1.1.2 - Nhắc lại giải phẫu và sinh lý của hệ thống dẫn truyền và tiếp nhận âm thanh Tai là một cơ quan có cấu trúc phức tạp, chức năng của cơ quan này là cảm nhận âm thanh nghe, nó gồm c
Trang 1Đặt vấn đề
Từ hai thế kỷ trước, ănghen đã nêu” Nghe là tiền đề của nói, nhờ có nghe nói mà loài người đã tập hợp được thành một xã hội và xã hội đó sẽ có nền văn minh ngày càng phát triển” Mất hoặc suy giảm sức nghe là một tật khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Theo thông báo của tổ chức Thính Học thế giới nêu rõ: Hiện nay số người bị điếc và nghe kém ảnh hưởng
đến sinh hoạt lên tới trên 300 triệu người và đang ngày càng tăng [23]
Bảo vệ sức nghe, phát hiện và xử trí cho người bị điếc và nghe kém nói chung mà nhất là trẻ em nói riêng là một nhiệm vụ rất quan trọng Theo J
C Lafon “ Không có thính giác thì không có ngôn ngữ nói” Điếc câm là một tàn tật hết sức nặng nề Trẻ -bị điếc không những bị khuyết đi thế giới âm thanh để nhận thức thế giới bên ngoài mà còn mất luôn cả chức năng ngôn ngữ nói - công cụ của giao tiếp với xã hội xung quanh Do đó nếu trẻ không sớm được PHCN nghe bằng các phương pháp đặc biệt của giáo dục, y tế, xã hội thì sẽ không thích ứng với đời sống cộng đồng [30]
Những thành tựu mới YHHĐ nói chung và TMH nói riêng đã giúp chúng ta hiểu sâu hơn về bệnh điếc, về bộ máy thính giác, kỹ thuật và phương pháp thăm dò chức năng thính giác, phân loại điếc, nguyên nhân gây điếc Những tiến bộ đó giúp cho xã hội loài người phòng ngừa, giảm thiểu số trẻ em
bị điếc, cũng như là những thước đo, đánh giá kết quả chữa bệnh điếc bằng YHHĐ hay bằng YHCT
Bệnh điếc và chữa bệnh điếc đã được y văn cổ Trung Hoa nói đến là
do Thận hư tinh thiếu và Can Đởm vượng Theo YHCT thì tai là ngoại khiếu của Thận Các chứng tai ù, tai điếc phần lớn có liên quan tới Can và Thận Theo sách Nội Kinh - Tố Vấn và Linh Khu (770 - 221 tr.c.n), tai không phải là một cơ quan cô lập mà tai có quan hệ mật thiết với kinh lạc và tạng phủ
“Thập nhị kinh mạch giả, thượng lạc vu nhĩ”, nghĩa là: 12 đường kinh đi lên
Trang 2trên đều liên lạc với tai Các danh y Đại Việt: Lê Hữu Trác, Tuệ Tĩnh, Nguyễn
Đại Năng trong các sách còn lưu lại có nói đến tác dụng của châm cứu chữa bệnh điếc và câm
Ngày nay, ngành TMH đã mổ chữa cho một số trường hợp điếc Với hoàn cảnh nước ta hiện nay vấn đề điều trị điếc, đặc biệt là điếc tiếp nhận còn rất nhiều hạn chế Từ những năm thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Gs Nguyễn Tài Thu đã châm cứu thành công cho nhiều trường hợp điếc câm do chấn thương chiến tranh [33] Từ đó đến nay bệnh viện Châm Cứu trung ương điều trị có kết quả cho nhiều người bị điếc ở trong và ngoài nước Tuy nhiên điện châm PHCN nghe cho trẻ bị điếc cần được tiếp tục nghiên cứu để đưa ra phác đồ tối ưu cho từng loại điếc cũng như cường độ kích thích huyệt và liệu trình điều trị, do vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tác dụng của điện châm phục hồi chức năng nghe cho trẻ em điếc tiếp nhận nhằm 2 mục tiêu:
1 Nhận xét đặc điểm lâm sàng, đánh giá tác dụng của điện châm phục hồi chức năng nghe cho trẻ em điếc tiếp nhận theo y học hiện đại
2 Biện luận tác dụng của điện châm phục hồi chức năng nghe cho trẻ
em điếc tiếp nhận theo y học cổ truyền
Trang 3Chương 1
Tổng quan tài liệu
Điếc - câm là một tàn tật hết sức nặng nề Trẻ không những bị khuyết đi thế giới âm thanh để nhận thức thế giới bên ngoài mà còn mất luôn cả chức năng ngôn ngữ nói Theo F.Brohm và X Sedlacek thì ở Tiệp Khắc cứ 1000 trẻ
có từ 20 - 30 trẻ do bị điếc mà chậm nói hay nói ngọng và có một trẻ bị điếc nặng mà không nói được (tức điếc câm) Theo J.C Lafon thì ở Pháp, số trẻ bị
điếc nhẹ và vừa chiếm 3% số trẻ em và số trẻ điếc nặng chiếm khoảng 0,2% Theo Massimo del Bo Tại Hội nghị quốc tế TMH trẻ em lần thứ 2 tại Saint Marin năm1970 thì cứ 1000 trẻ đẻ ra có một trẻ điếc nặng [30]
Năm 1971, viện TMH sơ bộ tìm hiểu trên địa bàn 4 xã thuộc đồng bằng sông Hồng với số dân 17.871 đã phát hiện được 30 người điếc- câm, chiếm tỷ
lệ xấp xỉ 0,16% Năm 1981 bộ môn TMH trường đại học Y Hà Nội điều tra ở hai phường Trung Tự và Thổ Quan quận Đống Đa và xã Đông Mỹ huyện Thanh Trì - Hà Nội thấy 12 người điếc câm trong tổng số 23.231 nhân khẩu của địa bàn, chiếm tỷ lệ 0,05% [30]
Năm 1991 - 1995 viện khoa học giáo dục Việt Nam - bộ giáo dục và đào tạo đã điều tra 13 tỉnh , 13 huyện với 313 xã thuộc đủ các vùng: đồng bằng, trung du, miền núi, duyên hải, ở Bắc - Trung - Nam thấy tỷ lệ trẻ có tật chiếm 7% dân số, trong đó tật thính giác chiếm 22%, nên ước tính có 1 triệu trẻ bị
điếc và nghễnh ngãng [8], [44], [45], [46]
Một số báo cáo của bộ lao động thương binh và xã hội năm 1996 cho thấy ở Việt Nam ước có 2 triệu trẻ em tàn tật, chiếm 40% số đó là tật thính giác [1]
Từ cuối thế kỷ trước người ta đã biết rằng không phải mọi trẻ điếc- câm
đều điếc hoàn toàn: ở Anh, James Kerr Love năm 1893 đã cho biết chỉ dưới
Trang 410% học sinh điếc tại viện Điếc- câm Glasgow là bị điếc hoàn toàn, số còn lại
có thể nghe được các âm thanh có âm lượng lớn [30]
Năm 1772 – 1838, Jean Gaspard Marie Itard là người đầu tiên có sáng kiến sử dụng các phần thính giác còn sót lại ở trẻ điếc và đã thành công trong việc dạy các trẻ điếc phân biệt được các nguyên âm bằng tai nghe [30]
Năm 1998, Gs Nguyễn Tài Thu và cộng sự đã bước đầu đánh giá kết quả nghiên cứu điện châm phục hồi chức năng nghe cho trẻ em bị điếc tiếp nhận
đạt kết quả tốt [42]
1.1- Quan niệm thính học theo YHHĐ
1.1.1- Đại cương về thính giác và cơ quan thính giác
Thính giác bình thường của người không hoàn toàn giống nhau
Vùng nghe được của tai người ở dải 16 - 20.000 Hz và ở mỗi tần số có ngưỡng nghe tối thiểu và tối đa Tiếng nói con người nằm trong vùng nhạy cảm nhất của trường nghe, khoảng tần số 250 - 4000 Hz, tối đa ở vùng tần số
1000 - 2000 Hz
Về cường độ: từ 30- 70 dB, nói nhỏ 30-35 dB, nói vừa 55dB, nói to 70dB Vì vậy sự giảm sút thính lực trong vùng tiếng nói được nhiều người chú ý và ít quan tâm đến sự giảm sút thính lực ở vùng khác Về cường độ, sự giảm sút sức nghe >30 dB mới được chú ý [51]
1.1.2 - Nhắc lại giải phẫu và sinh lý của hệ thống dẫn truyền và tiếp nhận âm thanh
Tai là một cơ quan có cấu trúc phức tạp, chức năng của cơ quan này là cảm nhận âm thanh (nghe), nó gồm có quá trình dẫn truyền âm thanh và tiếp nhận âm thanh, bên cạnh chức năng nghe, tai còn tham gia vào việc điều chỉnh thăng bằng cho cơ thể Về giải phẫu tai gồm 3 phần đó là tai ngoài, tai giữa và tai trong [14], [23], [30], [54]
1.1.2.1- Tai ngoài:
Trang 5Phần dễ nhìn thấy nhất của tai ngoài là vành tai Nó có vai trò hạn chế bớt âm thanh mạnh vào ống tai Ngoài ra nó còn có vai trò thẩm mỹ nhiều hơn: để đeo khuyên tai hoặc đeo kính
Phần tiếp theo là ống tai Nó còn được gọi là ống tai ngoài Đó là ống
được tạo từ cơ, giúp cộng hưởng các âm thanh thu được vào ống tai Trung bình ống tai ngoài dài khoảng 2,5 cm và hơi cong Đầu trong của nó là màng nhĩ Phần lớn chiều dài ống tai là sụn nên mềm mại nhưng cũng dễ tổn thương khi dùng các vật lạ để ngoáy tai Tai ngoài có chức năng thu thập và dẫn truyền âm thanh vào tai giữa [13], [14], [30]
1.1.2.2- Tai giữa:
Gồm màng nhĩ, chuỗi ba xương con (gọi là tiểu cốt) và vòi nhĩ Vòi nhĩ nối hòm tai giữa với mũi hầu Các cấu trúc này nằm trong khoang của xương thái dương ở phần đáy sọ
Màng nhĩ là cấu trúc bán trong suốt, hình nón tương đối chắc chắn mặc
dù đủ mềm mại để rung động Màng nhĩ nhạy cảm với các âm thanh có các tần số khác nhau Phần lớn màng nhĩ đáp ứng với các âm thanh có tần số thấp, chỉ có một phần đáp ứng với âm thanh tần số cao đặc biệt Nhờ rung động của
nó, các âm thanh được truyền từ màng nhĩ tới chuỗi tiểu cốt Chuỗi tiểu cốt (ba xương con) được treo trong tai giữa nhờ các dây chằng Xương đầu tiên
được gọi là xương búa (vì nó trông như chiếc búa) và dính với màng nhĩ Xương tiếp theo là xương đe (vì nó giống đe) Nó nối với xương búa bằng một khớp rất nhỏ, nhờ đó có thể truyền được các rung động vô cùng nhỏ Xương thứ ba gọi là xương bàn đạp (vì nó giống cái bàn đạp) Âm thanh được truyền
từ xương búa sang xương đe tới xương bàn đạp vào tới cửa sổ bầu dục ở tai trong
Có hai cơ rất nhỏ ở tai giữa, hạn chế sự rung chuyển của màng nhĩ và các xương con Cơ căng màng nhĩ kéo căng màng nhĩ, do vậy hạn chế sự rung
Trang 6động của màng nhĩ Cơ thứ hai là cơ bàn đạp, nó giữa chuỗi xương con làm hạn chế rung động Những phản ứng này mang tính phản xạ gọi là phản xạ thính học Nhờ đó mà tai được bảo vệ khỏi tổn hại bởi những âm thanh hoặc tiếng động quá lớn [13], [47], [54]
Hình 1: Sơ đồ cắt ngang tai, gồm tai ngoài, tai giữa, tai trong [22], [54]
1.1.2.3- Tai trong:
Gồm: ốc tai đảm nhiệm chức năng nghe
Trang 7Tiền đình gồm nang cầu, nang xoan và các ống bán khuyên đảm nhiệm chức năng thăng bằng
ốc tai
ốc tai là một bộ phận của tai trong, đó là phần mê nhĩ trước hay mê nhĩ thính giác (labyrinthe auditif), nó cùng với mê nhĩ sau (mê nhĩ tiền đình) tạo nên tai trong Hai bộ phận này về mặt giải phẫu có liên hệ mật thiết với nhau, nhưng về mặt chức năng thì hoàn toàn khác nhau [14], [54], [58],[61]
- ốc tai xương: Được ví như ống rỗng nằm trong xương đá, tự xoay quanh mình nó 2 vòng rưỡi, trông giống như hình con ốc, phần đầu của vòng xoắn ốc đầu tiên có 2 cửa sổ, đó là cửa sổ tròn có màng nhĩ phụ đậy và cửa sổ bầu dục có đế của xương bàn đạp lấp vào mà qua đó năng lượng sóng âm sẽ
được truyền vào tai trong Lòng của ốc tai xương có chứa ngoại dịch và có ốc tai màng chạy trong đó [30], [47], [54], [61]
- ốc tai màng: Còn được gọi là ống ốc tai, đó là một ống màng dài khoảng 32 mm, chạy trong lòng của ốc tai xương, trong lòng có chứa đầy nội dịch [47], [54], [60]
Trên thiết đồ cắt ngang qua ống ốc tai, thấy ốc tai màng giới hạn bởi 3 thành:
o Thành trên: Màng Reissner
o Thành dưới: Màng đáy và cơ quan Corti
o Thành ngoài: Dây chằng xoắn ngoài và vân mạch
Phía trên màng Reissner là vịn tiền đình có chứa đầy ngoại dịch, phía dưới của màng đáy là vịn nhĩ cũng chứa ngoại dịch Cơ quan Corti: Nằm trên màng đáy, được cấu tạo bởi các tế bào biểu mô thần kinh biệt hoá cao và các
tế bào thần kinh đệm [30], [47], [61]
Trang 8Hình 2: Thiết đồ cắt ngang qua ống ốc tai [22]
Có hai loại tế bào biểu mô thần kinh:
+ Tế bào lông trong: Đó là tế bào hình quả lê, số lượng khoảng 3 500
đến 4 000 tế bào, các tế bào này được sắp xếp thành một hàng và trên đầu của mỗi tế bào có hệ thống lông lập thể (stereocils) [47], [54], [61]
+ Tế bào lông ngoài: Đó là các tế bào hình trụ, số lượng khoảng 30
000 đến 40 000 tế bào, các tế bào này được sắp xếp thành 3 hàng và cực trên cũng có hệ thống lông lập thể [47], [54], [61]
Trang 9 Mạch cấp máu cho ốc tai
Động mạch tai trong được tách ra từ động mạch tiểu não trước dưới thuộc hệ đốt sống thân nền, động mạch này tiếp tục chia thành 3 nhánh chính [14], [26], [47], [59], [61]
+ Động mạch tiền đình: Cấp máu cho phần tiền đình
+ Động mạch ốc tai: Cấp máu cho 3/4 trước của ốc tai
+ Động mạch tiền đình- ốc tai: Cấp máu cho một phần của tiền
đình và 1/4 sau của ốc tai
Dây thần kinh ốc tai và đường thần kinh thính giác
Sau khi năng lượng của sóng âm được truyền vào ngoại dịch của tai trong qua cửa sổ bầu dục, năng lượng của sóng âm này sẽ tác động lên cơ quan Corti và cơ quan Corti sẽ chuyển chúng thành các xung động thần kinh theo các sợi trục của các tế bào lông trong, tập trung về hạch Corti rồi dẫn truyền qua bó loa đạo của dây thần kinh số VIII, đi trong ống tai trong vào thân não
ở thân não, bó loa đạo chia thành nhiều bó nhỏ đi đến nhiều nhân thần kinh như nhân ốc lưng, nhân ốc bụng, phức hợp trám trên, củ não sinh tư dưới
và cuối cùng tập trung lại đi lên thuỳ thái dương 1 và 2 của vỏ não, đó chính là trung khu phân tích thính giác [14], 30], [47], [48], [49], [54]
1.1.3- Sinh lý quá trình nghe
Sóng âm đập vào màng nhĩ làm nó dao động gây nên dao động của chuỗi xương con Khi xương bàn đạp đập vào cửa sổ bầu dục, đập vào ngoại dịch ở vịn tiền đình (thang tiền đình) Những cử động này gây đẩy hoặc kéo
ốc tai màng (mê đạo màng), làm chuyển động ngoại dịch ở vịn nhĩ (thang nhĩ) Những cử động của dịch này khiến nhiều cấu trúc kể cả màng đáy (màng nền) cử động [13], [23], [51]
Trang 101.1.3.1- Truyền sóng âm
Màng đáy bắt đầu chuyển động từ phía đáy (gần cửa sổ bầu dục) sau đó
cử động lên xuống được chuyển từ phía dưới lên đỉnh màng đáy Kiểu dao
động này được gọi là truyền sóng Biên độ của sóng âm tăng lên và đạt cực đại
tại một vị trí nào đó của màng đáy và sau đó giảm dần Vị trí cực đại được xác
định nhờ tần số của sóng âm Những âm có tần số cao sẽ gây kích thích ở phần đáy của màng đáy Ngược lại những âm có tần số thấp kèm biên độ dao
động lớn gây cử động ở phần đỉnh Sự sắp xếp mối liên quan giữa tần số âm
và vị trí dao động của màng đáy gọi là cấu tạo định khu âm thanh Cường độ
âm thanh cũng ảnh hưởng đến biên độ sóng âm được truyền Âm thanh nhỏ có biên độ sóng truyền thấp và ngược lại Như vậy, tần số âm thanh được xác
định bởi vị trí nhận ở màng đáy và cường độ âm thanh được quy định bởi biên
độ sóng truyền của ngoại dịch [13], [23], [51]
1.1.3.2- Chuyển dạng âm thanh
Cơ quan corti nằm lơ lửng trong dịch endolymph Cơ quan này chứa tế bào lông, có vai trò chính trong quá trình nghe Các sóng âm ở dạng năng lượng cơ học được chuyển thành dạng năng lượng điện Quá trình biến đổi từ
dạng năng lượng này sang dạng năng lượng khác gọi là chuyển dạng Việc
thực hiện chức năng này chính là nhờ tế bào lông Chân các tế bào này ở màng
đáy, còn các lông nhỏ cắm vào màng mái Cử động lên xuống của cơ quan corti khiến các sợi lông này ngả ra trước và sau Những cử động này của sợi lông được gọi là cử động “lắc lư”, chính là quá trình chuyển dạng âm[13],[51] 1.1.3.3- Giải phóng chất dẫn truyền thần kinh
Bên trong các tế bào lông chứa đầy các ion mang điện tích âm Nội dịch, mà các sợi lông của tế bào lông ngập trong đó, lại chứa đầy các ion dương Những điện tích trái dấu này cách nhau bằng màng tế bào Các cử
động lắc lư của sợi lông làm đóng và mở cửa sổ rất nhỏ ở đầu sợi lông Khi
mở, các ion dương đi vào tế bào lông và các ion âm bên trong tế bào có kích
Trang 11thước lớn nên không ra khỏi tế bào Điện thế bên trong tế bào giảm gọi là quá trình khử cực và sảy ra ở đáy tế bào Các túi nhỏ chứa chất hoá học, gọi là chất dẫn truyền thần kinh, được giải phóng ra ở khoang dịch bao quanh tế bào Ngay ở đó các chất này kích thích các tế bào thần kinh, nằm ngay cạnh tế bào lông Như vậy quá trình chuyển dạng đã được thực hiện: tế bào lông chuyển năng lượng cơ học (lắc lư các sợi lông ) thành năng lượng điện (giải phóng chất dẫn truyền thần kinh) [13], [23], [51]
1.1.4- Định nghĩa điếc
Điếc nghĩa là suy giảm hoặc mất toàn bộ hay một phần sức nghe Có thể là điếc nặng nếu mất hoàn toàn sức nghe, điếc vừa nếu mất một phần thính giác và điếc nhẹ hay còn gọi là nghễnh ngãng [7], [8]
1.1.5 Phát hiện nghe kém và đánh giá sức nghe trẻ em
Sóng âm được tiếp nhận bởi cơ quan thính giác bằng các đường khác nhau Thông thường, các loại động vật sống trên mặt đất trong đó có con người, nhận các kích thích âm thanh bằng đường không khí Sóng âm qua tai ngoài, tai giữa tới tai trong, gây các chuyển động của dịch , kích thích cơ quan corti, và được truyền tới dây thần kinh thính giác Đường dẫn truyền này gọi là
dẫn truyền đường khí Ngoài ra, sóng âm còn được dẫn truyền vào tai trong
nhờ những dao động của xương sọ Những dao động này được truyền tới ốc tai xương (mê đạo xương) và cũng gây những dao động tương tự ở cơ quan corti như cách truyền âm bằng đường khí Cách dẫn truyền âm này gọi là dẫn
truyền bằng đường xương [13]
1.1.5.1- Các phương pháp đo sức nghe đơn giản:
Dựa vào quan sát các phản xạ với tiếng động ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: Sử dụng hộp đồ chơi phát ra tiếng kêu súc vật, dùng tiếng nói của người, dùng chũm choẹ, trống, thanh la Các phương pháp này không phải là cách đo định lượng mà chỉ cho được ý niệm gần đúng để phân biệt một trẻ nghễnh ngãng nhẹ với một trẻ điếc vừa hay điếc nặng
Trang 121.1.5.2 - Đo sức nghe bằng tiếng nói
Khoa điếc trẻ em - thính học viện TMH sử dụng 24 từ thử được thể hiện bằng 24 hình vẽ có những khái niệm gần gũi, dễ hiểu đối với trẻ Phương pháp này không chỉ liên quan đến thính giác mà cả đến trình độ hiểu biết, suy đoán,
nó bổ sung cho phương pháp đo bằng đơn âm
1.1.5.3 - Các kỹ thuật đo có điều kiện
Với các trẻ có khả năng cộng tác thì có thể đo được sức nghe bằng đơn
âm để có được một thính lực đồ hoàn chỉnh Dùng các phương pháp đo sức nghe bằng đơn âm như: Phản xạ định hướng có điều kiện (R.O.C), đo sức nghe bằng Peep- Show, phương pháp đo dùng bộ hình học mẫu giáo
Đo sức nghe bằng âm đơn:
Đây là phương pháp đo thính lực nhờ máy đo Máy tạo nên hàng loạt các tín hiệu là các âm đơn với một tần số mà không phải là sóng hài Tần số của các tín hiệu gồm: 125Hz, 250Hz, 500Hz, 1000Hz, 2000Hz, 4000Hz, 8000
Hz
Phương tiện đo: Là các máy đo thính lực
Máy Clinical Computer Audiometre Model AC5 đo sức nghe đơn âm Cách đo: Đo thính lực bằng đường xương hay đường khí đều nhằm xác
định ngưỡng nghe của người bệnh ở các tần số khác nhau đối với mỗi bên tai Nếu đo bằng đường khí, người bệnh phải đeo chụp tai và tín hiệu lần lượt được phát ra từ mỗi bên tai nghe Nếu đo bằng đường xương dao động ký được áp chặt vào xương sọ, thường là mỏm chũm mỗi bên Nhưng dù tín hiệu phát ra ở mỗi bên nhưng dao động của xương đều được truyền cùng lúc đến ốc tai hai bên, nên khó mà xác định được đáp ứng là của ốc tai bên nào
Các tín hiệu âm thanh do máy phát ra được xác định bằng tần số và cường độ của âm Tần số của âm đo bằng Herzt (Hz- số chu kỳ trong một giây) Cường độ âm đo bằng đề-xi-ben (dB) Sức nghe người bình thường được
Trang 13xác định trong khoảng –10 đến 15 dB Mọi ngưỡng nghe lớn hơn 15 dB được coi là nghe kém, dù bằng đường khí hay đường xương, hoặc cả hai
Biểu đồ ngưỡng nghe: Ngưỡng nghe được biểu diễn trên đồ thị, gọi là thính lực đồ Trục hoành phía trên biểu diễn các tần số của tín hiệu (Hz) Trục tung thể hiện cường độ của kích thích (dB) Độ lớn của các thông số tăng dần
từ trên xuống dưới và từ trái qua phải [13]
1.1.5.4 - Các phương pháp đo sức nghe khách quan
Các phương pháp này không đòi hỏi đến sự cộng tác của trẻ, cũng như không phải dựa vào sự quan sát các phản xạ thính giác: đo sức nghe bằng ghi
điện thân não, ghi điện ốc tai và đo trở kháng tai Những phương pháp này cũng chỉ đưa ra đánh giá bước đầu về sức nghe của trẻ
Phương pháp đo trở kháng tai đơn giản, rẻ tiền có hai ứng dụng lâm sàng:
- Nhĩ đồ: Bình thường biểu hiện như một hình nón không cân xứng, đáy loe, đỉnh trùng với áp suất 0 Khi có dịch tiết nước hoặc nhày trong hòm nhĩ, vòi nhĩ bị tắc một phần hoặc tắc hoàn toàn Nhĩ đồ có các hình ảnh bệnh lý
đặc biệt
- Phản xạ cơ bàn đạp: Xác định được tương đối chính xác sức nghe của trẻ, phân biệt rõ được nghe kém và sức nghe bình thường Trường hợp bình thường ngưỡng phản xạ cách ngưỡng nghe khoảng 70 - 90 dB Khi có hồi thính ngưỡng này thu hẹp lại
Đo phản xạ cơ bàn đạp có thể phát hiện nhiều trường hợp điếc giả vờ 1.1.6 - Phân chia các loại điếc
1.1.6.1 - Các kiểu điếc ở trẻ em
Sức nghe bình thường của con người là có ngưỡng nghe dưới 15 dB ở mọi tần số [13], [24], [52]
Trang 14Tần số tính bằng héc (Hz)
Hình 3: TLĐ bình thường [17], [18]
Theo kinh điển có 3 loại:
* Điếc dẫn truyền đơn thuần:
- Đồ thị đường xương bình thường, đồ thị đường khí xuống thấp
- Ngưỡng nghe đường khí cao hơn 20dB nhưng không bao giờ vượt quá 60-70dB [30], [53]
Trang 15* Trẻ bị điếc tiếp nhận thuần tuý:
- Đồ thị đường khí và đường xương đều xuống thấp, luôn song hành, có thể trùng nhau
- Ngưỡng nghe đường khí và đường xương đều cao và ở cùng một tần số thì hai ngưỡng nghe không chênh lệch quá 10 dB [30], [53], [57]
Tần số tính bằng Hec (Hz)
Hình 5: TLĐ điếc tiếp nhận [17],[18]
* Điếc hỗn hợp với các đặc điểm trên thính lực đồ:
- Đồ thị đường khí và đường xương đều xuống thấp nhưng không bao giờ song hành hay trùng nhau
- Ngưỡng nghe đường khí và đường xương đều cao nhưng không bằng nhau, ngưỡng nghe đường khí luôn cao hơn đường xương 10-60 dB
- Nếu đồ thị đường khí thấp cách xa đường xương ở tần số trầm rồi đi chếch lên và gần với đồ thị đường xương ở tần số cao ta
có nghe kém hỗn hợp thiên về dẫn truyền
Trang 16- Nếu đồ thị đường khí và đường xương xuống thấp ở tần số cao ta có nghe kém hỗn hợp thiên về tiếp nhận [31], [53], [56], [57]
Hình 6: TLĐ điếc hỗn hợp thiên về dẫn truyền [17], [18]
Tần số tính bằng Hec (Hz)
Hình 7: TLĐ điếc hỗn hợp thiên về tiếp nhận [17], [18]
Trang 171.1.6.2 - Các mức độ điếc ở trẻ em
Đây là một tiêu chí phân loại chủ yếu Theo kinh điển người ta đánh giá mức độ điếc bằng cách tính trung bình cộng mức điếc của trẻ ở 3 tần số chính 500, 1000 và 2000Hz đo đường khí đạo và tính bằng đơn vị dB với công thức Fletcher - Carhart:
Sức nghe
3
) 2000 ( )
1000 ( )
-Trẻ bị điếc độ III: Sức nghe của trẻ từ 60 - 90 dB, có thể nhận ra một
số tiếng động và còn có khả năng phân biệt các nguyên nhân nhưng phân biệt rất khó các phụ âm Đó là những đứa trẻ điếc nặng, có thể trở thành điếc câm
-Trẻ bị điếc độ IV: Với sức nghe lớn hơn 90 dB Đó là những đứa trẻ
điếc đặc mà để tự nhiên chắc chắn sẽ trở thành điếc câm [17], [18], [25], [30] 1.1.7 - Những nguyên nhân gây điếc ở trẻ em
Có rất nhiều nguyên nhân có thể gây ra điếc cho trẻ em
1.1.7.1 - Các nguyên nhân di truyền
Ngày nay, người ta thừa nhận khoảng 20-25% trẻ điếc là do di truyền Các nhà di truyền học xếp các tổn thương di truyền ra làm 4 loại:
- Các loạn sản về hình thái: gây ra các dị hình của cơ quan
- Các loạn sản về tổ chức: thường là các loại sản của mô liên kết
- Các loạn sản về phân tử: hay bệnh chuyển hoá di truyền mà hiện nay người ta chưa biết cơ chế tại sao gây ra điếc
- Các thoái hoá: đó là các vô dưỡng sinh được Gowers gọi là bệnh thoái hoá di truyền thường gây tổn thương chủ yếu ở cơ, hệ thần kinh và mặt
Có 6 hội chứng khác nhau đã được mô tả từ lâu Các quá trình vô dưỡng sinh
Trang 18xảy ra ở biểu mô giác quan của cơ quan Corti hoặc một biểu mô giác quan khác như biểu mô thận, mô thần kinh, não Các kết hợp hết sức khác nhau và cho các bệnh cảnh phức tạp
Các bệnh di truyền có liên quan tới phần dẫn truyền của thính giác tổn thương giải phẫu liên quan đến vành tai, ống tai ngoài, hòm nhĩ, các xương con Các dị dạng phối hợp có thể là: liệt mặt bẩm sinh, teo hàm dưới và xương gò má Các hội chứng khác nhau đã được mô tả:
* Hội chứng Franceschelli: hội chứng lệch khớp hàm mặt
* Hội chứng mắt-tai của Franceschlli và Golderhar
* Bệnh Lobstein-Vander Hoeve: xương dễ gãy, xốp xơ tai, dây chằng khớp nhão, củng mạc mắt xanh
* Hội chứng Alpert- Crouzon: lệch khớp sọ mặt, rộng xương bướm, mắt lồi
* Hội chứng Marfan: chi dài, dị dạng tim, mắt
Các bệnh di truyền có liên quan đến phần tiếp nhận của thính giác hay gặp hơn và được phân biệt thành 4 thể loại điếc:
* Thể loại Siebenmann: tổn thương vỏ xương ốc tai, sợi dây thần kinh số VIII
* Thể loại Scheibe: thiếu hoặc phát triển không đầy đủ các giác quan của tai trong với vỏ xương ốc tai vẫn nguyên vẹn Di truyền lặn, nhiễm sắc thể thường
* Thể loại Mondini: dị dạng vỏ xương ốc tai, teo dây thần kinh ốc tai – xuất hiện muộn, di truyền trội, nhiễm sắc thể thường
* Thể loại Michel: bất sản toàn bộ mê nhĩ, hiếm gặp
Người ta phân biệt hai loại điếc tiếp nhận di truyền:
* Điếc đơn phát có tính chất lặn hay cố định: Xảy ra từ khi đẻ và không tiến triển Điếc nặng cả hai tai, đối xứng, đường biểu diễn sức nghe đổ nhanh về phía tần số cao hoặc có độ dốc hình cùi dìa
Trang 19* Điếc thoái hoá có tính chất trội hay điếc tiến triển: Điếc tiếp nhận đối xứng hai bên, xảy ra muộn 5 - 30 tuổi Đồ thị thính lực đa dạng
Các điếc lặn trội, đều có thể kèm các bệnh di truyền khác có liên quan đến bộ máy khác như:
Mắt: Hội chứng Usher, hội chứng Waadenburg Kleln
Thận: Hội chứng Alport
Thận- tuyến giáp: Hội chứng Pendred
Hệ thần kinh Song thông thường nhất thì điếc di truyền kiểu tiếp nhận là riêng rẽ chiếm 90% số trẻ điếc có căn nguyên di truyền [18], [23], [30], [55]
Tiêu chí nghĩ đến điếc di truyền là:
* Trẻ bị điếc cả hai tai, đối xứng
* Gia đình có người điếc
* Tiền sử bản thân không phát hiện được nguyên nhân gây điếc
1.1.7.2 - Điếc do các bệnh xảy ra trong các thời kỳ bào thai có tầm quan trọng đặc biệt do khả năng áp dụng được các biện pháp dự phòng Ngày nay
có khuynh hướng xem mọi người bệnh mà người mẹ mắc phải khi có thai đều
có thể là nguyên nhân gây ra điếc cho thai nhi:
Các bệnh nhiễm vi rut: rubeon (phong chẩn), zona, thuỷ đậu, sởi, quai bị, cúm, toxoplasma
Các bệnh nhiễm khuẩn: giang mai, lao
Các rối loại chuyển hoá thể dịch hay nội tiết
Các nguyên nhân gây đe doạ sẩy thai, xuất huyết nhiều lần
Các bệnh mạn tính: bệnh thận, đái tháo đường
Các nguyên nhân nhiễm độc và rối loạn chuyển hoá: thiếu vitamin, nhiễm độc chì, rượu, thuốc lá, thuốc phá thai, các tác nhân vật lý, các thuốc Aminosid phù niêm bẩm sinh [18]
1.1.7.3- Các nguyên nhân gây ra điếc trong khi đẻ
Trang 20Chấn thương khi đẻ gây chảy máu tai trong, xuất huyết não, màng não của trẻ Mẹ đẻ khó do khung chậu hẹp, can thiệp Foocxep, đẻ quá lâu, quá nhanh, chèn ép cuống rau, rau cuốn cổ đã gây ngạt và gây tổn thương bộ máy thính giác
Do đẻ non: do thiếu ô xy, suy hô hấp
Do bất đồng nhóm máu, yếu tố Rh [18]
1.1.7.4- Các nguyên nhân gây ra điếc xảy ra sau khi đẻ
Do chấn thương: hiếm gặp có thể là điếc do gián đoạn chuỗi xương con Có thể là tiếp nhận do chấn thương âm thanh, chấn thương sọ có hay không có vỡ xương đá
Do nhiễm độc thuốc: Các kháng sinh nhóm Aminosid, Quinin, Salixlat, v.v.v điếc xảy ra thương tiến triển cả hai tai, kiểu tiếp nhận thuần tuý
Do nhiễm vi khuẩn và vi rút: hay gặp
Điếc do nhiễn khuẩn bộ máy tiếp nhận: Các viêm màng não - tuỷ: điếc cả hai tai Các viêm não do ho gà, sởi, quai bị, thuỷ đậu có thể gây tổn thương các nhân ốc tai và dây thần kinh thính giác các di chứng có khi rất phức tạp và nặng nề vì kèm theo điếc là tổn thương thần kinh khác nhau và trì
độn trí tuệ
Điếc do nhiễm khuẩn bộ máy dẫn truyền: viêm tai giữa cấp và mãn, viêm tai xương chũm [18]
1.1.7.5 - Các loại điếc không có căn nguyên rõ rệt
Trong số này có hai căn nguyên cần làm sáng tỏ thêm: điếc di truyền
và điếc do nhiễm khuẩn vi rút trong thời kỳ bào thai
Việc nghiên cứu kỹ các căn nguyên gây điếc ở trẻ nhỏ mang ý nghĩa quan trọng về phương diện dự phòng và trị liệu Điếc do nhiễm vi khuẩn, vi rút trong thời kỳ bào thai dễ bỏ qua vì các dấu hiệu nhiễm khuẩn nhiều khi hết
Trang 21sức tối thiểu, có khi tiềm tàng và chẩn đoán dựa vào phản ứng huyết thanh lại không tìm được [16], [18]
1.2- Quan niệm thính học theo YHCT
Theo YHCT thì tai là ngoại khiếu của Thận Thận khí phải đầy đủ, can huyết phải dồi dào thì nhĩ mục mới thông minh: mắt mới nhìn rõ, tai mới nghe
được Các chứng tai ù, tai điếc phần nhiều có liên quan tới Thận và Can Theo sách Nội Kinh-Tố Vấn và Linh Khu (770 - 221 trước công nguyên), tai không phải là một cơ quan cô lập mà tai có quan hệ mật thiết với kinh lạc
1.2.1 - Quan hệ giữa tai và kinh lạc
Nội kinh-Linh khu ở Thiên Tà khí tạng phủ bệnh kinh :
“Thập nhị kinh mạch, tam bách lục thập ngũ lạc, kỳ huyết khí giai thượng vu diện nhi tẩu khổng khiếu kỳ biệt khí tẩu vũ nhĩ di thính”
Có nghĩa: Khí huyết của 12 kinh chính và 365 lạc đều chạy lên phía trên tới mặt, vào ngũ quan (mũi, mắt, miệng, tai, lưỡi), thất khiếu (hai con mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng) đặc biệt đi ra tai làm cho nghe được
Nội kinh-Linh khu ở Thiên Kinh mạch :
“Mạch của thủ thiếu dương (kinh Tam Tiêu)” chạy lên gáy tới sau tai, chạy thẳng lên góc trên của tai rồi vào tai trong và ra phía trước tai
“Mạch của túc thiếu dương (kinh Đởm)” chạy tới sau tai, đi vào trong tai rồi lại ra trước tai
“Mạch của thủ thái dương (kinh Tiểu Trường)” chạy lên đến đuôi mắt thì chuyển vào tai trong
Trang 22 “Mạch của túc thái dương (kinh Bàng Quang)” đi tới đỉnh đầu rồi xuống góc trên tai
“Mạch của túc dương minh (kinh Vị)” đi đến huyệt giáp xa thì đi lên phía trước tai
“Biệt lạc của thủ dương minh (kinh Đại Trường)” đi vào tai, hợp với tổng mạch
Như vậy tuần hành của 6 kinh dương đều đi đến tai
Tuy 6 kinh âm không trực tiếp đi đến tai, nhưng 6 kinh biệt của 6 kinh
âm đều hội họp với 6 kinh biệt của 6 kinh dương, rồi cùng nhập vào 6 kinh dương, nên như vậy thì 6 kinh âm cũng có quan hệ gián tiếp với tai
Vì vậy trong thiên “Khẩu vấn” của Linh Khu đã nói: “Nhĩ vi tổng mạch chi sở tụ” nghĩa là: Tai là nơi tụ tập của các mạch
Nội kinh -Tố vấn ở Thiên Mậu thích luận :
“Năm lạc của thủ túc, thiếu âm, thái âm và túc dương minh đều hội họp ở trong tai: cũng nói lên 5 lạc của 4 kinh âm (Thủ-Túc: Thiếu âm, Thái
âm) đều cùng hợp với một kinh dương (Túc dương minh vị) để đi vào tai Sách Kỳ kinh bát mạch khảo của Lý Thời Trân (đời Minh- Trung Quốc) cũng nói thêm một bước quan hệ giữa kinh lạc và tai như sau:
“Hai mạch âm kiểu và Dương kiểu, phân bổ tại mặt trong và mặt ngoài của đùi, tại đầu gối, cũng song song đi vào sau tai”
Mạch Dương duy giống như chiếc võng liên lạc các kinh dương của toàn thân, đi lên đầu vào tai [39]
1.2.2 - Quan hệ giữa tai và tạng phủ
Quan hệ giữa tai và Tâm-Thận
Thiên “Mạch đồ” trong Nội kinh- Linh khu đã ghi: “Thận khí thông ra tai Thận bình thường thì nghe tốt” Trên lâm sàng Thận hư thường gây ra ù tai, điếc tai nên khi điều trị ù tai điếc tai thường bổ Thận Đó là quan hệ giữa Thận và tai
Trang 23Thiên “Kim quỹ chân ngôn luận” trong Nội Kinh-Tố vấn nói: “Nam phương sắc đỏ, thông với tâm, khai khiếu ở tai” tại sao Tâm cũng khai khiếu ở tai?
Góc khiếu của Tâm là lưỡi (Tâm khai khiếu tại thiệt) nhưng vì lưỡi không có lỗ khiếu (khống khiếu) nên đã gửi khiếu ở tai
Vì thế, Thận lấy tai làm chủ khiếu, Tâm lấy tai làm khách khiếu (theo Triệu Dương Quì đời Minh giải thích trong sách Y quán)
Đó là quan hệ giữa tai và hai tạng: Tâm và Thận
Quan hệ giữa tai và Tỳ Vị
Thiên “Ngọc cơ chân tàng luận” trong Nội Kinh-Tố vấn viết: “Tỳ bất cập làm cho cửu khiếu không thông” tức là bệnh hư nhược ở Tỳ làm cho ngũ quan thất khiếu và hai khiếu tiền âm, hậu âm không thông
Thiên “Thông bình hư thực luận” trong Nội kinh-Tố vấn cũng viết:
“tai ù đầu đau cửu khiếu không thông là do Trường Vị gây ra”
Quan hệ giữa tai với Can, Phế, Não, Tuỷ
* Thiên “Tàng khí pháp thời luận” trong Nội kinh- Tố vấn viết: “Bệnh của Can nếu khí hư thì tai không nghe được, nếu khí nghịch thì nhức đầu, tai
điếc”
Như vậy: Tai và tạng Can có ảnh hưởng bệnh lý mật thiết
* Nạn thứ 40 trong Nạn kinh của Biển Thước có ghi “Phế chủ thanh làm cho tai nghe được”, nói lên quan hệ giữa tai và phế
* Sách “Chứng trị chuẩn thằng” đời Nguyên (1602) nhận định: “Phế khí hư tất thiểu khí làm cho tai bị điếc”
* Sách “Tạp bệnh nguyên lưu tê chúc” (1773) cũng viết: “Phế chủ khí, khí của toàn thân xâu suốt ra tai”
* Thiên “Hải luận” trong Linh Khu còn nói: “Não là bể của tuỷ (não
vi tuỷ hải), nếu não kém, tuỷ hải bất túc gây ra tai ù”
Đó là nhận định của người xưa về quan hệ giữa tai và não
Trang 24Từ những lời bàn trong sách xưa mà lý giải có thể tai cùng với toàn thân tồn tại nhiều mối quan hệ mật thiết, cấu thành chỉnh thể thống nhất [39] 1.2.3- Vai trò sử dụng điện châm và kích thích điện
Thiên thích tiết châm tà, sách Linh khu viết: mục đích và phạm vi của việc dùng châm là để điều hoà khí Điều khí bản chất chính là điều hoà khí âm dương, trên cơ sở tả cái thực của khí hữu dư, bổ cái hư của khí bất túc ở những
vị trí khác nhau của cơ thể, do những tà khí khác nhau gây ra Tả cái thực của khí hữu dư chính là để ngăn chặn và đuổi tà khí gây nên bệnh ra khỏi cơ thể (khu tà) Bổ cái hư của khí bất túc nhằm phục hồi và nâng cao sức chống đỡ của cơ thể (phù chính) Âm dương được điều hoà, khí huyết được lưu thông thì mọi bệnh tật có thể khỏi và mọi chứng đau sẽ hết Điều này y học cổ truyền gọi là : “tăng cường chính khí để đuổi tà khí” [9], [41]
Theo quan điểm của y học hiện đại, hiệu quả chính của châm cứu là
điều hoà chức phận của cơ thể, nâng cao sức chống đỡ, tăng cường chức năng
hệ miễn dịch và khả năng chống viêm, giảm đau, chống co thắt và chống liệt [41]
Điện châm là phương pháp tác động vào huyệt (qua kim châm cứu) tức là dùng một máy điện tử tạo xung điện với tần số và cường độ thích hợp để kích thích và điều hoà sự vận hành của khí huyết Từ đó ảnh hưởng đến hoạt
động của các cơ, dây thần kinh, các tổ chức làm tăng cường dinh dưỡng và
điều chỉnh chức năng của các mô, các hệ thống cơ quan đưa trạng thái của cơ thể trở về trạng thái thăng bằng âm dương để tiêu trừ bệnh tật [34], [37], [41] 1.2.4- Phân loại bệnh điếc tiếp nhận trẻ em
Theo sách Nội Kinh-Tố Vấn và Linh Khu (770 - 221 trước công nguyên), tai không phải là một cơ quan cô lập mà tai có quan hệ mật thiết với kinh lạc
và tạng phủ
“ Thập nhị kinh mạch giả, thượng lạc vu nhĩ”, nghĩa là: 12 đường kinh đi lên trên đều liên lạc với tai
Trang 25Theo YHCT thì tai là ngoại khiếu của Thận Thận khí phải đầy đủ, can huyết phải dồi dào thì nhĩ mục mới thông minh: mắt mới nhìn rõ, tai mới nghe
được Các chứng tai ù, tai điếc phần nhiều có liên quan tới Thận và Can Theo Gs Nguyễn Tài Thu bệnh điếc tiếp nhận chia làm 2 loại [35], [36], [38], [40]:
Loại 1:
Điếc do Can Thận hư, tinh thiếu, tân dịch thoát
Triệu chứng: Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch huyền trầm nhược
Nguyên nhân: Thường do đẻ non, đẻ yếu, sau nhiễm khuẩn, viêm não Loại 2:
Điếc do Can Đởm vượng
Triệu chứng: Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù huyền sác
Nguyên nhân: Thường do nhiễm độc thuốc, bẩm sinh, di truyền, sốt cao
co giật, tự nhiên bị điếc
Trang 26Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 - Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm các bệnh nhân nhi từ 6 tuổi đến 15 tuổi bị điếc tiếp nhận được
điều trị ở bệnh viện Châm Cứu trung ương
2.1.1- Tiểu chuẩn chọn bệnh nhân
Theo YHHĐ:
Chọn các bệnh nhi thể điếc tiếp nhận đơn thuần có tiêu chuẩn sau:
Phản xạ cơ bàn đạp âm tính cả hai tai
Nhĩ đồ bình thường cả hai tai
Có ngoại hình bình thường, tâm thần kinh bình thường
Có đầy đủ biểu đồ sức nghe trước và sau đợt điều trị
TMH của trẻ không trong tình trạng viêm cấp
Theo YHCT:
Các cháu được khám theo tứ chẩn và bát cương kết hợp với máy móc phương tiện của YHHĐ Dùng mẫu bệnh án châm cứu nhi khoa của khoa nhi bệnh viện Châm Cứu trung ương
Chia làm 2 loại:
Loại 1: Điếc do Can Thận hư, tinh thiếu, tân dịch thoát
Triệu chứng: Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm huyền nhược
Nguyên nhân: Thường do đẻ non, đẻ yếu, sau nhiễm khuẩn, viêm não
Loại 2: Điếc do Can Đởm vượng
Triệu chứng: Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù huyền sác
Nguyên nhân: Thường do nhiễm độc thuốc, bẩm sinh, di truyền, sốt cao co giật, tự nhiên bị điếc
Trang 272.1.2- Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân
Trẻ rối loạn chức năng ngôn ngữ, tức là trẻ câm nhưng không điếc
Trẻ điếc có biểu hiện kết hợp tổn thương tâm thần kinh ở các mức độ khác nhau
Trẻ có dị dạng, dị tật về cấu trúc giải phẩu ở cơ thể, ở vùng sọ - hàm - mặt, ở vùng TMH và thanh quản
Mọi phương pháp điều trị của YHCT đều dựa theo nguyên lý: bệnh hư thì
bổ, bệnh thực thì tả, điều hoà âm dương, điều hoà chức năng tạng phủ, thông kinh hoạt lạc tại vùng bị bệnh theo nguyên tắc “kinh mạch sở quá, chủ trị sở cập” tức là kinh mạch đi qua vùng nào thì chữa bệnh vùng đó
Ngoài ra còn sử dụng các huyệt bổ tả toàn thân nhằm cân bằng âm dương của tạng phủ kinh lạc
* Dựa theo lý luận của YHCT và theo Gs Nguyễn Tài Thu [28], [35], [36], [38], [40], [42]:
Điếc loại 1- Điếc do: Can Thận hư, tinh thiếu, huyết kém
Hướng điều trị: Bổ Thận tinh, bổ Can huyết, thông kinh hoạt lạc.Châm bổ các huyệt:
Thái Khê Tam Âm Giao Ngoại Quan xuyên Chi Câu
Trang 28Châm tả các huyệt:
ế Phong Hợp Cốc Nhĩ Môn xuyên Thính Cung
Điếc loại 2: Điếc do: Can Đởm vượng che lấp thanh khiếu
Hướng điều trị: Bình Can Đởm, giáng hoả, thông kinh hoạt lạc Châm tả các huyệt:
ế Phong Để PHCN ngôn ngữ nói cho trẻ điếc cần châm sơ thông kinh khí tai
lưỡi với các huyệt:
Thượng Liêm Tuyền Ngoại Ngọc Dịch
* Trình tự tiến hành
Tiếp nhận bệnh nhân đúng tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu
Khám tâm thần kinh để đánh giá về phát triển tâm lý, vận động, trí tuệ, sự phát triển của ngôn ngữ
Loại trừ bệnh tâm thần kinh kết hợp với điếc hoặc phát hiện các căn nguyên bệnh chung khác
Khám TMH, thanh quản để xác định tình trạng cơ quan thính giác có viêm mũi họng, VA, tình trạng vòi nhĩ, các amidan,
Đo nhĩ lượng- phản xạ gân cơ bàn đạp trên máy Amplaid A750 – Italy
Đo sức nghe đơn âm trên máy Clinical Compute Audiometer Model AC 5
Trang 29 Các cháu được đo sức nghe ít nhất 2 lần trước đợt điều trị và sau
đợt điều trị Phân loại chia mức độ điếc theo tiêu chuẩn kinh điển mà khoa
điếc trẻ em- thính học bệnh viện TMH hiện đang dùng
Đo sức nghe cho các cháu theo quy chuẩn:
Đo trong phòng cách âm đạt tiêu chuẩn tại khoa thăm
do chức năng bệnh viện Châm Cứu Trung ương
Đo nhiều lần, để cho trẻ làm quen, hiểu được công việc làm, cộng tác để đạt độ chính xác hơn
Đo ở một máy chuyên dùng
Lập mỗi cháu một bệnh án Hỏi kỹ tiền sử về di truyền, thai sản và các bệnh mà trẻ đã mắc, đã dùng thuốc, thăm khám tìm nguyên nhân, đánh giá tổn thương theo YHHĐ
Khám YHCT: Các cháu được khám theo tứ chẩn, bát cương
* Kỹ thuật châm
Tư thế bệnh nhân ngồi hay nằm ngửa
Châm kim nhanh qua da rồi từ từ đẩy kim tới huyệt cho đạt được cảm giác “đắc khí”
ế Phong (TR 17): dùng kim 5 - 6 cm châm hướng kim chếch lên trên và vào trong sâu 0,5 – 1 thốn Bệnh nhân cảm thấy căng tức vào trong tai là
Suất Cốc (VB 8): dùng kim 5 cm châm hướng kim xuống dưới
Hợp Cốc (GI 4): dùng kim 6 - 8 cm hướng kim về phía ngón tay trỏ, khi kích thích thì rung ở ngón trỏ
Trang 30Ngoại Quan (TR 5): dùng kim 6 - 8 cm châm xuyên kim tới huyệt Chi Câu
Thái Khê (Rn 3): dùng kim 5 - 6 cm châm hướng kim về phía gốc chi Tam Âm Giao (RP 6): dùng kim 6 - 10 cm hướng kim về phía gốc chi
Huyệt cần tả phải mắc các dây ở máy điện châm bên tần số tả
Tần số tả: 240 - 300 xung/phút (4 - 6 Hz) Dạng xung đa hài
Cường độ tả: 10 - 30A, (mức tối đa mà bệnh nhân chịu được)
Tần số bổ: 60 - 180 xung/phút (1 - 3 Hz) Dạng xung kích thích là xung Blocking
Cường độ bổ: 5 - 20 A (mức tối đa mà bệnh nhân chịu đựng được) Thời gian châm: ngày điện châm 1 lần, thời gian kích thích điện 25 - 30 phút
Liệu trình một đợt điều trị trung bình 30 ngày
Trang 31* Theo GS Nguyễn Tài Thu kết quả tiến bộ sức nghe chia làm ba loại [28], [35], [40]:
Loại A (khá): Là những bệnh nhân tiến triển được 1 độ điếc (trên
20 dB) và 2-3 dải tần
Loại B (trung bình): Là những bệnh nhân tiến triển từ 2-3 dải tần Loại C (kém): Không tiến triển
2.3- Phương tiện nghiên cứu
Máy Amplaid A750 -Ytalia đo nhĩ lượng - phản xạ gân cơ bàn đạp
Máy Clinical Computer Audiometre Model AC5 đo sức nghe đơn âm
Máy điện châm M7 do bệnh viện Châm Cứu trung ương sản xuất
Kim châm dùng loại hào châm Mỗi cháu được dùng riêng một ống kim
Bông, cồn, khay men, panh
Hình 8: Máy điện châm M7 do bệnh viện Châm Cứu trung ương sản xuất
Trang 32Hình 9: Máy Clinical Computer Audiometre Model AC5 đo sức nghe đơn âm
Hình 10: Huyệt vùng tai Nhĩ Môn
Thính Cung
Trang 33Ngo¹i Quan
Hîp Cèc
H×nh 11: §êng kinh vµ huyÖt vÞ ch©m
Trang 35Chương 3 Kết quả nghiên cứu
40 37.8
11.1 11.1
010
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bệnh nhi nghiên cứu theo lứa tuổi và giới