1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kiến thức về ung thư vú và tự khám sau can thiệp giáo dục cho phụ nữ xã ngọc liên, cẩm giàng, tỉnh hải dương năm 2016

98 36 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cho phụ nữ xã Ngọc Liên, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương năm 2016 Một nghiên cứu can thiệp giáo dục có so sánh trước sau, thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2016 với mục tiêu: Mô tả kiến thứ

Trang 1

NGUYỄN THỊ HẰNG

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ UNG THƯ VÚ VÀ

TỰ KHÁM VÚ SAU CAN THIỆP GIÁO DỤC CHO PHỤ NỮ XÃ NGỌC LIÊN, CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2016

Trang 2

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ UNG THƯ VÚ VÀ

TỰ KHÁM VÚ SAU CAN THIỆP GIÁO DỤC CHO PHỤ NỮ XÃ NGỌC LIÊN, CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2016

Chuyên ngành: Điều Dưỡng

Mã số: 60.72.05.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lê Thanh Tùng

Nam Định -2016

Trang 3

cho phụ nữ xã Ngọc Liên, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương năm 2016 Một nghiên cứu can thiệp giáo dục có so sánh trước sau, thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2016 với mục tiêu: Mô tả kiến thức về ung thư vú, tự khám vú và đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp truyền thông kiến thức về ung thư vú (UTV) và tự khám vú (TKV) cho 110 phụ nữ trong độ tuổi từ 20 - 59 tại xã Ngọc Liên, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống phân cụm Số liệu thu thập được xử lí và phân tích trên phần mềm SPSS 20.0 Kết quả cho thấy trước can thiệp, tỷ lệ người tham gia có kiến thức đạt về UTV và TKV

là 15% và 2,7% Nhưng ngay sau thực hiện chương trình can thiệp giáo dục (bằng phương truyền thông trực tiếp) dựa trên mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) thì tỷ lệ người tham gia có kiến thức đạt về UTV và TKV tăng lên là 98,2% Sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Sau can thiệp một tháng tỷ lệ người tham gia có kiến thức đạt về UTV 93,6%, và điểm trung bình kiến thức thực hành TKV là 22,25

± 2,55 (đạt 91,8%) có sự khác biệt với kết quả đánh giá ngay sau thực hiện can thiệp giáo dục với p < 0,001

Kết luận: Thực trạng kiến thức về UTV và TKV của 110 phụ nữ trong độ tuổi từ 20- 59 tại xã Ngọc Liên, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương ở mức thấp, nhưng đã

có sự thay đổi rõ rệt sau thực hiện chương trình can thiệp giáo dục dựa trên mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) và tiếp tục được duy trì ở mức cao sau can thiệp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học và các quý Thầy Cô, các khoa – phòng – bộ môn của trường đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn

TS Lê Thanh Tùng, người thầy đã tận tình dìu dắt và dành nhiều thời gian hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới UBND xã Ngọc Liên, trạm y tế xã Ngọc Liên cùng toàn thể phụ nữ trong ba thôn Cẩm Trục, Thu Lãng, Ngọc Trục đã nhiệt tình tham gia vào nghiên cứu, cung cấp những thông tin và ý kiến quý báu cho nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn động viên, chia sẻ về tinh thần, thời gian, công sức, tận tình giúp đỡ tôi và là nguồn động lực lớn lao cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Học viên

Nguyễn Thị Hằng

Trang 5

kết quả thu được trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác của những thông tin và

số liệu đưa ra

Hải Dương, ngày 25-10-2016

Học viên Nguyễn Thị Hằng

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1 Ung thư vú 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Tỷ lệ mắc 4

1.3 Các giai đoạn của ung thư vú 6

1.4 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của Ung thư vú 9

1.5 Triệu chứng và tiến triển 9

1.5.1 Triệu chứng 9

1.5.2 Tiến triển 10

1.6 Tiên lượng 10

1.6 Hậu quả của Ung thư vú 11

2 Dự phòng Ung thư vú bằng tự khám vú 11

2.1 Khái niệm về tự khám vú 11

2.2 Lợi ích của tự khám vú 12

2.3 Tuổi thực hiện tự khám vú 12

2.4 Các bước tự kiểm tra vú 13

2.4.1 Thời gian tốt nhất để tự khám vú 13

2.4.2 Các bước thực hiện 14

Trang 7

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tự khám vú 16

2.5.1 Nhân khẩu học 16

2.5.2 Kiến thức về ung thư vú 16

2.5.3 Sự tự tin của bản thân 18

3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề nghiên cứu của đề tài 18

3.1 Nghiên cứu ngoài nước 18

3.2 Nghiên cứu trong nước 21

4 Câu hỏi nghiên cứu 22

5 Giả thuyết nghiên cứu 23

6 Học thuyết áp dụng 23

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 27

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 27

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 27

2.3 Thiết kế nghiên cứu 28

2.4 Bộ công cụ đo lường 28

2.5 Cỡ mẫu: 30

2.6 Phương pháp chọn mẫu 30

2.7 Phương pháp thu thập số liệu: Gồm 2 bước: 31

2.8 Các khái niệm về thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 33

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 33

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 34

2.11 Hạn chế của nghiên cứu 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đặc điểm cá nhân của người tham gia 35

3.2 Đặc điểm kiến thức về UTV và tự khám vú trước can thiệp 37

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 54

4.1 Đặc điểm cá nhân của người tham gia 54

Trang 8

4.1.1 Đặc điểm về tuổi 54

4.1.2 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 54

4.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn 54

4.1.4 Đặc điểm về tiền sử 55

4.2 Đặc điểm kiến thức về UTV 55

4.3 Hiệu quả chương trình can thiệp dựa trên “mô hình niềm tin sức khỏe” 58

4.3.1 Hiệu quả về kiến thức ung thư vú 58

4.3.2 Hiệu quả về các yếu tố nguy cơ 60

KẾT LUẬN 67

KHUYẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

: Health belief model “Mô hình niềm tin sức khỏe”

TKV : Tự khám vú

UTV : Ung thư vú

WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

NCCN : National Comprehensive Cancer Network (Mạng lưới

ung thư quốc tế)

Trang 10

Bảng 3.3 Đặc điểm về trình độ học vấn 36

Bảng 3.4 Đặc điểm về tiền sử 36

Bảng 3.5 Kiến thức chung về UTV 37

Bảng 3.6 Kiến thức về nguy cơ UTV 38

Bảng 3.7 Kiến thức về mức độ nghiêm trọng của bệnh và lợi ích của TKV 39

Bảng 3.8 Sự tự tin của bản thân về thực hành TKV 40

Bảng 3.9 Thông tin chung về kiến thức nền tảng thực hành TKV 41

Bảng 3.10 Kiến thức về thực hành TKV 42

Bảng 3.11 Đặc điểm kiến thức về UTV sau can thiệp 43

Bảng 3.12 Sự khác biệt điểm trung bình về kiến thức UTV trước- sau can thiệp 44

Bảng 3.13 Đặc điểm kiến thức về các yếu tố nguy cơ UTV sau can thiệp 45

Bảng 3.14 Sự khác biệt điểm trung bình về kiến thức nguy cơ UTV 46

trước- sau can thiệp 46

Bảng 3.15 Đặc điểm kiến thức về mức độ nghiêm trọng của bệnh và lợi ích của TKV sau can thiệp 47

Bảng 3.16 Sự khác biệt điểm trung bình về hiểu biết mức độ nghiêm trọng của bệnh và lợi ích của TKV trước – sau can thiệp 48

Bảng 3.17 Đánh giá sự tự tin khi thực hiện TKV sau can thiệp 49

Bảng 3.18 Sự khác biệt điểm trung bình về sự tự tin thực hành TKV 50

trước – sau can thiệp 50

Bảng 3.19 Tổng hợp mức độ đạt về kiến thức UTV, yếu tố nguy cơ, mức độ nghiêm trọng của bệnh và lợi ích của TKV, sự tự tin khi thực hành TKV theo HBM 50

Bảng 3.20 Kiến thức thực hành TKV sau can thiệp 51

Bảng 3.21 Sự khác biệt điểm trung bình về kiến thức thực hành TKV 52

trước – sau can thiệp 52 Bảng 3.22 Mối tương quan giữa kiến thức về UTV, yếu tố nguy cơ, mức độ nghiêm

trọng của bệnh và lợi ích của TKV, sự tự tin của phụ nữ khi thực hiện TKV và kiến thức thực hành TKV Error! Bookmark not defined

Trang 11

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1 Các dấu hiệu của UTV 10

Hình 2: Các cách sờ nắn khối u tại vú 14

Hình 3: TKV ở tư thế đứng 15

Hình 4: TKV ở tư thế nằm 16

Hình 5: Khung lý thuyết 25

Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ mắc UTV ở Việt Nam và các nước năm 2002 và năm 2012 5

Biểu đồ 2: Phân phối tỷ lệ mắc UTV giữa các nhóm tuổi ở Hà Nội và Hồ Chí Minh 6

Biểu đồ 3: Tóm tắt quá trình đánh giá mức độ đạt về kiến thức UTV và TKV 53

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư vú (UTV) là nguyên nhân số một gây tử vong do ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới [59],[64] Tại châu Mỹ, theo thống kê năm 2008 có hơn 320.000 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh UTV và 82.500 phụ nữ chết vì căn bệnh này Theo xu hướng hiện nay, dự kiến đến năm 2030 số phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh UTV sẽ tăng 60% ở châu Mỹ [63] Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê năm

2010, UTV là bệnh ung thư đứng hàng đầu ở nữ giới với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi trung bình là 29,9/100.000 dân và cao nhất là Hà Nội với tỷ lệ trung bình là 39,4/100.000 dân [8]

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2015 chỉ ra rằng 58% các trường hợp tử vong do UTV xảy ra tại các nước nghèo, nguyên nhân chính là do trình độ dân trí thấp và hệ thống y tế yếu kém vì vậy người bệnh không được chẩn đoán sớm

và điều trị kịp thời [64] Tại Việt Nam, trên 80% bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh ở giai đoạn muộn chủ yếu là do chưa có hiểu biết đúng về cách phòng và phát hiện sớm bệnh UTV [38] Trong khi tỷ lệ sống của người bệnh UTV nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm là 96,3% [20] và ở giai đoạn muộn có di căn xa thì tỷ lệ sống giảm xuống chỉ còn 20% [7], [16]

Hiện nay, có 3 phương pháp hiệu quả nhất để chẩn đoán sớm UTV là: tự khám vú (TKV), khám vú lâm sàng và chụp nhũ ảnh [59] Trong đó TKV hàng tháng kết hợp với khám vú định kỳ tại các cơ sở y tế là chiến lược để phát hiện sớm UTV cho phụ nữ từ trên 20 tuổi [14], [18] TKV thường xuyên là một phương pháp

an toàn, đơn giản, không tốn kém về thời gian và kinh tế, nhưng lại được áp dụng rộng rãi và thích hợp cho mọi phụ nữ để sàng lọc UTV [14], [17], [59]

Mặc dù TKV có ảnh hưởng tích cực đến phát hiện sớm các khối u tại vú, nhưng thực tế tỷ lệ phụ nữ thực hiện TKV tại nhà còn rất hạn chế [57] Theo một nghiên cứu thực hiện tại thành phố Mosul năm 2013 cho thấy chỉ một phần mười số phụ nữ tham gia nghiên cứu thực hành TKV thường xuyên [14] Tương tự kết quả của tác giả Nde và cộng sự (2015) chỉ ra rằng có 3% số người tham gia nghiên cứu thực hiện TKV thường xuyên [45] Ở Việt Nam, Nghiên cứu của tác giả Đỗ Kim

Trang 13

Sơn và Trần Vũ năm 2009 được tiến hành với 600 phụ nữ tại huyện Tứ Kỳ - Hải Dương có 64,7% thực hiện TKV tại nhà nhưng chỉ có 2,2% thực hiện đúng theo các bước hướng dẫn của WHO [3] Đồng thời theo Parsa và cộng sự (2005) đã tổng hợp

từ nhiều nghiên cứu cũng cho rằng lý do phổ biến nhất khiến phụ nữ không thực hành khám vú tại nhà là sự thiếu thông tin và kiến thức về UTV và thực hành TKV [45], [49]

Theo “Mô hình Niềm tin sức khỏe” của Champion, Janz, & Strecher (2002), một người phụ nữ hiểu rằng bệnh UTV là một căn bệnh nghiêm trọng và họ dễ mắc phải bệnh này thì sẽ có nhiều khả năng họ thực hiện TKV thường xuyên hơn Đặc biệt khi họ hiểu được hậu quả của UTV, và mình dễ có nguy cơ UTV, đồng thời người phụ nữ tự tin mình có khả năng tự kiểm soát UTV cho chính mình do đó họ cũng sẽ có tần suất thực hiện TKV nhiều hơn [2], [26], [60]

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho đến nay chưa có nghiên cứu can thiệp nào

áp dụng “Mô hình Niềm tin sức khỏe” để thúc đẩy hành vi thực hành tự khám vú có hiệu quả ở phụ nữ nhằm phát hiện sớm ung thư vú Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu can thiệp: “Đánh giá kiến thức về ung thư vú và tự khám vú sau can thiệp giáo dục cho phụ nữ xã Ngọc Liên, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương năm 2016”

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

tế bào bình thường Điều này khiến cho cơ thể khó hoạt động hiệu quả như thường

lệ [6]

1.2 Tỷ lệ mắc

Ung thư vú là loại ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ, theo ước tính của WHO có trên 508.000 phụ nữ đã chết vào năm 2011 vì bệnh UTV [64] Tỷ lệ mắc rất khác nhau giữa các khu vực trên thế giới, ở Đông Phi tỷ lệ mắc là 19,3/100.000 phụ nữ, còn ở Tây Âu thì 89,7/100.000 phụ nữ, và ở hầu hết các nước đang phát triển thì tỷ

lệ mắc là 40/100.000 phụ nữ Tại Châu Phi là nơi có tỷ lệ mắc UTV thấp nhất nhưng gần đây tỷ lệ mắc cũng đang có xu hướng gia tăng [35]

Tại Hoa Kỳ, UTV là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong do ung thư ở phụ nữ sau ung thư phổi [17] Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (2008) ước tính rằng 182.460 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh UTV và có 40.480 phụ nữ tử vong do bệnh này trong cùng một năm [19] Trong năm 2009, có khoảng 215.990 trường hợp mắc mới

và 40.110 trường hợp tử vong, nhóm tuổi trung bình ở phụ nữ thường mắc UTV là

61 tuổi, và nhóm tuổi trẻ nhất là 20-30 tuổi [16] Theo thống kê của WHO năm

2015 trên thế giới có 1,7 triệu phụ nữ được chẩn đoán mắc UTV và một nửa triệu phụ nữ đã chết do căn bệnh này [64] Đồng thời theo trung tâm quốc tế về công nghệ sinh học (NCBI) cho biết Australia là một nước có tỷ lệ mắc UTV cao nhất thế giới với tỷ lệ mắc 118/100.000 dân trong 2012, con số này tăng gấp đôi so với tỷ lệ mắc ở Singapore và gần sáu lần ở Việt Nam [23], [52]

Trang 16

Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ mắc UTV ở Việt Nam và các nước

năm 2002 và năm 2012 [52]

Tại Việt Nam, UTV đang là một vấn đề sức khỏe phổ biến của phụ nữ vì tỷ

lệ tử vong và tỷ lệ mắc của bệnh được xếp thứ nhất trong số các bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ [35] Theo số liệu báo cáo năm 2015, UTV đứng hàng đầu ở nữ giới với tỷ lệ mắc trung bình trong cả nước là 29,9/100.000 dân [8] Năm 2016, theo thống kê của Hội ung thư Việt Nam có khoảng 12.000 người mắc bệnh mỗi năm [4] Một tỷ lệ lớn 80% người bệnh đến khám và điều trị bệnh UTV đều ở giai đoạn muộn [39] Tần suất UTV tại Việt Nam phân bố theo vị trí địa lý, tập chung nhiều hơn tại các tỉnh phía Bắc [52]

Trang 17

Biểu đồ 2: Phân phối tỷ lệ mắc UTV giữa các nhóm tuổi ở Hà Nội và

Hồ Chí Minh [52]

1.3 Các giai đoạn của ung thư vú

Chẩn đoán giai đoạn UTV theo hệ thống TNM (UICC- 1997) [6], [54]

*T: U nguyên phát

Tx: Chưa xác định được u nguyên phát

To: Không có u nguyên phát

Tis: Ung thư tại chỗ : ung thư nội ống, hoặc ung thư thể thùy tại chỗ, hoặc bệnh Paget của núm vú không thấy u

Trang 18

Lưu ý : Thành ngực bao gồm xương sườn, cơ liên sườn và cơ răng trước không bao gồm da cam, cơ ngực

T4a : U xâm lấn tới thành ngực

T4b : Phù da cam, hoặc loét da vú hoặc có các khối u đi kèm theo ở da cùng bên vú T4c : Bao gồm cả T4a và T4b

N2: Di căn hạch nách cùng bên, dính nhau, hoặc dính vào tổ chức lân cận

N3: Di căn tới hạch vú trong cùng bên

*M: Di căn xa

Mo: Không có di căn xa

M1: Có di căn xa

M2 : Di căn xa ra ngoài vú

Trang 19

*Xếp giai đoạn UTV theo Ủy ban liên Mỹ về ung thư (Handbook for staging of cancer) [6]

Trang 20

Tại Việt nam, số người bệnh được chẩn đoán mắc UTV có tỷ lệ sống trên 5 năm thấp hơn so với các nước khác trong khu khu vực và trên thế giới mặc dù người bệnh đều được chẩn đoán ở cùng một giai đoạn [35]

1.4 Các yếu tố nguy cơ của Ung thư vú

- Giới tính nữ là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh UTV, vì nam chỉ chiếm ít hơn 1% của tất cả các trường hợp UTV [40]

- Béo phì, nghiện rượu và hút thuốc lá là những yếu tố có mối tương quan chặt chẽ với nguy cơ phát triển UTV [51]

- Các yếu tố nguy cơ khác được bổ sung khá rõ ràng trong tài liệu truyền thông phòng chống ung thư của Bộ Y Tế Việt Nam năm 2015 [8], [13], [38] bao gồm:

+ Tiền sử gia đình: có người trong thế hệ thứ nhất bị UTV (mẹ, chị, em gái) thì nguy cơ mắc bệnh UTV cao gấp 2-3 lần, nhưng nếu họ bị bệnh UTV trước 50 tuổi hoặc mắc bệnh ở 2 bên vú thì nguy cơ gấp 4-6 lần so với người có tiền sử bình thường

+ Những phụ nữ ở độ tuổi từ trên 35 tuổi

+ Có kinh nguyệt sớm: dưới 12 tuổi, mãn kinh muộn: sau 55 tuổi

+ Không sinh con hoặc sinh con đầu lòng sau 35 tuổi

+ Sau mãn kinh bị béo phì hoặc có khối u buồng trứng sản xuất estrogen + Phụ nữ sử dụng kết hợp liệu pháp nội tiết thay thế với progestin, cũng như chỉ dùng estrogen

+ Nguy cơ do viên thuốc tránh thai đường uống

+ Tiền sử bị các bệnh tại vú

+ Ít vận động: Nguy cơ UTV tăng khoảng 9% ở người ít vận động

+ Tiếp xúc với tia phóng xạ: phải điều trị tia xạ tại vùng ngực khi còn trẻ 1.5 Triệu chứng, tiến triển và tiên lượng [6], [7], [16]

1.5.1 Triệu chứng

- Khối u thường xuất hiện ở ¼ trên ngoài hay trên trong của vú

Trang 21

- Thông thường khối u không gây đau, bờ không có ranh giới rõ ràng Di động hạn chế và đau trong trường hợp UTV dạng viêm

- Sưng tất cả hoặc một phần của vú

- Thay đổi màu sắc da tại vùng có khối u vú: tạo lên hình ảnh sần da cam, có thể có trợt hoặc loét trên da

- Núm bị kéo tụt vào trong, tiết dịch bất thường

- Xuất hiện hạch vùng nách rồi lan đến thượng đòn và hạch vú trong

Hình 1 Các dấu hiệu của UTV [1]

1.5.2 Tiến triển

Giai đoạn đầu khối u kích thước nhỏ và không gây đau Sau 4-6 tháng u có thể to gấp hai lần và xâm lấn vào da, lan xuống dưới vào cơ ngực làm cho toàn bộ tuyến vú di động kém và mất cân đối hai bên

Muộn hơn vùng da trên khối u có thể loét hoặc hoại tử 70% Ung thư có thể

di căn xa vào hạch đối diện, phổi, xương và các tạng khác

1.5.3 Tiên lượng

Tỷ lệ sống 5 năm của người bệnh UTV sau khi được chẩn đoán theo giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 0-I: 100%

- Giai đoạn IIA: 92%

Trang 22

- Giai đoạn IIB: 81%

- Giai đoạn IIIA: 67%

- Giai đoạn IIIB: 54%

- Giai đoạn IV: 20%

Các yếu tố tiên lượng quan trọng bao gồm: số lượng hạch nách di căn, kích thước u nguyên phát, thể mô bệnh học, độ mô học, tình trạng thụ thể nội tiết, tình trạng bộc lộ HER -2/neu, tuổi, bệnh kèm theo

1.6 Hậu quả của Ung thư vú [35], [59], [64]

+ Gánh nặng tâm lý cho người bệnh và gia đình họ: lo lắng, trầm cảm

+ Ảnh hưởng đến chức năng tình dục: do thay đổi tại vú, điều trị xạ trị hoặc trị liệu bằng kích thích tố…

+ Ảnh hưởng đến chất lượng công việc, sinh hoạt hàng ngày

Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS, 2008) khuyến cáo rằng phụ nữ nên biết cách tự phát hiện những bất thường tại vú của mình sớm nhất thông qua TKV

để kịp thời đến các cơ sở y tế được thăm khám và chẩn đoán sớm [19] Đồng thời TKV là một khuyến cáo nên bắt đầu thực hiện để sàng lọc UTV cho tất cả phụ nữ từ trên tuổi 20, và nó càng phù hợp để áp dụng tại các khu vực nông thôn nơi mà

Trang 23

người dân có mức thu nhập thấp, cơ hội tiếp cận với dịch vụ chụp X quang vú khó khăn nhưng vẫn có thể phát hiện sớm các khối u tại vú để điều trị kịp thời giúp người bệnh kéo dài cuộc sống và giảm bớt đau đớn cho họ [47]

2.3 Tuổi thực hiện tự khám vú

Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ năm 2009 cho rằng 97% các ca tử vong do UTV xảy ra ở phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, phụ nữ độ tuổi từ 20-24 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh UTV thấp hơn, tỷ lệ này giảm rõ rệt ở độ tuổi trên 80 [17] Theo nghiên cứu của Abu Samah và các cộng sự (2015) với 842 sinh viên nữ hầu hết dưới 29 tuổi, có tới 50% trong số họ không đủ kiến thức về TKV [12] Độ tuổi từ 17- 30 cũng được tiến hành nghiên cứu trên 166 sinh viên nữ tại Cameroon, kết luận rằng cần phải có một chương trình giáo dục để tăng cường kiến thức về thực hành tự khám vú cho nhóm tuổi này [45] Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 376 phụ nữ Thổ

Trang 24

Nhĩ Kỳ, qua phân tích cho thấy tỷ lệ thực hiện TKV ở nhóm phụ nữ trẻ từ 20-39 tuổi là cao nhất (p = 0,018, OR = 3,215) nghiên cứu kết luận rằng: khi tuổi càng tăng thì tỷ lệ thực hiện TKV càng giảm và ngược lại đối với nhóm phụ nữ trẻ [29] Theo Hiệp hội Ung thư Hoa kỳ (2008) cũng khuyến cáo rằng phương pháp chụp nhũ ảnh chỉ nên thực hiện hàng năm với tất cả phụ nữ bắt đầu từ trên tuổi 40 [19] Khám vú tại các cơ sở y tế được coi là một phần của khám sức khỏe định kỳ một năm một lần kết hợp TKV ở nhà hàng tháng cho phụ nữ ở độ tuổi 20 đến 30 Tất cả phụ nữ bắt đầu từ trên 20 tuổi thì thực hiện khám vú tại các cơ sở y tế ba năm một lần và TKV ở nhà hàng tháng cần được thực hành thường xuyên [19] UTV là nguyên nhân phổ biến gây tử vong ở phụ nữ trong độ tuổi 40-50 với tần suất cứ

1000 phụ nữ ở độ tuổi 50 có 2 người được chẩn đoán mắc UTV và khoảng 15 người

sẽ chẩn đoán có nguy cơ [58] Tại Việt Nam, nhóm tuổi phổ biến nhất của phụ nữ bị bệnh UTV là 45-55 tuổi và giảm dần sau thời kỳ mãn kinh [47] Nhóm tác giả Đỗ Kim Sơn và Trần Vũ (2009) đã tiến hành nghiên cứu cho 600 phụ nữ trong độ tuổi

từ 15- 49 tại xã Hưng Đạo – Tứ Kỳ - Hải Dương, kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ

có 0,5% làm đúng các bước TKV theo hướng dẫn của WHO [3]

2.4 Các bước tự kiểm tra vú

Tự khám vú có thể được thực hiện ở các tư thế khác nhau như nằm, đứng hoặc ngồi, các động tác sờ nắn để kiểm tra vú có thể được thực hiện dọc từ trên xuống theo hình zích zắc, theo hình nan hoa, hoặc vòng tròn đồng tâm [47]

Theo mạng lưới ung thư quốc tế (NCCN, 2010) khuyến cáo phụ nữ thực hiện TKV như sau [9], [44]

Trang 25

- Bước 2: Để kiểm tra vú bên trái, dùng các đầu ngón tay của 3 ngón giữa tay phải, duỗi thẳng, sát nhau nhẹ nhàng ép tuyến vú trái vào thành ngực theo hình zích zắc, theo hình nan hoa, hoặc vòng tròn đồng tâm từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, kể cả vùng nách và cuối cùng là ở núm vú Kiểm tra vú phải thì đổi tay và làm tương tự

Hình 2: Các cách sờ nắn khối u tại vú [2]

- Bước 3: Đặt tay trên đầu và đưa về phía trước, lần lượt quan sát từ bên này sang bên kia

Trang 26

- Bước 4: Đặt tay lên eo và cúi người về phía gương, để cho ngực rơi về phía trước Quan sát những thay đổi hình dạng của vú

- Bước 5: Sử dụng ngón tay cái và ngón giữa để nặn mô vú xung quanh núm

vú kiểm tra sự tiết dịch bất thường

- Bước 6: Có thể dùng kem dưỡng da hoặc sữa tắm bôi trơn vùng vú để kiểm tra kích thước, độ di động của khối u Kiểm tra cả vùng trong nách, phía ngực, trên

- Bước 3: Di chuyển tay trong vòng tròn ngày càng nhỏ hơn cho đến khi toàn

bộ vú được kiểm tra

Trang 27

- Bước 4: Đặt ngón hai ngón tay cái và trỏ tại núm vú để kiểm tra tiết dịch bất thường Sau đó, đảo ngược tay và gối để lặp lại kiểm tra bên ngực phải

2.5.2 Kiến thức về ung thư vú

Sự thiếu hụt kiến thức là lý do phổ biến khiến phụ nữ thực hành TKV một cách hạn chế (p < 0,05), đây là kết quả của nghiên cứu cắt ngang được tiến hành với

261 phụ nữ Iran có tới hai phần ba số người tham gia chưa bao giờ thực hành TKV

vì lý do thiếu kiến thức [49]

Trang 28

Theo Al-Fathy & Alneema tiến hành một nghiên cứu cắt ngang với 200 giáo viên ở 32 trường học tại thành phố Mosul, cho kết quả tương tự hơn ba phần tư số người tham gia không thực hành TKV nguyên nhân là do họ không có kiến thức và thông tin tổng quát về UTV, sự thiếu chủ động trong tiếp nhận thông tin là rào cản thực hành TKV của phụ nữ Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu lại chỉ tập trung ở tuổi

40 và đa số kết hôn ở độ tuổi khá trẻ do ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa, trình độ giáo dục, mức thu nhấp [14] Theo tác giả Nde và các cộng sự (2015) đã nghiên cứu trên 166 sinh viên nữ ở độ tuổi 17-30 kết quả cho thấy: 88% số người được phỏng vấn trả lời rằng TKV là quan trọng, nhưng chỉ có 3% thực hiện TKV thường xuyên, còn lại 63 3% cho rằng TKV là một phương pháp quan trọng để phát hiện sớm UTV và 9,6 % biết rất ít về điều này Nhóm tác giả đã kết luận rằng: thiếu kiến thức là lý do chính cho việc không thực hành TKV (p < 0,05) Tuy nhiên điểm hạn chế của nghiên cứu là đối tượng tham gia 100% là phụ nữ trẻ có trình độ học vấn cao và sống tại thành phố mà không phản ánh được nhóm phụ nữ ở khu vực nông thôn có mức thu nhập thấp hơn [45] Những người có trình độ cao về kiến thức UTV sẽ thực hành TKV thường xuyên hơn, đó là kết luận của BaniMustafa và các cộng sự (2015) với nghiên cứu mô tả trên 255 phụ nữ Ả Rập ở độ tuổi trên 18 tuổi [11]

Sự nhận thức về tính nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng về bệnh UTV có thể tạo ra động lực mạnh mẽ để thực hiện thay đổi hành vi thực hành TKV [55] Đồng thời khi người phụ nữ hiểu được mức độ nghiêm trọng của bệnh UTV và lợi ích của việc thực hành TKV hàng tháng, sẽ khiến họ chủ động học hỏi làm tăng lên kiến thức và kỹ năng thực hành TKV do đó họ sẽ duy trì kỹ năng này một cách bền vững [59]

Một nghiên cứu cắt ngang và cách lấy mẫu thuận tiện được tiến hành với 433 phụ nữ Ả Rập, kết quả cho thấy: 54,9% số người tham gia không biết cách thực hiện TKV tương đồng với điểm số trung bình của họ về mức độ hiểu biết sự nghiêm trọng của bệnh UTV và những lợi ích của thực hành TKV rất thấp theo bộ công cụ

đo lường cụ thể trong nghiên cứu [11] Nhóm tác giả Umeh, & Jones (2010) tiến

Trang 29

hành nghiên cứu trên 200 phụ nữ Anh cũng đưa ra kết luận tương tự rằng: Những hiểu biết về lợi ích của TKV và mức độ nghiêm trọng về bệnh UTV là cơ sở thức đẩy việc thực hành TKV của phụ nữ, bên cạnh đó cần tăng cường giáo dục cho phụ

nữ về vấn đề này nhằm giúp họ duy trì thường xuyên hoạt động TKV (p< 0,05) [62]

2.5.3 Sự tự tin của bản thân

Sự tự tin của bản thân là một yếu tố quan trọng thức đẩy quá trình thay đổi hành vi TKV và là một thành phần cần thiết để duy trì thực hành TKV thường xuyên [32], [42]

Một nghiên cứu khảo sát đã được tiến hành tại bệnh viện ung thư và phẫu thuật ở Ankara trên 140 phụ nữ, kết quả cho thấy: điểm số về sự tự tin ở những phụ

nữ thực hành TKV thường xuyên cao hơn so với những phụ nữ không thực hành TKV (p <0,001) [21] Tương đồng với kết quả nghiên cứu này tác giả Jirojwong S

& MmacLennan R.(2003) tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang với 145 phụ nữ Thái Lan kết quả cho thấy những phụ nữ có điểm cao về sự tự tin thì sẽ thực hiện TKV thường xuyên hàng tháng cao gấp bốn lần so với những phụ nữ có điểm số thấp [33] Tại Việt Nam, Theo tác giả Nguyễn Tuyết Mai bệnh viện K Hà Nội khẳng định rằng: “Căn bệnh UTV hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm nhưng quan trọng là bệnh nhân phải có niềm tin với chính mình” [4]

3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến kiến thức ung thư vú và

tự khám vú

3.1 Nghiên cứu ngoài nước

Trong nhiều năm qua, hàng triệu đô la đã được chi trả cho các chương trình thúc đẩy TKV vì nó được coi như một phương pháp phát hiện UTV giai đoạn sớm nhằm kéo dài cuộc sống và chất lượng sống cho người bệnh [25] Từ rất sớm một chương trình can thiệp đã được thực hiện năm 1980 nhằm thúc đẩy việc thực hành TKV ở phụ nữ với tổng cộng 7.037 người tham gia trong độ tuổi từ 15 đến 18 tại Hoa Kỳ, kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ ràng trước và sau chương trình can thiệp Trước can thiệp chỉ có 26% đã thực hiện TKV của mình một hoặc hai lần ,

Trang 30

nhưng sau chương trình can thiệp số người thực hiện TKV thường xuyên đã tăng lên 58% [24]

Năm 2011, một nghiên cứu can thiệp có so sánh nhóm chứng đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả chương trình can thiệp giáo dục TKV trên 200 phụ nữ kết quả cho thấy: 100% số người trong nhóm được can thiệp giáo dục thực hiện một cách chính xác các thao tác của quy trình TKV, trong khi đó tỉ lệ ở nhóm chứng là 0% các trường hợp thực hành đúng quy trình TKV [56]

Một nghiên cứu khảo sát được tiến hành năm 2012 với 304 phụ nữ là sinh viên, giáo viên và các nhân viên khác tại trường đại học Kirkuk – Iraq, cho thấy: tỷ

lệ thực hành TKV của người tham gia là 42,6%, trong đó hơn một nửa số người được hỏi (57,4%) trả lời rằng họ có nghe đến phương pháp TKV tại nhà nhưng lại không thực hiện thường xuyên hoặc không bao giờ thực hiện TKV vì lý do phổ biến

là chưa có kiến thức về UTV, và không biết cách thực hiện TKV [15]

Theo nhóm tác giả Güçlü S & Tabak S.,R (2013), đã sử dụng mô hình HBM (Health belief model “Mô hình niềm tin sức khỏe”) là khung nghiên cứu và một chương trình can thiệp truyền thông để kiểm tra vai trò của can thiệp y tế đến việc nâng cao kiến thức, nhận thức về UTV và thực hành TKV của 33 phụ nữ tuổi từ 15-

49 tại một trường trung học Kutahya Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt rõ ràng về kiến thức UTV và thực hành TKV của người tham gia, sau chương trình can thiệp cao hơn so với trước can thiệp (p< 0,001) Tuy nhiên, nghiên cứu bị hạn chế bởi số lượng mẫu ít nên chưa đủ mạnh để khuyến cáo kết quả rộng hơn trong cộng đồng Đồng thời nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở đánh giá hiệu quả của can thiệp giáo dục cung cấp kiến thức làm tăng tần suất thực hành TKV mà chưa đánh giá được hiệu quả của việc thực hành TKV thường xuyên của các phụ nữ sau can thiệp trong việc phát hiện sớm UTV [30]

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện với 2.186 nữ sinh viên đại học ở Hàn Quốc để kiểm tra việc thực hành tự khám vú và các yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh UTV với quy mô toàn quốc Kết quả cho thấy: sự hiểu biết của người tham gia nghiên cứu về UTV rất thấp (2.70 điểm trên 11 điểm) (P <0,001),

Trang 31

điều này tương đương với phần lớn 73% số người tham gia đều chưa bao giờ thực hiện TKV hoặc không biết cách thực hiện TKV Kết quả nghiên cứu này như lời khuyến cáo về việc phát triển các chương trình giáo dục để nâng cao kiến thức về UTV, và thực hành tự khám vú ở phụ nữ trẻ tại Hàn Quốc [57] Một phương pháp nghiên cứu tương tự được tiến hành trên 376 phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ cho kết quả: 78,7% (N = 296) báo cáo thực hành TKV, trong khi 9,5% (N = 28) được thực hiện thường xuyên hàng tháng, và chỉ có 5,7% (N = 17) thực hiện đúng thời điểm tức là trong vòng một tuần sau chu kỳ kinh nguyệt Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tần suất thực hiện TKV thường xuyên hơn ở độ tuổi 20- 39 (p = 0,018, OR = 3,215), 40-49 tuổi (p = 0,009, OR = 3,162), phụ nữ có tiền sử gia đình mắc bệnh vú (p = 0,038,

OR = 2,028), và phụ nữ làm nội trợ (p = 0,013, OR = 0,353) [55]

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành tại Thổ Nhĩ Kỳ với 438 phụ

nữ trong độ tuổi từ 18- 67 tuổi Nhóm tác giả đã sử dụng Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) để xác định mối tương quan giữa kiến thức về UTV, mức độ nghiêm trọng của bệnh UTV, lợi ích, rào cản và sự tự tin của bản thân với tần suất thực hành TKV của phụ nữ Kết quả cho thấy việc thực hành hoặc không thực hành TKV của phụ nữ có liên quan chặt chẽ đến tuổi, sự hiểu biết về UTV và TKV của phụ nữ Mặt khác những phụ nữ được điểm số cao về độ tự tin vào khả năng thực hành TKV của mình và được cung cấp kiến thức về UTV và niềm tin thực hành TKV theo HBM thì có tỷ lệ thực hành TKV hàng tháng cao hơn nhóm phụ nữ khác [43] Một nghiên cứu khác được tiến hành với 225 phụ nữ trong độ tuổi trưởng thành tại Ả Rập, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang và cách lấy mẫu thuận tiện để đánh giá kiến thức, thái độ về UTV nói chung

và niềm tin của họ về thực hành TKV Kết quả cho thấy: 91,2% phụ nữ biết đến phương pháp TKV, nhưng chỉ có 41,6% thực hiện TKV của mình và một tỷ lệ không cao 21% trả lời rằng họ thực hiện thường xuyên Qua phân tích số liệu thu được nhóm nghiên cứu đã tìm thấy nguyên nhân của việc không thực hiện TKV của nhóm phụ nữ trong nghiên cứu này là do họ có quá ít kiến thức về UTV nói chung, các yếu tố nguy cơ của nó (p <0,001), đồng thời một tỷ lệ người tham gia có kiến

Trang 32

thức rất hạn chế về mức độ nghiêm trọng của bệnh UTV, sự tự tin của bản thân về khả năng thực hành TKV (p = 0,001 ) Nhưng điều bất ngờ là sự hiểu biết về lợi ích của TKV thì có tỷ lệ cao 73% Nghiên cứu kết luận rằng: những phụ nữ có sự tự tin cao, trình độ cao về kiến thức UTV và các rào cản thấp về thực hành TKV trên HBM thì sẽ tích cực thực hiện TKV thường xuyên hàng tháng Đồng thời HBM được coi như một công cụ để dự đoán chất lượng thực hành TKV ở phụ nữ Ả Rập Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ được tiến hành tại một trung tâm nên chưa đủ để khái quát cho toàn bộ quần thể lớn là phụ nữ Ả Rập Saudi [11]

3.2 Nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Liên hiệp Hội phụ nữ Việt Nam (2015) Đã thực hiện dự án “Nâng cao nhận thức phòng chống UTV cho phụ nữ tại Việt Nam” trong thời gian 3 năm (2013- 2015) ở phụ nữ trong độ tuổi 30-70 tại năm tỉnh phía Bắc là Hà Nội, Hà Nam, Thái Nguyên, Hưng Yên, Hải Phòng Theo đó dự báo sẽ

có khoảng 13.500 phụ nữ độ tuổi từ 30-70 được tìm hiểu và được hướng dẫn cách

tự khám vú một cách chính xác [5]

Tại huyện Tứ Kỳ - Hải Dương nhóm tác giả Đỗ Kim Sơn, Trần Vũ (2009) đã tiến hành nghiên cứu can thiệp với 589 phụ nữ trong độ tuổi 18- 49 nhằm tăng tỷ lệ thực hành TKV ở phụ nữ, với mức ý nghĩa được thiết lập trong nghiên cứu là p< 0,05 Nghiên cứu đã tập trung đánh giá kiến thức, thái độ về UTV của phụ nữ Nhóm tác giả đã thiết kế một chương trình can thiệp gồm hai phần rõ ràng: nâng cao kiến thức UTV và duy trì hành vi TKV, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và đào tạo một số giảng viên nguồn là cán bộ Y tế tại địa phương để tiếp tục duy trì mạng lưới cung cấp thông tin cho phụ nữ ngay cả khi chương trình kết thúc Qua phân tích số liệu, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt lớn về kiến thức UTV và hành vi thực hành TKV của phụ nữ trước và sau can thiệp Cụ thể là:

tỷ lệ thực hiện TKV trước can thiệp 63,3% nhưng sau can thiệp tăng lên 83,5% (p < 0,05) Điều đặc biệt là tỷ lệ TKV đúng cách theo hướng dẫn của WHO tăng từ 2,2% trước can thiệp đến 21,7% sau can thệp Sở dĩ tỷ lệ thực hành TKV đúng cách của

Trang 33

phụ nữ chưa tăng cao (2,2,- 21,7%) trong nghiên cứu này là do nhóm nghiên cứu lựa chọn phương pháp truyền thông gián tiếp như sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để cung cấp kiến thức, nhưng vì tỷ lệ đối tượng tiếp cận với các kênh truyền thông của chương trình đều nhỏ hơn 50% do đó mức độ bao phủ của các kênh truyền thông là chưa đủ để nâng cao kiến thức và duy trì kiến thức, hành vi TKV cho đối tượng tham gia [3]

Tác giả Lê Thị Dung đã tiến hành nghiên cứu mô tả tương quan với 200 phụ

nữ tham dự cầu nguyện Thiên Chúa tại bốn nhà thờ Thiên chúa giáo ở thành phố Rạch Giá- tỉnh Kiên Giang- Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 11,7% người tham gia nghiên cứu thực hiện TKV thường xuyên và một lí do để giải thích cho tỷ lệ rất thấp người thực hiện TKV là thiếu kiến thức về UTV và niềm tin để thực hành TKV của phụ nữ Qua phân tích số liệu thu được, nghiên cứu kết luận rằng kiến thức về UTV và các yếu tố nguy cơ, nhận thức về mức độ nghiêm trọng, lợi ích của việc TKV, sự tự tin của bản thân có liên quan tích cực đến việc tăng thực hành TKV thường xuyên cho phụ nữ (p < 0,001) Tuy nhiên trong nghiên cứu cũng

dự đoán còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi TKV của phụ nữ như tuổi, tiền sử, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn Nhưng đối tượng tham gia trong nghiên cứu này lại là những phụ nữ có trình độ cao, bị ảnh hưởng nhiều bởi tôn giáo, do đó mẫu này chưa thể đại diện cho toàn bộ quần thể Đây chính là hạn chế trong nghiên cứu [36]

4 Câu hỏi nghiên cứu

4.1 Kiến thức về UTV và tự khám vú của phụ nữ trong độ tuổi 20-59 tại xã Ngọc Liên, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương là như thế nào?

4.2 Chương trình giáo dục truyền thông cung cấp kiến thức về UTV và TKV dựa trên mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) có thực sự thúc đẩy hành vi thực hành TKV

ở phụ nữ trong độ tuổi 20-59 tại xã Ngọc Liên không ?

Trang 34

5 Giả thuyết nghiên cứu

Một chương trình can thiệp giáo dục về kiến thưc UTV và niềm tin thực hành TKV theo “Mô hình Niềm tin sức khỏe” (HBM) có mối quan hệ tích cực với thực hành TKV

Theo tổng quan tài liệu nhóm nghiên cứu xin đưa một số lí do sau đây để làm

cơ sở hình thành giải thuyết nghiên cứu:

Người phụ nữ sẽ không chấp nhận tầm soát UTV nếu như họ không hiểu gì

về UTV và các nguy cơ của UTV Theo Abolfotouh và các cộng sự (2015) chỉ ra rằng: Nguyên nhân không thực hành TKV là phụ nữ ít có kiến thức về UTV nói chung, và các yếu tố nguy cơ của nó [11]

Một người phụ nữ hiểu rằng họ có thể thực hiện TKV hiệu quả để phát hiện bất thường tại vú thì sẽ có nhiều khả năng để thực hiện TKV thường xuyên Bebis

và các cộng sự (2013) cho rằng có một mối quan hệ tích cực giữa sự hiểu biết về sự

tự tin [21]

Một người phụ nữ hiểu được những hậu quả nghiêm trọng của bệnh UTV, thực hiện TKV có thể tìm thấy khối u ở vú sớm, vì vậy họ sẽ được chẩn đoán, điều trị UTV ở giai đoạn đầu sẽ có nhiều khả năng thực hiện TKV để giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh sẽ có nhiều khả năng thực hành TKV thường xuyên để giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh [34]

6 Học thuyết áp dụng

“Health belief model- Mô hình niềm tin sức khỏe” (HBM) được sử dụng là

bộ công cụ để đo lường kiến thức về UTV, nhận thức, rào cản, sự tự tin của phụ nữ trong thực hành TKV [2], [58]

“Mô hình Niềm tin sức khỏe” là một mô hình tâm lý tập trung vào thái độ và niềm tin của các cá nhân HBM lần đầu tiên được phát triển vào năm 1950 bởi nhà tâm lý học xã hội Hochbaum, Rosenstock và Kegels làm việc trong các dịch vụ y tế công cộng của Hoa Kỳ và sửa đổi bởi Champion et al., (2002) [26], [27] Mô hình này tập trung vào mức độ sợ hãi về bệnh liên quan đến các lợi ích của hành động

Trang 35

sức khỏe đồng thời cũng là một phương pháp được sử dụng để đánh giá và giải thích sự khác biệt giữa các cá nhân trong các hành vi phòng ngừa sức khỏe [27] Nhiều nghiên cứu đã sử dụng mô hình như một khung lý thuyết để nghiên cứu các hành vi tầm soát UTV như sàng lọc TKV hoặc chụp nhũ ảnh [1], [12], [58] Tất cả các khái niệm về mô hình niềm tin sức khỏe được đề cập bao gồm 06 nội dung : sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ (perceived susceptibility), sự hiểu biết về mức độ nghiêm trọng của bệnh (perceived severity), hiểu biết về lợi ích (perceived benefits), sự hiểu biết về những rào cản (perceived barriers), những động lực từ y tế (perceived health motivation), và sự tự tin của bản thân (perceived self – efficacy) Nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cấp đến những nội dung sau : kiến thức về bệnh UTV và các yếu tố nguy cơ; sự hiểu biết về mức độ nghiêm trọng của bệnh, sự hiểu biết về lợi ích của TKV, và sự tự tin của bản thân liên quan đến thực hành TKV

Theo HBM, một người phụ nữ có những hiểu biết về các nguy cơ bị UTV và UTV là một căn bệnh nghiêm trọng có thể bao gồm sự đau đớn và khuyết tật; có thể ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống gia đình và quan hệ xã hội, sẽ có nhiều khả năng để thực hiện TKV nhằm ngăn chặn hay sàng lọc các nguy cơ UTV [12] Tương tự như vậy, một người phụ nữ nhận thấy rằng thực hiện TKV có thể phát hiện UTV ở giai đoạn sớm sẽ có nhiều khả năng thực hiện TKV để giảm bớt mức

độ nghiêm trọng của bệnh Ngoài ra, một người phụ nữ hiểu rằng họ có thể thực hiện có hiệu quả TKV để phát hiện các bất thường tại vú của chính mình thì sẽ có nhiều khả năng để thực hiện TKV thường xuyên [26]

Trang 36

Thực hànhTự khám vú

(TKV)

Nhân khẩu học

Kiến thức về UTV và yếu tố nguy cơ

Hiểu biết về mức độ nghiêm trọng của

bệnh và lợi ích của TKV

Sự tự tin của bản thân

Hình 5: Khung lý thuyết nghiên cứu

Trang 37

7 Mô tả địa bàn nghiên cứu

Ngọc Liên là một xã trọng điểm về kinh tế và giao thông của huyện Cẩm Giàng Tổng dân số của xã là 7815 người, trong đó phụ nữ từ 20 – 59 tuổi là 600 (số liệu báo cáo năm 2014 xã Ngọc Liên) Phân bố độ tuổi chủ yếu 20- 40 tuổi chiếm 60% trong tổng dân số trong khu vực Nông nghiệp là nghề nghiệp chủ yếu trên địa bàn xã Ngọc Liên, nhưng hiện nay do xu thế phát triển và hội nhập của nền kinh tế

đã có thêm nhiều ngành nghề khác được phát triển như: xí nghiệp may và sản xuất

đồ gia dụng, xí nghiệp đồ gỗ, buôn bán… làm cho số lượng công nhân tăng lên trong cơ cấu ngành nghề của xã Điều này là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của các dịch vụ y tế tại xã, công tác khám chữa bệnh, và truyền thông giáo dục sức khỏe tại xã có nhiều thay đổi tích cực Hàng năm tại trạm y tế xã thường xuyên phối hợp với bệnh viện đa khoa tuyến huyện và trung tâm y tế dự phòng tổ chức các đợt khám phụ khoa định kỳ cho phụ nữ, tư vấn, cung cấp các phương tiện tránh thai Hầu hết phụ nữ trong xã đều tham gia các câu lạc bộ và hội phụ nữ do thôn, xã quản

lý Hơn nữa công tác tuyên truyền sức khỏe sinh sản và dự phòng ung thư các bệnh phụ nữ trên địa bàn xã được quan tâm hơn trước

Trang 38

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ đang sống tại xã Ngọc Liên- Cẩm Giàng – Hải Dương

 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Tuổi từ 20 – 59 tuổi

- Không có thai

- Có thể nói, đọc, nghe và hiểu tiếng Việt

- Tình nguyện tham gia nghiên cứu

 Tiêu chuẩn loại trừ

- Phụ nữ được chẩn đoán chắc chắn có thai

- Phụ nữ bị rối loạn về nhận thức

- Phụ nữ có khiếm khuyết về khả năng nghe, đọc, hiểu tiếng việt

- Phụ nữ đã từng tham gia một chương trình can thiệp giáo dục kiến thức về UTV và TKV

- Không chấp nhận tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian là 5 tháng, từ tháng 4/2016 đến tháng 8/2016 Trong đó, một tháng đầu giành cho thiết kế nghiên cứu, điều tra thử nghiệm, hai tháng tiếp theo tiến hành điều tra đánh giá và tổ chức chương trình can thiệp giáo dục và hai tháng cuối cùng là phân tích số liệu, viết luận văn

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại: Xã Ngọc Liên – huyện Cẩm Giàng – tỉnh Hải Dương Vì Ngọc Liên là xã có số dân đông 7815 người,trong đó số phụ nữ thuộc đối tượng chọn mẫu khá lớn 600 người Tỷ lệ mắc UTV tại xã khoảng 3% (theo số liệu báo cáo của xã Ngọc Liên năm 2014), tuy nhiên cho đến nay trên địa bàn xã chưa có chương trình giáo dục nào cung cấp kiến thức về UTV và TKV cho phụ nữ

Trang 39

Do vậy nội dung chương trình can thiệp giáo dục kiến thức của nhóm nghiên cứu sẽ

dễ được đối tượng chú ý và chấp thuận

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp dạng trước sau

Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm đối tượng có so sánh trước, ngay sau và sau can thiệp một tháng (không có nhóm chứng) nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục truyền thông

2.4 Bộ công cụ đo lường

Bộ công cụ gồm bốn phần, được xây dựng bởi (Hochbaum et al., 1950) và phát triển bởi Champoin (2002) Tác giả Lê Thị Dung (2009) đã sử dụng bộ công cụ này để thực hiện nghiên cứu tại tỉnh Kiên Giang – Việt Nam nhưng có sử đổi một

số nội dung với sự đồng ý của Dr.Champion Trong nghiên cứu này chúng tôi đã phát triển bộ công cụ từ nghiên cứu của Lê Dung (2009) thực hiện với những phụ

nữ theo đạo tại nhà thờ Rạch Giá – tỉnh Kiên Giang [36] Do đó để phù hợp với nhóm đối tượng trong nghiên cứu, chúng tôi đã chỉnh sửa một số nội dung cho phù hợp với đối tượng và được sự đồng ý của tác giả, cụ thể như sau:

- Phần 1: Nhân khẩu học bỏ câu 2 về tình trạng hôn nhân còn lại 4 câu hỏi về tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiền sử gia đình về bệnh UTV và các loại ung thư khác

- Phần 2: Đo lường kiến thức UTV theo mô hình niềm tin sức khỏe:

Nhóm nghiên cứu đã bỏ từ câu 2 đến câu 7 trong bộ câu hỏi của tác giải Lê Thị Dung, vì đây là những câu liên quan đến sự sợ hãi và những rào cản Biến này không nằm trong khung nghiên cứu của nhóm tác giả Tương tự từ câu 15 đến câu

21 tác giả Lê Dung sử dụng để khảo sát về những động lực từ y tế và sự ảnh hưởng văn hóa của phụ nữ theo đạo Thiên chúa tại nhà thờ cũng không được nhóm tác giả

sử dụng trong nghiên cứu này

Bộ công cụ sử dụng để đo lường kiến thức về UTV dựa trên cấu trúc HBM liên quan đến thực hành TKV (Phụ lục 1) gồm 4 phần cho 4 biến độc lập: Phần 1 hỏi về kiến thức UTV từ câu 1 đến câu 6; phần 2 hỏi về những hiểu biết nguy cơ

Trang 40

UTV từ câu 7 đến câu 11; phần 3 hỏi về hiểu biết mức độ nghiêm trọng của bệnh UTV và lợi ích của TKV từ câu 12 đến câu 16; phần 4 hỏi về sự tự tin của bản thân

từ câu 17 đến hết câu 22

Việc đánh giá kiến thức của phụ nữ về kiến thức UTV dựa vào điểm số đạt được Trường hợp nào điểm số cao hơn đại diện cho kiến thức cao về UTV, và ngược lại điểm số thấp hơn đại diện cho kiến thức thấp về UTV

Trong nghiên cứu này, độ tin cậy của bộ câu hỏi đã được thử nghiệm với 30 phụ nữ tại xã Ngọc Liên có đặc điểm tương đồng với đối tượng tham gia trong nghiên cứu chính Hệ số Cronbach alpha là 0,97

- Phần 3: Đo lường kiến thức về thực hành TKV

Bộ công cụ này được sử dụng để đo kiến thức về mức độ thành thạo trong thực hiện TKV của phụ nữ Bộ câu hỏi ban đầu có 20 câu Nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi sửa đổi một số câu cho phù hợp với đặc điểm đối tượng tham gia (Phụ lục 2) Gồm hai phần

Phần 1: Nền tảng kiến thức thực hành gồm 5 câu từ TT1- TT5 Phần này

không tính trong tổng điểm thu được mà nhóm nghiên cứu thực hiện để tiến hành phỏng vấn sâu đối tượng tham gia về nguồn thông tin kiến thức mà họ nhận được để làm cơ sở thực hành TKV của họ trong thời gian trước can thiệp Với câu hỏi nền tảng đầu tiên “Chị đã từng thực hiện tự khám vú của mình bao giờ chưa?” với hai phương án trả lời “đã từng”- “Chưa từng”, nếu câu trả lời là “đã từng” thì tiếp tục hoàn thành các câu hỏi trong bộ công cụ, còn nếu câu trả lời là “Chưa từng” thì người tham gia phải dừng lại phần đo lường kiến thức thực hành TKV

Phần 2: Trong phần này gồm các câu 1, 2, 6, 7, 8, 9, 10 được đánh giá trên

thang điểm từ 0- 3 cụ thể là 0 = không bao giờ, 1 = đôi khi, 2 = thường xuyên, 3 = luôn luôn Câu 3 được đánh giá trên thang điểm 0 = không bao giờ hoặc không rõ, 1

= đôi khi, 2 = thường xuyên, 3 = luôn luôn

Trong những câu trên nếu điểm kiến thức ở mỗi câu hỏi lớn hơn hoặc bằng 2 được coi là có kiến thức đạt, dưới 2 điểm được coi là có kiến thức chưa đạt [44]

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w