1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá sự thay đổi nhận thức về tự xử trí hen phế quản của người bệnh điều trị ngoại trú tại thành phố tuy hòa tỉnh phú yên năm 2017 sau can thiệp giáo dục

91 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH LƯU THỊ KIM YẾN ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ TỰ XỬ TRÍ HEN PHẾ QUẢN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2017

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LƯU THỊ KIM YẾN

ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ TỰ XỬ TRÍ HEN PHẾ QUẢN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2017

SAU CAN THIỆP GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LƯU THỊ KIM YẾN

ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ TỰ XỬ TRÍ HEN PHẾ QUẢN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2017

SAU CAN THIỆP GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Mã số: 60.72.05.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN NGỌC MINH

NAM ĐỊNH – 2017

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN VĂN

“Đánh giá sự thay đổi nhận thức về tự xử trí Hen phế quản của người bệnh điều trị ngoại trú tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên năm 2017 sau can thiệp giáo dục”

Mục tiêu: (1)“ Mô tả thực trạng nhận thức, thái độ, tự xử trí Hen phế quản của

người bệnh điều trị ngoại trú tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên năm 2017 sau can thiệp giáo dục” (2)“ Đánh giá sự thay đổi nhận thức, thái độ, tự xử trí Hen phế quản của người bệnh điều trị ngoại trú tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên năm 2017 sau can thiệp giáo dục.”

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu can thiệp giáo dục sức

khỏe một nhóm có so sánh trước sau được xử lý bằng phần mềm xử lý số liệu SPSS 16.0 nghiên cứu thực hiện trong 5 tháng từ tháng 1/2017 - 5/2017 trên 87 người bệnh (NB) được lấy ngẫu nhiên có độ tuổi từ 19 đến 85 của 19 xã - phường tại thành phố Tuy Hòa

Kết quả: Sau can thiệp giáo dục: điểm trung bình nhận thức về bệnh Hen phế

quản đều tăng có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp với p(2 - 1) < 0,001 Trước can thiệp điểm nhận thức là 13,34 ± 4,34; ngay sau can thiệp 19,51 ± 1,85; sau can thiệp 1 tháng 18,03 ± 2,41p(3 - 1) < 0,001 Đối với thái độ của người bệnh đều tăng sau can thiệp giáo dục: trước can thiệp điểm thái độ là 14,60 ± 2,59 với p(2 - 1) < 0,001 ; ngay sau can thiệp 16,45 ± 1,77; sau can thiệp 1 tháng 16,61 ± 1,96 với p(3 - 1) < 0,001 Đối với tự xử trí hen phế quản của người bệnh đều tăng sau can thiệp giáo dục: trước can thiệp điểm tự xử trí là 2,43 ± 1,33 với p(2 - 1) < 0,001 ; ngay sau can thiệp 4,83 ± 1,51; sau can thiệp 1 tháng 3,28 ± 1,117 với p(3 - 1) < 0,001

Kết luận: Qua nghiên cứu trước khi can thiệp nhận thức, thái độ, tự xử trí

HPQ của NB chưa cao nhưng sau can thiệp giáo dục có sự thay đổi rõ rệt nhận thức

NB đã được nâng cao hơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng

Đào tạo Sau đại học và các quý thầy cô, các khoa - phòng - bộ môn của trường đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Cao Đẳng Y Tế Phú Yên và Ban giám đốc bệnh viện Đa Khoa Phú Yên, phòng khám, phòng kế hoạch tổng hợp cùng các trưởng trạm y tế xã - phường đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có tôi có thể hoàn thành tốt luận văn

Đặc biệt với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm

ơn PGS TS Nguyễn Ngọc Minh (thầy thuốc nhân dân, cố vấn Hội Điều Dưỡng Việt Nam) người thầy đã tận tình giúp đỡ, dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả người bệnh, đặc biệt là sự ủng hộ giúp

đỡ từ gia đình, bạn bè, người thân đã động viên giúp đỡ nhiệt tình để tôi có thể hoàn thành tốt nghiên cứu này

Học Viên

Lưu Thị Kim Yến

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Lưu Thị Kim Yến Tôi thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá sự thay đổi nhận thức về tự xử trí Hen phế quản của người bệnh điều trị ngoại trú tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên năm 2017 sau can thiệp giáo dục”

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả thu được trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình nghiên cứu nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác của những thông tin và số liệu đưa ra

Phú Yên, ngày 20 tháng 09 năm 2017

Người làm nghiên cứu

Lưu Thị Kim Yến

Trang 6

MỤC LỤC

Nội dung Trang

TÓM TẮT LUẬN VĂN i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Lịch sử về Hen phế quản 4

1.2 Định nghĩa và mô tả về Hen phế quản 5

1.3 Tình trạng mắc hen phế quản trên thế giới, Việt Nam và các tác động của Hen phế quản 9

1.4 Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài 13

1.5 Nội dung của giáo dục tự xử trí HPQ của người bệnh theo hướng dẫn GINA 2016 14

1.6 Địa bàn nghiên cứu 15

1.7 Lựa chọn mô hình can thiệp 15

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

2.3 Thiết kế nhiên cứu 18

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 19

2.4.1 Cỡ mẫu 19

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 19

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 20

Trang 7

2.6 Các biến số nghiên cứu 23

2.7 Khái niệm thang đo, tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá và cách thức đo lường 24

2.8 Xử lý và phân tích số liệu 25

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 25

2.10 Hạn chế của nghiên cứu 26

2.11 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 26

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 27

3.2 Nhận thức của người bệnh về bệnh HPQ 30

3.3 Thái độ của người bệnh đối với kiểm soát bệnh HPQ 36

3.4 Nhận thức của người bệnh về tự xử trí HPQ 39

3.5 Đánh giá sự thay đổi của người bệnh về nhận thức, thái độ và tự xử trí bệnh HPQ 44

Chương 4: BÀN LUẬN 49

4.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 49

4.1.1 Phân bố NB tham gia nghiên cứu theo tuổi 49

4.1.2 Phân bố giới tính của NB HPQ 49

4.1.3 Phân bố NB tham gia nghiên cứu theo trình độ học vấn 49

4.1.4 Phân bố NB tham gia nghiên cứu theo nghề nghiệp 50

4.1.5 Đặc điểm về hút thuốc lá của người bệnh 50

4.1.6 Hoàn cảnh phát hiện bệnh của người bệnh HPQ 50

4.2 Thực trạng về nhận thức, thái độ, tự xử trí HPQ của người bệnh 51

4.2.1 Thực trạng nhận thức của NB về bệnh HPQ 51

4.2.2 Thực trạng về thái độ của NB đối với kiểm soát HPQ 52

4.2.3 Thực trạng nhận thức của người bệnh về tự xử trí HPQ 53

4.3 Thay đổi về nhận thức, thái độ và tự xử trí HPQ của người bệnh sau can thiệp giáo dục 55

4.3.1 Thay đổi nhận thức của NB về bệnh HPQ 55

4.3.2 Thay đổi về thái độ của người bệnh đối với kiểm soát HPQ 57

Trang 8

4.3.3 Thay đổi của NB về tự xử trí HPQ của người bệnh 59 4.4 Sự tương quan giữa kiến thức và thực hành tự xử trí HPQ trong thay đổi nhận thức của người bệnh 61 KẾT LUẬN 63 KHUYẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 4: Danh sách người bệnh tham gia vào nghiên cứu

Phụ lục 5: Biên bản bảo vệ luận văn Thạc sĩ

Phụ lục 6: Nhận xét luận văn thạc sĩ của phản biện 1

Phụ lục 7: Nhận xét luận văn thạc sĩ của phản biện 2

Phụ lục 8: Biên bản chỉnh sửa luận văn sau bảo vệ

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

EURO (European Monetary Unit) : Đơn vị tiền tệ châu Âu

GINA (Global Initiative for Asthma ) : Sáng kiến toàn cầu về Hen phế quản

USD (United States dollar) : Tiền đô la Mỹ

WHO (World Health Organization) : Tổ chức y tế thế giới

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại mức độ HPQ theo GINA 2006 7

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của NB HPQ 27

Bảng 3.2 Đặc điểm về giới tính của NB HPQ 27

Bảng 3.3 Đặc điểm về nghề nghiệp 28

Bảng 3.4 Đặc điểm về hút thuốc lá của người bệnh 29

Bảng 3.5 Đặc điểm kiến thức của người bệnh về đặc điểm bệnh HPQ 30

Bảng 3.6 Đặc điểm kiến thức của người bệnh về yếu tố nguy cơ gây ra bệnh HPQ 31

Bảng 3.7 Đặc điểm kiến thức của người bệnh về những triệu chứng thường gặp ở bệnh HPQ 32

Bảng 3.8 Đánh giá kiến thức của người bệnh về triệu chứng của cơn HPQ cấp 33

Bảng 3.9 Đặc điểm các yếu tố có thể cản trở đến việc kiểm soát /điều trị HPQ 34

Bảng 3.10 Thay đổi điểm nhận thức về kiến thức của người bệnh HPQ (n=87) 35

Bảng 3.11 Đặc điểm thái độ của người bệnh đi khám bệnh ngay khi có những biểu hiện nghi ngờ HPQ 36

Bảng 3.12 Đặc điểm thái độ của người bệnh đi điều trị khi phát hiện mình bị mắc HPQ 36

Bảng 3.13 Đặc điểm thái độ của người bệnh trong việc tuân thủ hướng dẫn sử dụng thuốc trong kiểm soát HPQ 37

Bảng 3.14 Đặc điểm thái độ của người bệnh trong việc tái khám định kì trong kiểm soát HPQ 37

Bảng 3.15 Thay đổi điểm nhận thức về thái độ của người bệnh HPQ (n=87) 38

Bảng 3.16 Đặc điểm về thực hành khi phát hiện bị HPQ của người bệnh 39

Bảng 3.17 Đặc điểm về thực hành khi phát hiện bị HPQ của NB 39

Bảng 3.18 Đặc điểm về sử dụng loại thuốc xịt của người bệnh HPQ 41

Bảng 3.19 Đặc điểm về việc dùng thuốc của người bệnh HPQ 42

Bảng 3.20 Đặc điểm việc xử trí khi HPQ nặng lên của NB 43

Trang 11

Bảng 3.21 Thay đổi điểm trung bình về phần thực hành phòng chống bệnh HPQ

44 Bảng 3.22 Sự thay đổi nhận thức về thái độ của NB HPQ 45 Bảng 3.23 Tương quan giữa nhận thức về kiến thức và nhận thức về thực hành tự

xử trí HPQ trước can thiệp giáo dục 46 Bảng 3.24 Tương quan giữa nhận thức về kiến thức và nhận thức về thực hành về

bệnh HPQ của NB ngay sau can thiệp 47 Bảng 3.25 Tương quan giữa nhận thức kiến thức và nhận thức về thực hành về

bệnh HPQ của NB sau can thiệp 1 tháng 48

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết của mô hình nghiên cứu 17

Sơ đồ 2.2 Nghiên cứu trước - sau 19

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm trình độ học vấn của người bệnh HPQ 28

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về hoàn cảnh phát hiện bệnh của người bệnh HPQ 29

Biểu đồ 3.3 Sự thay đổi nhận thức về kiến thức của NB HPQ 44

Biểu đồ 3.4 Sự thay đổi nhận thức về thực hành của NB HPQ 46

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phế quản là một bệnh mạn tính gây ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế, công việc và cuộc sống hàng ngày của người bệnh Hiện nay, Hen phế quản không còn là vấn đề mới trên thế giới cũng như ở Việt Nam nhưng vẫn luôn là chủ đề nóng trong vấn đề sức khỏe của con người Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) có

235 triệu người mắc Hen phế quản trên thế giới vào năm 2013 và con số này có thể tăng lên 334 triệu người trong vài năm tiếp theo [22] Hàng năm có 180.000 người chết con số này sẽ không dừng lại ở đây mà sẽ có thêm nhiều người chết vì Hen phế quản đồng thời kéo theo tăng chi phí điều trị, Hen phế quản không còn là vấn đề của các nước phát triển nữa mà cả các nước đang phát triển và kém phát triển [34] Tại Việt Nam độ lưu hành Hen phế quản là 7% chung cả người lớn và trẻ em, số người

tử vong hàng năm không dưới 3000 người nhưng vẫn chưa phải là con số thống kê đầy đủ nhất, kéo theo chi phí y tế trực tiếp trung bình/ người/ năm là 198 USD [9] Nguyên nhân chính của tăng tỷ lệ tử vong và nhập viện vì Hen phế quản là do người bệnh không tự xử trí cơn Hen phế quản kịp thời hay xử trí không đúng cách, nhưng việc phòng ngừa và tự xử trí đúng cách của người bệnh đối với Hen phế quản vẫn còn nhiều hạn chế về nhận thức, thái độ và tự xử trí ở người bệnh Hen phế quản, tuy nhiên 85% người bệnh có thể giảm triệu chứng, giảm tử vong nếu biết cách phát hiện và tự xử trí Hen phế quản sớm [5] Vì vậy nếu biết cách tự xử trí Hen phế quản là vô cùng quan trọng, để giảm tỷ lệ tử vong cũng như tình trạng nặng hơn của bệnh Hen phế quản thì cần phải có kiến thức và thực hành xử trí đúng, một trong các hướng dẫn đó là từ tổ chức sáng kiến toàn cầu về Hen phế quản (GINA: Global Initiative for Asthma) đã hướng dẫn một cách cụ thể nhất cho người bệnh GINA được đưa vào Việt Nam từ năm 2000 nhưng chỉ mới tập trung vào phần điều trị còn phần hướng dẫn tự xử trí cho người bệnh thì chỉ tới GINA 2014 mới thật sự

cụ thể và rõ ràng để người bệnh có thể kiểm soát Hen phế quản một cách hiệu quả nhất Cho tới nay phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung các khía cạnh của điều trị, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào tại Việt Nam cũng như tại các tỉnh thành giới thiệu một cách đầy đủ và hệ thống về tự xử trí Hen phế quản ở người bệnh

Trang 14

Tại tỉnh Phú Yên, theo thống kê của Sở Y Tế tỉnh Phú Yên năm 2015 tỉnh Phú Yên

có 843 người bệnh mắc Hen phế quản và có 3 người bệnh tử vong (điều trị nội trú), đến năm 2016 có 901 người bệnh trong đó tử vong 1 người bệnh (điều trị nội trú) và

3 tháng đầu năm 2017 có 541 người bệnh mắc Hen phế quản tử vong 1 người bệnh (điều trị nội trú) Các con số trên được tổng hợp gồm người bệnh được chẩn đoán Hen phế quản điều trị nội trú và ngoại trú chưa có thống kê đầy đủ về người bệnh điều trị nội và ngoại trú riêng biệt, đặc biệt người bệnh tử vong ngoại trú vẫn chưa được thống kê Mục tiêu của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Phú Yên từ 2015 đến 2025 có 70% người trưởng thành hiểu biết về bệnh Hen phế quản cũng như các nguyên tắc phòng chống bệnh này, 50% người bệnh Hen phế quản được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm, 50% số người bệnh được điều trị đạt kiểm soát hen trong đó 20% đạt kiểm soát hoàn toàn [13] Tại Phú Yên chỉ có một số nghiên cứu Hen phế quản ở trẻ

em về mặt lâm sàng mà chưa có nghiên cứu nào về vấn đề tự xử trí Hen phế quản của người bệnh theo hướng dẫn của tổ chức Sáng kiến toàn cầu về Hen phế quản hay một chương trình giáo dục sức khỏe nào về vấn đề Hen phế quản để nâng cao nhận thức cho người bệnh, cũng như kiểm soát Hen phế quản một cách hiệu quả

nhất Vì các lý do nêu trên nên chúng tôi tiến hành làm đề tài nghiên cứu “Đánh giá

sự thay đổi nhận thức về tự xử trí Hen phế quản của người bệnh điều trị ngoại trú tại thànhphố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên năm 2017 sau can thiệp giáo dục”

Trang 15

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng nhận thức, thái độ, tự xử trí Hen phế quản của người bệnh

điều trị ngoại trú tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên năm 2017 sau can thiệp giáo dục

2 Đánh giá sự thay đổi nhận thức, thái độ, tự xử trí Hen phế quản của người

bệnh điều trị ngoại trú tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên năm 2017 sau can thiệp giáo dục

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử về Hen phế quản

Thời kỳ cổ đại

Bệnh Hen phế quản (HPQ) được biết đến từ rất lâu trên thế giới khoảng 5000 năm trước đây Khoảng 300 năm trước công nguyên các nước Trung Quốc, Ai Cập,

Hi Lạp HPQ đã được nói đến trong các tài liệu y văn cổ bởi các nhà y học cổ đại

Từ năm 2700 trước công nguyên người ta đã sử dụng ma hoàng để chữa bệnh (Ephdra) đặc biệt là khó thở Đến năm 400 trước công nguyên Hypocrat đã đề xuất

và giải thích từ “ Asthma” có nghĩa là HPQ để mô tả một cơn khó thở kịch phát có biểu hiện khò khè Thế kỷ thứ I sau công nguyên Cleusus đã nêu các thuật ngữ như

“Dyspnea” và “Asthma”, đến thế kỷ thứ II Aretanus mô tả rõ hơn về HPQ, ông ta cho rằng HPQ là một bệnh mạn tính có chu kì, có sự ảnh hưởng từ bên ngoài như thời tiết thay đổi và là việc gắng sức [11] Năm 1615, Van Helmont đã thông báo các trường hợp hen bị ảnh hưởng từ phấn hoa Đến năm 1698 đã có sự tiến bộ vượt bậc hơn từ y học triệu chứng khó thở được giải thích là do co thắt phế quản bởi Jonh Floyer Năm 1777 J.Cullen đã chú ý tới cơn khó thở về đêm có liên quan đến thời tiết và di truyền

Thời kỳ cận và hiện đại

- Năm 1860 nhà nghiên cứu Laennec phát hiện khởi phát cơn hen là do lông mèo Năm 1873 Blackley đã nói về hen và một số bệnh do phấn hoa Vào năm

1914, Widal đưa ra thuyết dị ứng về HPQ Đặc biệt quan trọng là Hội nghị lần thứ nhất về HPQ tổ chức năm 1932 đã đánh dấu bước ngoặc mở đường cho nhiều hội nghị khác và các công trình nghiên cứu tiếp theo quan tâm nhiều hơn về HPQ Sau hội nghị này (từ năm 1936-1945) người ta đã tìm ra Serotonin, vai trò của Acetycholin, kháng Histamin và các thuốc điều trị HPQ khác Sau này người ta quan tâm nhiều hơn đến cơ chế bệnh lý của HPQ như vai trò của tuyến ức, tế bào

Trang 17

lympho B và T từ năm 1962 – 1972 qua nghiên cứu của Burnet, Miller, Roitt Ishizaka (1967) phát hiện ra vai trò của IgE trong khởi phát HPQ [11]

- Tổ chức sáng kiến toàn cầu về HPQ (GINA) được thành lập vào năm 1993 bởi Tổ chức Y tế Thế giới và viện Tim mạch - Phổi - Huyết học Quốc gia Hoa Kỳ

để phát triển một chiến lược toàn cầu để quản lý và ngăn ngừa bệnh HPQ Nguồn tài chính của GINA dựa vào việc bán các sản phẩm là các tài liệu hướng dẫn về HPQ, đã cung cấp nền tảng cho nhiều hướng dẫn của các quốc gia Họ có các chuyên gia quốc tế đến từ đơn vị chăm sóc cơ bản, cao cấp và chuyên sâu, và được cập nhật hàng năm sau khi xem xét các chứng cứ Các hội nghị về HPQ lần lượt được tổ chức nhiều nước trên thế giới tạo cơ hội cho các nước này có thể tiếp cận những nghiên cứu mới nhất trong dự phòng và điều trị HPQ hiệu quả hơn Năm

2007 Hội nghị được tổ chức tại Việt Nam Năm 2014, một phiên bản lớn của báo cáo GINA được xuất bản đã tạo nên tiến bộ trong bằng chứng không chỉ về bệnh hen và điều trị của nó, mà còn làm thế nào để cải thiện việc thực hiện các khuyến nghị dựa trên bằng chứng trong thực hành lâm sàng Báo cáo năm 2014 GINA (tiếp tục cập nhật trong năm 2015) chuyển sang cách tiếp cận "sách giáo khoa" để cung cấp cho bác sĩ lâm sàng cũng như người bệnh với bằng chứng về các chiến lược để kiểm soát các triệu chứng và giảm thiểu nguy cơ HPQ, trong một định dạng thực tế, thực hành làm trung tâm [30] Tổ chức y tế thế giới đã cảnh báo toàn thế giới phải quan tâm đến bệnh HPQ và lấy ngày 3 tháng 5 (từ năm 2000) là ngày thế giới chống HPQ

1.2 Định nghĩa và mô tả về Hen phế quản

- Định nghĩa theo Chương trình quốc tế phòng chống hen (2002): HPQ là bệnh

lý viêm mạn tính đường thở (phế quản) có sự tham gia của nhiều loại tế bào, nhiều chất trung gian hoá học cytokin Viêm mạn tính đường thở, sự gia tăng đáp ứng phế quản với các đợt khò khè, ho và khó thở lặp đi lặp lại, các biểu hiện này nặng lên về đêm hoặc sáng sớm, tắc nghẽn đường thở lan toả có thể thay đổi theo thời gian và hồi phục được Hội lồng ngực Hoa Kì (1975) cho rằng: “Hen là một bệnh

Trang 18

mãn tính quá mẫn đường thở và nhiều nguyên nhân khác nhau biểu hiện bằng kéo dài thời gian thở ra, có thể khỏi tự nhiên hoặc do điều trị” [2] Tại Pháp, Charpin (1984) đã định nghĩa: “HPQ là một hội chứng của những cơn khó thở về đêm, hội chứng tắc nghẽn và tăng phản ứng phế quản do nhiều yếu tố kích thích và đặc biệt

là do Achetylcholin [11] Định nghĩa này được nhiều người chấp nhận vì khá rõ ràng, chi tiết

- Theo GINA 2016 thì định nghĩa như sau: “HPQ là một bệnh lý đa dạng, thường có đặc điểm là viêm đường thở mạn tính Hen được định nghĩa bởi sự hiện diện bệnh sử có các triệu chứng hô hấp như khò khè, khó thở, nặng ngực và ho, các triệu chứng này thay đổi theo thời gian và về cường độ, cùng với sự giới hạn luồng khí thở ra dao động”[23]

Phân loại và nguyên nhân

- Hen phế quản dị ứng

+ Hen phế quản dị ứng không nhiễm khuẩn: Dị ứng nguyên hô hấp: thường

là bụi nhà, các loại bọ nhà, bụi chăn đệm, các lông móng các loài gia súc như chó, mèo, chuột, thỏ v.v ; phấn hoa, cây cỏ, hay nghề nghiệp trong các xưởng dệt Dị ứng nguyên là thuốc Aspirine, kháng viêm không steroide, Pennicilline; trứng, một

số phẩm nhuộm màu và chất giữ thực phẩm

+ Hen phế quản dị ứng nhiễm khuẩn: Vi khuẩn thường gặp là

streptococcus pyogenes, streptococcus pneumoniae, staphylococcus aureus Virus: Thường gặp là virus hợp bào hô hấp, parainfluenza, cúm Nấm: Như nấm Cladosporium hay Alternaria, các nấm mốc

- Hen phế quản không do dị ứng: Di truyền: Tiền sử gia đình, liên quan đến

kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA Gắng sức khi làm việc Thời tiết đặc biệt là không khí lạnh Rối loạn nội tiết trong thời kỳ trưởng thành, thời kỳ trước kinh nguyệt, lúc mang thai, thời kỳ mãn kinh Yếu tố tâm lý tâm trạng lo âu, mâu thuẫn cảm xúc, chấn thương tình cảm

Trang 19

Bảng 1.1 Phân loại mức độ HPQ theo GINA 2006 [25]

Mức độ hen Triệu chứng Triệu chứng về

đêm

Lưu lượng đỉnh (PEF)

Dao động PEF Bậc1

Nhẹ/không

thường xuyên

- < 1 lần/ tuần

- Không có triệu chứng và bình thường giữa các cơn

=< 2 lần/ tháng >= 80%

giá trị lý thuyết

<20%

Bậc 2

Nhẹ dai dẳng

- >= 1 lần/tuần nhưng <1 lần/ngày

- Cơn cấp có thể ảnh hưởng đến hoạt động thể lực

> 2 lần/ tháng >= 80%

giá trị lý thuyết

-Thường xuyên dùng SABA và corticoid

Thường xuyên <= 60% >30%

Cơ chế bệnh sinh và triệu chứng lâm sàng cơn HPQ điển hình

Hen phế quản xảy ra qua 3 quá trình:

- Viêm phế quản: Là quá trình cơ bản trong cơ chế HPQ bắt đầu từ khi dị ứng

nguyên lọt và cơ thể tạo ra phản ứng dị ứng thông qua vài trò của kháng thể lgE Những tế bào gây viêm phế quản bao gồm tế bào mast, bạch cầu đa nhân (ái toan, ái kiềm, trung tính), đại thực bào phế nang, bạch cầu đơn nhân, lympho bào và tiểu cầu phóng thích các chất trung gian hóa học gây viêm như histamine, serotonine, bradykinine, thromboxane, prostaglandine, leucotriefne, PAF và một số

interleukine

Trang 20

- Co thắt phế quản: Do tác động của các chất trung gian hóa học gây viêm và

vai trò của hệ thần kinh tự động gồm hệ cholinergic, hệ adrenergic và hệ không

cholinergic không adrenergic

- Tăng phản ứng phế quản: Xảy ra sau khi dị ứng nguyên vào cơ thể, qua tác

động của các tế bào gây viêm Đây là một trạng thái bệnh lý không đặc hiệu cho hen

phế quản

Triệu chứng lâm sàng cơn HPQ điển hình

- Giai đoạn khởi phát: Cơn hen phế quản thường xuất hiện đột ngột vào ban

đêm, nhất là nửa đêm về sáng; thời gian xuất hiện tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tiếp xúc dị ứng nguyên hô hấp, thức ăn, gắng sức, không khí lạnh, nhiễm virus đường hô hấp trên, v.v Các tiền triệu như ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, nước

mắt, ho từng cơn, bồn chồn v.v nhưng không phải lúc nào cũng có

- Giai đoạn lên cơn: Sau đó, cơn khó thở xảy ra, khó thở chậm, khó thở kỳ thở

ra xuất hiện nhanh, trong cơn hen lồng ngực bệnh nhân căng ra, các cơ hô hấp phụ nổi rõ, có thể có tím ở đầu tay chân sau đó lan ra mặt và toàn thân Nhịp thở chậm, tiếng thở rít kéo dài Đứng xa có thể nghe tiếng rít hay sò sè của bệnh nhân Nghe phổi có nhiều ran rít và ran ngáy Cơn khó thở dài hay ngắn tùy theo từng bệnh nhân

- Giai đoạn lui cơn: Sau vài phút hay vài giờ, cơn hen giản dần, bệnh nhân ho

khạc đàm rất khó khăn, đàm đặc quánh, có nhiều hạt nhỏ như hạt trai Lúc này nghe phổi phát hiện được nhiều ran ẩm, một ít ran ngáy Khạc đàm nhiều báo hiệu cơn

hen đã hết

- Giai đoạn giữa các cơn: Giữa các cơn, các triệu chứng trên không còn Lúc

này khám lâm sàng bình thường Tuy nhiên nếu làm một số trắc nghiệm như gắng

sức, dùng acetycholine, thì vẫn phát hiện tình trạng tăng phản ứng phế quản [1] Triệu chứng hen phế quản

- Bệnh nhân có thể có hắt hơi , sổ mũi, ngứa mũi, ngứa mắt, ho khan, buồn

Trang 21

ngủ Bắt đầu khó thở với khó thở chậm khó thở ở thì thở ra (giai đoạn đầu), thở có tiếng cò cữ bệnh nhân phải ngồi dậy để thở Bệnh nhân vã mồ hôi, mệt nhọc, nói ngắt quãng Cơn khó thở có thể kéo dài 10-30 phút có khi kéo hơn thậm chí kéo dài

cả ngày không dứt Cơn khó thở giảm dần và kết thúc là một trận ho và khạc đờm dãi, đờm dãi màu trong quánh và dính càng khạc được nhiều càng dễ chịu Hết cơn bệnh nhân nằm ngủ được, cơn hen thường xảy ra về ban đêm hoặc khi thay đổi thời tiết, trong cơn khó thở cánh mũi phập phồng, rút lõm cơ hõm ức, co kéo các cơ gian sườn thậm chí bệnh nhân phải há miệng ra để thở Lồng ngực bệnh nhân căng, có thể tím ở đầu chi sau đó là mặt và toàn thân Mạch nhanh có khi đến 120-130 lần/ phút, nhịp xoang, có khi loạn nhịp ngoại tâm thu, huyết áp tăng, gõ lồng ngực trong, nghe rì rào phế nang giảm, ran rít, ran ngáy khắp hai phế trường [7]

- Theo GINA 2016: Triệu chứng điển hình là thở khò khè, khó thở, tức ngực,

ho Những người bị HPQ thường có nhiều hơn một triệu chứng, các triệu chứng xảy

ra thay đổi theo thời gian và thay đổi cường độ thường xảy ra hoặc nặng hơn vào ban đêm hoặc thức dậy Các triệu chứng thường được kích phát bởi vận động, cười,

dị nguyên hoặc không khí lạnh, xuất hiện hoặc trở nặng khi nhiễm virut [3],[23]

1.3 Tình trạng mắc Hen phế quản trên thế giới, Việt Nam và các tác động của Hen phế quản

Trên thế giới và Việt Nam

- Trên thế giới: Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển kéo theo đó là tình trạng bệnh tật cũng tăng cao Điển hình là bệnh HPQ chỉ có 160 triệu người mắc vào năm 2005 theo thống kê của WHO thì hiện nay con số này khoảng 235 triệu người (năm 2013), theo ước tính sẽ nhảy vọt lên 400 triệu người vào năm 2025 [10],[22],[33] Các con số này nói lên sự báo động về HPQ mặc dù đã có nhiều tổ chức ra đời, nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến Tại Australia vào năm 2013 hơn 2 triệu người bị HPQ, có 37.700 người nhập viện trong 2013-2014 chẩn đoán chính là HPQ, tỷ lệ nhập viện là 165 trên 100.000 dân [16] Tại Mỹ theo trung tâm kiểm soát dịch bệnh, trong 14 người có 1 người mắc bệnh HPQ hiện có 24 triệu

Trang 22

người Mỹ mắc bệnh HPQ đây là 7.4% người lớn và 8,6% trẻ em HPQ ngày càng tăng kể từ đầu những năm 1980 ở tất cả các độ tuổi, giới tính và các nhóm chủng tộc Mỗi năm, bệnh HPQ gây ra hơn 14 triệu lượt tới khám bác sĩ và 439.000 nằm viện và thời gian nằm viện HPQ trung bình là 3,6 ngày [14]

- Tại Việt Nam: Việt Nam là một trong những nước mắc HPQ với tỷ lệ khá cao khoảng 5% đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Tỷ lệ nhập viện nghỉ làm việc do HPQ trong năm là 26% (các nước trong khu vực là 15%) và là nước kiểm soát HPQ tương đối thấp ở châu Á và khu vực Đông Nam Á (7,6%) với

tỷ lệ 2,9% [19],[21]

Tác động tới kinh tế, sức khỏe và cuộc sống, công việc

- Tại Australia đã chi 655 triệu đô (năm 2013) cho HPQ [16] Tại Mỹ: Chi phí hàng năm của bệnh HPQ là khoảng 56 tỷ USD Nhập viện ở lại là phần lớn nhất của các chi phí Chi phí gián tiếp, như trả mất khỏi bệnh hoặc tử vong là 5.9 tỷ USD Người Mỹ đã chi khoảng 10 tỉ USD một năm để sản xuất các sản phẩm tiêu dùng trên thị trường cho những người bị bệnh HPQ và dị ứng như máy hút bụi, làm sạch không khí, giường, đồ chơi, sàn, và nhiều hơn nữa Trong năm 2011 có khoảng 8 triệu phụ nữ bị tấn công bởi bệnh HPQ đã có gần 65% các ca tử vong HPQ tổng thể [14] Tại châu Âu tổng chi phí trung bình cho mỗi bệnh nhân là 1583 Euro và đã được chủ yếu là do chi phí gián tiếp (tức là mất ngày và ngày làm việc, không hoạt động làm việc liên quan đến 62,5%) Dự kiến tổng chi phí trong dân số từ 30-54 tuổi của 11 quốc gia châu Âu là 4,3 tỷ Euro (19,3 tỷ Euro khi mở rộng đến dân số toàn châu Âu từ 15 tuổi đến 64 tuổi) Tổng chi phí trung bình cho mỗi bệnh nhân dao động từ 509 Euro (kiểm soát hen suyễn ) đến 2.281 Euro (bệnh không kiểm soát được) [20] Tại châu Á: chi phí trực tiếp cho mỗi bệnh nhân hàng năm dao động từ

108 USD cho Malaysia, 1010 USD cho Hồng Kông Nhìn chung, tổng mỗi bệnh nhân chi phí trực tiếp tương đương với 13% của bình quân đầu người tổng sản phẩm trong nước và 300% chi phí y tế bình quân đầu người [21]

- Tại Việt Nam: người bệnh phải chi trung bình 184 USD hàng năm (năm

Trang 23

2006) và tăng lên 198 USD chi phí y tế trực tiếp trung bình/ người/ năm ở người

bệnh hen (2010) [14],[17]

Tác động đến sức khỏe và cuộc sống, công việc

Tại Mỹ: Trong năm 2008, hơn một nửa số trẻ em và một phần ba số người lớn phải nghỉ học hoặc làm việc do HPQ Đối với người lớn, bệnh HPQ là một trong những nguyên nhân hàng đầu của thiếu việc làm và có ít việc làm, người lớn bỏ lỡ hơn 14 triệu ngày làm việc mỗi năm Trong số trẻ em độ tuổi 5 - 17, HPQ là một trong những nguyên nhân hàng đầu của nghỉ học, trong năm 2013 chiếm hơn 13,8 triệu ngày nghỉ học [15] Ngoài ra HPQ còn gây nên tình trạng mất ngủ do cơn hen

và giảm năng suất làm việc, mặt khác là tăng mức độ lo âu, trầm cảm và sợ hãi [18] Tại Australia trong 2011, NB có sức khỏe giảm sút thường gặp ở người bị bệnh không có điều kiện kinh tế, mặc khác HPQ can thiệp vào cuộc sống hàng ngày của khoảng một phần ba (34%) của những người có điều kiện Tỷ lệ người HPQ bị ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ trong 4 tuần nghiên cứu luôn cao ở mức 30

- 40% trong tất cả các nhóm tuổi: những người ở độ tuổi 75 và hơn là nhóm bị ảnh hưởng tồi tệ nhất (44%) và những người trong độ tuổi 35 - 44 và 45 - 54 là nhóm ít nhất bị ảnh hưởng (27% và 27% tương ứng) HPQ cũng là bệnh mãn tính cao thứ tư làm người bệnh phải nghỉ làm việc, nghỉ học theo một nghiên cứu trong 12 tháng (18,4%), sau bệnh tâm thần (31,2%), ung thư (30,9%) và bệnh thận (19,3%) Tỷ lệ những người cần thời gian nghỉ việc, nghỉ học do hen cao nhất ở nhóm trẻ tuổi (42,4% ở người bệnh HPQ tuổi từ 0 - 14, và 21,8% người bệnh HPQ tuổi từ 15 - 25) [17]

Tỷ lệ người bệnh tử vong do HPQ và tình hình kiểm soát HPQ

Tại Mỹ theo thống kê tử vong ở người lớn (13,7 triệu) gấp gần 7 lần so với trẻ

em (2,6 triệu) chết do bệnh HPQ Tỷ lệ tử vong bệnh HPQ cao nhất ở những người

có độ tuổi từ 65 tuổi trở lên (37,2 triệu) và thấp nhất từ 0 - 4 tuổi (1,9 triệu) [15] Mỗi ngày có 10 người Mỹ chết vì bệnh HPQ, và 3630 nguời chết vì hen mỗi năm, nhiều người bệnh trong số các trường hợp tử vong có thể tránh được nếu được chăm

Trang 24

sóc và điều trị kịp thời [14] Tại Australian có 389 người tử vong do HPQ trong năm 2013 (0,3% của tất cả các trường hợp tử vong) tỷ lệ tử vong là 1,5 trên 100.000 dân [16]

Tình hình kiểm soát HPQ

Một cuộc khảo sát năm 2012 của 2686 người dân Úc từ 16 tuổi trở lên bị bệnh HPQ thấy rằng trên 45% những người bị HPQ hiện tại không được kiểm soát tốt Hơn một nửa của nhóm này không được sử dụng một ống hít để ngăn ngừa bệnh, hoặc sử dụng nó thường xuyên [17] Một khảo sát y tế thế giới tiến hành trong 2002

- 2003 ước tính rằng 3- 6% của 4,2 tỷ dân của châu Á - Thái Bình Dương bị mắc HPQ, nghiên cứu về thực trạng kiểm soát Hen phế quản châu Á - Thái Bình Dương 44% số người được hỏi thì có ít nhất một lần cấp cứu đến cơ sở y tế để điều trị bệnh HPQ ở trong năm [19] Ngoài ra, tỷ lệ tử vong cao nhất do HPQ là ở các nước châu

Á - Thái Bình Dương mặc dù giá cả thuốc phải chăng được đánh giá cao hiệu quả trong việc quản lý bệnh HPQ được đưa ra từ năm 1990, phần lớn các bệnh nhân trên toàn thế giới bao gồm cả trong các nước châu Á - Thái Bình Dương không kiểm soát tốt HPQ [24] Nhìn chung 7,6% số bệnh nhân được khảo sát có bệnh HPQ đã được kiểm soát tốt, với tỷ lệ cao nhất ở Singapore (14%) và thấp nhất ở Ấn Độ (0%)

và Trung Quốc (2%), những bệnh nhân hen không kiểm soát tốt sử dụng nhiều thuốc HPQ, nhiều lần cấp cứu hoặc nhập viện do HPQ gây ra [24] Tại Việt Nam hầu hết các trường hợp có triệu chứng dai dẳng nặng hơn so với các nước trong khu vực, tỷ lệ người bệnh HPQ được kiểm soát ở Việt Nam là 2,9% tương đối thấp so với các nước Đông Nam Á và châu Á [19]

Trang 25

tăng bệnh hen Thứ ba: đẩy mạnh nghiên cứu về mối liên quan giữa bệnh hen và môi trường Thứ tư: giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do hen Thứ năm: cải thiện quản lý của bệnh hen Thứ sáu: cải thiện tính sẵn sàng và khả năng tiếp cận điều trị hen hiệu quả GINA gồm nhiều chuyên gia hàng đầu về bệnh HPQ khắp nơi trên thế giới Bao gồm Hội đồng quản trị có 14 chuyên gia đầu ngành và 87 thành viên là các giáo sư, bác sĩ hàng đầu của các nước trên thế giới đến từ các bệnh viện, các trường đại học lớn Người quản lý GINA hiện nay là: Bà Rebecca Decker có trụ sở tại bang Wisconsin của Mỹ, GINA khuyến khích phổ biến và thông qua các báo cáo

về quản lý hen qua việc sử dụng các cấu trúc chăm sóc y tế hiện có trong từng nước

và thúc đẩy sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu HPQ Hội họp định kỳ 2 lần trong một năm để chia sẻ thông tin về các chương trình giáo dục sức khỏe, quản lý bệnh HPQ, phòng ngừa và giúp phổ biến các chương trình quản lý GINA Hiện nay, Việt Nam

có 2 thành viên trong tổ chức GINA là Giáo sư Nguyễn Năng An và phó Giáo sư Lê Thị Tuyết Lan

1.4 Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài

Hen phế quản ngày càng tăng trên thế giới không có giới hạn giữa các quốc gia hay chủng tộc cũng không còn là vấn đề của các nước phát triển như các thập kỉ trước nữa mà chuyển sang các nước trung bình và có nhu nhập thấp Nhận thấy vấn

đề đó các bác sĩ hàng đầu về hô hấp đã thành lập nên tổ chức sáng kiến toàn cầu về HPQ là GINA để giúp cộng đồng người bệnh cũng như các bác sĩ có thể xử trí và ngăn ngừa một cách hiệu quả

- Một số nghiên cứu ở nước ngoài:

+ Varalakshmi Manchana và cộng sự (2014) đã làm nghiên cứu về “Tác động của can thiệp giáo dục về tự chăm sóc xử trí HPQ cho bệnh nhân hen người lớn” Kết quả kiến thức của người bệnh từ 10% đã tăng lên là 77.5% trong việc tự xử trí HPQ [33]

+ Rajanandh và cộng sự (2014) đã làm nghiên cứu về “Tác động của các dược

sĩ cung cấp giáo dục bệnh nhân về kiến thức, thái độ, thực hành và chất lượng cuộc sống trong HPQ của bệnh nhân ở một bệnh viện miền Nam Ấn Độ” với 297 NB

Trang 26

Kết quả kiến thức về thuốc của người bệnh từ 19% lên 67%, thái độ từ 13% lên 85% trong điều trị và kiểm soát bệnh, thực hành trong dùng thuốc từ 47% lên 50% [29]

+ Prabhakaran và cộng sự (2006) đã làm nghiên cứu: “Tác động chương trình giáo dục kiến thức, kỹ thuật thuốc xịt và tuân thủ điều trị HPQ” Kết quả về kiến thức tăng lên rõ rệt, 100% là có thể xác định các thuốc hít đúng và 95,58% đã có thể làm kỹ thuật sử dụng thuốc xịt một cách chính xác [28]

- Một số nghiên cứu trong nước:

+ Nguyễn Văn Thọ và cộng sự (2010) đã nghiên cứu: “Áp dụng chiến lược toàn cầu về hen (GINA) và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (GOLD) tại tuyến quận - huyện của Thành Phố Hồ Chí Minh” với 83 NB HPQ Kết quả tỉ lệ hen đạt kiểm soát hoàn toàn, tỉ lệ không tuân thủ điều trị là 58% ở người bệnh hen [9]

+ Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thọ và cộng sự (2012) đã nghiên cứu “Thực hiện hướng dẫn GINA tại thành phố Hồ Chí Minh: một mô hình cho Việt Nam” Kết quả về điều trị lẫn kiến thức người bệnh được nâng cao một cách đáng kể tăng 11,2% so với trước khi can thiệp [27]

+ Nghiên cứu của Phan Thu Phương và Trịnh Thị Ngọc (2012) mô tả cắt ngang trên 96 NB về: “Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh HPQ của bệnh nhân mắc HPQ” Kết quả có 12,5% bệnh nhân không biết yếu tố nguy cơ của bệnh, 38,5% thực hành đúng sử dụng thuốc xịt sau khi can thiệp giáo dục tăng lên 65% [8]

1.5 Nội dung của giáo dục tự xử trí HPQ của người bệnh theo hướng dẫn GINA 2016

Theo hướng dẫn GINA 2016 gồm các nội dung chính sau:

- Đào tạo kỹ năng sử dụng các thuốc xịt hiệu quả

- Khuyến khích sự tuân thủ với các loại thuốc, khám sức khỏe định kì

- Thông tin về HPQ

Trang 27

- Đào tạo hướng dẫn tự quản lý, với tự theo dõi các triệu chứng, một kế hoạch hành động tự xử trí cơn HPQ Các hướng dẫn để nhận biết và đáp ứng ngày càng

xấu đi của HPQ [3],[23]

1.6 Địa bàn nghiên cứu

- Sơ lược về tỉnh Phú Yên: Phú Yên là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam

Trung bộ, có diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.060 km2, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp các tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, phía Đông giáp biển Đông Phú Yên có vị trí địa lý và giao thông tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Phú Yên bao gồm 1 thành phố (Tuy Hòa), 1 thị xã (Sông Cầu) và 7 huyện Với dân số là 861.993 người (theo điều tra dân số ngày 01/4/2009) trong đó thành thị 20%, nông thôn 80%, lực lượng lao động chiếm 71,5% dân số

- Thành phố Tuy Hòa: Thành phố Tuy Hòa có diện tích 107 km² (10.682 ha diện tích tự nhiên) tháng 3 - 2013, thành phố Tuy Hòa được công nhận là đô thị loại

II Thành phố hiện nay có diện tích tự nhiên 10.682 ha, dân số 202.030 người và chia thành 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Phường 1, Phường 2, Phường 3, Phường 4, Phường 5, Phường 6, Phường 7, Phường 8, Phường 9, Phường Phú Đông, Phường Phú Lâm, Phường Phú Thạnh, Xã An Phú, Xã Bình Kiến, Xã Bình Ngọc, Xã Hoà Kiến Thành phố Tuy Hòa chiếm đông dân cư nhất trong toàn tỉnh,

có hai bệnh viện: bệnh viện đa khoa Phú Yên, bệnh viện thành phố và các trạm y tế

xã phường Hiện tại vẫn chưa có một thống kê đầy đủ về tỷ lệ mắc và tử vong do HPQ nhưng mục tiêu của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Phú Yên từ 2015 đến 2025 có 70% người trưởng thành hiểu biết về bệnh HPQ cũng như các nguyên tắc phòng, chống bệnh này, 50% số người bệnh HPQ được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm, 50% số người bệnh được điều trị đạt kiểm soát hen trong đó 20% đạt kiểm soát hoàn toàn [13] Hiện nay tại tỉnh Phú Yên chưa có một chương trình hướng dẫn

cụ thể tự xử trí HPQ được phổ biến rộng rãi cho người bệnh đặc biệt là GINA

1.7 Lựa chọn mô hình can thiệp

Trang 28

Nhận thức con người được thể hiện ở quan điểm, kiến thức đặc biệt là hành vi của bản thân khi đó nhận thức đúng sẽ hành vi đúng về vấn đề đó nên để có một nhận thức đúng thì cần tác động để thay đổi hành vi của con người Và để có thể thực hiện được thì cần có một mô hình lý thuyết để giúp chúng ta hiểu rõ mối liên quan giữa hành vi cá nhân và sức khỏe, giúp lập kế hoạch can thiệp toàn diện, giúp phát triển công cụ đánh giá đặc biệt là thay đổi hành vi sức khỏe của con người Trên thế giới hiện nay đã có nhiều mô hình lý thuyết giải thích hành vi sức khỏe của

cá nhân được xây dựng và áp dụng như: Mô hình Niềm tin sức khỏe, Lý thuyết về hành động hợp lí và hành vi được lập kế hoạch, Lý thuyết nhận thức xã hội, mô hình Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi Trong nghiên này, chúng tôi chọn mô hình Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi của James O Prochaska [26] Mô hình

này được coi là phù hợp hơn cả trong việc giúp đối tượng là người bệnh thay đổi

hành vi, thay đổi hành vi là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn cần có những tác động khác nhau để giúp cho hành vi con người thay đổi từ từ và duy trì theo thời gian

Giới thiệu về mô hình “Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi”

James O Prochaska giới thiệu mô hình này từ năm 1997 và đã được áp dụng rộng rãi trong các chương trình can thiệp thay đổi hành vi sức khỏe cho người bệnh

Theo mô hình này quá trình thay đổi hành vi gồm 5 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chưa quan tâm đến việc thay đổi hành vi; Giai đoạn 2: Quan tâm để thay đổi hành vi;

Giai đoạn 3: Chuẩn bị thay đổi; Giai đoạn 4: Hành động; Giai đoạn 5: Duy trì hành

vi đã thay đổi [26]

Trang 29

Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết cho nghiên cứu

Giúp người bệnh xác định các rào cản

có thể gặp phải và cách giải quyết, nhấn mạnh đến những lợi ích thu được nếu thay đổi

Cung cấp cho người bệnh kiến thức

về tự xử trí HPQ trực tiếp và tài liệu phát tay

Theo dõi, hỗ trợ thường xuyên, trao đổi với người bệnh bằng điện thoại

để người bệnh có thể liên lạc để duy trì những cải thiện đạt được

Các giai đoạn

thay đổi

Quá trình thay đổi

Hành động can thiệp

Nâng cao nhận thức

Nhận thức về lợi ích của sự thay đổi

Xác định các rào cản

Duy trì và tiếp tục hỗ trợ

Chương trình hành động thay đổi

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Người bệnh HPQ đang điều trị ngoại trú sống tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Người bệnh được chẩn đoán HPQ từ tháng 01/2017 đến tháng 04/2017 sinh

sống tại thành phố Tuy Hòa

- Người bệnh HPQ trên 15 tuổi

- Được chẩn đoán HPQ tại bệnh viện và trạm y tế xã phường

- Có khả năng nhận thức và giao tiếp

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Đã từng được quản lý, tham gia chương trình hướng dẫn của GINA trước đây

- Người bệnh không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian :

- Từ tháng 01/2017 đến tháng 05/2017

Địa điểm:

- Tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên

2.3 Thiết kế nhiên cứu:

- Nghiên cứu can thiệp một nhóm có đánh giá trước sau

Trang 31

B1 B2 B3

Sơ đồ 2.1 Nghiên cứu trước - sau

B1 : Thu thập số liệu liên quan đến nhận thức, thái độ, tự xử trí về HPQ của

NB trước khi thực hiện can thiệp

B2 : Thu thập số liệu liên quan đến nhận thức, thái độ, tự xử trí về HPQ ngay sau khi thực hiện can thiệp

B3: Thu thập số liệu liên quan đến nhận thức, thái độ, tự xử trí về HPQ sau khi thực hiện can thiệp 1 tháng

Sử dụng cùng một bộ câu hỏi, các chỉ tiêu đánh giá trước và sau can thiệp giống nhau

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu thuận tiện

- Cách thức chọn mẫu: Tất cả NB được chẩn đoán HPQ từ tháng 01/2017 đến tháng 04/2017 điều trị ngoại trú sinh sống tại thành phố Tuy Hòa đủ tiêu chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu

Danh sách đối tượng nghiên cứu được lấy theo sổ theo dõi tại phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh viện đa khoa Phú Yên và Trạm Y tế Phường 3 Qua báo cáo của phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh viện đa khoa Phú Yên trung bình mỗi tháng có

Đối tượng

nghiên

cứu

Đánh giá trước can thiệp

So sánh, bàn luận và kết luận

Đánh giá (sau can thiệp 1 tháng) ngày)

Can thiệp giáo dục

Đánh giá (ngay sau can thiệp)

Trang 32

khoảng 20 - 25 người bệnh đến khám, một số trạm y tế xã phường trung bình có khoảng 3 - 5 người bệnh/ tháng vì vậy sau 4 tháng có khoảng 120 người bệnh Tuy nhiên, đa số các trạm y tế chưa có bác sĩ nên việc chẩn đoán bệnh rất hạn chế đặc biệt thuốc xử trí cấp cứu ít thậm chí không có nên thường chuyển tuyến đến bệnh viện đa khoa Phú Yên, mặt khác vì diện tích thành phố tương đối nhỏ và bệnh viện

đa khoa Phú Yên nằm vị trí thuận lợi nên người bệnh thường đến hơn so với các trạm y tế Hiện tại, trạm y tế phường 9, xã Bình Ngọc, xã Bình Kiến có một số NB vừa điều trị ngoại trú tại trạm y tế đồng thời cả bệnh viện đa khoa Phú Yên nên danh sách được lấy theo phòng kế hoạch tổng hợp tại bệnh viện đa khoa Phú Yên, trạm y tế phường 3 có 4 NB điều trị ngoại trú trong thời gian nghiên cứu, các trạm y

tế còn lại không có NB điều trị ngoại trú nên danh sách NB có 83 NB tại bệnh viện

đa khoa Phú Yên và 4 NB tại trạm y tế phường 3

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Công cụ thu thập số liệu

- Công cụ thu thập số liệu trước và sau khi tiến hành can thiệp là bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HPQ của Ban quản lý Dự án phòng chống Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và Hen phế quản - Bệnh viện Bạch Mai năm 2015 Bộ câu hỏi này có 20 câu hỏi để đo lường nhận thức, thái độ, tự xử trí về HPQ của người bệnh, chúng tôi lấy hết cả bộ câu hỏi vì thích hợp để đo lường nhận thức về nhận thức, thái độ, tự xử trí về HPQ của người bệnh [12]

Bộ câu hỏi gồm có:

- Phần A: Thông tin người bệnh: có 6 câu từ A1 đến A6

- Phần B: Nhận thức về HPQ như đặc điểm, triệu chứng, yếu tố nguy cơ có 5 câu

Trang 33

Thử nghiệm trước bộ công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi được thực hiện thử nghiệm với 30 NB trong thành phố Tuy Hòa có đặc điểm tương đồng với đối tượng tham gia trong nghiên cứu chính Để xác định

độ tin cậy của bộ công cụ thu thập số liệu nhà nghiên cứu đã phân tích độ tin cậy cronbachʹ S alpha là: 0.674

Phương pháp thu thập số liệu

- Người bệnh đọc phiếu phỏng vấn tự điền câu trả lời (phụ lục 2)

Quy trình thu thập số liệu

Sau khi gặp gỡ trình bày và giải thích vấn đề cần nghiên cứu mục đích cũng như quy trình thực hiện nghiên cứu được sự đồng ý của giám đốc bệnh viện đa khoa Phú Yên và trưởng trạm y tế phường 3, chúng tôi lập danh sách 116 NB được chẩn đoán HPQ 01/2017 đến tháng 04/2017 đủ tiêu chuẩn lựa chọn

Tiến hành quy trình thu thập số liệu thực hiện như sau:

Bước 1: Trước can thiệp

- Nhóm nghiên cứu gồm 3 thành viên: Lưu Thị Kim Yến (người thực hiện đề tài), Đỗ Thị Quỳnh và Nguyễn Văn Thạo (cử nhân Điều Dưỡng bệnh viện đa khoa Phú Yên - cộng tác viên)

- Có 116 NB đủ tiêu chuẩn lựa chọn để tham gia vào nghiên cứu Nhóm nghiên cứu gửi giấy mời cho NB đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, tuy nhiên chỉ gặp gỡ và đồng ý tham gia nghiên cứu là 104 NB Trong 104 NB được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm với 2 buổi truyền thông vào ngày 1/5/2017 tại hội trường trường Cao Đẳng Y Tế Phú Yên, NB được mời đến tham gia chia làm 2 buổi sáng

và chiều, sáng bắt đầu 7h30 - 10h, chiều 14h - 16h30 phút Thời gian này thuận lợi với NB vì ngày lễ nên đối tượng nghiên cứu là công nhân viên chức đều nghỉ lễ

thuận tiện cho việc tham gia vào buổi truyền thông

Bước 2: Tổ chức chương trình tư vấn giáo dục sức khỏe

* Đánh giá trước can thiệp

- Trong 2 buổi truyền thông chỉ có 87 NB đến tham dự: Buổi sáng có 46 NB,

buổi chiều có 41 NB

Trang 34

- Tại buổi làm việc: Nhóm nghiên cứu thông báo nội dung buổi truyền thông

và giới thiệu bộ câu hỏi (phụ lục 2) với các đối tượng tham gia

- Phát bộ câu hỏi tự điền hướng dẫn NB cách điền vào phù hợp, phát cho NB

có mặt tại hội trường với thời gian hoàn thành cho phiếu phỏng vấn là 20 phút Mỗi cộng tác viên phụ trách từ 12 - 15 NB nếu NB có thắc mắc cần giúp đỡ hoặc giải

đáp

* Thực hiện can thiệp giáo dục

- Hình thức can thiệp: Sử dụng phương pháp truyền thông trực tiếp

+ Phương pháp truyền thông: Thuyết trình

+ Phương tiện truyền thông: Máy chiếu, laptop, một số loại thuốc uống và thuốc xịt, tài liệu phát tay cung cấp các kiến thức về nội dung can thiệp có tranh hướng dẫn sử dụng thuốc xịt

+ Mỗi cộng tác viên phụ trách từ nhóm từ 12 - 15 NB để NB trao đổi với nhau, giải thích các thắc mắc cho NB

* Nội dung của can thiệp giáo dục về tự xử trí bệnh HPQ: Có 4 nội dung chính

+ Giới thiệu về bệnh HPQ: Định nghĩa, triệu chứng, các yếu tố nguy cơ, chế

độ ăn uống

+ Hướng dẫn việc dùng một số loại thuốc uống đặc biệt là thuốc xịt như Salbutamol, Accuhaler các tác dụng phụ và phòng tránh các tác dụng phụ không mong muốn do thuốc gây ra

+ Hướng dẫn nhận biết triệu chứng và cách xử trí cơn HPQ cấp, tự theo dõi các triệu chứng của cơn HPQ

+ Khuyến khích việc tuân thủ dùng thuốc khám sức khỏe định kì

* Đánh giá ngay sau can thiệp

- Để đánh giá lần 2 trước khi buổi truyền thông kết thúc 30 phút tất cả NB được phát bộ câu hỏi tự điền (bộ câu hỏi sử dụng phỏng vấn lần 1) trong khoảng thời gian 20 phút để hoàn thành bộ câu hỏi (phụ lục 2)

Bước 3: Đánh giá sau 1 tháng can thiệp giáo dục

Trang 35

- Sau một tháng thực hiện chương trình can thiệp: Chúng tôi lần lượt đến nhà

87 NB phỏng vấn lại bằng bộ câu hỏi tự điền đã được sử dụng tại lần 1 và 2 với thời gian mỗi NB khoảng 20 phút để hoàn thành bộ câu hỏi (phụ lục 2)

2.6 Các biến số nghiên cứu

Biến số về thông tin chung về người bệnh

- Tuổi: Phân làm 4 nhóm: ≤ 30 tuổi, từ 31 - 50, từ 51 - 70, ≥ 71 tuổi

- Giới: Chia làm 2 nhóm: nam, nữ

- Trình độ học vấn: Chia là 5 cấp: chưa bao giờ đến trường, tiểu học, trung học

cơ sở (THCS) - trung học phổ thông (THPT), trung cấp chuyên nghiệp - cao đẳng - đại học, sau đại học

- Nghề nghiệp: chia làm 5 nhóm: nông dân, công nhân viên chức, buôn bán, nghề tự do, nội trợ

- Nhận thức về triệu chứng cơn hen cấp

- Nhận thức về các yếu tố cản trở trong điều trị/ kiểm soát HPQ

Biến số về thái độ người bệnh đối với kiểm soát HPQ

- Thái độ NB khi nghi ngờ bệnh

- Thái độ NB khi phát hiện mắc bệnh

- Thái độ NB trong tuân thủ sử dụng thuốc

Trang 36

- Việc dùng thuốc điều trị

- Xử trí khi có dấu hiệu nặng của HPQ

2.7 Khái niệm thang đo, tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá và cách thức đo lường

Sử dụng bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HPQ của Ban quản lý Dự án phòng chống Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và Hen phế quản - Bệnh viện Bạch Mai (2015) đo lường HPQ trước và sau khi can thiệp giáo dục cho người bệnh [11]

- Phần A: Các câu hỏi về thông tin chung của NB từ câu A1 - A6

- Phần B: Nhận thức của NB về bệnh HPQ

+ Gồm 5 câu từ B1- B5 là câu hỏi nhiều lựa chọn, mỗi lựa chọn đúng được 1 điểm sai 0 điểm Tổng điểm ở phần này với điểm thấp nhất là 0 điểm cao nhất là 23 điểm

- Phần C: Thái độ của NB đối với kiểm soát HPQ

+ Gồm có gồm 4 câu hỏi từ C1 đến C4 mỗi câu có 5 đáp án là câu hỏi 1 lựa chọn, theo thang điểm từ 1 đến 5 điểm cụ thể là “ rất không cần thiết = 1 điểm”,

“không cần thiết = 2 điểm”, “bình thường = 3 điểm”, “cần thiết = 4 điểm”, “rất cần thiết = 4 điểm” và “rất không quan trọng = 1 điểm”, “không quan trọng = 2 điểm”,

“bình thường = 3 điểm”, “quan trọng = 4 điểm”, “rất quan trọng = 5 điểm” Tổng điểm phần này thấp nhất là 5 điểm và điểm cao nhất là 20 điểm

- Phần D: Tự xử trí HPQ của NB

+ Gồm 5 câu hỏi từ D1 - D5, trong đó D1 - D4 là câu hỏi 1 lựa chọn, D5 có nhiều lựa chọn mỗi đáp án đúng được 1 điểm và sai 0 điểm Tổng điểm phần này thấp nhất là 0 điểm cao nhất là 7 điểm

Tổng điểm các phần trả lời của NB được xếp thành 2 nhóm (không đạt; đạt) để đánh giá điểm, mức độ nhận thức của NB trước và sau can thiệp như sau:

- Phần B: Tổng điểm các câu trong phần nếu ≤ 14 điểm là không đạt; 15 - 23 điểm là đạt trên tổng điểm là 23 điểm

- Phần C: Tổng điểm các câu trong phần nếu ≤ 14 điểm là không đạt, 15 - 20 điểm là đạt trên tổng điểm là 20 điểm

Trang 37

- Phần D: Tổng điểm các câu trong phần nếu ≤ 2 điểm là không đạt, từ 3 - 7 điểm là đạt trên tổng điểm là 7 điểm

2.8 Xử lý và phân tích số liệu

- Sau điều tra kiểm tra lại toàn bộ các phiếu phỏng vấn, phiếu không đáp ứng đầy đủ thông tin sẽ bị loại bỏ, xử lý số liệu với phương pháp thống kê y học phần mềm nhập liệu và phân tích số liệu SPSS 16.0

- Phân tích số liệu: kết quả phân tích và trình bày số dựa theo 2 mục tiêu nghiên cứu Các chỉ số bao gồm: tần số (frequency), tỷ lệ phần trăm (percentage), mức trung bình (mean), độ lệch chuẩn (SD), thông tin về NB thông về nhận thức, thái độ, xử trí HPQ trước và sau can thiệp

- Phương pháp thống kê T-test được áp dụng để mô tả sự khác biệt ý nghĩa về điểm nhận thức, thái độ, xử trí HPQ của NB trước và sau can thiệp giáo dục sức

khỏe, T - test ghép cặp so sánh trước và sau can thiệp

- Hệ số tương quan Pearson được sử dụng để kiểm tra mối tương quan giữa nhận thức và tự xử trí HPQ trước và sau can thiệp giáo dục

- Kết quả các biến số được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

* Căn cứ để tiến hành

- Nghiên cứu này được thực hiện sau khi đề cương được thông qua có sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức, lãnh đạo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, được sự chấp thuận và cho phép của giám đốc bệnh viện Đa khoa Phú Yên, trưởng trạm y tế phường 3

* Đối với đối tượng tham gia nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên

cứu để đối tượng tự nguyện đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Các thông tin về đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật

- Nghiên cứu không có tác động nào hay nguy cơ gây hại đến người bệnh

- Nghiên cứu này giúp NB có thêm kiến thức, tăng cường bảo vệ sức khỏe cho người bệnh HPQ

Trang 38

2.10 Hạn chế của nghiên cứu

- Nghiên cứu là một cuộc điều tra cắt ngang có thu thập các thông tin trong quá khứ nên không thể tránh khỏi sai số nhớ lại

- Trong nghiên cứu mẫu nghiên cứu nhỏ nên không mang tính đại diện cho

cả tỉnh

2.11 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

- Bộ câu hỏi được tiến hành điều tra thử nhằm đảm bảo đối tượng nghiên cứu hiểu đúng câu hỏi và ý trả lời

- Tập huấn điều tra viên cẩn thận trước khi tiến hành thu thập số liệu tại thực địa

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành trong 5 tháng (từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017) với 87 đối tượng nghiên cứu tại thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên Qua phân tích và

xử lý số liệu, kết quả thu được như sau:

3.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố NB tham gia nghiên cứu theo tuổi (n = 87)

: giá trị trung bình; SD: độ lệch chuẩn

Qua bảng 3.1 tuổi trung bình của NB tham gia nghiên cứu là 50,25 ± 14,56

người trẻ tuổi nhất là 19 tuổi và NB cao tuổi nhất là 85 tuổi Độ tuổi NB chiếm tỷ lệ

cao nhất là 51 – 70 tuổi (40,2%) và thấp nhất là độ tuổi ≥ 71 tuổi (10,3%)

Bảng 3.2 Phân bố giới tính của NB HPQ (n = 87)

Trang 40

Biểu đồ 3.1 Phân bố NB tham gia nghiên cứu theo trình độ học vấn (n = 87)

Trong nghiên cứu trình độ học vấn của NB chiếm cao nhất là THCS - THPT với tỷ lệ 42,5% và chiếm tỷ lệ thấp nhất 2,3% ở NB chưa bao giờ đến trường Còn lại với 33.3% NB có trình độ tiểu học và trình độ trung học chuyên nghiệp/ cao đẳng chiếm 18.4% NB

Bảng 3.3 Phân bố NB tham gia nghiên cứu theo nghề nghiệp ( n = 87)

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Văn Chinh (1999). Hen phế quản, Bách khoa thư bệnh học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hen phế quản, Bách khoa thư bệnh học
Tác giả: Đào Văn Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1999
3. Ngô Quý Châu, Lê Thị Tuyết Lan (2016). Chiến lược toàn cầu về quản lý và dự phòng hen, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 42-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn cầu về quản lý và dự phòng hen
Tác giả: Ngô Quý Châu, Lê Thị Tuyết Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2016
4. Nguyễn Tiến Dũng (2007). Chẩn đoán, xử trí hen phế quản ở trẻ em, hen phế quản và dự phòng HPQ, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán, xử trí hen phế quản ở trẻ em, hen phế quản và dự phòng HPQ
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
5. Nguyễn Tiến Dũng (2005). Dịch tễ học và sử dụng thuốc trong điều trị hen phế quản ở trẻ em. Tạp chí Y học Việt Nam, 1, 26-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2005
6. Phạm Quang Đoàn, Tôn Kim Long (2006). Độ lưu hành HPQ trong học sinh một số trường học ở Hà Nội và tình hình sử dụng Seritide dự phòng hen trong các đối tượng này. Tạp chí Y học thực hành, 547(6), 15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Phạm Quang Đoàn, Tôn Kim Long
Năm: 2006
7. Ngô Huy Hoàng (2016). Điều dưỡng nội khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng nội khoa
Tác giả: Ngô Huy Hoàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2016
8. Phan Thu Phương và Trịnh Thị Ngọc (2012). Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh Hen phế quản của bệnh nhân mắc Hen phế quản. Tạp chí y học dự phòng, 4(164), 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y học dự phòng
Tác giả: Phan Thu Phương và Trịnh Thị Ngọc
Năm: 2012
9. Nguyễn Văn Thọ (2010). Áp dụng chiến lược toàn cầu về hen (GINA) và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (GOLD) tại tuyến quận - huyện của Thành Phố Hồ Chí Minh. Tạp chí y học, 14(1), 134-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y học
Tác giả: Nguyễn Văn Thọ
Năm: 2010
10. Trần Quy (2007). Sổ tay tư vấn Hen phế quản, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tư vấn Hen phế quản
Tác giả: Trần Quy
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2007
11. Trần Quy (2007). Dịch tễ học HPQ và tiếp cận chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống HPQ và dự phòng HPQ, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Dịch tễ học HPQ và tiếp cận chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống HPQ và dự phòng HPQ
Tác giả: Trần Quy
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2007
12. Dự án phòng chống Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và Hen phế quản - Bệnh viện Bạch Mai (2015). Bộ câu bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HPQ cho người bệnh. Hà Nội, tháng 03 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ câu bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HPQ cho người bệnh
Tác giả: Dự án phòng chống Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và Hen phế quản - Bệnh viện Bạch Mai
Năm: 2015
18. Baiardini. I et al (2008). The impact of GINA suggested drugs for the treament of asthma of health – related quality of life: a GAZLEN review. US National Libraly of Medicine Nation Institutes of Health, 63(8), 1015-1030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: US National Libraly of Medicine Nation Institutes of Health
Tác giả: Baiardini. I et al
Năm: 2008
19. Bin Zin Zainudin et al (2005). Asthma control in adults in Asia – Pacific. Official journal of he Asian Pacific Socety of Respirology ,10(5), 556-691 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Official journal of he Asian Pacific Socety of Respirology
Tác giả: Bin Zin Zainudin et al
Năm: 2005
20. Corsico.S.A.G and Braggion et.al (2013). The cost of persistent asthma in europe: an intertionnal population- based study in adults. US National Libraly of Medicine Nation Institutes of Health, 160 (1), 93-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: US National Libraly of Medicine Nation Institutes of Health
Tác giả: Corsico.S.A.G and Braggion et.al
Năm: 2013
14. Asthma and Allergy Foundation of America (2015). Asthma Facts and Figures, [online] Available at: http://www.aafa.org/page/asthma-facts.aspx[Accessed 20 October 2016] Link
15. Atlanta (2013). Asthma Facts CDC’S National Asthma control Pregram Grantees, centers for disease control nad prevention, [online] Available at:https://www.cdc.gov/asthma/default.htm Link
16. Australian institule of health and welfare (2016). Asthma, [online] Available at: https://www.aihw.gov.au [Accessed 16 October 2016] Link
17. Australian institule of health and welfare (2016). How does another affect quality of life, [online] Available at: https://www.aihw.gov.au [Accessed 20 October 2016] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w