnh hưởng tới việc tuân thủ nguyên tắc và sử dụng thuốc BVTV Nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố liên quan khác như: hiệu quả của thuốc trừ sâu, quy mô trang trại, và điều kiện giá cả và thời tiết[19]

Đồng nhất với nghiên cứu trên, nghiên cứu của Pratibha Prashar.cho biết hiệu quả của sản phẩm và giá thành của Thuốc BVTV là hai yếu tố quan trọng trong việc tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV của người nông dân[20]

Ngoài ra, việc tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV cũng có liên quan tới trình độ học vấn Nghiên cứu tại thị trấn Pyin Oo Lwin, Myanmar cho thấy giới tính và trình độ học

Trang 26

vấn có liên quan đến thực hành sử dụng thuốc trừ sâu; phụ nữ thực hành tốt hơn; trình độ học vấn cao thì thực hành tốt hơn; khả năng tiếp cận với các PTBVCN; tiếp cận thông tin

từ truyền thông về sử dụng thuốc BVTV và hỗ trợ xã hội có liên quan đến thực hành sử dụng thuốc với r lần lượt là 0,69; 0,44 và 0,49 (p < 0,001)[21]

2.2.2 Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, cũng đã có một số nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hành vi tuân thủ sử dụng thuốc BVTV của người nông dân Theo đó nhóm yếu tố liên quan được tìm thấy nhiều nhất đó chính là các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân của người nông dân như tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn, kinh nghiệm - thói quen Nghiên cứu trên người nông dân trồng chè tại Thái Nguyên đã cho thấy có sự tương quan có ý nghĩa giữa kiến thức

và việc xử trí thuốc trừ sâu (p < 0,001) Hầu hết số người thực hiện chọn lấp hoặc đốt để xứ

lý chai lọ và bao bì đựng thuốc trừ sâu thuộc nhóm có kiến thức tốt[5]

Ngoài ra, yếu tố kinh nghiệm – thói quen ảnh hưởng lớn tới việc tuân thủ nguyên tắc

sử dụng thuốc BVTV của người nông dân Nghiên cứu người nông dân tại tỉnh Hậu Giang cho thấy khi phun xit đa số nông dân đia phương có thói quen pha trôn các loại thuốc BVTV lại với nhau (97,4%) để tăng hiệu quả phòng trừ nhiều loại sâu bệnh, tiết kiêm chi phí và công sức phun xịt, đồng thời han chế ảnh hưởng đến lúa do giảm số lần di chuyển Tuy nhiên, viêc phối trộn các loại thuốc với nhau, tuỳ vào phản ứng hoá học giữa các hoạt ̣chất mà chiều hướng biến đổi của thuốc có thể tăng độc tính hoăc giảm tác dụng của thuốc và điều này nông dân hoàn toàn không đươc huấn luyện mà chủ yếu dựa vào kinh nghiêm bản thân và nông dân lân cận Lựa chọn liều lượng pha thuốc của nông dân cũng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm là chính[7]

Như vậy có thể thấy mặc dù đã có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam được triển khai để tìm hiểu hành vi sử dụng thuốc BVTV của người dân và xác định một số yếu tố liên quan đến vấn đề này Tuy nhiên qua tổng quan tài liệu có thể rút ra một số điểm hạn chế của các nghiên cứu hiện có như sau:

- Chưa mô tả được đầy đủ toàn bộ nội dung theo yêu cầu 4 đúng của thực hành thuốc bảo vệ thực vật

- Phương pháp sử dụng câu hỏi “có/không” cho hành vi nào đó để đánh giá thực hành chưa chính xác

- Còn thiếu các nghiên cứu trên nhóm nông dân trồng hoa, cây cảnh

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. (VUSTA), Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam (2013), "Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp ở Việt Nam", chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam
Năm: 2013
2. Bùi Thị Nga and Lâm Quốc Việt (2010), "Hiện trạng sản xuất và lưu tồn thuốc trừ sâu trong đất, nước trên rau xà lách xoong tại xã Thuận An, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long", Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 14, p. 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng sản xuất và lưu tồn thuốc trừ sâu trong đất, nước trên rau xà lách xoong tại xã Thuận An, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
Tác giả: Bùi Thị Nga and Lâm Quốc Việt
Năm: 2010
4. Hoàng Tuấn (2017), Hiệu quả mô hình tổ hợp tác trồng hoa cây cảnh ở Nam Phong, Báo Nam Định, accessed 22/05-2019, fromhttp://baonamdinh.vn/channel/5085/201704/hieu-qua-mo-hinh-to-hop-tac-trong-hoa-cay-canh-o-nam-phong-2518009/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả mô hình tổ hợp tác trồng hoa cây cảnh ở Nam Phong
Tác giả: Hoàng Tuấn
Nhà XB: Báo Nam Định
Năm: 2017
5. Hoàng Trung Kiên, Nguyễn Thị Thanh Hương, and Nguyễn Xuân Tùng (2016), "Kiến thức và hành vi tự bảo vệ sức khỏe khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông dân canh tác chè tại Thái Nguyên năm 2016", Tạp chí Khoa học và công nghệ. 12, pp. 24 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và hành vi tự bảo vệ sức khỏe khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông dân canh tác chè tại Thái Nguyên năm 2016
Tác giả: Hoàng Trung Kiên, Nguyễn Thị Thanh Hương, and Nguyễn Xuân Tùng
Năm: 2016
6. Lê Văn Cường and Ngô Thị Thuận (2017), "Sự tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân trong sản xuất rau trên địa bàn thành phố Thanh Hóa", Tạp chí Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam. 15(5), p. 692 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tuân thủ nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân trong sản xuất rau trên địa bàn thành phố Thanh Hóa
Tác giả: Lê Văn Cường, Ngô Thị Thuận
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam
Năm: 2017
7. Nguyên Phan Nhân, Bùi Thị Nga, and Phạm Văn Toàn (2015), "Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và quản lí bao bì chứa thuốc trong canh tác lúa tại tỉnh Hậu Giang", Tap chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. chuyên đề: Môi trường và biến đổi khí hậu, p. 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và quản lí bao bì chứa thuốc trong canh tác lúa tại tỉnh Hậu Giang
Tác giả: Nguyên Phan Nhân, Bùi Thị Nga, Phạm Văn Toàn
Nhà XB: Tap chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2015
8. Nguyễn Trần Oánh (2007), Giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả: Nguyễn Trần Oánh
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
9. Phạm Bích Ngân and Thắng, Đinh Xuân (2006), "Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới sức khỏe của người phun thuốc", Tạp chí phát triển khoa học và cong nghệ. 9(2), pp.72 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới sức khỏe của người phun thuốc
Tác giả: Phạm Bích Ngân, Đinh Xuân Thắng
Nhà XB: Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ
Năm: 2006
10. Phạm Hương Thảo (2013), Nhận thức của nông dân và thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển(CGFED) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức của nông dân và thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả: Phạm Hương Thảo
Nhà XB: Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển(CGFED)
Năm: 2013
11. Phạm Văn Toàn (2013), "Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và một số giải pháp giảm thiểu việc sử dụng thuốc không hợp lí trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long", Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 28, pp. 47 - 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và một số giải pháp giảm thiểu việc sử dụng thuốc không hợp lí trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phạm Văn Toàn
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2013
12. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), "Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
13. Tổng cục môi trường (2015), Ô nhiễm môi trường do hóa chất thực vật bảo vệ tồn lưu thuộc nhóm chất hữu cơ khó phân hủy tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm môi trường do hóa chất thực vật bảo vệ tồn lưu thuộc nhóm chất hữu cơ khó phân hủy tại Việt Nam
Tác giả: Tổng cục môi trường
Năm: 2015
14. Thôn, Bộ Nông nghiệp Và Phát Triển Nông (2015), "Thông tư về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật", p. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả: Thôn, Bộ Nông nghiệp Và Phát Triển Nông
Năm: 2015
15. Trần Thị Ngọc Lan, Nguyễn Phượng Lê, and Nguyễn Thanh Phong (2014), "Quản lí nhà nước về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của hộ nông dân tỉnh Thái Bình", Tạp chí Khoa học và Phát triển. 6(12), p. 838 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nhà nước về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của hộ nông dân tỉnh Thái Bình
Tác giả: Trần Thị Ngọc Lan, Nguyễn Phượng Lê, Nguyễn Thanh Phong
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Phát triển
Năm: 2014
16. Trung tâm Khuyến nông quốc gia (2017), Nguyên tắc 4 đúng khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Khoa học và phát triển, accessed 16/05-2019, from http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/nguyen-tac4-dung-khi-su-dung-thuoc-bao-ve-thuc-vat/20170818090934414p1c160.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc 4 đúng khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả: Trung tâm Khuyến nông quốc gia
Nhà XB: Khoa học và phát triển
Năm: 2017
17. Damalas, Christos and D. Koutroubas, Spyridon (2014), Determinants of farmers’ decisions on pesticide use in oriental tobacco: a survey of common practices, Vol.60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of farmers’ decisions on pesticide use in oriental tobacco: a survey of common practices
Tác giả: Christos Damalas, Spyridon D. Koutroubas
Năm: 2014
18. Jallow, M. F., et al. (2017), "Pesticide Knowledge and Safety Practices among Farm Workers in Kuwait: Results of a Survey", Int J Environ Res Public Health. 14(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pesticide Knowledge and Safety Practices among Farm Workers in Kuwait: Results of a Survey
Tác giả: Jallow, M. F., et al
Năm: 2017
19. Ngowi, A. V., et al. (2007), "Pesticides use by smallholder farmers in vegetable production in Northern Tanzania", Crop Prot. 26(11), pp. 1617-1624 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pesticides use by smallholder farmers in vegetable production in Northern Tanzania
Tác giả: Ngowi, A. V., et al
Năm: 2007
20. Prashar, Pratibha (2015), Survey of pesticide use patterns and farmers’ perceptions: A case study from cauliflower and tomato cultivating areas of district Faridabad, Haryana, India, Vol. 01, 139-146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survey of pesticide use patterns and farmers’ perceptions: A case study from cauliflower and tomato cultivating areas of district Faridabad, Haryana, India
Tác giả: Prashar, Pratibha
Năm: 2015
21. Suthep Silapanuntakul, Tanasri Srihabut, and May Thet Khine (2016), "Pesticides Use Practice and its Related Factors among Farmers in Pyin Oo Lwin Township, Myanmar", International Journal of Health Sciences. 4(1), pp. 48 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pesticides Use Practice and its Related Factors among Farmers in Pyin Oo Lwin Township, Myanmar
Tác giả: Suthep Silapanuntakul, Tanasri Srihabut, May Thet Khine
Nhà XB: International Journal of Health Sciences
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w